1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương sơn hà cảnh thổ văn võ cổ kim ở quảng bình

84 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thế kỷ XX, Quảng Bình xuất hiện nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như: Cự Nẫm, Cảnh Dương, Lệ Sơn, Cha Lo, Cổng Trời Long Đại, đường Hồ Chí

Trang 1

hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC

những thông tin cần thiết ?

! H∙y đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi

đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )

! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó

trang báo cáo trên màn hình ?

! Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích thưưưước ớc

có sẵn trên thanh Menu

, hoặc

! Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Chọn Zoom to

! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích thưưưước ớc hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn,

hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn, Nhấn OK , , Nhấn OK Nhấn OK

Chúc bạn hài lòng với những thông tin đ với những thông tin đưưưược cung cấp ợc cung cấp

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Lê Trọng Đại Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực Các thông tin trích dẫn trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng và được chú thích đúng quy định

Tác giả khóa luận

Lê Thị Bích Liên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện bài khóa luận em đã nhận được nhiều sự giúp

quan đến đề tài của bài khóa luận

Trước hết em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.S Lê Trọng Đại người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức và phương pháp để em hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khác khoa Khoa học -

Xã hội, trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy trong 4 năm học qua và động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại Học Quảng Bình đã giúp

đỡ em trong quá trình tìm kiếm và khai thác tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu hoàn thành khóa luận

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi có thiếu sót và hạn chế Tác giả khóa luận rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Quảng Bình, tháng 05 năm 2014 Người thực hiện

Lê Thị Bích Liên

Trang 4

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Bố cục 5

B PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH “BÁT DANH HƯƠNG” Ở QUẢNG BÌNH 6

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của làng xã người Việt ở Quảng Bình từ thế kỷ XI - XIX 6

1.2 Khái niệm “Danh hương” và “Bát danh hương” 9

1.3 Tứ danh hương, bát danh hương ở Quảng Bình có từ bao giờ ? 10

1.4 Một số khái niệm liên quan 11

1.4.1 Khái niệm làng 11

1.4.2 Văn hóa 12

1.4.3 Khái niệm làng văn 13

1.5 Một số tiêu chí của một danh hương văn vật ở Quảng Bình 13

CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TRƯNG NỔI BẬT CỦA “BÁT DANH HƯƠNG” 14

2.1 Làng Lệ Sơn 14

2.1.1 Làng Lệ Sơn là làng nổi tiếng có truyền thống hiếu học từ xưa đến nay 14

2.1.2 Lệ Sơn là làng có nhều danh sơn kỳ tú 16

2.1.3 Lệ Sơn có một loạt di tích lịch sử - văn hóa 17

2.1.4 Lệ Sơn có nhiều người làm quan thời phong kiến 21

2.1.5 Lệ Sơn là làng có nhiều trai tài, gái sắc 22

Trang 5

2.1.6 Lệ Sơn có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp 23

2.1.7 Lệ Sơn có nhiều lễ hội đặc sắc 23

2.1.8 Lệ Sơn có nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc 24

2.2 Làng La Hà, nay là thôn La Hà thuộc xã Quảng Văn, huyện Quảng Trạch 26

2.2.1 La Hà là làng có truyền thống hiếu học 26

2.2.2 Làng La Hà có nhiều người đỗ đạt thời phong kiến 27

2.2.3 La Hà có nhiều di tích văn hóa lịch sử 28

2.2.4 La Hà có một nền văn hóa dân gian độc đáo giàu sức sáng tạo 30

2.3 Làng Cảnh Dương nay là xã Cảnh Dương huyện Quảng Trạch 31

2.3.1 Cảnh Dương là vùng đất có cảnh quan kỳ tú, có sông núi hùng vĩ 31

2.3.2 Cảnh Dương có nhiều di tích lịch sử văn hóa 32

2.3.3 Cảnh Dương là một làng hiếu học nhiều người đỗ đạt làm quan 33

2.3.4 Cảnh Dương có nhiều lễ hội nhất vùng Ròn 35

2.3.5 Văn học dân gian Cảnh Dương có nhiều đóng góp đáng trân trọng cho kho tàng văn học dân gian Quảng Bình 37

2.4 Làng Thổ Ngọa ngày nay thuộc xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch 38

2.4.1 Thổ Ngọa là làng có truyền thống hiếu học 38

2.4.2 Là làng có nhiều nhân tài 39

2.4.3 Làng Thổ Ngọa có nhiều phong tục thuần mỹ 39

2.4.4 Thổ Ngọa là làng có lễ hội rất phong phú 42

2.4.5 Làng Thổ Ngọa nổi tiếng với nghề làm nón 43

2.4.6 Thổ Ngọa có di tích lịch sử - văn hóa phong phú 45

2.4.7 Thổ Ngọa là làng văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc 46

2.4.8 Thổ Ngọa cũng là một trong số những làng có nền văn hóa ẩm thực phong phú với hàng mấy chục món ăn khác nhau 47

2.5 Làng Văn La nay là thôn Văn La thuộc xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh 48

2.5.1 Văn La có cảnh đẹp kỳ tú 48

2.5.2 Văn La nổi tiếng có truyền thống hiếu học 50

2.5.3 Văn La là làng có nhiều nhân tài 51

2.5.4 Văn La có nhiều thuần phong mỹ tục 52

Trang 6

2.5.5 Văn La có đời sống kinh tế, sinh hoạt văn hóa, xã hội phong phú 53

2.6 Làng Võ Xá nay thuộc xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh 55

2.6.1 Làng Võ Xá là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi với vị trí chiến lược 55

2.6.2 Võ Xá là một làng có truyền thống hiếu học 57

2.6.3 Võ Xá là làng có nhiều nhân tài 57

2.7 Làng Cổ Hiền nay là thôn Cổ Hiền thuộc xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh 59

2.7.1 Cổ Hiền có nhiều danh thắng kỳ tú 59

2.7.2 Cổ Hiền xưa nổi tiếng có truyền thống khoa bảng và hiếu học 60

2.7.3 Dưới chế độ phong kiến làng Cổ Hiền có số lượng quan văn, quan võ rất đông đảo 61

2.7.4 Cổ Hiền có nhiều di tích văn hóa và lịch sử 61

2.7.5 Cổ Hiền là làng có nhiều lễ hội 62

2.7.6 Cổ Hiền có một nền văn học dân gian đặc sắc mà phong phú về thể loại 62 2.8 Làng Kim Nại nay là thôn Kim Nại thuộc xã An Ninh, huyện Quảng Ninh.64 2.8.1 Kim Nại là làng có phong cảnh kỳ tú 64

2.8.2 Kim Nại là làng có truyền thống hiếu học 64

2.8.3 Kim Nại là làng có nhiều người làm quan 65

2.8.4 Kim Nại là làng có nhiều lễ hội 66

2.9 Đề xuất một số giải pháp để kế thừa và phát huy các thành tựu văn hóa đặc sắc của “bát danh hương” 68

C PHẦN KẾT LUẬN 72

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong tiến trình giao lưu hội nhập với văn hóa, văn minh nhân loại việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang là yêu cầu lẫn thách thức đặt ra cho tất cả các quốc gia trên hành tinh Nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống nhằm kế thừa, khai thác, phát huy những mặt tích cực, loại bỏ các yếu tố tiêu cực để phát triển văn hóa dân tộc, làm nền tảng cho việc giao lưu tiếp thu, hội nhập với văn hóa nhân loại là vấn đề được Đảng và nhà nước ta quan tâm từ nhiều năm nay Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

đã và đang là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng nước ta hiện nay, được nghị quyết các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định Hội nghị lần thứ 5 của ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII đã dành trọn kỳ họp để thảo luận và thông qua nghị quyết với tiêu đề “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc” càng chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề này

Trên dải đất cong cong hình chữ S của Việt Nam, Quảng Bình là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử Từ thuở bình minh của lịch sử, Quảng Bình

đã là một bộ phận lãnh thổ của nhà nước Văn Lang cổ đại Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, trong tiến trình phát triển của mình, Quảng Bình đã trải qua nhiều thay đổi về không gian lãnh thổ, về thể thức hành chính và cả về danh tính

để trở thành một Quảng Bình ổn định và phát triển về lịch sử, văn hóa và kinh tế như ngày nay Nhắc đến Quảng Bình là nhắc đến một mảnh đất với biết bao thiên tai khắc nghiệt nhưng bấy nhiêu chưa đủ để gây khó khăn cho con người nơi đây Ngược lại nơi đây đã có biết bao nhiêu người anh hùng đã hi sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc Quảng Bình đẹp từ trong câu hát từ những làn điệu dân ca mượt

mà, sâu lắng, đẹp từ những làng quê nghèo về vật chất mà lại có một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc

Quảng Bình đã có truyền thống lịch sử lâu đời Con người nơi đây luôn luôn biết gìn giữ và phát huy bản sắc tốt đẹp của quê hương mình Quảng Bình là vùng đất gắn với các di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình đến Bàu Tró, Đông Sơn

Trang 8

và Sa Huỳnh Quảng Bình xưa kia là địa phương có nhiều di tích lịch sử như: Thành Khu Túc, Thành Nhà Ngo (văn hóa Chămpa); hệ thống Lũy Thầy, Quảng Bình quan Trong thế kỷ XX, Quảng Bình xuất hiện nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như: Cự Nẫm, Cảnh Dương,

Lệ Sơn, Cha Lo, Cổng Trời Long Đại, đường Hồ Chí Minh…Qua lịch sử hàng trăm năm liên tục phát triển Quảng Bình đã hình thành nên nhiều làng văn vật nổi tiếng có những đặc trưng riêng của từng cộng đồng làng xã Đặc biệt trong đó các làng văn vật nổi lên bát danh hương “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ

- Kim” “Bát danh hương” là tám làng văn vật gồm: Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại; chúng là hệ quả của sự phát triển văn hóa làng xã Quảng Bình

Từ lâu “bát danh hương” đã trở thành niềm tự hào trong mỗi người dân Quảng Bình “Bát danh hương” này xuất hiện từ lúc nào, thực chất là gì? Có những tiêu chí nhất định để xác định một danh hương ở Quảng Bình hay không?

đã và đang được nhiều học giả băn khoăn đi tìm lời giải và cũng đã có không ít nhà nghiên cứu tìm cách lý giải điều này Là người may mắn được sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình có chút vốn hiểu biết văn hóa và lịch sử nên từ lâu tôi hằng ấp

ủ ước muốn đi sâu tìm hiểu những làng quê “văn vật” của tỉnh nhà được gọi là

“bát danh hương” Đó là lý do khiến chúng tôi chọn vấn đề “Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim ở Quảng Bình” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Mặt khác, việc chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu còn có tác dụng giúp tác giả nâng cao hiểu biết các giá trị văn hóa và lịch sử địa phương Hy vọng kết quả nghiên cứu phần nào có tác dụng góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của quê hương Quảng Bình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng việc tìm hiểu về “bát danh hương ở Quảng Bình” đã được khá nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu ở những mức độ và khía cạnh khác nhau Đã có nhiều cuốn sách viết về các làng văn vật nổi tiếng đã được công bố như: “Địa chí làng Thổ Ngọa” của Đỗ Duy Văn, “Địa chí làng Cổ Hiền” của Nguyễn Tú, “Sinh hoạt văn hóa dân gian cổ

Trang 9

truyền làng biển Cảnh Dương” của Trần Hoàng Mai Đình Lê Tộ trong bài viết

có nhan đề “Lệ Sơn Vải tiến” đăng tập san “Quảng Bình quê tôi” đã trình bày sự kiến giải về “bát danh hương” song chỉ dành không quá 14 trang A4 kiến giải về

“bát danh hương” Nhà nghiên cứu Nguyễn Tú trong “Quảng Bình non nước và lịch sử” có đưa ra cách kiến giải vì sao Lệ Sơn được xếp đứng đầu “bát danh hương” ở Quảng Bình Các tác giả Nguyễn Thế Hoàn, Lê Thúy Mùi trong “lịch

sử Quảng Bình” cũng dành một bài giới thiệu sơ lược về “bát danh hương” Nguyễn Khắc Thái trong “lịch sử Quảng Bình 410 năm” đã dành gần 6 trang A4

