Từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Quản lý giáo dục phòng, chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh - Hải Dương” làm đề tài luâ ̣n văn cao ho ̣c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
NGUYỄN TRỌNG HỮU THẮNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƯỜNG THCS THỊ XÃ CHÍ LINH -
HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn
toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Trọng Hữu Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của cô giáo, PGS.TS.Nguyễn Thị Thanh Huyền - người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Cô đã cho em thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như những kỹ năng nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến, quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Mặc dù đã cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của quý các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp và những người cùng quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 28 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Trọng Hữu Thắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS 5
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 9
1.2.2 Bạo lực, bạo lực học đường, phòng chống bạo lực học đường 15
1.2.3 Trường Trung học cơ sở 17
1.2.4 Học sinh Trung học cơ sở 17
1.2.5 Quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở 17
Trang 61.3 Một số vấn đề cơ bản về giáo dục phòng chống bạo lực học đường
cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở 18 1.3.1 Trường Trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặc
điểm của học sinh Trung học cơ sở 18 1.3.2 Mục tiêu của giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các
trường Trung học cơ sở 22 1.3.3 Nội dung giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các trường
Trung học cơ sở 23 1.3.4 Các phương pháp giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các
trường trung học cơ sở 23 1.3.5 Các hình thức tổ chức giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở
các trường Trung học cơ sở 24 1.4 Một số vấn đề về quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở
các trường Trung học cơ sở 26 1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các
trường Trung học cơ sở 26 1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường ở các trường Trung học cơ sở 26 1.4.3 Chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường ở các trường Trung học cơ sở 27 1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực
học đường ở các trường Trung học cơ sở 29 1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng chống bạo lực
học đường ở các trường Trung học cơ sở 29 Kết luận chương 1 34
Trang 7Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG
THCS THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG 35
2.1 Khái quát về các trường THCS thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương 35
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 36
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 36
2.2.2 Đối tượng khảo sát 36
2.2.3 Nội dung khảo sát 36
2.2.4 Cách thức tiến hành khảo sát 37
2.3 Thực trạng giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương 37
2.3.1 Thực trạng về nội dung giáo dục phòng chống bạo lực học đường 37
2.3.2 Thực trạng về phương pháp giáo dục phòng chống bạo lực học đường 41
2.3.3 Thực trạng về hình thức tổ chức giáo dục phòng chống bạo lực học đường 44
2.3.4 Kết quả công tác giáo dục phòng chống bạo lực học đường 48
2.4 Thực trạng về quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS 49
2.4.1 Thực trạng Lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS 49
2.4.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở 53
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường 56
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS 58
2.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS 59
Kết luận chương 2 67
Trang 8Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN
CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG 68
3.1 Các nguyên tắc để xây dựng biện pháp 68
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành pháp luật của Nhà nước 68
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 68
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 69
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 69
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 69
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo sự đa dạng hoá phương pháp và hình thức quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường 70
3.2 Các biện pháp quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Chí Linh, Hải Dương 71
3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh về công tác giáo dục phòng chống bạo lực học đường 71
3.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quản lý học sinh cho lực lượng giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và cho đội ngũ những người làm công tác Đội trong nhà trường THCS 72
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường tổ chức sinh hoạt tập thể có nội dung phòng, chống bạo lực học đườngcho học sinh 74
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 75
3.2.5 Biện pháp 5: Thực hiện trách phạt phù hợp đối với các hành vi bạo lực học đường 76
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, các tổ chức chính trị - đoàn thể trong quản lý giáo dục phòng, chống bạo lực học đường 78
Trang 93.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp 82
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Kiến nghị 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 10GVBM Giáo viên bộ môn
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá của cán bộ quản lý, tổng phụ trách đội, giáo viên
các trường THCS thị xã Chí Linh, Hải Dương về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, chống bạo lực học đường 38Bảng 2.2 Đánh giá của học sinh các trường THCS thị xã Chí Linh,
Hải Dương về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, chống bạo lực học đường 39Bảng 2.3 Đánh giá của GV về thực trạng mức độ sử dụng phương
pháp giáo dục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh 41Bảng 2.4 Đánh giá của HS về thực trạng mức độ sử dụng phương
