1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nêu những hiểu biết của em về sự kiện Cách mạng tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập năm 1945

12 1,8K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 339,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học

Trang 1

Câu 1: Nêu những hiểu biết của em về sự kiện Cách mạng tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập năm 1945 Lấy dẫn chứng tiêu biểu về những đóng góp của quê hương

em cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Theo em độc lập có ý nghĩa như thế nào với một quốc gia?

Cách mạng tháng Tám là tên gọi được ngành sử học chính thống tại Việt Nam hiện nay dùng để chỉ việc Việt Minh tiến hành khởi nghĩa buộc chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn, đượcNhật bảo hộ, bàn giao chính quyền trung ương và các địa phương cho lực lượng này trong tháng 8 năm 1945 Việc chuyển giao quyền lực được chính phủ Đế quốc Việt Nam thực hiện cơ bản trong hoà bình,

ít có đụng độ dù xảy ra tranh chấp với lực lượng Nhật, Đại Việt, Hòa Hảo, ở một

số địa phương Lực lượng quân đội Nhật tại Việt Nam không có phản ứng đáng kể trước những hoạt động của Việt Minh vì lúc này Nhật đã tuyên bố đầu hàng đồng minh và đang chờ quân đồng minh tới giải giáp, hơn nữa vua Bảo Đại và Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã từ chối lời đề nghị của Tư lệnh quân đội Nhật giúp chính phủ chống lại Việt Minh.[1]

Cũng trong thời điểm này các đảng phái khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng cũng có hành động tương tự buộc chính quyền Đế quốc Việt Nam tại một số

ít địa phương trao quyền lực cho họ Trừ một số địa phương tỉnh lỵ Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh), Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Vĩnh Yên nằm trong tay Việt Quốc, Việt Cách và quân Tưởng; còn lại chính quyền Việt Minh đã được thiết lập trên toàn bộ các tỉnh lỵ (muộn nhất 28/8: Đồng Nai Thượng, Hà Tiên), hầu hết địa phương trong cả nước Một số nơi có khó khăn hơn như Hà Giang, quân Tưởng bức rút quân Nhật (29/8), Cao Bằng (giành chính quyền 21/8 nhưng sau đó quân Tưởng tràn vào), Lạng Sơn (giành chính quyền sau đó Tưởng tràn vào, tháng 10 mới thành lập chính quyền cách mạng), Vĩnh Yên (Quốc dân đảng nắm giữ), Hải Ninh - Móng Cái (Cách mệnh Đồng Minh hội nắm), một số địa bàn ở Quảng Ninh (do Đại Việt, Cách mệnh Đồng Minh hội nắm), ở Đà Lạt (quân Nhật còn kháng cự mạnh như ngày 3/10)

Kết quả chính phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Namkhai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Bối cảnh lịch sử

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía Đồng Minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh, thường được gọi vắn tắt là Việt Minh

Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tênViệt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật,

mở rộng chiến khu Trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng

3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Nhật

- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào kháng Nhật

cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời

kỳ tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính

Trang 2

quyền).Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc,

đó là Cách mạng tháng Tám Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày Tại Châu Âu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945 Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki Ngày 15 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã Theo tối hậu thư Postdam của phe đồng minh gửi Nhật ngày 26 tháng 7, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh từ nam vĩ tuyến 16.Trước tình hình đó Nhật bàn giao cho Khâm sai Bắc Kỳ Phan Kế Toại bộ máy hành chính địa phương, sở Bảo An, Sở Mật thám trung ương, sở Kiểm duyệt và một số công sở khác Nhật chỉ giữ quyền kiểm soát Ngân hàng Đông Dương và Phủ Toàn quyền.[2] Đầu tháng 8/1945, cán bộ Việt Minh Đoàn Xuân Tín được giao nhiệm vụ gặp Phan Kế Toại để nắm bắt tư tưởng và vận động ông ủng hộ Việt Minh, đồng thời thăm dò thái độ của chính phủ Trần Trọng Kim[3] Sau đó Khâm sai Phan Kế Toại gặp Nguyễn Khang, người do Xứ

ủy Bắc Kỳ cử đến Ông đề nghị Việt Minh tham gia Chính phủ Bảo Đại và ngừng các hoạt động chống Nhật nhưng Nguyễn Khang bác bỏ.[4]

Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập và tuyên bố sự khai sinh của một nước Việt Nam mới: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bản tuyên ngôn, dựa theo bản Tuyên ngôn

Độc lập Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình

đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tiếp theo đó, đất nước non trẻ tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam,Hồ Chí Minh được 98% ủng hộ[cần dẫn nguồn] Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ông Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ông Trần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại, ông Nguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu của Việt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc Bài báo không nhắc đến Đảng cộng sản[10]

Ý nghĩa

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỷ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai

Ý nghĩa của độc lập của một quốc gia:

Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia bởi chính người dân sinh sống ở đó, có nghĩa là cóchủ quyền tối cao Độc lập sẽ giúp cho

Trang 3

nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc,không sợ hãi về những gì chiến tranh,sự xung đột, bạo loạngây ra

Tổng khởi nghĩa Hà Nội

Sáng ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa!

Câu 2 : Hãy giới thiệu về Văn Miếu – Quốc Tử Giám (khoảng

1-2 trang A4) Theo em giá trị lịch sử, văn hóa của khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám được thể hiện ở những điểm nào?

Văn Miếu – Quốc Tử Giám(chữ Hán: 文廟 – 國子監 – 國子監) là quần thể di tích đa dạng

và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên) Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và cổng Thái Học Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước Nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi

Kiến trúc quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày nay

Lịch sử

Kiến trúc trước đây của quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám (chưa có Khuê Văn

Các)

Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1, tr.234) chép: "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng thái tử đến đấy học." [1] Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu

Trang 4

tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc

đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 tức là năm 8 tuổi lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử, người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức) (Việt sử thông giám cương mục Nhà xuất bản Văn

sử địa 1957) chép: "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4 lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó" Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử

Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thànhQuốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ

"Quý Sửu năm thứ ba(1253) Tháng 6 lập Quốc Học Viện tô tượng Khổng

Tử, Chu công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học tứ thư,lục kinh" (ĐVSKTT) Lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc

Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám

Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử

Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được) Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông(1460 -1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi

Không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát Từng thời có những đợt dựng, dựng lại lớn, như năm 1653 (Thịnh Đức năm thứ nhất, năm 1717 (Vĩnh Thịnh năm thứ 13)

Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn Dù không còn giữ được

đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây

là Văn Miếu - Hà Nội Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử

Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m² trên tổng diện tích 6150m² gồm các công trình kiến trúc chính làTiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám

Kiến trúc

Văn Hồ

Trang 5

Hồ Văn hay hồ Giám phía trước cổng vào Văn Miếu.

Phía nam, trước mặt Văn Miếu là hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian thường gọi

là hồ Giám Chính quyền thành phố Hà Nội đã cố gắng giải toả, nhưng hiện nay

diện tích cũng chỉ còn được 12297 m², giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa) Theo

ý đồ kiến trúc, đây vốn là cái "tiểu minh đường" của Văn Miếu, là một bộ phận khăng khít của toàn bộ công trình kiến trúc chung Năm1863, trong dịp sửa nhà bia Văn Miếu, Văn Hồ đã được một lần tu sửa Sự việc này còn ghi lại rõ ràng trên tấm

bia đá dựng ở gò giữa hồ: Trước miếu có hồ lớn, trong hồ có gò Kim Châu, vào

khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1668-1671), Tham tụng họ Phạm (Phạm Công Trứ) làm 10 bài thơ vịnh Phán thuỷ để ghi lại cảnh đẹp Mùa thu năm Quý Hợi niên

Tiến sĩ và sửa sang khu hồ Mùa thu năm Ất Sửu (1865), Đặng sứ quân lại xuất tiền nhà xây một đình trên gò Kim Châu Đình làm xong gọi là Văn hồ đình