để giới thiệu sơ lược về những nét nổi bật của 8 làng này Tác giả Lê Trọng Đại trong bài báo “Quảng Bình với bát danh hương” là công trình đầu tiên lý giải quá trình hình thành và phát triển của văn hóa làng xã người Việt ở Quảng Bình, là

cở sở cho sự ra đời của bát danh hương Trong bài viết này ông đã lý giải các thuật ngữ “danh hương”; “bát danh hương”; xác định tiêu chí của một danh hương và giới thiệu một vài đặc trưng nổi bật của tám làng văn vật nói trên Bài viết đã đề cập đến nhiều vấn đề song với khuôn khổ một bài báo tác giả chưa đi sâu giới thiệu thật cụ thể các đặc trưng nổi bật của “bát danh hương” Tuy nhiên bài viết trên là cơ sở nền tảng cơ bản để tác giả khóa luận kế thừa, đi sâu nghiên cứu và phát triển…Nhìn chung các công trình mới đề cập một cách rất sơ lược hoặc nghiên cứu một làng chứ chưa làm rõ được những đặc trưng nổi bật của cả tám danh hương ở Quảng Bình

Do điều kiện thời gian, mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận khác nhau cho nên việc làm nổi bật những đặc điểm, đặc trưng của bát danh hương chưa được học giả nào đi sâu nghiên cứu một cách công phu

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Chọn vấn đề “Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương Sơn -

Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim ở Quảng Bình” làm đề tài nghiên cứu chúng tôi nhằm mục đích dưới đây:

- Làm rõ một số vấn đề khái niệm và đặc điểm, đặc trưng nổi bật về “bát danh hương” ở tỉnh Quảng Bình

- Giới thiệu những thành tựu văn hóa đặc sắc của “bát danh hương”

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu làm rõ các thuật ngữ về “danh hương” và “bát danh hương”

- Nghiên cứu kỹ lưỡng văn hóa từng danh hương để lựa chọn giới thiệu những đặc điểm, đặc trưng nổi bật của từng danh hương

- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát huy các thành tựu văn hóa đặc sắc của danh hương nói riêng, làng xã Quảng Bình nói chung

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện thời gian, năng lực và tư liệu có hạn nên khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu các thành tựu văn hóa của “bát danh hương” từ khi Quảng Bình xuất hiện danh hương thế kỷ XIX đến nay:

- Một số khái niệm liên quan đến “bát danh hương” như: Khái niệm làng, làng văn hóa hay khái niệm về làng văn và đặc biệt là khái niệm về “danh hương” và “bát danh hương”

- Những tiêu chí cơ bản của “bát danh hương”

Trên cơ sở nghiên cứu đó chúng tôi đi sâu làm rõ những nét đặc điểm, đặc trưng nổi bật của tám làng nổi tiếng ở Quảng Bình đó là: “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ

- Văn - Võ - Cổ - Kim”

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài này chúng tôi sử dụng hệ thống phương pháp sau:

Sử dụng phương pháp lịch sử để dựng lại hiện thực khách quan trong quá khứ kết hợp với phương pháp lôgic để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề nghiên cứu ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành gồm:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp điều tra cơ bản

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm:

+ Phương pháp phân tích

+ Phương pháp hệ thống hóa

+ Phương pháp so sánh

6 Đóng góp của khóa luận

- Khóa luận bước đầu xác lập được một hệ thống thư mục tài liệu tham khảo khá phong phú về “bát danh hương” và địa chí cho những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề

Trang 11

- Khóa luận đã đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng xã Quảng Bình nói chung và bát danh hương nói riêng

- Thực hiện khóa luận giúp cho tác giả nâng cao hiểu biết về lịch sử và văn hóa Quảng Bình nói riêng, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung; làm hành trang cho nghề nghiệp và cho cuộc sống sau này Thực hiện khóa luận còn giúp tác giả bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học

- Khóa luận của chúng tôi đi sâu làm nổi bật được những thành tựu của tám làng văn vật ở tỉnh Quảng Bình “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim”

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, nội dung của

đề tài được kết cấu gồm 2 chương:

- Chương I: Quá trình hình thành “bát danh hương” ở Quảng Bình

- Chương II: Các đặc điểm, đặc trưng nổi bật của “bát danh hương”

Trang 12

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH “BÁT DANH HƯƠNG”

Ở QUẢNG BÌNH 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của làng xã người Việt ở Quảng Bình từ thế kỷ XI - XIX

Dưới thời kỳ nước Đại Cồ Việt và 15 năm đầu của nước Đại Việt (1054 - 1069), lãnh thổ nước ta về phía Nam chỉ mới đến Hoành Sơn (Đèo Ngang) Năm

1069, Chiêm Thành đem quân ra cướp phá Nghệ An, Vua Lý Thánh Tông cùng

Lý Thường Kiệt xuất chinh đánh Chiêm Thành Quân đội nhà Lý đánh bại Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm là Chế Củ Để chuộc mạng Chế Củ phải cắt ba châu

Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt Năm 1074, quân Chiêm lại tấn công chiếm lại ba châu Năm 1075, nhà Lý cử Lý Thường Kiệt đưa quân đánh lấy lại

ba châu Lý Thường Kiệt bèn cho vẽ địa đồ và mộ dân phía Bắc khai hoang lập làng Nhờ đợt di dân đầu tiên này mà một số làng Việt đầu tiên được xác lập trên đất Quảng Bình và Bắc Quảng Trị

“Từ năm 1069 đến thế kỷ XIV, Quảng Bình là vùng đất biên viễn phía Nam của Đại Việt, có vị trí trọng yếu nhưng tính đến cuối thế kỷ XIV, cư dân nơi đây vẫn còn rất thưa thớt Do đó nhà Trần đã ban hành chính sách khuyến khích các quan lại quý tộc mộ dân khai hoang lập điền trang Chính sách này đưa tới đợt di dân thứ hai đến khu vực thứ hai phía Nam Quảng Bình (Hoàng Hối Khanh mộ dân nghèo khai khẩn lập điền trang ở Lệ Thủy) Một số các tướng tá, binh lính vào trấn giữ ở Quảng Bình sau khi xuất ngũ cũng ở lại khai khẩn đất hoang lập nên làng xóm, thôn ấp để sinh sống Nhờ có sự phát triển nhất định về cư dân và

xã hội mà trong thế kỷ XIV nhà Trần đã nâng Lâm Bình từ cấp châu lên cấp phủ”[5;251] “Năm 1366, Phạm A Song được phong làm Đại tri phủ Lâm Bình Năm 1375, nhà Trần đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình Năm 1397, nhà

Trần đổi phủ Tân Bình làm trấn Tây Bình”

“Nhà Hồ lên cầm quyền trong những năm 1400 - 1407, tiếp tục chủ trương vận động quan lại mộ dân nghèo ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vào khai khẩn đất hoang lập làng xã ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam Do đó có đợt di dân thứ

ba đến Quảng Bình và một số làng Việt ở phía Nam Quảng Bình tiếp tục được

Trang 13

thành lập (phần lớn họ Hồ ở Quảng Bình có gia phả ghi chép là vào đây thời nhà

Hồ và lúc cha con Hồ Quý Ly bị nhà Minh bắt)

Thời Minh thuộc, vùng đất Quảng Bình được chính quyền đô hộ đổi tên từ Trấn Tây Bình thành phủ Tân Bình Sau mười năm khởi nghĩa rất kiên cường, anh dũng nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được đất nước khỏi ách thống trị của nhà Minh, Lê Lợi lên ngôi vua (1428) lập ra nhà Hậu Lê (Lê Sơ) Nhà Hậu

Lê chia cả nước thành 12 Thừa tuyên, Quảng Bình vẫn là phủ Tân Bình thuộc Thừa tuyên Thuận Hóa

Đến giữa thế kỷ XV, về cơ bản khu vực phía Nam Quảng Bình gồm Lệ Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới đã được nhân dân khai khẩn thành làng xóm đồng

ruộng khá sầm uất Sách “Quảng Bình Thắng - Tích - Lục” phản ánh tình hình

trên như sau: “Về đời Hồng Đức, ở phía Nam Quảng Bình dân cư đã tiệm đông, nhưng ở phía Bắc tức châu Bố Chánh (Tuyên Hóa, Quảng Trạch và Bố Trạch) vì ruộng xấu, đất cao, sinh kế khó nhọc nên cư dân thưa thớt lắm Năm 1467, nhân

có lời xin của quan Thừa chánh sứ ty Tham nghị Hóa châu là ông Đặng Chiêm, vua bèn hạ dụ chiêu tập nhân dân vào khai khẩn ở châu Bố Chánh Kể từ đó, lần lần mới có người vào sinh cơ lập nghiệp ở phía Bắc Quảng Bình” Đến đầu niên hiệu Hồng Đức sau khi hộ giá nhà vua chinh phạt Chiêm Thành (1471) trở về khá nhiều quan lại, tướng tá đã đứng ra mộ dân phiêu tán đến khai khẩn đất hoang thành lập làng xã ở khu vực phía Bắc Quảng Bình” Đây là đợt di dân khai canh lập làng lớn thứ tư ở Quảng Bình Một loạt làng xã của người Việt được thành lập ở khu vực Bắc Quảng Bình trong 30 năm cuối thế kỷ XV Nhờ đó đến

hết thế kỷ XV, những vùng đất hoang hóa của Quảng Bình về cơ bản đã được

khai khẩn biến thành làng xã gần hết nên từ thế kỷ XVI về sau mà làng xã ở Quảng Bình đã khá ổn định”[5;252] Số liệu thống kê làng xã năm 1490 (năm

xác định bản đồ) đời Hồng Đức và số liệu thống kê trong Ô châu Cận lục trước

năm 1555 dưới đây là minh chứng đầy thuyết phục tình hình này:

Trang 14

Huyện châu

Thời Hồng Đức định bản đồ (1490)

Thời Dương Văn An viết Ô châu cận lục (1553 - 1555)

1 nhưng số trang lại giảm đến mức triệt tiêu Huyện Khang Lộc số làng giảm 5

mà số thôn tăng lên 7 sự thay đổi nhỏ này chỉ có thể là một số làng đã tụt xuống cấp thôn mà gần như không có sự thành lập thêm các làng mới Năm 1558 khi vào trấn thủ xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vận động chiêu mộ khá đông nhân dân ở Thanh Hóa, Nghệ An cùng vào mặt khác năm 1558, 1559 khu vực Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đói lớn nên nhân dân dắt nhau vào xứ Thuận Hóa khá đông do

đó có đợt di dân thứ 5 đến Quảng Bình Tuy nhiên qua khảo sát quá trình hình thành làng xã thì số làng xã mới thành lập ở Quảng Bình giai đoạn này không nhiều Từ những căn cứ trên chúng ta có cơ sở để kết luận rằng đến đầu thế kỷ XVI, về cơ bản hầu hết những nơi đất đai thuận tiện cho con người sinh cơ lập nghiệp ở Quảng Bình đều đã được khai khẩn hệ thống làng xã được thành lập đi vào ổn định và phát triển

Như vậy, tính từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, phần lớn các làng xã ở Quảng Bình đã có quá trình hình thành và phát triển liên tục trên dưới 300 năm

Độ dài thời gian nói trên là đủ để các làng xã ở Quảng Bình phát triển trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế xã hội - văn hóa và hình thành nên những sắc thái đặc trưng những truyền thống văn hóa của các làng quê nói riêng Những truyền

Trang 15

thống văn hóa đó tính đến thế kỷ XIX thì đã định hình và trở thành nền tảng vững chắc cho làng xã ở Quảng Bình sau đó kế thừa và phát triển”[5;253]

1.2 Khái niệm “Danh hương” và “Bát danh hương”

+ Thuật ngữ “danh hương”

“Thuật ngữ “danh hương” nếu giải thích theo lối duy danh định nghĩa thì

“danh” là danh tiếng, là sự nổi tiếng về những gì tốt đẹp “hương” là một cách gọi khác của làng Như vậy “danh hương” là “làng nổi tiếng” Từ định nghĩa đó chúng ta thấy rằng danh hương có nghĩa rất rộng nó dùng để chỉ một làng nổi tiếng về một lĩnh vực nào đó Trong tác phẩm “Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh”, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Nhân và các cộng sự đã phân chia các làng nổi tiếng

ở Thanh Hóa và khu vực Bắc Bộ thành các loại hình gồm: làng văn và làng võ, làng nghề truyền thống và làng nghệ thuật (làng tuồng quan họ, làng hát bội…)

Ở Quảng Bình qua nghiên cứu các tài liệu chúng tôi thấy rằng thuật ngữ danh hương lần đầu xuất hiện ở thế kỷ XVI; trong “Ô châu cận lục” Dương Văn

