VẬN DỤNG TRI THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ THÀNH TỰU KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC Đỗ Hoàng Tuấn * Khoa học lý luận chính trị từ lâu đã là một trong những ngành khoa học có y
Trang 1VẬN DỤNG TRI THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VÀ THÀNH TỰU KHOA HỌC KỸ THUẬT
TRONG GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC
Đỗ Hoàng Tuấn *
Khoa học lý luận chính trị từ lâu đã là một trong những ngành khoa học có yêu cầu đào tạo đầu tiên và ưu tiên, mang tính chất nền tảng của tất cả hệ thống giáo dục đại học trên thế giới
Trong đó, triết học, với tư cách “là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó”1, từ trước đến nay vẫn luôn là tiêu chí
cơ bản để đánh giá chất lượng giáo dục đại học, đồng thời là công
cụ không thể thiếu để trang bị cho người học những tri thức tổng quát cũng như các phương pháp luận chung nhất nhằm nhận thức về thế giới, nhận thức về xã hội và tự nhận thức về bản thân
Việc đào tạo triết học ở bậc đại học rất được chú trọng ở những đại học hàng đầu trên thế giới Chẳng hạn những đại học nổi tiếng nhất của Singapore như Đại học Quốc gia Singapore (National University of Singapore - NUS) và Đại học Kỹ thuật Nanyang (Nanyang Technology University - NTU) tuy có chuyên ngành đào tạo chủ yếu về kinh tế học, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, nhưng vẫn có đến 4 tín chỉ triết học tự chọn/ 160 tín chỉ toàn khóa
* Bộ môn Mác - Lênin và Khoa học XHNV, Trường ĐH An ninh nhân dân, Bộ Công an
1 Bộ Giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.35
Trang 2cho sinh viên không chuyên ngành lý luận chính trị Về nội dung môn học, họ giới thiệu cho sinh viên tất cả các trường phái triết học trên thế giới, trong đó có cả triết học Mác Còn đối với sinh viên chuyên ngành Luật hay Triết học của Đại học Havard - Hoa Kỳ thì học phần về Triết học nói chung và Triết học Mác nói riêng rất nặng, trong đó họ đặc biệt chú trọng nghiên cứu những thành tựu của Mác về kinh tế chính trị học tư bản chủ nghĩa Ở Việt Nam, triết học Mác được giảng dạy từ lâu trong hệ thống giáo dục đại học quốc dân, nhưng trong thời gian gần đây việc thu hẹp đáng kể thời lượng môn học đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy
và nghiên cứu triết học, đặc biệt là đối với các trường không chuyên
về khoa học xã hội và lý luận chính trị
Tình hình nhận thức, giảng dạy, nghiên cứu và vận dụng kiến thức khoa học lý luận chính trị, triết học của giảng viên, sinh viên hiện nay:
Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập khoa học lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, Đảng và Nhà nước ta đã có chiến lược xuyên suốt nhằm đảm bảo các môn khoa học Mác - Lênin có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng và các bộ, ngành liên quan về vấn đề này đã được ban hành như Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 12/10/1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc cải cách giáo dục lý luận chính trị trong các trường đại học và cao đẳng; Thông báo số 214-TB/TW ngày 03/5/1999 của Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) về đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng; Nghị quyết ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng; môn chính trị trong các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Đề án “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng” (năm 2007); Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh
Trang 3công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (khóa XI) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Những chủ trương của Đảng và Nhà nước đã chứng tỏ tính đúng đắn trong thực tiễn giáo dục, đặc biệt là khẳng định tầm quan trọng tất yếu của các môn khoa học Mác - Lênin trong hệ thống đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng Kết luận của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI khẳng định việc thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, Hội nghị cũng chỉ rõ những hạn chế, yếu kém chủ yếu cần được khắc phục của giáo dục và đào tạo nước
ta trong giai đoạn phát triển mới Hội nghị nhấn mạnh: “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp… đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc… Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và
cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu…” 2 Trong đó, những tồn tại, hạn chế
trong đào tạo khoa học lý luận chính trị ở bậc đại học, cao đẳng chiếm một bộ phận không nhỏ; đặc biệt là có hiện tượng xem nhẹ vai trò của các môn khoa học lý luận chính trị trong hệ thống các trường đại học không chuyên về khoa học chính trị và xã hội nhân văn
Khảo sát thực tiễn cho thấy sinh viên các hệ đào tạo không chuyên về khoa học chính trị như các ngành y học, kinh tế, khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin, kỹ thuật, ngoại ngữ… thường ít
2 Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI (2014), Hà Nội
Trang 4chú trọng trong học tập, nghiên cứu triết học vì cho rằng đây chỉ là môn “phụ”, không liên quan trực tiếp đến chuyên ngành của mình Đây là điều dễ hiểu vì tâm lý sinh viên thường chỉ thích tập trung vào các môn học có tính chất “tay nghề”, phục vụ trực tiếp cho nghề nghiệp của bản thân sau này Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên chính trị khi giảng dạy sinh viên các hệ đào tạo không chuyên ngành
lý luận chính trị nhiều khi cũng có tư duy như vậy Vô hình trung về lâu dài điều này sẽ tạo ra tiền lệ xem nhẹ các môn chính trị trong giảng dạy đại học nói chung và trong các hệ đào tạo không chuyên ngành lý luận chính trị nói riêng
Tuy nhiên, thật ra đây là một tư duy sai và sai đặc biệt nghiêm trọng Triết học chính là chìa khóa cơ bản, tất yếu và không thể thay thế trong việc đào tạo ra nhà khoa học, những người học biết tư duy, tìm hiểu và giải đáp vấn đề một cách độc lập, tự chủ, sáng tạo… Thành quả đào tạo của triết học là những người biết tìm
ra vấn đề (những người biết đặt câu hỏi cho đời sống) chứ không phải đào tạo ra những người làm toán, triết học đào tạo ra nghệ sỹ chứ không phải nhạc công, triết học đào tạo nhà khoa học thiết kế chứ không phải thợ cơ khí vận hành máy móc… Nói cách khác, triết học là một bộ phận cơ hữu làm nên người trí thức cũng giống như kiến thức về cây trồng của người nông dân, kỹ năng sử dụng máy móc của người công nhân và khả năng thẩm âm, kiến thức nhạc lý của người nhạc sỹ vậy
Triết học - khoa học tổng kết mọi khoa học, sự trừu tượng - tổng quát hóa trí tuệ loài người qua các thời đại
Trong bài viết “Cuộc đấu tranh của những người Mácxít trên
lĩnh vực tư tưởng ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2014), GS.TS Trần Phúc Thắng chỉ rõ triết học Mác - Lênin là
“một tích hợp lý thuyết và hơn thế nữa, còn là một tổng tích hợp lý thuyết” 3 Nghĩa là, triết học Mác - Lênin phải được nhìn nhận như
một khoa học chung nhất về thế giới, về cả tự nhiên, xã hội, về con người và tư duy của con người, nó không thể không khái quát tất cả các thành tựu của cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Chính
3 GS.TS Trần Phúc Thắng (2014), “Cuộc đấu tranh của những người Mácxít trên lĩnh vực tư