pháp giáo dục phòng chống bạo lực học đường của GV 43Bảng 2.5 Tự đánh giá của GV về các hình thức giáo dục phòng chống
bạo lực học đường cho học sinh 44Bảng 2.7 Chất lượng giáo dục đạo đức 48Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường ở các trường THCS thị xã Chí Linh, Hải Dương 51Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường của GVCN lớp 52Bảng 2.10 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống
BLHĐ ở các trường THCS 54Bảng 2.11 Thực trạng chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục phòng
chống BLHĐ 57Bảng 2.12 Tính cách của những người có HV BLHĐ theo nhận thức
của học sinh 59Bảng 2.13 Cách thức ứng xử của bố, mẹ khi học sinh có HV BLHĐ 61Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của một số biện pháp
quản lý giáo dục phòng, chống BLHĐ ở các trường THCS thị xã Chí Linh 83
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường ở các trường THCS thị xã Chí Linh, Hải Dương 51Biểu đồ 2.2 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học
đường của GVCN lớp 52Biểu đồ 2.3 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống
BLHĐ ở các trường THCS 54
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý 13
Sơ đồ 1.2 Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong quản lý 13
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước chúng ta sau 30 năm đổi mới đã có những bước chuyển mình
rõ nét, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển Việt Nam đã trở thành một trong sáu nước hoàn thành các mục tiêu đã xác định trong Mục tiêu Thiên niên kỷ (2000 - 2015); hoàn thành trước thời hạn 3 mục tiêu chiến lược: xóa bỏ nghèo đói, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới và vị thế cho phụ nữ Những thành tựu này đã góp phần quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược giáo dục của Đảng ta: "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng
Cùng với thành tựu trên thì giáo dục Việt Nam vẫn tồn tại một số những
bất cập và yếu kém, trong đó việc: "chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng năng lực nghề nghiệp của học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; có biểu hiện lệch lạc về hành vi, lối sống của một bộ phận HS, SV" (Chiến lược phát triển
Giáo dục 2011 - 2015) Một trong những biểu hiện cụ thể của hạn chế này là hiện tượng BLHĐ là mối lo ngại của không những các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà còn của mỗi gia đình khi mà nó trực tiếp tác động đến sự phát triển toàn diện của con em chúng ta, đến sự bình an tinh thần của mỗi cá nhân trong môi trường học đường Nó tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tâp của HS và việc giảng dạy của các thầy giáo, cô giáo BLHĐ ở Việt Nam không chỉ diễn ra ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, không chỉ ở HS nam mà còn cả HS nữ và ở các cấp học
Đứng trước thực tế trên, Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo, các nhà trường, các đoàn thể xã hội cũng đã có nhiều giải pháp chỉ đạo nhằm nâng cao
ý thức pháp luật cho HS, từng bước ngăn chặn hành vi BLHĐ, nhưng hiệu quả chưa đạt được như mong muốn
Trong các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, công tác phối hợp giữa cấp uỷ, chính quyền, hoạt động của các đoàn thể, giữa nhà trường, gia
Trang 14đình và xã hội còn có những hạn chế nhất định nên tình trạng học sinh có HV BLHĐ vẫn còn Công tác quản lí và thực hiện giáo du ̣c pháp luâ ̣t trong các nhà trường mới chỉ dựa trên các văn bản hướng dẫn và kinh nghiệm riêng, quá trình quản lí và triển khai thực hiện giáo dục pháp luật và giáo dục phòng chống BLHĐ cho HS còn chưa thật hiệu quả
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Quản lý giáo dục phòng,
chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh - Hải Dương” làm đề tài luâ ̣n văn cao ho ̣c của mình với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ vào việc làm giảm thiểu, ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng BLHĐ, nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong các nhà trường THCS
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS thị xã Chí Linh, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường trong các trường phổ thông cơ sở thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nhằm hạn chế tình trạng bạo lực học đường, đồng thời giáo dục học sinh có những hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục phòng, chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục phòng, chống bạo lực học đường cho học sinh ở các
trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận về phòng, chống bạo lực học đường cho học sinh
ở các trường THCS
4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý phòng chống bạo lực học đường
ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Trang 154.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục phòng chống BLHĐ cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
5 Giả thuyết khoa học
Công tác phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS thị xã Chí Linh tỉnh Hải dương trong thời gian qua đã được quan tâm chú ý, nhưng vẫn còn những hiện tượng học sinh vô lễ với thầy cô, học sinh đánh nhau trong trường học… điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc
về yếu tố quản lý Nếu nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở các trường THCS huyện Chí Linh Hải Dương thì sẽ hạn chế được vấn đề bạo lực học đường ở học sinh, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bạo lực học đường và đề ra các biện pháp quản lý phòng chống bạo lực học đường cho học sinh ở 5 THCS trên
địa bàn thị xã Chí Linh Số liệu khảo sát được lấy từ năm 2010 trở lại đây
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các văn kiện của Đại hội Đảng các cấp, Luật Giáo dục, Điều lệ trường học
+ Nghiên cứu tài liệu kinh điển
+ Nghiên cứu các giáo trình, sách báo, các công trình sản phẩm liên quan
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra: khảo sát nhóm cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của 5 trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