An có viết: “Phước Lộc thì xây dựng danh hương” Tuy nhiên trên thực tế lúc này ở Quảng Bình chưa có sự xác định cụ thể làng nào là danh hương mà Dương Văn An chỉ nói đến việc xây dựng danh hương mà thôi Ở huyện Lệ Thủy ngay

từ thời nhà Mạc đến Lê Trung Hưng đã có một số làng nổi tiếng khoa bảng, có người đỗ đại khoa; tiêu biểu là các làng Tuy Lộc, Đại Phúc Lộc, An Chế (An Xá) song vẫn không có tài liệu nào xếp các làng đó vào trong số các danh hương ở Quảng Bình Dưới vương triều Nguyễn, qua thống kê về khoa bảng thì làng La

Hà dẫn đầu cả tỉnh về số lượng người đỗ đại khoa (6 vị), xếp thứ 2 là Lý Hòa (4 vị), kế đến là các làng An Xá, Cảnh Dương, Lộc Điền, Cao Lao, Lộc Long, Phù Chánh (đều có 2 vị đỗ đại khoa) Riêng làng An Xá nếu tính cả 2 thời kỳ cũng có tới 4 vị đỗ đại khoa Tuy nhiên trong số các làng khoa bảng đó lại chỉ có La Hà

và Cảnh Dương là được xếp vào nhóm các danh hương của tỉnh Quảng Bình Qua khảo sát tám danh hương “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim” so sánh với các làng khoa bảng khác; chúng ta có thể khẳng định rằng: ở Quảng Bình khái niệm danh hương không đơn thuần chỉ có nghĩa là để vinh danh một làng nổi tiếng về khoa cử hay một lĩnh vực nào đó Mà danh hương ở Quảng Bình là một khái niệm dùng để chỉ những làng văn vật gần nghĩa với “làng văn”

Trang 16

ở xứ Thanh và Bắc Bộ Để hiểu một cách đầy đủ và chính xác về danh hương văn vật của Quảng Bình chúng ta tìm hiểu thêm về khái niệm “văn vật” Trong giáo trình “Lịch sử văn hóa Việt Nam” tiến sĩ Huỳnh Công Bá giải nghĩa khái

niệm văn vật: theo nghĩa chữ Hán thì văn là vẻ đẹp, vật là vật chất, văn vật là di

sản văn hóa với số lượng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và các danh nhân dồi dào phong phú Văn vật còn hàm chứa nghĩa là nơi có bề dày quá khứ và mang tính nhân bản sâu sắc”

Tóm lại, các danh hương ở Quảng Bình là những làng văn vật với nghĩa là những làng có bề dày lịch sử, nổi trội trên nhiều phương diện từ khoa cử đến di tích, danh lam thắng cảnh, có sinh hoạt văn hóa, học thuật đặc sắc, lại có nhiều danh nhân hoặc trai tài gái sắc, có lễ hội phong phú”[5;254]

1.3 Tứ danh hương, bát danh hương ở Quảng Bình có từ bao giờ ?

“Qua tìm hiểu, nghiên cứu các thư tịch cổ chúng tôi thấy rằng các cụm từ

“tứ danh hương”, “bát danh hương” ở Quảng Bình chỉ mới bắt đầu xuất hiện từ đời Minh Mạng trở lại đây mà thôi Các tác phẩm “Dư địa chí”, “Ô châu cận lục”, “Phủ biên tạp lục”, “Phương Đình địa dư chí”, “Hoàng Việt địa dư chí”,

“Lịch triều hiến chương loại chí” khi viết về Quảng Bình đều chưa một lần đề cập đến các cụm từ này Phải từ các triều Minh Mạng đến Tự Đức (1820-1883) thuật ngữ danh hương bắt đầu lộ diện mà bằng chứng là lần đầu tiên “tứ danh hương” được các tác giả sách “Đại Nam nhất thống chí” nhắc tới Trong tập 2 tỉnh Quảng Bình; ở phần phong tục có chép: “ bốn xã Sơn - Hà - Cảnh - Thổ (Lệ Sơn và La Hà thuộc huyện Minh Chính, Cảnh Dương và Thổ Ngọa thuộc huyện Bình Chính), đời nào cũng có người khoa giáp ”

Đã có 4 danh hương ở phía Bắc thì theo lôgic là phải có 4 danh hương ở phía Nam sẽ được bình chọn và xác định Tại phủ Quảng Ninh sau đó đã xuất hiện tứ danh hương: Văn - Võ - Cổ - Kim (là các làng Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại) Như vậy thuật ngữ “bát danh hương” chỉ có thể là hệ quả của hai tứ danh hương hợp thành

Nhà nghiên cứu Mai Đình Lê Tộ trong bài “Lệ Sơn, vải tiến và cụ Lê Bính” đăng trên tập san Quảng Bình quê hương tôi khẳng định: “Từ đầu triều Nguyễn, Quảng Bình nổi tiếng đệ nhất danh hương có tám làng, Quảng Trạch có Sơn - Hà

Trang 17

- Cảnh - Thổ (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa), Quảng Ninh có Văn - Võ

- Cổ - Kim (Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại)” Các làng ấy nổi tiếng nhờ có khoa hoạn đông đời đời nối tiếp Nhưng những làng như thế, phần nhiều cũng có phong cảnh kỳ tú, có danh sơn đại xuyên bối sái hoặc cùng chiếu và nam thanh

nữ tú, có phong tục thuần mĩ cả”

Từ các thông tin trên chúng ta có thể kết luận là: thời điểm bắt đầu có sự phân chia các làng xã ở Quảng Bình thành các làng văn vật để tôn vinh về những đặc điểm, đặc trưng văn hóa nổi trội so với các làng khác mới có từ đầu triều Nguyễn Các danh hương, tứ danh hương và bát danh hương mặc nhiên được mọi người thừa nhận và được sử dụng phổ biến khi giới thiệu về lịch sử và văn hóa của tỉnh Quảng Bình từ thế kỷ XIX đến nay”[5;255]

1.4 Một số khái niệm liên quan

1.4.1 Khái niệm làng

Dưới thời phong kiến làng còn được gọi là: kẻ, hương, lý, thôn, xã, buôn, bản, mường, sóc, phum…

Làng là một danh từ dùng để chỉ một đơn vị hành chính hoặc đơn vị cư trú

cơ sở của quốc gia, là nơi cư trú, sinh hoạt và sản xuất của những người Việt thờ một vị Thành Hoàng riêng

Làng gồm các yếu tố sau đây:

+ Ranh giới làng: Gồm ranh giới cư trú và ranh giới lãnh thổ

+ Tên làng: Vừa có tên Nôm, vừa có tên Hán Việt

+ Cấu trúc vật chất và hình thức của làng gồm nhà cửa, ruộng vườn, lũy tre làng, đình làng, chợ làng, chùa, hệ thống điểm canh, cổng làng

+ Cấu trúc xã hội của làng gồm: dân cư sống thành từng hộ, hộ là đơn vị xã hội nhỏ nhất (gia đình), trên hộ xóm ngõ, gắn với gia đình là tộc họ

Làng là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người dưới lũy tre làng có cha mẹ ông

bà tổ tiên, tình làng nghĩa xóm Làng đóng vai trò tích cực trong sự bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, làng là pháo đài kiên cố ngăn cản sự du nhập và đồng hóa của văn hóa ngoại bang, vì thế làng là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, chi phối sâu sắc tư tưởng tình cảm của con người và nhiều hoạt động văn hóa xã hội

Trang 18

Ở nước ta có rất nhiều làng quê mỗi làng mỗi vẽ được phân loại theo nhiều loại tiêu chí khác nhau như phân loại làng theo nghề nghiệp, làng nông nghiệp, làng chài, làng thủ công

Có kiểu phân loại khác dựa trên đặc điểm nổi bật về văn hóa như: Làng thượng võ, làng văn…

Quá trình hình thành làng Việt trước hết bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên như địa lý, khí hậu, thủy văn, cảnh quan, môi trường, sinh thái…Tiếp theo là sự tác động của các mối quan hệ xã hội như họ hàng, nghề nghiệp, nếp sống, tôn giáo, tục lệ tập quán Do đó giữa các làng bên cạnh nét tương đồng là những dị biệt không làng nào giống làng nào về mặt địa thế, diện tích, hướng làng, số hộ,

số dân, các mặt sinh hoạt thậm chí nói một ngôn ngữ nhưng lại khác nhau về thổ

âm, thổ ngữ Các dị biệt đó hun đúc nên đặc điểm tính cách tâm lý khác nhau giữa các làng

Làng hình thành theo nhiều cách song thường là do một nhóm người tìm đến khai phá một vùng đất lập ra Cuộc sống của họ dần dần ổn định sinh sôi nảy

nở, lôi kéo thêm những thành viên mới đến ở và trở thành một cộng đồng, khi đó chính quyền phong kiến với tay sai tới ghi vào sổ, biến nó thành một đơn vị hành chính để quản lý nhằm điều động nhân binh, thu thuế và cai trị Để làng được công nhận là một đơn vị hành chính thì phải có các tiêu chí dưới đây:

+ Có sổ địa bạ (Ghi diện tích ruộng đất)

+ Có sổ đinh (Thống kê tất cả nam giới từ 20 đến 59 tuổi)

+ Có sổ hương ước, hương ẩn

+ Có đình làng, có thành hoàng (Thần tích phải được triều đình sắc phong) + Có hội đồng bô lão

+ Có hội đồng ngũ vị hương

+ Có đồng triện

1.4.2 Văn hóa

Văn Hóa là thuật ngữ có trên 400 định nghĩa và được hiểu dưới nhiều cấp

độ khác nhau Ở đây chúng tôi xem xét theo nghĩa rộng và thống nhất với giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

Trang 19

do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

1.4.3 Khái niệm làng văn

Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “làng văn là làng nổi tiếng văn học được mọi người kính nể, con cháu vẫn tiếp tục phát huy Đó là những làng có truyền thống học chữ Nho, nhiều người đỗ đạt cùng với sinh hoạt văn thơ của các gia đình Nho học tạo ra nét văn hóa riêng cho làng” Theo cách giải nghĩa này thì thực chất các làng văn ở xứ Thanh và ở Bắc Bộ là những làng văn vật nổi tiếng

1.5 Một số tiêu chí của một danh hương văn vật ở Quảng Bình

Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi nhất trí với quan điểm của Thạc Sĩ Lê Trọng Đại về các tiêu chí nổi bật của một danh hương danh vật ở Quảng Bình gồm:

- Làng có truyền thống hiếu học, nhiều người khoa bảng đỗ đạt

- Làng có sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc

- Làng có nhiều danh nhân hoặc có nhiều người làm quan có danh tiếng tốt

- Làng có nhiều danh thắng kỳ tú

- Làng có số lượng di tích lịch sử, di tích văn hóa phong phú

- Làng có nhiều phong tục thuần mỹ

- Làng có nhiều trai tài gái sắc”[5;256]

Khảo sát kỹ bát danh hương: Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn

La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại chúng tôi thấy các làng này đều có các tiêu chí nói trên Như vậy “bát danh hương” ở Quảng Bình chính là những làng văn vật nổi tiếng hàng đầu có các giá trị văn hóa nổi trội hơn so với các làng khác ở tỉnh Quảng Bình

Trang 20

CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TRƯNG NỔI BẬT CỦA

Võ miền Võ Xá cát trường sinh

Cổ xây lũy Cổ Hiền lưu giấu Kim Nại tên vàng gợi nét tranh”

Để tìm hiểu các đặc điểm, đặc trưng nổi bật ấy của “bát danh hương” chúng

ta lần lượt khảo sát từng danh hương

mở trường khai trí cho con em Lệ Sơn Làng Lệ Sơn trước đây là nơi khá cách

trở về giao thông

Núi Lệ Sơn như một bức tường thành sừng sững chạy dọc phía nam của làng; núi ăn ra ở đầu làng và cuối làng Sông Gianh như một dải lụa uốn hình chiếc võng ôm trọn phía bắc làng Địa hình đó dẫn Lệ Sơn đến chỗ gần như bị cô lập hoàn toàn với các làng xung quanh khi lũ lụt ngập về Đất canh tác nông nghiệp của Lệ Sơn không nhiều mà nguồn nước ngọt lộ thiên lại không đủ tưới