tưởng ở nước ta hiện nay” - Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2014, Hà Nội
Trang 5tính tích hợp lý thuyết của triết học đã làm cho vai trò thế giới quan
và phương pháp luận của nó có vai trò nổi bật trong lịch sử nhân loại, xã hội càng phát triển thì vai trò của triết học càng được tăng cường Trong đó, triết học Mác - Lênin là điển hình tiêu biểu cho sự tổng hợp, kết tinh tri thức toàn nhân loại từ thời cổ đại cho đến thế
kỷ XIX, đó không chỉ là một tích hợp lý thuyết mà còn là một tổng tích hợp lý thuyết
Đối với một triết học duy vật biện chứng như triết học Mác - Lênin, sự tồn tại của nó nhất thiết phải được dựa trên những chân kiềng vững chắc của thành tựu khoa học tự nhiên để lý giải sự tồn tại biện chứng của thế giới và sau đó là xã hội loài người
Triết học Mác - Lênin thực chất đã bao hàm trong nó những thành tựu vĩ đại của khoa học tự nhiên từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XIX Và cho đến nay, những nguyên lý cơ bản của triết học Mác nhằm giải thích sự tồn tại, vận động của thế giới vẫn tiếp tục chứng
tỏ được tính tương thích hoàn hảo với các phát hiện mới của khoa học tự nhiên trong lý giải nguồn gốc hình thành, sự phát triển và tồn tại của vũ trụ; qua đó chứng minh được một cách vững chắc tính đúng đắn của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Khoa học tự nhiên chính là nền tảng không thể thiếu để chứng minh và quyết định tính thuyết phục của triết học Nhưng khoa học tự nhiên
sẽ không thể được hệ thống và phục vụ đắc lực cho trí tuệ nhân loại nếu không được triết học kết tinh
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên trong giảng dạy khoa học lý luận chính trị:
- Quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học là một quan hệ biện chứng:
Triết học duy vật biện chứng nói chung và triết học Mác nói riêng ngay từ khi ra đời đã là một chỉnh thể lý luận có tính chất tổng hợp thực tiễn, là kết tinh có chọn lọc những thành tựu khoa học của loài người từ thời cổ đại cho đến thời điểm lý luận được đúc kết Triết học đi sau những thành tựu của các khoa học cơ bản (vì triết học là kết tinh của mọi khoa học), nhưng lại có tác động trở lại, định hướng soi đường cho nghiên cứu của các khoa học cơ bản Có được
Trang 6điều đó là vì triết học có những dự báo quan trọng dựa trên kết quả phân tích thực tiễn của mình Trong tác phẩm “Giai điệu bí ẩn và con người đã sáng tạo ra vũ trụ”, tác giả Trịnh Xuân Thuận - nhà vật
lý học thiên văn nổi tiếng người Mỹ gốc Việt - đã đưa ra một định nghĩa rất thú vị mà không kém phần xác đáng về khái niệm “khoa
học”, đó là: “Một học thuyết được gọi là khoa học khi nó đáp ứng được hai yêu cầu: Một là lý thuyết của nó mô tả chính xác thực tiễn như thực tiễn vốn có, và hai là lý thuyết của nó có thể dự báo được những vấn đề mà trong thời điểm hiện tại dù chưa thực hiện hay kiểm chứng được nhưng chắc chắn sẽ được thực hiện hoặc kiểm chứng khi những điều kiện vật chất và trí tuệ phù hợp được đáp ứng; nói cách khác là nó dự báo được tương lai” 4 Chẳng hạn, học thuyết tương đối của Albert Einstein đã dự báo được hàng loạt các hiện tượng vật lý thiên văn mà giữa thế kỷ XX chưa kiểm chứng được, như sự tồn tại của lỗ đen vũ trụ, các hiện tượng “hải đăng vũ trụ” - sao neutron, hay sự bẻ cong không - thời gian quanh các thực thể có khối lượng cực kỳ lớn như các sao và thiên hà, sự ra đời của
“sao siêu mới”… Hiện nay, các hiện tượng này đều đã được chứng minh là đúng trong thực tế và đều có thể quan sát được nhờ sự tiến