+ Phương pháp đàm thoại: đươ ̣c thực hiê ̣n với ho ̣c sinh đã từng có HV BLHĐ để tìm hiểu nhâ ̣n thức, thái đô ̣ và HV BLHĐ của em Ngoài ra, phỏng vấn này được thực hiê ̣n với những thầy cô giáo (cán bộ quản lí và giáo viên chủ nhiệm lớp) nhằm tìm hiểu nhâ ̣n thức, thái đô ̣ của ho ̣ về tình tra ̣ng BLHĐ của
học sinh trong pha ̣m vi quản lý của nhà trường; phỏng vấn cũng được tiến hành
Trang 16vớ i phu ̣ huynh ho ̣c sinh là cha hoă ̣c me ̣ của na ̣n nhân hay cha me ̣ của những
học sinh có HV BLHĐ để tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình, thái đô ̣ của gia đình đối với HV BLHĐ của con ho ̣
+ Phương pháp quan sát: quan sát những hành vi, cử chỉ, những biểu hiện cảm xúc, những thay đổi về trạng thái tình cảm của học sinh từng là chủ thể, là nạn nhân của nạn BLHĐ, học sinh từng chứng kiến nạn BLHĐ Từ những quan sát này, chúng tôi phân tích và đưa ra những đánh giá về nạn BLHĐ ở các trường THCS thị xã Chí Linh và từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể
để quản lý giáo dục phòng chống BLHĐ cho HS ở các trường THCS thị xã Chí Linh - Hải Dương
+ Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp tác giả đề xuất
- Nhóm phương pháp sử dụng toán học thống kê: Sử dụng công thức
toán học để thống kê, xử lý số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khác
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài
liệu tham khảo, cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí giáo dục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt giáo dục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường
cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Tình trạng bạo lực trong trường học được các nhà nghiên cứu phương Tây và Mỹ đặc biệt quan tâm Theo một công bố mới đây của Hiệp hội Giáo dục quốc gia Mỹ, tình trạng bạo lực học đường với các con số đáng quan ngại: BLHĐ ảnh hưởng đến 1/3 HS từ lớp 6 đến lớp 10; 28% HS Mỹ từ lớp 6 - 9 từng chịu BLHĐ, trong khi đó HS từ lớp 10 - 12 là 20%; 30% thanh thiếu niên thừa nhận từng bắt nạt người khác; gần 70% trong số HS bị bạo hành đều nói rằng nhà trường đã không có biện pháp thiết thực đối với tình trạng này và chỉ
có 20 - 30% HS bị bắt nạt thường thông báo cho người lớn về sự việc Điều đáng buồn 9/10 thanh thiếu niên thuộc LGBT (đồng tính) bị bạo hành bằng lời nói tại trường trong năm 2012 nhằm vào giới tính của họ
Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ đã chỉ ra rằng cứ 7 phút lại có một trẻ
em bị bắt nạt Cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận từng bắt nạt trẻ khác Một cuộc thăm dò thực hiện ở trẻ có độ tuổi 12 - 17 cho kết quả các em đều thừa nhận bạo lực đang gia tăng ở trường học của mình Mỗi tháng có 282.000 học sinh ở các trường trung học cơ sở Mỹ bị tấn công Cũng tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) cũng khẳng định 43% học sinh cả nam lẫn nữ thuộc độ tuổi từ 13 - 17 tuổi từng bị dọa nạt hoặc chế giễu trên internet
Theo các nghiên cứu thực hiện ở Châu Âu, bạo lực học đường xảy ra thường xuyên ở trường tiểu học, liên quan tới khoảng 15% số học sinh Ở trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh bị bắt nạt là từ 3% - 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13 - 14, khi các em học sinh bắt đầu tuổi dậy thì Đến cấp trung học phổ thông, nạn bạo lực học đường bắt đầu có xu hướng giảm đi
Trang 18Còn tại Châu Á, theo một nghiên cứu của Chính phủ Nhật Bản nạn bắt nạt bạn trong trường học Nhật Bản tăng hơn 5% trong năm 2003 so với năm trước đó Sách trắng về thanh thiếu niên năm 2013 thống kê 23.351 vụ bắt nạt trong các trường tiểu học và trung học công lập cùng với các trường khiếm thính, khiếm thị và khuyết tật khác Con số này vượt hơn năm trước 1.046 vụ, tăng 5,16% Đây là lần tăng đầu tiên trong 8 năm qua Những vụ xâm phạm thân thể liên quan tới bắt nạt học đường cũng tăng liên tục qua hai năm liền Các vụ bắt nạt trong trường học lên tới đỉnh điểm vào năm 1995 với 60.096 vụ
Hàn Quốc cũng được coi là một trong những quốc gia có nạn bạo lực học đường nhức nhối trên thế giới Theo kết quả khảo sát của Quỹ phòng chống bạo lực thanh thiếu niên Hàn Quốc tháng 11 và 12 năm 2009, trong số 4.073 học sinh tại 64 trường tiểu học và trung học, 20% thừa nhận từng bị bắt nạt ở trường 63% nạn nhân phải “nếm” đòn bạo lực ngay khi mới học tiểu học Con
số này cao hơn 6 - 7% so với số liệu thống kê năm 2007 (56,1%) và năm 2008(56,8%) tệ nạn này xảy ra nghiêm trọng đối với học sinh nữ hơn học sinh nam Đáng lưu ý, nhiều học sinh đã không ý thức được hành vi bạo lực của mình Khoảng 36% học sinh Hàn Quốc coi việc bắt nạt như một trò đùa, 20% thừa nhận hành vi bắt nạt bạn là không có lý do đặc biệt Theo điều tra, số học sinh thường xuyên bắt nạt các bạn học khác thường hay xem phim bạo lực, hoặc do hoàn cảnh gia đình 51,5% người được hỏi thừa nhận, thường xuyên chơi và xem phim, game bạo lực Để ngăn ngừa tình trạng này, cùng với việc thi hành luật, người dân nước này cũng đã tham gia nhiều cuộc vận động nâng cao nhận thức về bạo lực học đường, tư vấn cũng như các biện pháp khác nhằm hỗ trợ các nạn nhân là học sinh
Tại Nam Phi, Cao ủy Nhân quyền Nam Phi cho thấy 40% trẻ em được phỏng vấn nói rằng chúng từng là các nạn nhân của tội phạm tại trường học Chỉ 23% học sinh cảm thấy an toàn khi đặt chân tới lớp Hơn một phần năm số
vụ tấn công tình dục vào trẻ em Nam Phi được phát hiện diễn ra tại trường học Việc phải đương đầu với bạo lực gia đình, băng đảng và ma túy để lại dấu ấn lâu dài trong tính cách của học sinh
Trang 19Tóm lại, các nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn về bạo lục nói chung, bạo lực học đường nói riêng ở nước ngoài cho thấy: bạo lực học đường mang những nội dung về bản chất, nguồn gốc của nó dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm
lí học và mỗi lí thuyết khác nhau có những cách lí giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh cũng như những phương pháp trị liệu khác nhau đối với bạo lực học đường nhưng chưa đưa ra được một phương pháp trị liệu tổng quát cho việc
giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Bạo lực và bạo lực học đường ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu Nó trở thành một trong những nguyên nhân chính gây đau khổ cho các nạn nhân Bạo lực học đường có thể xảy ra ở tất cả các bậc học, từ học sinh mầm non, học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở, học sinh trung học phổ thông và đối với