Trang 21

cho đồng ruộng khi trời hạn hán trong vụ đông xuân Vụ hè thu ở Lệ Sơn hầu như năm nào cũng bị ngập úng vì lũ lụt Do đó mặc dù Lệ Sơn lấy trồng trọt làm ngành kinh tế chủ đạo nhưng đời sống của người dân nơi đây luôn phải đối mặt với đói rét trong các kỳ giáp hạt Đó cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Lệ Sơn rất chú trọng đầu tư cho con em mình học hành để thoát cảnh nghèo đói Chính những khó khăn mà thiên tai tạo ra cho Lệ Sơn đã làm cho các bậc làm cha làm mẹ dù thiếu thốn khổ cực đến đâu cũng ra sức động viên con, cháu học tập Truyền thống khuyến học, khuyến tài do đó sớm hình thành ở Lệ Sơn Qua thống kê chưa đầy đủ, dưới chế độ phong kiến, con em Lệ Sơn có trên

20 người đỗ cống sĩ (cử nhân) và khoảng gần 100 người đỗ tú tài Thời nhà Nguyễn, hầu như khoa thi nào cũng có người Lệ Sơn đi thi và đỗ đạt từ tú tài đến

cử nhân Mặc dù không có người đỗ đại khoa, nhưng làng Lệ Sơn có một giải nguyên là Cố Lê Thời Tập đỗ năm Minh Mạng thứ 9 (1828); hai Á nguyên là Cố

Lê Huy Côn đỗ năm Minh Mạng thứ 6 (1825) và Cố Lương Nhị đỗ năm Tự Đức thứ 35 (1882) Có hai khoa thi làng Lệ Sơn có hai người cùng đỗ cử nhân Đó là năm Gia Long thứ 17 (1818) có Phan Nhật Thạnh và Lê Huệ; khoa thi năm Minh Mạng thứ 8 (1828) có Lê Thời Tập và Lê Tư Duệ cùng đỗ Lệ Sơn dưới triều Nguyễn có hai cha con cùng đỗ cử nhân là Lê Huy Côn và Lê Huy Tuân Đăc biệt có ông Lương Khắc Kiệm là người tám khoa liền đỗ tú tài Lệ Sơn có quy định khuyến học bằng học điền, làng trích ruộng làm phần thưởng cho người đỗ đạt Một số phú ruộng trong làng đã hiến ruộng cho làng làm học điền Theo nhà

Quảng Bình học Nguyễn Tú thì sở dĩ “Lệ Sơn được xếp vào bát danh hương vì

người Lệ Sơn từ nam phụ đến lão ấu ai cũng thuộc sách Tam tự kinh và Minh

tâm bảo giám phụ nữ ai cũng thuộc Truyện Kiều…”[5;256]

“Dưới triều Nguyễn, với số lượng nho sinh đông đảo Hầu như khoa thi hương nào cũng có người Lệ Sơn đi thi và đã có 11 người đỗ cử nhân, hàng chục người đỗ tú tài Thành tích khoa bảng của Nho sinh Lệ Sơn tuy không thật xuất sắc nhưng cũng khá ấn tượng với một giải nguyên, ba Á nguyên, có người kiên trì theo nghiệp đèn sách tới mức tám khoa liền đỗ tú tài và có một số khác có tới

3 khoa liền đỗ tú tài Khoa Kỷ Mão - Gia Long thứ 18, ở trường thi Trực Lệ, xã

Lệ Sơn Thượng có hai Nho sinh là Phan Nhật Thạnh và Lê Huệ cùng đỗ cử nhân

Trang 22

Khoa thi Mậu Tý - năm Minh Mạng thứ 9, tại trường thi Thừa Thiên, Lệ Sơn Thượng lại có hai người cùng đỗ cử nhân Lê Thời Tập (chú) đỗ Giải Nguyên và

Lê Tư Duệ (cháu) đỗ Á nguyên”[4;133]

“Qua nghiên cứu về văn hóa và giáo dục của Lệ Sơn, một số nhà nghiên cứu cho rằng dưới chế độ phong kiến, thực dân mà ở Lệ Sơn Thượng hầu như tất

cả nam, phụ, lão, ấu đều thuộc sách Tam tự kinh và Minh tâm bảo giám, phụ nữ

ai cũng thuộc truyền Kiều, truyện Hoàng Trừ - Bà Phó, truyện Phạm Công - Cúc

Hoa”[4;133] Đây cũng được coi là một đặc trưng thể hiện tinh thần ham học hỏi

của người dân để thoát ra khỏi tình trạng mù chữ Cùng với việc xây dựng nếp sống ăn ở lành mạnh, thủy chung, lịch sự có văn hóa, lại có nhiều di tích, nhiều người khoa bảng đỗ đạt làm quan nên thời nhà Nguyễn làng Lệ Sơn được xếp vào nhóm tứ danh hương phía bắc tỉnh Quảng Bình

2.1.2 Lệ Sơn là làng có nhều danh sơn kỳ tú

“Ở Lệ Sơn gắn với dãy núi đá vôi có tới gần 100 đỉnh là truyền thuyết lèn

99 chóp, Lèn Đứt chân Dãy núi này có một loạt các đỉnh nhấp nhô uốn lượn được các bậc trí thức làng đặt cho những cái tên rất đẹp như Thi Đàn, Họa Các,

Vũ Tọa, Thần Vì…Núi Lệ Sơn có nhiều hang động như động Chân Linh, hang

Mụ Trằn đã đi vào huyền thoại, thi ca và cổ tích Lệ Sơn có hệ thống di tích phong phú thờ đủ cả tiên, thánh, thần, phật (miếu Chân Linh thờ tiên nữ, Văn thánh thờ Khổng Tử (thánh), đình làng thờ Thành hoàng và các vị Tiền hiền khai

canh, khai khẩn (thần); chùa Phúc Tự và chùa Rôộc (thờ Phật))”[5;257]

Truyền thuyết Lèn 99 chóp

“Truyền thuyết kể lại rằng: lúc Chúa Nguyễn trên đường vào Nam kiếm chốn lập nghiệp để chống trả với chúa Trịnh ở phương Bắc, khi đến làng Lệ Sơn, thấy phong cảnh hữu tình, đất đai phì nhiêu, có núi sông che chắn; đồng thời phía Nam, Đông Nam, Tây Nam lại có bảy lòng chảo lớn mà người bản xứ gọi là Hung Tắt, Hung Cày, Hung Mít, Hung Xoong, Hung Thơm, Tràm, Hung Lụy có thể lập đồn lũy để chống trả với kẻ thù

Chúa Nguyễn quyết định lập đàn để xin trời đất, thần linh, Đức Phật…cho đóng đô tại nơi này Chúa Nguyễn ăn chay, hương hoa tế lễ năm ngày liền Ngày thứ năm, Ngài bỗng thấy một đàn chim Phượng Hoàng từ xa bay đến, lượn ba

Trang 23

vòng, che kín cả ánh nắng chói chang của ngày hè Đàn chim bay tản ra, mỗi con

đỗ xuống một đỉnh núi (lèn) Người ta đếm đủ chín mươi chín con đã đổ xuống trên chín mươi chín đỉnh núi của làng Có một con mào đỏ, đuôi cong bay dọc theo dãy núi tìm chỗ đậu…Không có nơi đỗ, con chim đầu đàn bay hút về

Phương Nam và cả đàn Phượng Hoàng cũng sải cánh bay theo”[4;89] Năm

1902, cậu cả Hằng đã có câu thơ rằng:

“Đất Phong Thủy một bầu long hóa Núi Trường Sơn ngựa thả Kỳ Lân Phượng Hoàng gieo đậu mấy lần Chín mươi chín chóp đã gần một trăm Phong cảnh đẹp chim rừng gọi bạn Thú yên hà đã rạng tam thiên Bao nhiêu non nước u huyền bấy nhiêu…”

2.1.3 Lệ Sơn có một loạt di tích lịch sử - văn hóa

Ở Lệ Sơn có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: Đình làng, chùa Phúc Tự, miếu của tám họ lớn, miếu thờ Bà Sơn, miếu Tam Tòa thờ Đại càn quốc gia Nam Hải, miếu Hiền lương; miếu thờ các Đức ông gồm Thành Hoàng, Câu Kê quan, Mậu Tiên hầu, Mạnh Linh; miếu thờ Tả phủ quận công, Chấn quận công, Hoa quận công

“Hiện nay chúng ta vẫn chưa xác định được chính xác thời gian làng Lệ Sơn bắt đầu dựng đình song theo lôgic thì đình làng Lệ Sơn phải được xây dựng sau khi công cuộc khai khẩn đất đai hình thành nên xóm làng đồng ruộng, thiết lập xã hiệu và trước khi xây dựng chùa Phúc Tự (1757) Từ căn cứ này chúng ta có thể khẳng định rằng ngôi đình làng Lệ Sơn Thượng đầu tiên được xây dựng trong khoảng từ sau thế kỷ XVI đến trước năm 1757 là năm hoàn thành chùa Phúc Tự

và đúc chuông chùa Theo các cụ cao niên thì Đình làng lần đầu được xây dựng ở khu trạm Ý tế xã hiện nay thuộc thôn Đình Miệu Đình làng lần đầu tiên chỉ là một căn nhà gỗ 5 gian làm chủ yếu từ gỗ do nhân dân đóng góp theo đơn vị ấp (xóm) Đình tọa lạc trên một khu đất có diện tích khoảng 600m2”[4;56]

“Trận lụt lớn năm Ất Sửu 1865 đã đẩy đình làng trôi dạt về nằm lại khu đất cao ráo ở trung tâm làng là nơi xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã (cũ) ở thôn

Trang 24

Trung Làng Ở vị trí mới đó năm 1866, đình làng được trùng tu lần thứ nhất Đình được trùng tu với quy mô rộng lớn và kết cấu đẹp hơn trước, trong một khuôn viên có diện tích gần 1000m2 Lần đầu trùng tu này đình được xây tường

đá Đình có kết cấu nhà rường 5 gian 5 lòng cột, trếnh, kèo đều làm bằng gỗ mít,

gỗ lim và được chạm trổ công phu Khi việc trùng tu đình làng hoàn tất, cố Lê Huy Tuân lúc đó đang giữ chức Án sát sứ tỉnh Thanh Hóa đã gửi về cúng cho làng một cái trống đại và một bức hoành phi Trống đại có đường kính 0,8m, tang trống dài 1,2m; bức hoành phi ở giữa khảm bốn chữ lớn “Vạn phúc du đồng” hai bên có ghi thời gian tặng là năm Mậu Dần - Tự Đức thập cửu niên (1866) với

ước nguyện đủ loại hạnh phúc và may mắn luôn đồng hành cùng với làng Lệ

Sơn Bức hoành phi đó ngày nay trở thành một trong những cổ vật văn hóa rất có

giá trị còn lại của làng và hiện vẫn được cất giữ tại hội trường Ủy ban nhân dân

xã Văn Hóa”[4;56]

“Đến năm 1924, đình làng bị xuống cấp nhiều do đó hội đồng kỳ mục của làng đã quyết định huy động sự đóng góp của nhân dân để trùng tu đình lần thứ hai Là một làng có truyền thống văn hóa nên quyết định của Hội đồng kỳ mục được toàn thể dân làng nhất trí và nhiệt tình hưởng ứng; người góp của, trẻ góp trí, góp công để phục dựng chùa khang trang hơn Cố Lê Bình Nguyên là Đốc học Quảng Ngãi từ quan về quê mở trường dạy học và cũng là vị Tiên chỉ của làng lúc đó được dân làng dao trọng trách đứng ra chủ trì công việc trùng tu đình làng lần thứ hai Đình được trùng tu với quy mô rộng lớn hơn lần trước trên diện tích khoảng 2000m2”[4;57] “Xung quanh đình có khuôn viên là tường cao bao bọc Mặt trước đình nhìn về hướng Nam lấy núi Thần Vì làm tiền án, phía sau và cách đình khoảng 200m là Sông Gianh uốn khúc làm Thanh long Trước cổng đình là một ao rộng khoảng 700m2 được trồng sen, kế tiếp ao sen là con đường dọc chạy qua cổng đình Cổng đình là cổng mở không có cánh cổng Cổng rộng 2,7m, hai trụ cổng là hai cột nanh cao 6m trên đỉnh là hai con nghê chụm đầu vào nhau”[4;58] Chân cột nanh vuông cạnh 0,9m phía trước khảm sành câu đối do

cố Lê Bính sáng tác:

Khí tác sơn hà công minh chính trực nhi nhất Đức hợp thượng hạ cao minh bác hậu vô cương