bộ thần kỳ của khoa học kỹ thuật - những điều mà giữa thế kỷ XX của Einstein chưa thể có được Nếu những tính toán về lịch pháp của thiên văn học cổ Babilon đã dự đoán được những ngày xảy ra nhật thực - nguyệt thực, thì thành tựu của thiên văn học hiện đại thậm chí còn có thể chỉ ra được chính xác chu kỳ quay trở lại quỹ đạo gần trái đất của các sao chổi đủ các kích thước Vật lý học thiên văn hiện đại cũng đưa ra xác suất các hệ thái dương có thể có sự sống hữu cơ trong vũ trụ, toán học dự báo về sự tồn tại của các chiều không gian khác trong “điểm kỳ dị” - trung tâm của các lỗ đen, hay lý thuyết hấp dẫn lượng tử dự báo về sự hợp nhất 4 lực cơ bản của vũ trụ trong những điều kiện trước không - thời gian Planck… Đây chính là những điều vẫn còn là “bí ẩn” trong hiện tại nhưng tất yếu sẽ được khoa học giải quyết trong tương lai, hay sẽ được thực hiện và xảy ra trong tương lai Và một khi những điều chưa biết này được giải đáp, tất yếu các tri thức đó sẽ được tổng kết bởi một hệ thống lý thuyết triết học phù hợp Có thể thấy, triết học Mác - Lênin chính xác là một khoa học theo nghĩa như vậy, học
4 Trịnh Xuân Thuận (2000), Giai điệu bí ẩn và con người đã sáng tạo ra vũ trụ, Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, Hà Nội
Trang 7thuyết Mác - Lênin đã thành công trong việc chỉ ra các quy luật phát triển của xã hội trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại; đồng thời, trên cơ sở lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết Mác - Lênin đã dự báo sự khủng hoảng không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản, cũng như sự ra đời của xã hội cộng sản chủ nghĩa - một hình thái xã hội tiến bộ tất yếu sẽ được xây dựng trong tương lai Theo nghĩa này, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa không chỉ là một sản phẩm được sáng tạo ra, mà còn là một hình thái xã hội mới được dự báo, được khám phá, được tìm ra Đó là kết quả của việc dự báo hợp logic dựa trên hệ thống lý thuyết đã được lịch sử kiểm chứng là đúng đắn và phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại
Như đã phân tích, sự tiến bộ và thành tựu của khoa học tự nhiên, cũng như trình độ phát triển của công nghệ đã và đang là nhân tố có tính chất quyết định đối với sự tồn tại và hướng nghiên cứu triết học Ngay cả 2 vấn đề lớn trong triết học (2 câu hỏi lớn phân chia các trường phái triết học) cũng phụ thuộc vào sự phát triển này Lịch sử triết học chỉ rõ, cách trả lời 2 câu hỏi lớn: Một là
“Vật chất có trước hay ý thức có trước, cái nào quyết định cái nào?”
và hai là “Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?” sẽ quyết định chiều hướng nghiên cứu của các trường phái triết học Vậy khoa học tự nhiên và những tiến bộ vĩ đại trong công nghệ của loài người đã có đáp án cho vấn đề này như thế nào?
Có một thực tế giản dị cần phải thừa nhận, đó là cho đến thời điểm này thì trí tuệ của nhân loại, dù đã có những bước tiến vĩ đại trong công cuộc tìm hiểu vũ trụ thực tại, cũng chỉ có thể mô tả và lý giải được quá trình hình thành, phát triển của vũ trụ từ khoảnh khắc
10 -44 giây cho đến nay là sau 15 tỉ năm, mà thôi Con số chỉ thời điểm 10 -44 giây còn được gọi là “thời gian Planck” hay “bức tường
Planck” - bức tường che mờ con đường hiểu biết của nhân loại
Trước thời gian này, mà ta tạm xác định là khoảng thời gian từ zero
(thời điểm xảy ra sự kiện “Big Bang” - giây số 0 trong lịch sử vũ
trụ) cho đến 10 -44 giây, là khoảng thời gian được biết đến với tên gọi
là “kỷ nguyên Planck” Đây là khoảng thời gian trong đó tất cả các định luật vật lý cổ điển hiện tại cũng như các định luật của vật lý lượng tử gặp phải giới hạn và cần thiết phải có một mô tả ở cấp vi