cả sinh viên cao đẳng và đại học Tuy nhiên, trong một thời gian dài chúng ta
đã xem nhẹ những hành vi bạo lực, bạo lực học đường và coi chúng là những điều tất yếu Thậm chí, một số cá nhân còn xem đó là một phần tự nhiên của quá trình phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi học trò nên những nghiên cứu về vấn đề này chỉ tập trung vào việc tìm hiểu những hành vi bạo lực đối với trẻ em
ở trong gia đình, ở ngoài xã hội Mặt khác, bạo lực học đường chỉ được nghiên cứu lồng ghép trong các công trình nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em nói chung Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho nghiên cứu về bạo lực học đường còn mang tính ban đầu và thiếu sự hệ thống, chuyên sâu trên bình diện khái niệm và cả thực tiễn…
Những năm gần đây, bạo lực học đường mới được tập trung nghiên cứu một như là đối tượng của một bộ môn khoa học Có thể kể đến một số tác phẩm, một số cuộc hội thảo về bạo lực học đường: Cụ thể có một số nghiên cứu sau:
Năm 2012, tác giả Trần Thị Tú Anh với bài viết “Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS Thành phố Huế, Kỷ yếu Hội thảo tâm lý học đường lần 3 “Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường”, TP HCM
Trang 20Tác giả Trần Thị Minh Đức với bài viết “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông” đăng trên Tạp chí nghiên cứu con người, số 3/2010 và cuốn sách chuyên khảo “Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội”
đã đề cập đến những vấn đề tâm lý của những trẻ có hành vi gây hấn
- Bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường (Nguyễn Phương Thảo và cộng sự, 2005)
- Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của học sinh trường Phổ thông trung học dân lập Đinh Tiên Hoàng (Nguyễn Thị Phương, 2006)
- Hung tính ở trẻ em (Phạm Hoàng Hà, Hoàng Gia Trang, 2002)
- Hành vi sai lệch chuẩn mực của học sinh tại một số trường phổ thông ở
Hà Nội (Tạp chí phát triển giáo dục- Hoàng Gia Trang, 2005)
- Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên (Mã Ngọc Thể)
- Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên (Lê Ngọc Dung, Hồ Bá Thông, 2004)
- Cách thức cha mẹ quan hệ với con cái và hành vi lệch chuẩn của trẻ (Lưu Song Hà, 2008) và một số nghiên cứu khác
- Bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lý học (Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan - 2013)
- Bạo lực học đường ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp (Đăng Doanh, Tạp chí Lao động và xã hội Số 412 -tr 35-37, 2011)
Hội thảo khoa học: “Thực trạng và giải pháp ngăn chặn bạo lực học đường trong trường phổ thông” tại trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, năm 2015 và hội thảo “Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng - Thực trạng và giải pháp” diễn ra tại Hà Nội ngày 26/11, Viện nghiên cứu Y - Xã hội phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9/2014 với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội, sử dụng phương pháp bảng hỏi và phỏng vấn sâu Kết quả cho thấy, khoảng 80%
Trang 21học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua Trong đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục ) chiếm tỷ lệ cao nhất 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập ) là 41% và bạo lực tình dục chiếm 19% Mức độ an toàn ở nhà trường được HS đánh giá rất thấp, chỉ 16% HS nữ và 19% HS nam cho rằng luôn an toàn trong khuôn viên trường học, nhà vệ sinh được coi là nơi kém an toàn nhất
Qua phân tích trên có thể thấy đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu cung cấp cho chúng ta có cách nhìn thấu đáo hơn về hậu quả của bạo lực học đường đối với gia đình, nhà trường và chính các em học sinh: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, tuy nhiên còn thiếu vắng những công trình đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý giáo dịch phòng chống bạo lực ở các trường học vì vậy để góp thêm một tiếng nói vào vấn nạn đang nhức nhối xã hội này,
chúng tôi lựa chọn đề tài: "Quản lý giáo dục phòng, chống bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương" cho công
trình nghiên cứu của mình
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những loại hình hoạt động quan trọng nhất của con người Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người
Là một phạm trù tồn tại khách quan, ra đời tất yếu do nhu cầu của một chế độ
xã hội, mọi tổ chức, một quốc gia, mọi thời đại, khoa học quản lý là một lĩnh vực lao động trí tệ và thực tiễn phức tạp của con người nhằm điều khiển lao động, thúc đẩy sự phát triển của xã hội trên tất cả các phương diện, mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có
tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội, kỹ thuật,… nó bảo toàn cấu
Trang 22trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một động tác hợp quy luật khách quan
Theo quan điểm lý thuyết hệ thống: Quản lý là "Phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm các quy tắc, các ràng buộc
về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu"
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo cách tiếp cận khác nhau
Ở nước ngoài, một số tác giả khái niệm như sau:
Các Mác đã viết: "Tất cả mọi loại lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy hoạt động của mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [13]
Còn Fredrich Winslow Taylor (1856 - 1915) khẳng định: "Quản lý là
biết được chính xác điều người khác muốn làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [dẫn theo 31]
Theo Harold Kooutz, Cyri O''donnell và Heiuz Weihrich thì "Quản lí là
một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [19]
Trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”, Paul Herscy và Ken Blane Heard
lại coi “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị
quản lý, nhằm thông qua hoạt động cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổ chức” [dẫn theo 34]
Trang 23Các ông Thomas.J.Robins và Wayned Morrison lại cho rằng: "Quản lý là
một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [dẫn theo 20]