Trang 25

“Sau cổng 1,3m là một bức bình phong vuông vức có cạnh bằng bề rộng của cổng là 2,7m Mặt tiền bình phong đắp phù điêu hình hổ phục, Mặt hậu đắp hình hai con chim hạc hầu mặt trăng Hai góc sân phía Tây Bắc và Đông Nam sát tường rào trồng hai cây đa tỏa bóng mát cho sân đình Sân đình là nơi tổ chức hội làng Đình có kết cấu gồm hai hồi lang ở hai phía Tây Bắc và Đông Nam, giữa là đình trung năm gian chia thành hai phần: tiền đình và hậu đình Nền đình được láng xi măng trơn bóng Khu vực tiền đình khá rộng nối liền cả 5 gian (để thông các gian không ngăn cách) được trải chiếu là nơi lễ bái, dọn tiệc và hội họp của quan viên Khu vực hậu đình có mái cong vòm cuốn lộng lẫy với các hình rồng chầu, phượng múa Hậu đình là nơi “tối linh từ” đặt tượng thờ, vò hương, bài vị

và sắc phong của các vị thần Hồi lang ở hai đầu là nơi để giá treo mủ áo, dù lộng của quan viên”[4;59]

“Đình trung 5 gian rộng, vì kèo kết cấu 5 lòng kiểu nhà rường Năm lòng tính từ ngoài vào gồm: lòng tiền - cù, lòng tiền, lòng giữa, lòng hậu và lòng hậu -

cù Vật liệu làm đình phần lớn là gỗ lim và gỗ mít Cột đình gồm: 8 cột cái đường kính chân cột khoảng 0,7m, 8 cột con đường kính chân cột khoảng 0,4m

và 4 cột cù đường kính 0,25m Băng, xà, kèo làm đình đều chạm trỗ Long, Ly, Qui, Phượng; đòn tay chạm cuốn thư, bầu rượu, đai kiếm, cung đàn Phần đình hậu được xây bàn thờ nhiều cấp Ở bậc trên hết thờ các thiên thần gồm: Thần nông, Sơn thần chủ quản sơn lâm,…Bậc kế tiếp thờ các nhân thần, đặt vò hương kèm bài vị các nhân thần Bậc kế tiếp là nơi đặt cờ, lộng, mâu kiếm, long đao và các sắc phong của triều đình cho các vị thần là các Đức ông Thành hoàng, tiền Khai canh, hầu Khai canh; các nhân vật khoa bảng đỗ đạt làm quan to được triều đình sắc phong và giao cho làng cúng tế…”[4;59]

Tóm lại, trên bàn thờ ở hậu đình ngoài một số vò hương kể trên còn có các

vò hương khác để thờ cúng rất nhiều vị cả thiên thần lẫn nhân thần song hiện nay vẫn chưa xác định được một cách chính xác và đầy đủ là đình làng còn thờ những

vị thần nào ngoài các vị thần đã kể phần trên và trật tự sắp xếp vò hương trên bàn thờ ra sao? Tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng đình làng đảm nhận ba chức năng cơ bản và quan trọng sau: Thứ nhất, đình là nơi thờ tự cúng tế các vị Thành hoàng, Tiền Khai canh, Hậu Khai canh Đình làng là nơi tổ chức

Trang 26

hội làng ba năm một lần vào dịp rằm tháng sáu âm lịch Thứ ba, đình là nơi hội họp của Quan viên, Hội đồng kỳ mục, nơi chức dịch của làng (Lý trưởng - Xã trưởng, Phó lý, Tướng thần, Ngũ hương, Trương tuần, Cai đình) làm việc

Miếu thờ Lê tộc đại tôn

Riêng Lê tộc có hai miếu gồm: miếu thờ ngài Sơ tổ Lê Văn Khanh ban đầu miếu được xây ở lùm mộ tổ (cũng là nơi đặt mộ cố Sơ tổ Lê Văn Khanh, được Ngài Thủy tổ Lê Văn Hành cải táng từ Yên Mô Thượng, Yên Khánh, Ninh Bình đưa vào) “Nơi đặt mộ Ngài Sơ tổ có diện tích chừng một công mẫu là đất thờ tự thuộc sở hữu của Lê tộc xưa; được miễn nộp thuế Lùm mộ này trước đây cây cối mọc thành rừng trở thành một khu cấm địa của Lê tộc Năm 1940, miếu thờ Ngài

Sơ tổ được dời về xứ Hà Thâu đặt gần đối diện với chùa Phúc Tự Đó cũng là vị trí của miếu thờ ngài Sơ tổ Lê tộc hiện nay Lùm mộ nói trên tồn tại đến năm

1957 khi Lệ Sơn thực hiện cải cách ruộng đất thì bị triệt phá biến thành đất canh tác nông nghiệp của Hợp tác xã”[4;71]

Miếu thờ và phần mộ của ngài Sơ tổ được cố Lê Văn Hành giao cho 6 người con trai đầu coi sóc thờ phụng; miếu này còn được gọi là miếu họ Lê trên

“Ông bà Lê Văn Hành về già sống với người con trai thứ bảy (con trai út) là

cố Lê Thuần Phác Sau khi ông bà quy tiên, phần mộ được táng tại khu lùm mộ thứ hai (ngày nay khu vực đó được gọi là xứ Nương Cau) Lùm mộ này cũng có diện tích chừng một công mẫu cây cối um tùm trở thành cấm địa thứ hai của Lê tộc Trước cải cách ruộng đất (1957), các thế hệ con cháu Lê tộc thay nhau cắt cử người trông nom các lùm mộ hết sức nghiêm cẩn Sau cải cách ruộng đất cả hai lùm mộ nói trên mới bị triệt phá biến thành đất canh tác Hiện nay chính quyền địa phương chọn khu vực này làm nghĩa địa chính của xã Sau khi qua đời, ông

bà Thủy tổ Lê Văn Hành được con cháu lập miếu thờ ở đồng Cồn Trôi Miếu thờ ngài Thủy tổ Lê tộc thường được gọi là miếu họ Lê dưới Về cơ bản hai miếu có cùng một mô típ kiến trúc Ngoài có tường bao bọc có cổng cao gắn câu đối; sau cổng là bức bình phong, sau bình phong là một khoảnh sân; kế đến theo thứ tự là bái đường, long đình và hậu chẫm Hai bên hậu chẫm, mỗi bên đều có hai miếu nhỏ tất cả hợp lại với phần chính điện thành kiến trúc Ngũ lâu”[4;74]

Trang 27

“Miếu thờ ngài Thủy tổ Lê tộc - cố Lê Văn Hành là vị Tiền Khai canh lập

ấp của làng Lệ Sơn nhìn từ ngoài vào Miếu này được xây dựng ở xứ Cồn Trôi từ thế kỷ XVI qua nhiều lần trùng tu và đây là kết quả đợt trùng tu đầu thế kỷ XXI Tại miếu thờ Sơ tổ Lê tộc đại tôn vào các ngày tết, giỗ chạp thường treo cao lá cờ Khai canh do triều Bảo Đại cấp, xác nhận công lao khai khẩn làng Lệ Sơn của Lê tộc”[4;75] Ngoài ra còn có miếu thờ của các dòng họ khác như: miếu thờ họ Trần, họ Phan, họ Phạm, họ Nguyễn, họ Bùi, họ Lương, họ Cao

Điện thờ các Đức ông: Hoa Quận Công và Chấn Quận Công

Điện này được xây ở ấp Xuân Tổng xưa, nay thuộc thôn Xuân Sơn Điện được xây để thờ hai vị quan lớn là Hoa Quận công và Chấn Quận công

“Hoa Quận công tên thật là Nguyễn Khắc Kham Hoa Quận công là con trai của danh tướng Nguyễn Khắt Thuần Hoa Quận công Nguyễn Khắc Kham là một

võ tướng tài ba của quân đội Nam triều Do lập được nhiều công trong các trận

chiến Trịnh - Mạc mà Nguyễn Khắc Kham được vua Lê phong lên hàng “Công

phụng đại thần tôn triết vương triều, quả trừ ngụy Mạc, Hựu Công phụng bản Trung hưng khai quốc công thần Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Đông chinh tả đô đốc chưởng phụ sự trấn thủ Nghệ An - Quảng Nam đẳng xứ, Đại tư

mã tước hoa Quận công” Hoa Quận Công được thưởng đất thực phong tại xã Lệ

Sơn Thượng”[4;70]

“Hoa Quận Công có bốn con trai thì ba người là những võ tướng cao cấp của nhà Lê - Trịnh gồm Trà Quận công Nguyễn Trung Trực, Chấn Quận công Nguyễn Khắc Du và hiền Quận công Nguyễn Khắc Tuân (Quân lớn tả)”[4;70]

“Chấn Quận công Nguyễn Khắc Du đương thời được triều đình Lê - Trịnh phong chức là Công phụng đại thần Điển tướng quân uy dũng công thần Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Đô đốc phủ tước Chấn Quận công Sau khi Chấn Quận công mất, ngài tiếp tục được nhà vua truy thăng hàm Phó vương Chấn Quận công được phối thờ trong điện thờ của Hoa Quận công”[4;70]

2.1.4 Lệ Sơn có nhiều người làm quan thời phong kiến

“Theo thống kê chưa đầy đủ làng Lệ Sơn thời phong kiến có số lượng võ quan trên 30 người từ thượng tướng quân đến Đề đốc, Vệ úy, Phó vệ úy, Cai đội…Thượng tướng quân có Tả phủ Trà Quận công Nguyễn Trung Trực, Cẩm y

Trang 28

vệ Đô chỉ huy sứ có Nguyễn Huy Tưởng Đô đốc có Hoa Quận công Nguyễn Khắc Tuân; các võ tướng như Trung Kiệt tướng quân Lê Đình Liên, Quả cảm tướng quân Lê Huy Điện, Kỵ úy tướng quân Lê Đăng Loan, Tráng kiệt tướng quân Lương Tú Lâm; các phấn lực tướng quân Lê Đình Luyện, Lê Quốc Thạch, Lương Quốc Hậu, Lương Thiếu Huệ…”[5;257]

“Lệ Sơn có nhiều quan văn từ Tuần phủ, Bố chính, Tri phủ, Tri huyện, đến Thừa lại Lệ Sơn có 1 Tuần Phủ là Lê Duy Dần, 2 Bố chính là Lê Ngọc Uẩn, Lê

Tư Duệ; Án sát có Lê Thời Tập, Lê Huy Tuân,…Đốc học có Lương Nhị, Lê Bính, Tri Phủ và Đồng Tri phủ có Lương Duy Chí, Lương Khắc Khoan, Lê Huệ Ngoài ra Lệ Sơn còn có nhiều người làm quan trong triều từ Lang trung, Thừa biện, Viện trưởng Viện đô sát, Hàn lâm viện; Hành tẩu và Thư lại các bộ Trong

số nói trên có những người nổi tiếng thanh liêm và trung nghĩa Lệ Sơn có hai người được liệt thờ ở đền Trung nghĩa trong cố đô Huế là Lê Duy Dần và Lê Huệ, 4 người được vua sai làng lập miếu Hiền lương để nhân dân thờ cúng tại quê hương”[5;258] Qua đó chúng ta thấy rằng thời phong kiến, Lệ Sơn có số lượng người làm quan rất đông và giữ nhiều chức vụ khác nhau từ Tuần phủ đến Thừa lại

2.1.5 Lệ Sơn là làng có nhiều trai tài, gái sắc

Lệ Sơn là làng có trai tài gái sắc, trai thì chăm học, chăm làm nổi tiếng như

“Lương Duy Chí nhà không có tiền mua dầu nên phải lên chùa nhặt chân hương

về đốt hay bắt đom đóm thả vào chai làm đèn để học tập và thành tài Con gái Lệ Sơn nổi tiếng trắng da, dài tóc, có người được tuyển vào cung và được vua Nguyễn gả cho vua Ai Lao”[5;258]

Như nhà thơ Lê Viết Hạnh đã từng viết:

“…Lệ Sơn đẹp cảnh, đẹp người Nam thanh nữ tú bao đời tiếng vang

Lệ Sơn nên xã nên làng Khen ai khéo giữ bảo tàng thiên nhiên…”

Làng Lệ Sơn nổi tiếng có nhiều trai tài gái sắc như tướng Hoàng Sâm Hoàng Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình Ông theo bố mẹ sang sinh sống ở Nakhon, rồi Chaiang Mai (Thái