Trang 8mô về lực hấp dẫn (hay lý thuyết hấp dẫn lượng tử), mà cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn Stephen Hawking - nhà vật lý lý thuyết đương đại người Anh, trong tác phẩm “Lược sử thời gian”, đã phát biểu về vấn đề này như sau: “Để giải đáp được vấn đề này, có lẽ chúng ta cần một Einstein mới” Bức tường Planck và kỷ nguyên Planck vẫn đang đứng sừng sững ở đó, chắn đường nhân loại trong cố gắng nhìn xa hơn về quá khứ Bức tường Planck - với tư cách là một khái niệm vật lý, cũng đang là bức tường chặn đứng mọi nỗ lực giải đáp cho vấn đề vĩ đại của triết học: Vật chất và ý thức, cái nào có trước
và cái nào quyết định cái nào? Rõ ràng, với một phát biểu khách quan nhất, vật lý học hiện đại chỉ có thể trả lời rằng: Từ thời điểm
10 -44 giây đến nay là năm thứ 15 tỉ có dư trong lịch sử vũ trụ, thì vật
chất có trước (khái niệm vật chất ở đây được hiểu mở rộng theo nội hàm của thuyết tương đối - bao hàm từ các hạt cơ bản cho đến không gian và thời gian) Ngoài ra, với sự tiến bộ của y sinh học cho thấy vật chất quyết định ý thức, ít ra là đối với dạng sự sống tồn tại trên Trái đất Tuy nhiên, đáp án đó tất nhiên chưa phải là một câu trả lời thỏa đáng cho “câu hỏi lớn” của triết học Đây là nguyên nhân cơ bản, sâu xa để triết học duy vật và duy tâm vẫn tiếp tục song hành trên con đường lý giải ý nghĩa của tồn tại Nghiên cứu và giảng dạy triết học do vậy phải có một cái nhìn khách quan, công bằng, có thái độ tôn trọng, cầu thị đối với những nghiên cứu dựa trên niềm tin và thế giới quan khác mình Đặc biệt, nhà nghiên cứu phải có thái độ khoan dung đối với triết học tôn giáo, thần học và các lý luận duy linh khác Đơn giản là vì, nếu ngay cả những gì xảy
ra trong “kỷ nguyên Planck” mà khoa học còn chưa lý giải được, thì
chưa thể nói đến việc giải mã những gì đã xảy ra vào thời điểm zero
và trước đó (thời điểm giây số 0 trở về trước trong lịch sử vũ trụ)
Thượng đế, thật may mắn, vẫn còn nơi cư ngụ đằng sau màn sương
mờ bí ẩn này Tuy nhiên, khác với tư tưởng của thần học5, khoa học hiện đại vẫn đang nỗ lực không ngừng nghỉ để hoàn thiện một hệ thống lý thuyết đủ mạnh nhằm tiến xa hơn nữa vào quá khứ, để làm sáng tỏ những bí mật từ thuở hồng hoang vốn đã thôi thúc loài
5 Trong một phát biểu tại Vatican năm 2004, Giáo hoàng John Paul II từng kêu gọi những nhà vật
lý học đang cố gắng giải mã bức tường Planck rằng: “Hãy dành khoảnh khắc sáng tạo ra vũ trụ cho
Thiên Chúa!” - tức lý giải khoảng thời gian từ zero trở về trước bằng cách thừa nhận sự tồn tại và
sứ mệnh của Đấng sáng tạo, Stephen Hawking (2008), Lược sử thời gian, Nxb Trẻ, Hà Nội
Trang 9người nỗ lực đi tìm và lý giải cho ý nghĩa của tồn tại trong suốt hàng nghìn năm qua
Suốt nhiều thiên niên kỷ, khao khát hiểu biết và nhận thức thế giới đã là một trong những lý do chủ yếu để triết học ra đời và phát triển Và với ảnh hưởng của mình (thông qua các thiết chế kinh
tế, chính trị, xã hội đương thời), trong nhiều trường hợp triết học đã tác động mạnh mẽ đến sự khách quan vốn có của khoa học tự nhiên Lịch sử cho thấy, ảnh hưởng này sẽ là tích cực khi thế giới quan của triết học là đúng đắn Nhưng trong trường hợp hệ tư tưởng cực đoan, sai lầm thống trị xã hội và thống trị khoa học, thì nghiên cứu của khoa học tự nhiên thường bị chệch hướng, thậm chí đi vào con đường bế tắc, sai lầm Chẳng hạn như sự phát triển của khoa học châu Âu trung đại đã bị chững lại, nếu không nói là thụt lùi, trong hơn một thiên niên kỷ - khi hệ tư tưởng thần học của Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã thống trị Nhà nước và xã hội Đêm trường trung