Ở Việt Nam có một số khái niệm quản lý như sau:
Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: "Quản lý là
trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [33]
Trong giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước của Học viện hành chính
quốc gia chỉ rõ: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý" [dẫn theo 18]
Theo giáo sư Hà Hồ Sĩ: "Quản lý là một hoạt động có định hướng, có tổ
chức, lựa chọn trong các đối tượng có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" [38]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cũng cho rằng: “Quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [29]
Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng “Hoạt động quản lý là một dạng
hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các lao động trí
óc, liên kết bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả” [dẫn theo 23]
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra kết luận, quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng tới đích, có mục tiêu xác định Quản lý thể hiện mối quan
hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Quản lý là sự tác động
Trang 24mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan, có khả năng thích nghi giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và ngược lại
Để quản lý có hiệu quả nó phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: Là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức
- Đối tượng quản lý: Là những con người cụ thể, họ rất có nhiều quan hệ đan xen và đa dạng mà chủ thể quản lý phải sử lí khi thực hiện chức năng quản
lý của mình Vì vậy, nhiệm vụ quản lý là biến các mối quan hệ trên thành các yếu tố tích cực tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu chung Đó
là tính nghệ thuật của quản lý
- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh, quyết định, văn bản, chính sách, chương trình, mục tiêu
- Phương pháp quản lý được xác định bằng nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào nhiều hình thức lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý Muốn đạt được mục tiêu trong quản lý, chủ thể quản lý phải biết được mục tiêu của tổ chức mình trên cơ sở của sự hội nhập giữa các nhu cầu và mục đích của mỗi cá nhân trong tổ chức, do vậy sự chia sẻ các mục tiêu tổ chức của khách thể quản lý là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả quản lý của một tổ chức
Mục tiêu quản lý là đích của chủ thể quản lý đặt ra cho tổ chức thực hiện Chức năng Quản lý:
+ Chức năng kế hoạch hoá
+ Chức năng tổ chức
+ Chức năng chỉ đạo
+ Chức năng kiểm tra, đánh giá
Tất cả các chức năng quản lí tạo nên nội dung của quá trình quản lý Trong một chu trình quản lý, các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ mang tính tương đối bởi vì một số chức năng có thể diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện các chức năng khác Chu trình đó được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Trang 25Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý
Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự biến động không ngừng của nền kinh tế - xã hội, quản lý được xem là một trong năm nhân
tố phát triển kinh tế - xã hội (vốn - nguồn lực lao động - khoa học kỹ thuật - tài nguyên và quản lý) trong đó quản lý đóng vai trò quyết định của sự thành bại
của công việc Hoạt động quản lý tồn tại với 3 yếu tố cơ bản đó là “Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý" Các yếu tố này có mối quan hệ
qua lại chặt chẽ với nhau và cùng nằm trong môi trường quản lý được thể hiện
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong quản lý
Kế hoạch hóa công cụ quản lý
Khách thể quản lý
Phương pháp quản lý
Mục tiêu quản lý
Chủ thể
quản lý
Tiền kế hoạch
Kế hoạch hoá công cụ quản lý
Thông tin
Chỉ đạo thực hiện
Trang 261.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích nhất định của mình
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà giáo dục cho mọi người
Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, vận hành nhà trường, cơ sở giáo dục phù hợp với chức năng, sứ mệnh, tính chất của nhà trường, cơ sở giáo dục
Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ vi mô Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì vậy khái niệm
quản lý giáo dục có thể hiểu như sau:
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật và chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục
Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng, giám đốc sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính,…), vì vậy khái niệm
quản lý giáo dục có thể hiểu như sau:
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện các mục tiêu, tính chất của
Trang 27nhà trường Việt nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của xã hội
1.2.2 Bạo lực, bạo lực học đường, phòng chống bạo lực học đường
- Bạo lực: Là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với nhóm người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát cho những người bị hại
Dan Olweus, trong cuốn "Bắt nạt trong trường học, chúng ta biết gì và chúng ta có thể làm gì" đã đưa ra định nghĩa theo một cách chung nhất: bắt nạt
trong trường học như một "hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu
của một hay nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc bảo vệ bản thân" [dẫn theo 43]
Milton Keynes (1989) định nghĩa: "Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp
lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người khác Bắt nạt là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào
đó để đạt được quyền lực trên người khác" [dẫn theo 32]
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra quan điểm của mình
về bạo lực học đường, có tác giả xem bạo lực học đường là hành vi lệch lạc,
trái với chuẩn mực đạo đức và quy tắc của nhà trường "Bạo lực học đường là
hành vi lệch chuẩn của học sinh BLHĐ là dạng hành vi chống đối, đi ngược lại các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội, nội quy của nhà trường mà các
Trang 28em là thành viên BLHĐ có thể được biểu hiện thông qua nhận thức, thái độ và hành vi" [dẫn theo 39]
Theo tác giả Phan Mai Hường “bạo lực học đường là thuật ngữ dùng để