Trang 29

Lan) Khi Bác Hồ từ Châu Âu về, thấy Trần Văn Kỳ mới 12 tuổi nhưng sáng dạ, nhanh nhẹn nên chọn làm liên lạc viên Ông đã có công rất lớn trong việc thu phục tướng phỉ Hoàng Sâm còn có tên là Trần Sơn Hùng nổi tiếng cả vùng Cao Bằng là người gan dạ “đánh đông dẹp bắc”, bắn súng bằng hai tay “bách phát bách trúng”, phi ngựa thì như kỵ sĩ, nói tiếng Quảng thì như người Hoa Bọn trùm phỉ nghe danh phải kính nể Ông cũng từng làm cố vấn quân sự ở Lào Ngày 15 - 12 - 1968 Hoàng Sâm hi sinh tại mặt trận Trị Thiên

2.1.6 Lệ Sơn có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp

“Lệ Sơn có nhiều phong tục tập quán tốt đó là các tập tục giúp nhau lợp nhà, bổ cau, bắt cheo Người Lệ Sơn có những truyền thống tốt như trọng danh dự, thượng võ, giữ nề nếp thanh bạch, lịch sự hiếu khách, làng không có người ăn xin…

Tục bắt cheo các đám cưới cũng là một phong tục hay để thử tài văn học đồng thời còn thể hiện hiểu biết thâm sâu của người Lệ Sơn qua việc ra một vế câu đối buộc họ nhà trai phải đối lại khi đến làng rước dâu”[5;258] Những phong tục tập quán đó đã trở thành những thói quen của người Lệ Sơn hình thành nên những nét đẹp riêng của làng

2.1.7 Lệ Sơn có nhiều lễ hội đặc sắc

Lệ Sơn có nhiều lễ hội đặc sắc như lễ Hạ Điền, lễ Cầu Đảo, Hội làng với nghi lễ tế Thành hoàng và các vị Khai canh, Khai khẩn gắn với các hội thi đấu roi, đi quyền của nam giới; thi làm bánh, nấu cỗ của nữ giới

Hội làng

“Hội làng cứ ba năm được tổ chức một lần vào dịp rằm tháng sáu âm lịch Đây là lễ hội quan trọng nhất của làng Ngay từ khi kết thúc lễ hội năm nay thì công tác chuẩn bị cho kỳ lễ hội tiếp theo đã được triển khai Như vậy công tác chuẩn bị được nhân dân và hội đồng kỳ mục của làng chuẩn bị suốt ba năm Từ việc phân công người nuôi trâu để tế đến việc chuẩn bị trang phục của quan viên

và đoàn rước các dòng họ phân công người tham gia thi đấu từ thi vật, thi đấu roi, đi quyền, thi nấu cỗ, làm bánh, chọn các thiếu nữ xinh đẹp để làm quân cờ người…”[4;88]

Hội làng được tổ chức uy nghiêm mà lại rất long trọng hoành tráng, nó thực

sự là ngày hội của tất cả mọi người dân trong làng từ già trẻ gái trai nam nữ

Trang 30

Lễ hạ điền

“Lễ hạ điền được chuẩn bị chu đáo cả cỗ bàn, ai có chức sắc cao trong làng mới được làm cỗ Trước ngày lễ, làng giao cho mỗi thôn chọn một cô gái có nhan sắc, con nhà có học thức, lại giàu có chuẩn bị bó má (mạ) Chức sắc của làng cử một vị vừa khỏe, vừa giàu có làm ăn phát đạt, đến giờ tốt, ai nấy trong bộ áo quần rực rỡ màu sắc, lưng ong thì thắt đai vàng, đai đỏ, đầu chít khăn đóng, khăn

mỏ quạ, rước một cây nêu trên có treo lá cờ thần và gánh một gánh mạ xuống ruộng cấy danh dự Giữa tiếng trống tiếng chuông mừng hội và tiếng xố khoan rộn ràng,

cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối xanh tươi, trĩu bông nẫy hạt”[4;88]

2.1.8 Lệ Sơn có nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc

Lệ Sơn có nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc như hát nhà trò, bói Kiều, đấu cờ người, hò đối đáp, sáng tác câu đố, làm câu đối: mừng thọ, mừng lên thăng quan tiến chức, mừng khai trương đình, đền thờ

Về sáng tác câu đối: những người trong làng Lệ Sơn thường sáng tác câu

đối treo trong các nhà thờ họ hay cổng làng để khuyên dạy con cháu và lưu truyền cho đời sau

“Cụ Lê Bính đã sáng tác câu đối:

“Khí tác sơn hà công minh chính trực nhi nhất

Đức hợp thượng hạ cao minh bác hậu vô cương”

Tạm dịch vế đối thứ nhất: Khí tạo nên núi sông và khí chất con người nơi đây công minh chính trực tuy hai mà một

Vế đối thứ hai: Từ quan, viên, chức dịch đến đinh tráng, lão hạng; trên dưới đồng lòng, hòa hợp thì sáng suốt, uyên bác vô biên

Trên Đình thánh (thờ Khổng Tử) của Lệ Sơn Thượng cũng được gắn câu đối:

“Thánh đạo nhật trung thiên hưng giận phi quan Tần dự Hán

Tư văn vị trụy địa lưu hành hà hãn Á di Âu”

Tạm dịch vế thứ nhất: Đạo thánh giống như mặt trời lúc 12 giờ trưa tỏa ánh sáng khắp bán cầu

Vế thứ hai: Văn minh là của chung lưu hành cả địa cầu không chỉ của Á, Âu”[4;136]

Trang 31

ca dao, dân ca địa phương và phần còn lại là do các nhóm hò tự sáng tác để thách

đố hoặc đáp trả đối phương Do đó các cặp hò thường kết thành nhóm để có người hò có người tìm lời cũ hay sáng tác lời mới Hò đối đáp thường diễn ra kéo dài cứ nhóm bên này cất lên một làn điệu thì lập tức nhóm bên kia đáp trả lại bằng một làn điệu khác và lại có ý thách đố do đó hò đối đáp cũng là dịp nam nữ thể hiện năng khiếu âm nhạc lẫn trí tuệ của thôn ấp mình”[4;140]

“Hò đối đáp giữa một nhóm thanh niên nam nữ của Lệ Sơn với thanh niên nam nữ của làng bên kia sông hoặc những người đi đò dọc trên sông Gianh ngang qua làng vào ban đêm Hò đối đáp thường diễn ra vào các dịp nông nhàn những đêm trăng thanh gió mát Nam nữ thanh niên của Lệ Sơn thường tụ tập ở

bờ sông cất giọng hò thách đố Nhiều cô gái Lệ Sơn xưa có giọng hò hấp dẫn đối đáp sắc sảo tinh tế khiến đối phương là các trai làng ở Phù Kinh (xã Phù Hóa), Ngoại Cương, Lò Đôộc (xã Cảnh Hóa) huyện Quảng Trạch đang đêm mà phải bơi qua bờ Nam sông Gianh để xem mặt đối phương”[4;141]

Với những đặc điểm, đặc trưng nói trên Lệ Sơn thật xứng đáng là một trong các danh hương của huyện Quảng Trạch nói riêng và của Quảng Bình nói chung và nhà thơ Văn Tăng không thể kiềm chế được cảm xúc đã sáng tác nên các câu thơ:

“Chốn ấy Lệ Sơn núi dựng thành

Chân Linh rừng vải gió vời xanh

Ba ngàn cảnh đẹp giang sơn tặng Một chốn quê yêu tổ quốc giành Vạn thuở tổ tông xây gốc rể Bao phen con cháu giữ cây cành Sơn hà khéo tạc nên vàng ngọc Cho mãi muôn đời đất sánh danh”

Trang 32

Tóm lại, Lệ Sơn là làng nổi tiếng có truyền thống hiếu học từ xưa đến nay

và cũng là làng có nhều danh sơn kỳ tú Có số lượng người làm quan rất đông và

có nhiều trai tài, gái sắc Mảnh đất này có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp và nhiều lễ hội đặc sắc thể hiện những nét đẹp riêng của người Lệ Sơn Đồng thời ở đây cũng là nơi có nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc

2.2 Làng La Hà, nay là thôn La Hà thuộc xã Quảng Văn, huyện Quảng Trạch

2.2.1 La Hà là làng có truyền thống hiếu học

La Hà là làng có thành tích khoa bảng đứng đầu tỉnh Quảng Bình với 6 vị

đỗ Đại khoa (tiến sĩ và phó bảng) và trên 30 vị đỗ hương khoa (cống sĩ - cử nhân) Trong các kỳ thi hương có người Quảng Bình tham dự, từ năm Quý Dậu

1813 đến năm Mậu Ngọ 1918 có 270 vị đỗ cử nhân, trong đó Huyện Quảng Trạch có 113 vị, xã Quảng Văn có 32 vị, cũng chiếm số lượng nhiều nhất so với các địa phương trong huyện (Số liệu thống kê từ Quốc triều hương Khoa lục của Cao Xuân Dục) Ở làng La Hà, Quảng Trạch có dòng họ Trần Khắc, cả nhà mấy đời nổi tiếng hiếu học như Trần Khắc Mẫn, Trần Khắc Thận, Trần Khắc Khoan, Họ Tạ Đình đến 5, 6 đời liên tục đỗ đạt cao, chỉ riêng dưới triều Nguyễn, trong họ này đã có 1 tiến sĩ, 1 phó bảng, 5 cử nhân và nhiều bậc tú tài với những tên tuổi nổi tiếng như Tạ Kim Vực, Tạ Hàm

“Với việc đỗ đạt của nhiều dòng họ như vậy có ý nghĩa rất lớn, vượt ra ngoài phạm vi của một xã, một huyện, một tỉnh Việc chăm học hiếu học, dùi mài kinh sử của các thế hệ người dân La Hà Một làng quê nghèo khó, cách đò trở giang, vượt qua nghèo khó, kiên trì chịu đựng, thi đua lẫn nhau trong dòng họ, giữa các dòng họ để học tập Sự nghèo khó không làm nản chí, xao lòng các Nho

sĩ trong học hành, đó là nguồn cội xây đắp nên truyền thống khoa bảng của người dân La Hà nói riêng và của người dân Quảng Văn nói chung Con cháu trong các dòng họ nay vẫn lưu truyền về đức tính hiếu học của cha ông mình như các bậc tiến sĩ, cử nhân tiền bối: Tạ Hàm, Phạm Nhật Tân, Trần Thống, Trần Chuẩn, Trần Khắc Hệ, Trần Khắc Mẫn, Trần Khắc Thân, Trần Khắc Khoan Một số nho

sĩ ngày xưa quá nghèo không có tiền mua giấy, mua dầu, chỉ đứng nghe trộm thầy giảng bài và tìm cách nhớ, hoặc lấy mo nang tre làm giấy viết Đêm về bắt

Trang 33

đom đóm bỏ vào bóng lợn để thay đèn ngồi học Nhờ thế mà một số người đã thi đậu tiến sĩ, cử nhân”[23;26]

Qua số liệu thống kê khoa cử dưới triều Nguyễn thì chúng ta thấy làng La

Hà có thành tích khoa bảng đứng đầu tỉnh và chiếm số lượng lớn nhất Một miền quê nghèo khó cách đò trở giang như vậy nhưng con em vẫn kiên trì chịu đựng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để học hành xây đắp nên truyền thống khoa bảng của người dân La Hà

2.2.2 Làng La Hà có nhiều người đỗ đạt thời phong kiến

Dưới chế độ phong kiến mặc dù không có trường học nhưng với truyền thống hiếu học mà nhiều gia đình đã tự thuê thầy nơi khác về dạy hoặc gửi con

em đi các nơi học tập Có khoa thi Mậu Ngọ năm Tự Đức thứ 11, La Hà có 3 người cùng đỗ cử nhân gồm: Tạ Kim Bảng, Phạm Huy Rinh và Trần Văn Hội, nhiều khoa có 2 người cùng thi đỗ Đặc biệt trong một gia đình họ Tạ có cả cha, con, bác, cháu, anh, em cùng thi đỗ Đó là: Tạ Kim Vực cùng hai em là Tạ Kim Phan và Tạ Khuê; có hai con là Tạ Kim Bảng, Tạ Ngọc Đường và cháu là Tạ Hàm đều đỗ cử nhân; trong số đó có hai người đỗ Đại khoa gồm Tạ Kim Vực đỗ phó bảng và cháu là Tạ Hàm đỗ Tiến sỹ Họ Trần ở La Hà cũng có một dòng họ khoa bảng nổi tiếng có hai anh em là Trần Văn Chuẩn đỗ Tiến sỹ có em Trần Văn Thúc đỗ cử nhân; hai cha con cùng thi đỗ là Tiến sỹ Trần Văn Hê và con trai

là Trần Hữu Xứng đỗ cử nhân, hai cha con Phạm Huy Bính, Phạm Huy Rinh cùng đỗ cử nhân “Trong lịch sử khoa cử “lều chõng” Quảng Bình dưới triều Tự Đức năm thứ 4 (1851), ở kỳ thi Hội đã ghi nhận một bảng vàng rực rỡ nhất cho Quảng Trạch và cả Quảng Bình là chỉ có 3 Tiến sỹ mà Quảng Trạch chiếm cả 3, trong đó làng La Hà chiếm 2 vị…Đó là hai thầy trò cùng đi thi với nhau một lần, cùng đậu với nhau một khoa, điều mà các triều đại phong kiến ngày xưa cho là quý hiếm Ba vị tiến sĩ ấy là: Nguyễn Văn Thành thôn Lộc Điền, Phạm Nhật Tân, Trần Văn Hệ người thôn La Hà xã Quảng Văn (Ông Phạm Nhật Tân là thầy dạy của ông Trần Văn Hệ, thầy năm ấy 41 tuổi, còn trò mới 24 tuổi)