Ngày 12 tháng 2 năm 1998, trong khi nạo vét cải tạo hồ Văn đã tìm thấy tấm

bia Hoàn Văn hồ bi, soạn năm Bảo Đại thứ 17 (1942), do cử nhân khoa Quý

Mão Hoàng Huân Trung [6] soạn Điều đặc biệt là mặt sau của bia khắc bản dịch chữ Hán rachữ Quốc ngữ do đốc học Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh dịch Cho biết hồ này và cả giải đất chạy suốt chiều dài mé tây của Văn Miếu đều thuộc quần thể khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 20 do phân cách địa giới hành chính, khu vực Văn Miếu thuộc đất tỉnh Hà Đông Khi đất Văn Miếu - Quốc Tử Giám trao lại cho tỉnh Hà Nội thì bỏ sót lại khu hồ Văn, vì thế năm 1939 các văn thân nho sĩ tỉnh Hà Nội đệ đơn trình Thị trưởng Hà Nội xin Công

sứ toàn quyền Bắc Kỳ trả lại hồ Văn vào địa phận Văn Miếu, văn bia có đoạn

viết: Hồ này ở ngoài tường cửa thứ ba Văn Miếu tên là hồ Minh Đường hay là Văn

hồ Hồ rộng 1 vạn chín trăm thước vuông tây, trong hồ có gò tròn tên gọi Kim Châu rộng hai trăm thước vuông tây

Văn Miếu Môn

Văn miếu môn, cổng dẫn vào khu thứ nhất

Phía trước Văn Miếu môn là tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ mã hai bên đó là

mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt cổng Xưa kia dù công hầu hay khanh

Trang 6

tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất

từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên

ngựa Thế đủ biết Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn trên có hình 2 con nghê chầu vào Quan niệm tâm linh cho rằng đây là vật linh thiêng có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau Tứ trụ có đôi câu đối chữ Hán:

Đông, tây, nam, bắc do tư đạo

Công, khanh, phu sĩ, xuất thử đồ

Đại Trung Môn

Đại trung môn

Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn Theo văn bản của ông Đỗ

Văn Ninh trước đây hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước và bằng Đại Trung

môn, Thánh Đức môn và Đại tài môn ở phía sau Hiện nay hai bên là không gian

cây xanh và thảm cỏ Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài Cảnh này gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô" Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn

then Đại Trung môn.Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại

vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các Từ hai cửa Đạt Tài và Thành Đức ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường nhỏ hơn song song chạy thẳng với con đường trục giữa, chia khu vực thứ hai này thành 4 dải khá cân bằng Hai hồ nước được đào ở vị trí tương tự như hai hồ nước ở khu vực thứ nhất Việc lặp lại một khu vực chỉ có cây

có cỏ, việc làm thêm dãy tường ngăn và làm thêm lớp cửa ra vào, được các nhà kiến trúc cho là rất thành công trong ý đồ tạo nên cảnh thâm nghiêm, tĩnh mịch của khu vực kiến trúc

Khuê Văn Các

Trang 7

Khuê văn các - Thiên quang tỉnh, nơi giao hoà của đất, trời

Khuê văn các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê") là một lầu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước, do Tổng trấnNguyễn Văn Thành triều Nguyễn đương thời cho xây dựng vào năm 1805 Gác dựng trên một nền vuông cao cân xứng có lát gạch Bát Tràng mỗi bề có chiều dài là 6,8 mét Để bước lên được nền vuông này phài đi qua ba bậc thang đá Kiểu dáng kiến trúc Khuê Văn Các rất hài hòa và độc đáo Tầng dưới là 4 trụ gạch vuông, mỗi cạnh của trụ có chiều dài một mét và trên các mặt trụ đều có chạm trổ các hoa văn rất tinh vi

và sắc sảo Tầng trên là kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát có độ bền cao.Sàn gỗ có chừa 2 khoảng trống để bắc thang lên gác Bốn cạnh sàn có diềm gỗ chạm trổ tinh vi Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng bằng gỗ Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao [8] Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ 奎 文 閣 (Khuê văn các) Mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hánthiếp vàng Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác

Giếng Thiên Quang, Bia Tiến sĩ

Toàn cảnh Thiên quang tỉnh (nhìn từ gác Khuê Văn), hai bên là hai khu nhà bia, phía cuối hình là Đại thành môn dẫn vào không gian thứ ba

Nhà bia Tiến sĩ

Thiên Quang tỉnh (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì(Ao

Văn) Thiên Quang nghĩa là ánh sáng bầu trời Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế

đô này Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên.Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm bia Tiến sĩ dựng ở hai

Trang 8

bên phải trái của giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông,

4 mặt bỏ trống, nền cao, giữa nền có bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng Đây là hai tòa đình thờ bia Đại Thành Môn, khu điện thờ chính của di tích Quốc Tử Giám