chỉ những hành vi bạo lực trong môi trường học đường, hoặc những hành vi bạo lực của lứa tuổi học đường Bao gồm hàng loạt các hành vi bạo lực với các mức độ khác nhau, từ không lời đến có lời, từ hành động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn thƣơng tâm lý, thậm chí tổn hại đến thể chất của người khác” Đây là một định nghĩa khá cụ thể về
bạo lực học đường trên bình diện hành vi và hậu quả của nó [dẫn theo 7]
Theo nghiên cứu của tác giải Đỗ Thị Nga thì “bạo lực học đường” là những hành vi cố ý, sử dụng vũ lực hoặc quyền lực của học sinh hoặc giáo viên đối với những học sinh, giáo viên hoặc những người khác và ngươ ̣c lại Đó có thể là những hành vi bạo lực về thể xác, bạo lực về tinh thần, bạo lực về tình dục, bạo lực ngôn ngữ, những bắt ép về tài chính hoặc những hành vi khác có thể gây ra những tổn thương về mặt tinh thần hoặc thể xác của người bị hại" [dẫn theo 17] Như vậy, theo tác giả, BLHĐ là tất cả những biểu hiện của nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh, trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội và nội quy của nhà trường BLHĐ không chỉ xảy ra ở học sinh nam mà còn cả ở học sinh nữ; không chỉ giữa học sinh với học sinh mà còn có bạo lực giữa học sinh với giáo viên và giáo viên với học sinh
Qua sự phân tích trên, theo chúng tôi: Bạo lực học đường được hiểu là hành vi xâm hại có chủ ý, có ý đồ, thường gây hậu quả nghiêm trọng và xảy ra trong phạm vi trong nhà trường, nếu nhìn từ góc độ lấy học sinh làm trung tâm thì bạo lực học đường là sự xâm hại của học sinh đối với học sinh, sự xâm hại của học sinh đối với người bên ngoài nhà trường và ngược lại, là sự xâm hại của giáo viên đối với học sinh và ngược lại… Bạo lực ấy xâm hại đến sức khỏe hoặc danh dự của người bị hại Bạo lực không chỉ xảy ra trong phạm vi nhà trường mà nhiều khi xảy ra bên ngoài nhà trường
Trang 29- Phòng, chống bạo lực học đường: Là quá trình nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục học sinh; tăng cường phòng, chống bạo lực học đường và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình và cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của học sinh, xử lý kịp thời các hành vi bạo lực học đường
1.2.3 Trường Trung học cơ sở
Trường Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay còn được gọi là cấp II, trên bậc Tiểu học và dưới bậc Trung học phổ thông Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) hay 3 năm (từ lớp 7 đến lớp 9 - Chẳng hạn như hệ thống giáo dục Nhật Bản) Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường Trung học
cơ sở là từ 11 (hoặc 12) tuổi đến 15 tuổi Trước đây, để tốt nghiệp Trung học
cơ sở, học sinh phải vượt qua một kì thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhưng kể từ
năm học 2005-2006 thì kì thi đã chính thức bị bãi bỏ
1.2.4 Học sinh Trung học cơ sở
Học sinh THCS (từ lớp 6 - 9) có độ tuổi từ 11 - 15 còn gọi là lứa tuổi thiếu niên, tuổi vị thành niên Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như:
"thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi khủng hoảng", "tuổi bất trị",… Đây là lứa tuổi có bước nhẩy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình
cảm, đạo đức,… của thời kỳ này
1.2.5 Quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở
Luật Giáo dục quy định đối với tất cả các giáo viên, người làm công tác quản lý giáo dục Đối với giáo viên bộ môn, trách nhiệm của họ không chỉ
Trang 30truyền đạt những kiến thức chuyên môn mà còn phải giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách của người học, dạy chữ phải đi đôi với dạy người Còn đối với chủ nhiệm lớp, họ phải nắm được chất lượng toàn diện trên tất cả các mặt, không chỉ học mà còn là sự tu dưỡng, rèn luyện của các em học sinh
Như vậy, có thể hiểu, quản lý giáo dục, phòng chống bạo lực học đường
là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh nhằm tăng cường phòng, chống bạo lực học đường và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình và cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của học sinh, xử lý kịp thời các
1.3.1.1 Trường Trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam (trước gọi là cấp II), bao gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ năm 11 đến năm 14 tuổi Đây là một cấp học bắt buộc để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp Trung học cơ sở có thể học nghề hay Trung cấp chuyên nghiệp mà không cần học tiếp bậc Trung học phổ thông)
Học sinh đến trường phải học các môn sau: Toán, Vật lý, Hoá học (lớp 8
và 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học (máy vi tính hoặc điện toán)
Ngoài ra học sinh có thêm một số tiết bắt buộc như: giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp (lớp 9), sử ca học đường
Trang 31Hết cấp trung học cơ sở, học sinh được xét tốt nghiệp dựa trên thành tích học tập tích lũy trong bốn năm Trước đây hết cấp Trung học cơ sở học sinh phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp, nhưng từ năm 2006 đến nay đã chính thức được bãi bỏ Muốn theo học tiếp trình độ cao hơn (cấp Trung học phổ thông) học sinh phải tham dự các kỳ thi tuyển sinh
Trường Trung học cơ sở được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số xã không có trường Trung học cơ sở Đó thường là các xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo Theo quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước, đầu tư xây dựng trường Trung học cơ sở cũng như
trường Tiểu học thuộc trách nhiệm của chính quyền cấp quận, huyện
1.3.1.2 Đặc điểm của học sinh Trung học cơ sở
Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: "thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi khủng hoảng",
"tuổi bất trị",
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển:
thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
* Sự phát triển về thể chất:
- Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ
thể Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy Trung bình một năm các em cao lên được 5, 6 cm Các em nữ ở độ tuổi 12, 13 phát triển chiều cao nhanh hơn các em nam cùng độ tuổi, nhưng đến 18, 20 tuổi thì sự phát triển chiều cao lại dừng lại Các em nam ở độ tuổi 15, 16 tuổi thì cao đột biến, vượt các em nữ và đến 24, 25 tuổi mới dừng lại Sự phát triển hệ xương như các xương tay, xương