“Dưới chế độ phong kiến, La Hà có đội ngũ trí thức đông đảo tài cao, học rộng nhiều người làm quan to nên nhân dân trong phủ Quảng Trạch rất nể phục thậm chí có phần ái ngại khi giao lưu với người La Hà Đó cũng là lý do ở Quảng

Trang 34

Trạch xuất hiện câu thành ngữ “vật giao La Hà trái” Tiến sỹ Trần Văn Chuẩn - một người La Hà từng được cử làm Phó sứ của Tự Đức đi công cán ngoại giao ở Trung Quốc; sau thăng lên Tổng đốc Nghệ An, rồi Thượng thư Bộ công”[5;259]

Là một trong những danh nhân nổi tiếng của người La Hà

2.2.3 La Hà có nhiều di tích văn hóa lịch sử

La Hà có nhiều di tích văn hóa lịch sử với nhiều nhà thờ họ, miếu thờ thần

Từ miếu Thành hoàng, miếu Đại Càn đến 9 miếu thờ các vị quan đỗ đạt được vua sắc phong và làng rước về Phía Đông làng có miếu thờ Thánh Võ, phía Đông Nam làng có miếu thờ Xích đế, phía Tây Bắc có miếu thờ Thích đế, phía Đông Bắc có miếu thờ Hắc đế Ở bến đò qua Ba Đồn có miếu thờ Tả Quận Công; hai miếu ở đồng Biền thờ Quận Công

Một nét đặc sắc của văn hóa làng quê Quảng Văn ngày xưa là kiến trúc đình, chùa, miếu thờ

“Đình làng La Hà được xây ở đầu thôn về phía Tây Nam của làng, hướng đình quay về mặt phía Tây - Nam trông về hòn núi Vắp Ngày xưa các cụ gọi là hướng “Long hồ - Hổ phục” vì trước các miếu và đình Làng có một dòng nước hồi chảy về tụ đầu thôn và nhìn xa xa về phía hòn núi Vắp giống như một con hổ đang nằm phục ngoảnh mặt về phía làng, là nơi giao hội của các nhánh sông Son, sông Nam và các nhánh nhỏ phân cách các cồn Nổi, cồn Bông”[9;27]

“Toàn khuôn viên khu đình rộng 2000m2 xây trên nền đất cao Đình được xây vào năm 1859 do con cháu 5 họ đại tôn dựng, lúc đầu đơn giản bằng tranh tre Năm 1904, cụ Trần Văn Thống (cụ Thượng Thống) đứng ra kêu gọi con cháu trong thôn và những người ở xa gửi tiền về tôn tạo, xây dựng lại đình kiên cố Hai cột nanh (cột cổng) cao khoảng 10m, đường kính chân cột vuông, mỗi cạnh 1,2m, bốn phía ốp sứ có hoa văn và thủy tinh với nhiều màu sắc tạo thành những con rồng uốn lượn trong mây, trên đỉnh đắp hai con nghê chầu hai bên, đứng từ

xa cách hàng chục cây số vẫn thấy hai cột nanh của đình làng La Hà Trước sân đình có một bình phong chắn giữa cổng, mặt trước bình phong là con voi chầu, giữa lưng voi có hoa văn xanh đỏ (tượng trưng cho bành voi), phía sau bình phong có một lư hương để đốt vàng bạc khi cúng tế trong đình, hai bên bức bình phong có hai con ngựa chầu hai bên Bình phong có mái che, trên mái được trang

Trang 35

trí hình rồng Đình làng có hai cột cờ về hai phía của bức bình phong Sở dĩ có hai cột cờ là do làng có nhiều nhân vật có công vì nước nên được vua ban hai lá

cờ, khi tổ chức lễ hay rước sắc thì hai lá cờ được kéo lên

Hai bên cổng chính có hai cổng phụ, mỗi cổng có hai trụ biểu nhỏ có hai con nghê trên đỉnh chầu vào, cổng xây vòng trong có mái che Sân đình lát gạch, trước cửa đình có hai cây phương vĩ, sát tường có hai cây đa Đình có hàng rào xây bao quanh”[9;28]

“Đình chính có 5 gian, 3 gian chính, 2 gian hồi Kiến trúc đình thôn La Hà lấy mẫu từ Đình thôn chợ Nhượng (Hà Tĩnh), từ chủng loại gỗ đến cách bài trí, chạm trỗ và quy mô thì đình thôn La Hà to hơn và thuộc loại đồ sộ, đẹp nhất vùng Quảng Trạch

Gỗ cất đình toàn gỗ lim, cột cái có đường kính rất lớn, cột cao 5,6m Ba gian giữa từ xuyên, xà, kèo đều uốn lượn và chạm khắc khá công phu Trong hai vài chái có hai bộ sập, một bộ 5 lá dài bằng chiều rộng đình, dùng để dân thôn ngồi họp nhóm Gian dưới cùng có treo một chiếc chuông đồng nặng 300kg, khi đánh tiếng vang lên bay xa nhiều cây số Chiếc chuông này không rõ ai đúc Đến năm binh hỏa, giặc Pháp lên càn và cướp đem về treo ở nhà thờ Đơn Sa Trải qua nhiều năm chiến tranh chuông bị thất lạc hiện nay vẫn chưa tìm thấy

Ba dãy cột trong đình đều treo các câu đối, trên thượng lương gian giữa có treo bức hoành phi với 3 chữ lớn (Hòa - Thả - Bình) Theo lưu truyền của các cụ ngày xưa giải thích nghĩa của ba chữ hoành phi trên là “Dân trong làng phải hòa thuận, đoàn kết mang lại sự an bình, thịnh vượng cho dân làng” Tất cả các câu

đố và hoành phi đều được sơn son thiếp vàng

Gian giữa là hệ thống thờ tự khá quy cũ và uy nghiêm, từ ngoài vào có hai con hạc bằng đồng to lớn, đứng trên hai con rùa chầu Hai bên là ba hàng khí giới

và bút lông tượng trưng cho quan Văn, quan Võ Trên án thờ có hai giá đỡ chạm trỗ khá kỳ công, hai bên bệ thờ có hai lọng cắm 4 tàn che

Ban gian chính có 3 bệ thờ, ở giữa thờ Đức Thành hoàng bản thổ, bên hữu thờ quan Văn, bên tả thờ quan Võ, mái đình lợp ngói vẩy, nóc lượn hình cong và đắp biểu tượng “Lưỡng long chầu Nguyệt”[9;29]

Trang 36

“Từ đình tiền vào đình hậu có hai cửa thông hai bên Đình hậu xây liền với đình tiền, đình hậu cũng có ba gian, cột, kèo, vài và xuyên làm bằng gỗ lim nguyên cây, cả ba gian đều có bệ thờ xây bằng gạch đá

Năm 1962 do ảnh hưởng của chiến tranh và thiên nhiên, đình làng bị dỡ bỏ, một số kèo, cột xẻ làm trường học, số còn lại bị hư hỏng…Hiện nay, Chính quyền địa phương đã cho tu sửa lại, song do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên việc nâng cấp tu sửa đình còn gặp nhiều khó khăn”[9;30]

2.2.4 La Hà có một nền văn hóa dân gian độc đáo giàu sức sáng tạo

Văn nghệ dân gian của La Hà khá phong phú gồm: dân ca, hò mái nhì mái đẩy, vè, ví dặm, hát bội, tuồng cổ có nguồn gốc từ xứ Nghệ Vào những đêm trăng sáng trai gái làng thường hò hẹn hát giao duyên

“Nhiều thể loại văn học dân gian được sáng tác mang đặc trưng của hò mái nhì, mái đẩy, vè, ví dặm truyền thống Nghệ Tĩnh Các thể loại phú, bài cúng, văn

tế cũng được lưu truyền rộng rãi trong thôn xóm như những thể loại thơ ca do dân làng sáng tác đặc biệt những bài thơ “Ca ngợi cảnh đẹp La Hà”, “tả đường thôn”, vè “Thi hỏng”, “Gái làm mọn chồng người”, “Khuyên em gái”, “Ngó về chợ hãy còn đông”, ví dặm “Đi hỏi vợ”…Những huyền thoại về thần đồng Trần Văn Thống hay huyền thoại về danh tướng Mai Hữu Tập Chuyện đi sứ và được phong tiến sĩ lưỡng quốc của cụ Trần Chuẩn, cũng được sáng tác để ca ngợi sự học hành và giỏi võ của các bậc danh nhân Quảng Văn xưa

Người dân Quảng Văn có nhiều lễ hội trong năm, như những cư dân nông nghiệp khác gồm: lễ cúng đầu năm, rằm tháng giêng, mồng 5 tháng 3, rằm tháng

7, lễ Cầu yên Đặc biệt vào rằm tháng giêng hằng năm, Hội đồng hương lý do Ông lý trưởng đứng đầu tổ chức lễ hội tết Nguyên tiêu Các dòng họ trong làng làm mâm cỗ vào Đình cúng Thành Hoàng Theo hương ước của làng các dòng họ vào cư trú tại làng đều phải làm thủ tục xin nhập làng và được Hội đồng hương lý đồng ý mới cho làm cỗ cúng Thành Hoàng như các dòng họ khác vào trước Tại sân đình làng trong ngày tết Nguyên tiêu dân làng tập trung tổ chức những trò chơi dân gian như chọi gà, đánh cờ người, kéo co, đấu vật, hát bội, tuồng cổ, đua thuyền…Những đêm trăng sáng, trai gái hò hẹn hát giao duyên, trao tình gửi ý và sau đó thành vợ thành chồng Thể lệ hội làng thường do Hội đồng Hương lý soạn

Trang 37

thảo các hội thi đấu võ, đấu vật thường tổ chức vào rằm tháng 7 Năm xóm thường cử đại diện để thi đấu, nổi danh đấu vật xưa là cụ Trần Kệ (Đoàn Kệ), Trần Hoàng, những tập tục truyền thống đó hiện nay vẫn duy trì ở La Hà Trong kháng chiến và hòa bình lập lại, xã vẫn lập những đội văn nghệ, vừa sáng tác vừa tập luyện, tổ chức biễu diễn với loại hình phong phú, đa dạng như kịch nói, hò,

vè, ngâm thơ, hát bội…” [9;23]

Nhà thơ Văn Tăng đã từng ca ngợi về làng La Hà:

“La Hà đảo mộng thủy triều nâng Lụa kết riềm xanh sóng vũ vần Nhân kiệt tài danh khuyên đạo học Địa linh thế bút dạy tương ân Ngũ long chụm đỉnh khai minh chúng

Tứ tộc chung lòng mở nghiệp dân Sách góp cho đời truyền hậu thế Đẹp giàu vai sánh khắp bang lân”

Tóm lại, La Hà là làng có truyền thống hiếu học Mảnh đất này có nhiều người đỗ đạt cao Nơi đây có nhiều di tích văn hóa lịch sử Đồng thời, làng La Hà

có một nền văn hóa dân gian độc đáo giàu sức sáng tạo

2.3 Làng Cảnh Dương nay là xã Cảnh Dương huyện Quảng Trạch

2.3.1 Cảnh Dương là vùng đất có cảnh quan kỳ tú, có sông núi hùng vĩ

Làng Cảnh Dương (nay gọi là xã), nằm ở hữu ngạn sông Ròn sát cửa lạch, thuộc vùng đất phía Bắc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Đường xuyên Việt, Quốc lộ 1A chạy cách làng chưa đầy 1km, rất thuận tiện cho việc giao thông, buôn bán, vào Nam, ra Bắc của dân làng xưa nay Từ Cảnh Dương đến thành phố tỉnh lỵ Đồng Hới, đường dài 53km Từ Cảnh Dương vượt đèo ngang sang địa phận tỉnh Hà Tĩnh cũng chỉ có hơn 10km