cổ đã bủa vây khoa học tự nhiên và tàn phá, hủy hoại thành tựu tiến
bộ của khoa học Hy Lạp - La Mã cổ đại Khoa học đã bị thiệt hại nghiêm trọng, Bruno bị thiêu chết trên giàn hỏa chỉ vì bảo vệ cho chân lý, Galile bị cấm cố suốt đời, phải triệt thoái và tự phủ nhận những tư tưởng mà Giáo hội Thiên Chúa giáo cho là phản bội lại
Kinh thánh Trong bản án kết tội Galile có đoạn viết: “…Tên Galile… bị tòa án nghi ngờ là tà giáo tức là nghi ngờ rằng ngươi đã tin và theo cái tà thuyết đối lập với kinh thánh, một tà thuyết cho rằng mặt trời là trung tâm của vòng quỹ đạo trái đất và mặt trời không chuyển động từ đông sang tây và rằng trái đất chuyển động chứ không phải là trung tâm của thế giới… do đó ngươi phải chịu tất cả mọi sự cải đổi và hình phạt mà luật thánh và các bộ luật công
và tư khác đã quy định và công bố…” 6 Rõ ràng, dù thành tựu khoa
học tự nhiên quyết định kết quả của sứ mệnh đi tìm chân lý về vạn vật, nhưng trong chừng mực nào đó sự tác động trở lại của triết học đối với khoa học tự nhiên cũng vô cùng sâu sắc Triết học duy vật ủng hộ tư duy cho rằng vật chất có trước và quyết định ý thức, cho nên tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Tư duy này đã khai phóng tầm nhìn của khoa học tự nhiên, mang lại hướng nghiên cứu đúng đắn và mở rộng tầm nhìn của loài người đến những bờ bến xa
6 Vũ Dương Ninh (2013), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb.Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr.303
Trang 10xôi của vũ trụ Vật lý học hiện đại, dựa trên tư duy biện chứng duy vật, cũng đã đủ tự tin để lý giải thuyết phục quá trình hình thành, quy luật phát triển và tồn tại của vũ trụ từ thời gian Planck đến nay Thậm chí các định luật vật lý hiện đại cũng chỉ ra được quy luật phát triển trong tương lai của vũ trụ với độ chính xác có thể nói là thần kỳ Đó chính là kết quả tích cực trong mối quan hệ biện chứng giữa khoa học tự nhiên và triết học
- Hướng vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên trong giảng dạy lý luận chính trị:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa khoa học tự nhiên và triết học Qua đây tác giả đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy khoa học lý luận chính trị trong các trường đại học và cao đẳng, cụ thể như sau:
Một là, đổi mới nhận thức của giảng viên, sinh viên trong tư duy về triết học và vai trò của lý luận chính trị đối với đời sống và khoa học
Như đã phân tích, thực trạng đáng quan ngại hiện nay cho thấy một bộ phận không nhỏ giảng viên và sinh viên các trường không chuyên ngành khoa học lý luận chính trị có xu hướng xem nhẹ vai trò của triết học nói riêng và khoa học chính trị nói chung trong học tập, nghiên cứu khoa học Đây là tư duy cần thay đổi Trong đó, người giảng viên chính trị phải là người đầu tiên ý thức được sức ảnh hưởng và sự bao trùm của triết học trong đời sống, trong nghiên cứu khoa học ở mọi ngành nghề, không phân biệt là tự nhiên hay xã hội
Xuất phát từ lý do đó, việc giảng dạy triết học Mác - Lênin
để tránh sa vào con đường giáo điều, kinh viện thì mỗi giảng viên chính trị không còn cách nào khác hơn là phải tự mình học tập, trau dồi kiến thức, ham học hỏi để tìm hiểu không chỉ các tri thức của khoa học xã hội mà còn phải biết lấy ví dụ từ các thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật; từ đó lý giải một cách thuyết phục tính trường tồn của triết học Mác trong thời đại ngày nay, cũng như để làm sinh động thêm cho bài giảng của mình