Trang 32chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Vì vậy ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy, thiếu cân đối, các em thường lóng ngóng vụng về, hay làm đổ vỡ,… Điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu
- Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thích của mạch máu lại phát triển chậm Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi khi làm việc
- Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, thường dẫn đến rối loạn hoạt động hệ thần kinh Do đó dễ xúc động, dễ bực tức Vì thế các em thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động
- Hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn địu, kéo dài Do tác động như thế làm cho một số em bị
ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, số khác có những hành vi xấu, không đúng bản chất của các em
Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có nhiều
- Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống,
Trang 33hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn, trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng
về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất
ít Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập,… còn quan hệ với bạn gái như trẻ con
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách
toàn diện
Trang 341.3.2 Mục tiêu của giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở
Giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các trường THCS nhằm mục đích ngăn chặn GV và HS có những thái độ, hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, giữ cho môi trường giáo dục lành mạnh, nhằm thực hiện phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đạt hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Giáo dục phòng chống giáo bạo lực học đường ở các trường THCS nhằm góp phần cho học sinh thấy được tác hại của việc gây lộn đánh nhau, có thái độ bất bình với hành động trên, đồng thời có ý thức đấu tranh với những hành vi sai trái, tích cực phát hiện những biểu hiện mất đoàn kết, thông tin kịp thời đến thầy cô, cha mẹ học sinh để ngăn ngừa không để tình trạng đánh nhau, mất đoàn kết xảy ra
Giáo dục phòng chống giáo bạo lực học đường ở các trường THCS góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong trường học, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng mối quan hệ thầy - trò, trò với trò ngày càng gắn bó, thân thiết, trường học thật sự là "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" để nhà trường hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra
Giáo dục phòng chống, bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS sẽ giúp những học sinh có hành vi lệch chuẩn nhận thức được hành vi sai trái của mình, tự giác sủa chữa lỗi lầm, hình thành những thái độ, hành vi hợp chuẩn Điều này mang lại lợi ích cho gia đình, nhà trường và xã hội bớt đi những bất ổn tiềm ẩn sau này Góp phần xây dựng niềm tin của phụ huynh học sinh, gia đình học sinh vào nhà trường Đồng thời phòng chống bạo lực học đường góp phần tạo niềm tin trong xã hội, bởi trật tự, an toàn trong xã hội được bảo đảm, giảm đi nỗi bức xúc của dư luận, nhân dân tin tưởng ở môi trường giáo dục thân thiện, con người thực sự được rèn luyện trở thành người có tài, có
đức, có nhân cách
Trang 351.3.3 Nội dung giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở
Giáo dục phòng chống bạo lực học đường nhằm giúp học sinh tăng cường khả năng nhận diện các biểu hiện và nguyên nhân của bạo lực học đường, nhất là trong giai đoạn tiền bạo lực: bắt nạt lẫn nhau, cưỡng chế lấy đồ của nhau, dùng lời nói đe nẹt, dọa nạt,… chuẩn bị cho học sinh sự sẵn sàng về tâm lý đấu tranh chống lại bạo lực và các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn Nhận thức đúng là cơ sở để hành động, bởi vì để ngăn chặn bạo lực, phải hiểu biết về bản chất của bạo lực và những biểu hiện của nó trong mỗi giai đoạn
Nâng cao nhận thức cho học sinh về nguy cơ và hậu quả của bạo lực học đường Những tổn thương về tinh thần, sức khỏe và vật chất của học sinh, cả những em chủ mưu gây ra và những em bị hại là khôn lường Đặc biệt, sự gia tăng bạo lực đang làm suy thoái nhân cách của một bộ phận những người trẻ tuổi, thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước Trong cuộc đấu tranh này, không
ai đứng ngoài cuộc Việc tuyên truyền về nguy cơ và hậu quả của bạo lực học
đường, nhà trường và các phương tiện truyền thông có vai trò quan trọng
1.3.4 Các phương pháp giáo dục phòng, chống bạo lực học đường ở các trường trung học cơ sở
Phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS phải được các cán
bộ quản lý trường học, các thầy cô giáo và học sinh chủ động tham gia tích cực
và thường xuyên, được thực hiện mọi nơi, mọi lúc, đồng thời được các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh học sinh phối hợp thực hiện Tập trung ở một số các phương pháp sau:
- Giảng giải cho học sinh nhận thức những hành vi xử sự đúng sai khi xẩy ra va chạm, mâu thuẫn
- Đàm thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh khi xẩy ra mâu thuẫn
- Kể những câu chuyện về các tình huống có mâu thuẫn trong cuộc sống
để học sinh tự rút ra bài học cho mình
Trang 36- Nêu những gương tốt về hành vi phòng, chống bạo lực học đường
- Khen thưởng những tập thể, cá nhân có việc làm tốt về phòng, chống BLHĐ
- Có những kỷ luật nghiêm khắc đối với những HS có các HV BLHĐ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em có cơ hội để sửa chữa khuyết điểm
- Thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, nhân cách Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử, Giáo dục công dân,… có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho người học Những kiến thức các bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi trong phòng, chống BLHĐ Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục nhân cách HS Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp
lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân cách và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng… tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân, giảm thiểu các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội
- Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể
và hoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt
Trang 37động, năng động và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục phòng, chống BLHĐ cho học sinh Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ,… Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục phòng chống BLHĐ cho học sinh
- Giáo dục phòng chống BLHĐ cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh Mỗi học sinh từ chỗ
là đối tượng của quá trình giáo dục phòng chống BLHĐ sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục phòng, chống BLHĐ Đặc biệt đối với học sinh THCS, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con người với con người thì nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính
- Giáo dục phòng chống BLHĐ cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục cho học sinh thiết thực nhất Chính vì vậy, mỗi thầy cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo
Các hình thức tổ chức giáo dục phòng chống BLHĐ nói trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giác thực hiện việc tự giáo dục là hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của giáo dục phòng, chống
BLHĐ mới đạt kết quả cao
Trang 381.4 Một số vấn đề về quản lý giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở
các trường Trung học cơ sở
1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở
QL hoạt động GD phòng chống BLHĐ là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch các hoạt động của nhà trường Các kế hoạch quản lý
GD phòng chống BLHĐ phải thể hiện rõ về mặt mục tiêu, các tiêu chí đánh giá kết quả so với mục tiêu, các kế hoạch phải chỉ ra được biện pháp thực hiện, có bước đi cụ thể, dự kiến được nguồn lực (Nhân lực, tài lực, vật lực) thời gian thực hiện Khi lập kế hoạch phải chú ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD phòng chống, BLHĐ với mục tiêu GD trong nhà trường
- Cần phối hợp hữu cơ, chặt chẽ với kế hoạch dạy học trên lớp
- Lựa chọn nội dung hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả GD cao
Trên cơ sở đó, người Hiệu trưởng cùng các bộ phận giúp việc phải xây dựng các loại kế hoạch sau:
+ Kế hoạch tổng thể về GD phòng chống BLHĐ cho HS
+ Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm
+ Kế hoạch GD phòng chống BLHĐ thông qua dạy học các môn học + Các kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động XH, hoạt động tập thể
+ Xây dựng kế hoạch tài chính, CSVC, phương tiện để phục vụ các công tác
GD phòng chống BLHĐ
Các kế hoạch đảm bảo tính vừa phải, vừa có tính bao quát vừa cụ thể đối với sự hoạt động của nhà trường và đảm bảo tính khả thi
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường
ở các trường Trung học cơ sở
Sau chỉ đạo các bộ phận lập các kế hoạch hoạt động, Hiệu trưởng tổ chức sắp xếp xây dựng bộ máy quản lý GD phòng chống BLHĐ để thực hiện kế
Trang 39hoạch đã đề ra: Nhà trường phải thành lập ban chỉ đạo về GD phòng chống BLHĐ và phân công nhiệm vụ cụ thể, đúng việc
* Thành phần của Ban gồm:
- Hiệu trưởng -Trưởng ban
- Tổng phụ trách Đội, Bí thư Đoàn TN, hoặc Phó Hiệu trưởng: Phó ban thường trực
- Giáo viên chủ nhiệm
- Thường trực Ban đại diện cha mẹ học sinh
- Mời thêm sự cộng tác của đại diện của: Đoàn cấp trên, hội Chữ thập đỏ, công an đóng trên địa bàn, đại diện của chính quyền… tùy từng đợt hoạt động theo chủ điểm
Trên cơ sở các kế hoạch và bộ máy quản lý đã có, người quản lý thực hiện các công việc cụ thể chỉ ra những nhiệm vụ chức năng của từng thành viên, thiết lập các mối quan hệ trong mọi hoạt động, đồng thời ra có các quyết định giao việc cho các bộ phận và cá nhân thực hiện các nội dung cụ thể
Tổ chức chỉ đạo Ban GD phòng chống BLHĐ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động;
- Tổ chức các hoạt động theo các kế hoạch đã định, phối hợp các lực lượng giáo dục khác trong việc GD phòng chống BLHĐ cho học sinh;
- Giúp chủ nhiệm lớp, chi đoàn tiến hành các hoạt động ở đơn vị mình có hiệu quả;
- Xây dựng củng cố đội ngũ GVCN thành lực lượng GD nòng cốt;
- Khai thác các lượng ngoài xã hội tham gia công tác GD phòng chống BLHĐ học sinh;
- Giúp Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá các hoạt động
1.4.3 Chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục phòng chống bạo lực học đường
ở các trường Trung học cơ sở
Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có Hiệu trưởng thực hiện việc hướng dẫn công việc, theo dõi giám sát động viên và uốn nắn kịp thời
Trang 40các hoạt động của mỗi bộ phận và từng cá nhân thực hiện bản kế hoạch đã đề
ra, cụ thể cần chỉ đạo:
- Chỉ đạo và yêu cầu các bộ phận và cá nhân thực hiện đầy đủ các nội dung GD phòng chống BLHĐ cho học sinh
- Chỉ đạo việc giáo dục phòng chống BLHĐ thông qua dạy học các môn học
- Chỉ đạo giáo dục phòng chống BLHĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động XH, đây là việc rất quan trọng đối với học sinh, giúp các
em hăng hái tham gia hoạt động tập thể hơn, tránh xa những tệ nạn xã hội
- Chỉ đạo tốt sự phối hợp giữa GVCN với cha mẹ học sinh, thực hiện tốt
sự kết hợp nhà trường, gia đình, xã hội
- Chỉ đạo các bộ phận sử dụng linh hoạt các phương pháp GD phòng chống BLHĐ
- Chỉ đạo và yêu cầu các bộ phận và cá nhân vận dụng các hình thức GD phòng chống BLHĐ và sử dụng triệt để các cơ sở vật chất, các phương tiện nhằm thu được kết quả cao nhất
Trong việc chỉ đạo các hoạt động GD phòng chống BLHĐ thì chủ thể quản lý - Hiệu trưởng phải vận dụng linh hoạt các phương pháp quản lý như:
Phương pháp tổ chức hành chính; các phương pháp kinh tế; các phương pháp tâm lý - xã hội để tác động vào các lực lượng tham gia GD phòng chống BLHĐ
nhằm đạt mục tiêu đề ra
Ngoài ra việc chỉ đạo hoạt động giáo GD phòng chống BLHĐ cũng yêu cầu các bộ phận, cá nhân phải thực hiện đúng các nguyên tắc của GD phòng chống BLHĐ Đó là các nguyên tắc: Phải bảo đảm tính mục đích, tính thống nhất trong toàn bộ hoạt động GD; Phải thông qua hoạt động thực tiễn; phải phù hợp với lứa tuổi giới tính và đặc điểm riêng của học sinh; phải phát huy tính tích cực, khắc phục thiếu sót; GD trong tập thể và bằng tập thể; GD gắn với thực tiễn của địa phương; tôn trọng nhân cách và yêu cầu hợp lý đối với học sinh