“Khác với các danh hương khác, vùng đất Cảnh Dương là một bán đảo có 3 mặt sông biển, người xưa hình dung Cảnh Dương như một con thuyền đang bồng bềnh trên sóng nước Với diện tích 3 km2 trong đó đất thổ cư chiếm 33 ha, đất còn lại toàn là cát nên Cảnh Dương không có đất trồng lúa, trồng màu như các danh hương khác ở Quảng Bình Tuy không có đất canh tác nông nghiệp nhưng

Trang 38

Cảnh Dương vẫn được thiên nhiên ưu đãi nhất định có thể phát triển các ngành nghề nhất là thủ công và đánh bắt hải sản Nhờ điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi và người dân cần cù chịu khó mà “Cảnh Dương dưới thời phong kiến đã trở thành một trong những làng giàu có vào bậc nhất Châu Bố Chính xưa” Có tiềm lực kinh tế khá giả nên cư dân Cảnh Dương đã rất chú ý đầu tư kinh phí cho con

em học hành khoa cử Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính để lý giải

vì sao Cảnh Dương không có bề dày lịch sử bằng một số danh hương khác ở Quảng Bình nhưng lại là một trong số những làng văn vật nổi tiếng Cảnh Dương

là một vùng đất có cảnh quan kỳ tú, có sông núi hùng vĩ:

“Sông Loan, núi Phượng hữu tình Bảng vàng ấn ngọc anh linh chầu về”

Sông Loan (sông Ròn), núi Phượng như một bức tranh đẹp, hài hòa cân xứng làm nên cảnh sắc riêng của xứ Ròn mà làng Cảnh Dương chính là một điểm

son rực rỡ trong bức tranh thiên nhiên kỳ thú đó”[5;260]

2.3.2 Cảnh Dương có nhiều di tích lịch sử văn hóa

Đình chùa, am miếu vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng làng xã Đó cũng là không gian để cư dân các thôn xóm tổ chức các sinh hoạt, lễ hội lúc xuân thu nhị kỳ

Cũng như nhiều làng văn khác trên đất nước ta, làng biển Cảnh Dương có rất nhiều công trình đình chùa, am miếu…Từ cửa lạch, bến sông, bến đầu làng, xóm giữa…không nơi nào là không có các kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo Ngay

từ thuở mới mở đất lập làng, cư dân làng Cảnh Dương đã rất coi trọng việc xây dựng đình chùa

“Đến trước cách mạng tháng tám, Cảnh Dương còn đủ 20 đình, chùa, am miếu chia thành hai cụm chính:

- Khu vực đầu làng có chùa thờ Phật, am Hội Phổ (Phật học), nhà thờ bốn giáp: Đông, Trung, Nam, Tây và miếu thờ Đức thánh Trần

- Khu giữa làng có Đình lớn (thờ Thành Hoàng), Đình Tổ, Đình Thánh, Đình Quan Cư (nơi đón các quan), miếu ông Tặng

Ngoài ra, bốn góc làng có miếu Quan trấn Các xóm có miếu Thổ, cửa lạch

có Bang thờ thần sông, thần biển Chùa làng được xây dựng cách ngày nay 300

Trang 39

năm Chùa Cảnh Dương là một tác phẩm nghệ thuật đa dạng đặc sắc về kiến trúc

và điêu khắc của thế kỷ XVII Chùa là nơi tập trung khá nhiều hiện vật có giá trị

về lịch sử và văn hóa của Cảnh Dương như chuông chùa được đúc từ cuối đời Cảnh Thịnh (1801) Nó được coi là một bảo vật quý hiếm từ thời Tây Sơn mà dân làng vẫn còn giữ được Hai bên tiền sảnh đắp nổi tượng hai ông: thiện và ác mang dấp dáng của một võ tướng oai phong lẫm liệt Hậu tự là nơi thờ Phật với hàng trăm pho tượng kích cỡ lớn nhỏ khác nhau bằng gỗ, đồng hoặc thạch cao,

cùng nhiều tranh vẽ về các tích Phật”[5;260]

2.3.3 Cảnh Dương là một làng hiếu học nhiều người đỗ đạt làm quan

“Dưới triều Nguyễn, Cảnh Dương có hai Tiến sĩ: Phạm Chân (khoa Mậu Tuất) và Nguyễn Phùng Dực (khoa Kỷ Dậu 1849); 01 phó bảng là Trần Ngọc Diêu, 14 vị cử nhân và 120 tú tài Những thành tựu đó là kết quả của sự đầu tư thích đáng cho việc học tập mà dân làng dành cho con em mình Khi chưa có trường học người Cảnh Dương thường gửi cho con em vào phủ, vào tỉnh để học tập Để khuyến khích việc học tập của con em, làng đã cho dựng hai tấm bia là

“Cảnh Dương xã từ vũ bi” (dựng năm 1836) và “văn hội tích bi” dựng năm

Thành Thái thứ 12; trên bia ghi rõ tên những người khoa cử đỗ đạt từ tú tài đến

cử nhân, tiến sĩ Khoảng năm 1930, Cảnh Dương là một trong số rất ít làng xã của Quảng Bình được mở trường tiểu học Pháp - Việt Nhờ đó mà nhiều con em Cảnh Dương có điều kiện học hành và sớm trở thành những trí thức tân học Cũng chính nhờ có truyền thống học hành, khoa bảng, nhiều người đỗ đạt mà Cảnh Dương có hội Tư văn dành cho lớp trí thức Nho học Làng Cảnh Dương có nhiều người đỗ đạt dưới triều Nguyễn như: Nguyễn Văn Đỗ khoa thi năm Ất Dậu, dưới thời vua Minh Mạng VI (1825), làm Án Sát - Quản đạo Trần Ngọc Diêu thi đỗ Phó bảng năm Mậu Thân (1848), làm Đồng Tri phủ”[5;260]

Tiến sĩ Phạm Chân

“Phạm Chân người Cảnh Dương, huyện Bình Chánh, Phủ Quảng Trạch Khoa Mậu Tuất (1838) Minh Mạng thứ 19, năm 25 tuổi ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Theo ông Phạm Tú, cháu năm đời của ông Phạm Chân cho biết: Ông Phạm Chân từng làm Án Sát Lạng Sơn, Thanh Hóa và làm Đốc học Quảng Ngãi”

Trang 40

Thực dân Pháp xâm lấn Nam Bộ, ông trấn thủ đồn Vĩnh Long, Gia Định Ngày 25 - 2 - 1860 đồn Chí Hòa thất thủ Nguyễn Tri Phương bị thương, tán lý Nguyễn Duy tử trận, Án Sát Phạm Chân tuần tiết: là người mở đại khoa cho làng, tên tuổi ông được các nhà khoa bảng ghi công đầu để các thế hệ sĩ tử làng noi theo”[20;97]

- Ngày 3 tháng 3 Tự Đức thứ 3 (1850) ông được bổ thụ Hàn lâm viện biên tu

- Ngày 24 tháng 9 Tự Đức IX (1857) ông được phái theo Sơn Tây tỉnh hầu, thăng thụ chỉ sự thư tri phủ Đoan Hùng, coi sóc công vụ của hạt đó

- Ngày 16 tháng 8 năm Tự Đức thứ X (1859) ông được bổ làm Hàn lâm viện thị giảng lãnh nhận chức Đốc học Vĩnh Long

Căn cứ vào sắc phong còn lại ta biết được dòng họ Nguyễn của ông không chỉ có năng khiếu về văn mà còn có truyền thống về võ

Thời Lê Cảnh Hưng thứ 45 (1785) có ông Nguyễn Như Kim quê Cảnh Dương xã Bố Chính Châu được sắc chỉ bộ lại do Lê Giám nha Môn tấu trình ngày 16 tháng 6 rằng: “Thuyên chuyển lên “Thị tiến lang thần sắc vệ tri ba” Thời Tự Đức 32 (1880) có cơ quyền Nguyễn Đạo Hoằng sung chính Quản

Hậu sinh, hậu tạ không thể không khắc vào bia đá”[20;98]

Ngày đăng: 19/09/2016, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Dương Văn An. (2001). Ô châu cận lục, Trần Đại Vinh - Hoàng Văn Phúc dịch, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2001
2) Huỳnh Công Bá. (1997). Giáo trình lịch sử văn hóa Việt Nam từ nguyên thủy đến năm 1945, Trung tâm đào tạo từ xa Đại Học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn hóa Việt Nam từ nguyên thủy đến năm 1945
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Năm: 1997
3) Cao Xuân Dục. (1993). Quốc triều hương khoa lục, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
4) Lê Trọng Đại, Địa chí làng Lệ Sơn (bản thảo 2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí làng Lệ Sơn
7) Phương Đình, Nguyễn Văn Siêu. (1997). Đại Việt Địa dư toàn biên, Viện Sử học - NXB Văn hóa, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Địa dư toàn biên
Tác giả: Phương Đình, Nguyễn Văn Siêu
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1997
10) Trần Hoàng. (2009). Sinh hoạt văn hóa dân gian làng biển Cảnh Dương, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt văn hóa dân gian làng biển Cảnh Dương
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2009
11) Nguyễn Viết Mạch, Lê Thái Sơn. (2014). Địa chí làng Kim Nại, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí làng Kim Nại
Tác giả: Nguyễn Viết Mạch, Lê Thái Sơn
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2014
12) Hoàng Văn Nhân (cb). (1993). Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh, NXB Khoa học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Văn Nhân (cb)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1993
13) Quốc sử quán triều Nguyễn. (1970). Đại Nam nhất thống chí tập II, NXB Khoa học Xã Hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí tập II
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội
Năm: 1970
14) Lương Duy Tâm (ST & BS). (1998). Địa lý lịch sử Quảng Bình, Bảo tàng TH Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý lịch sử Quảng Bình
Tác giả: Lương Duy Tâm (ST & BS)
Năm: 1998
15) Nguyễn Khắc Thái. (2013) Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển, đề tài khoa học cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển
16) Nguyễn Tú. (2000). Địa chí làng Cổ Hiền, Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí làng Cổ Hiền
Tác giả: Nguyễn Tú
Năm: 2000
17) Nguyễn Tú. (1998). Quảng Bình non nước và lịch sử, Sở văn hóa thông tin Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Bình non nước và lịch sử
Tác giả: Nguyễn Tú
Năm: 1998
18) Đỗ Duy Văn. (2010). Địa chí làng Thổ Ngọa, NXB Khoa học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí làng Thổ Ngọa
Tác giả: Đỗ Duy Văn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội
Năm: 2010
19) Đỗ Duy Văn. (2010). Văn hóa dân gian huyện Quảng Ninh, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian huyện Quảng Ninh
Tác giả: Đỗ Duy Văn
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2010
20) Trần Đình Vĩnh, Trần Hoàng. (1993). Cảnh Dương chí lược, NXB Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương và Sở văn hóa thông tin Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh Dương chí lược
Tác giả: Trần Đình Vĩnh, Trần Hoàng
Nhà XB: NXB Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương và Sở văn hóa thông tin Quảng Bình
Năm: 1993
21) Ngọc Hiên, “Kim Nại - Làng quê văn vật”, Tạp chí văn hóa Quảng Bình số 11 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Nại - Làng quê văn vật”
22) Mai Đình Lê Tộ. (1974). “Lệ Sơn, vải tiến và cụ Nguyễn Bính”, tập san Quảng Bình quê hương tôi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ Sơn, vải tiến và cụ Nguyễn Bính”
Tác giả: Mai Đình Lê Tộ
Năm: 1974
23) Trần Anh Tuấn, Quảng Văn vùng đất và con người, websie: langlaha. com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Văn vùng đất và con người
6) Lê Quý Đôn toàn tập tập 1 (Phủ biên tạp lục), NXB văn hóa thông tin, HN 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh làng Lệ Sơn lúc hoàng hôn - Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương sơn   hà   cảnh   thổ   văn   võ   cổ   kim ở quảng bình
nh ảnh làng Lệ Sơn lúc hoàng hôn (Trang 82)
Hình ảnh làng La Hà lúc hoàng hôn - Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương sơn   hà   cảnh   thổ   văn   võ   cổ   kim ở quảng bình
nh ảnh làng La Hà lúc hoàng hôn (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w