- Văn Miếu Cũng như cửa Đại Trung, cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên trước sau và một hàng cột giữa Chính giữa, trên giáp nóc có treo một bức hoành khắc 3 chữ 大成門 (Đại thành môn) theo chiều ngang, đọc từ phải

sang trái Bên phải hai hàng chữ nhỏ dọc khắc Lý Thánh Tông, Thần Vũ nhị

niên, Canh Tuất thu, bát nguyệt phụng kiến có nghĩa là: "Tháng 8 mùa thu

năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ năm thứ 2 đời Lý Thánh Tông vâng sắc xây dựng" [14] Bên trái một hàng chữ dọc khắc:Đồng Kháng tam niên, Mậu Tý trọng

đông đại tu có nghĩa là "Tháng 11 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3

đại tu".[15] Bức hoành sơn thiếp giản dị, là sản phẩm của năm 1888, song nó là minh chứng cho một lần tu sửa lớn vào thờiĐồng Khánh nhà Nguyễn, và cũng là một bằng cứ gián tiếp cho năm khởi dựng Văn Miếu vào thời vua Lý Thánh Tông Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn

Hai cửa nhỏ theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh là Kim Thành bên phải và Ngọc

Thành bên trái, hiện nay là Kim Thanh mônvà Ngọc Chấn môn nằm ngang với cửa

Đại Thành, song 2 cửa này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch phía sau 2 dãy Tả Vu và Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu Khải Thánh phía cuối cùng của di tích

Bái đường Văn Miếu

Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống Sau Đại Bái Đường, song song với Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện, có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông Nếu tách riêng cụm 3 kiến trúc này

ra mà nói thì chúng được xây dựng theo hình chữ công mà Tiểu đình chính là nét sổ giữa và Đại Bái Đường, Thượng Điện là 2 nét ngang trên và dưới

Thượng Điện ở phía sau 9 gian, tường xây 3 phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín 5 gian giữa, 4 gian đầu hồi có cửa chấn song cố định Nhìn chung Thượng Điện kín đáo và do đó cũng tối hơn Đại Bái, đó cũng là ý đồ của công trình sư muốn tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch và họ đã thành công mỹ mãn Nơi đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho Gian chính giữa có cái khám và ngai lớn để

trên một bệ xây, trong có bài vị Chí thánh tiên sư Khổng Tử Cách 2 gian 2 bên tới

những gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử vàMạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử

Trang 9

Tư Bốn vị được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu Ngoài bài vị ra cả 4 vị đều có tượng gỗ sơn thiếp rất uy nghi

Hai gian đầu hồi cũng có 2 khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập Triết gồm những vị: Mẫu tử, Nhiễm tử, Đoan mộc tử,Trang Tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân

tử, Suyền Tôn tử, Chu tử

Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây 9 gian, nhưng chỉ xây 2 tường hồi còn mặt trước mặt sau để trống Tòa Đại Bái này có chức năng hành lễ trong những kỳ tế tự xuân thu Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống Tại đây

treo khá nhiều hoành phi câu đối Bức hoành gian giữa khắc 4 chữ Khang Hi ngự

thư và Đồng Khánh Mậu Tý trọng đông thuận đề (1888)

Cũng như Thượng Điện, Đại Bái đường mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu

Lê, kẻ bảy giản đơn không chạm trổ cầu kỳ, chồng đấu làm theo kiểu đấu đỡ cột chồng rất Việt Nam, khác hẳn với phong cách kiến trúc đồng thời của những công trình ở các nước láng giềng

Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám

Khổng Tử (551TCN - 479TCN) Tượng thờ trong điện Đại thành được làm năm

1729 [16]

Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích Từ Văn Miếu sang đến Khải Thánh người ta có thể đi theo 2 con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu, hoặc cũng

có thể từ sau lưng Thượng Điện qua cửa tam quan Cửa này là cửa chính cũng xây 3 gian, có mái lợp và cánh cửa đóng mở Từ bên ngoài vào đền Khải Thánh cũng có thể qua một cổng nhỏ có cánh mở ở góc Đông Nam nơi tiếp giáp với bức tường ngăn 2 khu Văn Miếu và Khải Thánh Đền Khải Thánh là nơi thờ cha mẹ Khổng

Tử tức là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị Phần nửa diện tích của khu này là sân phía trước Sân bị con đường lát gạch ngăn đôi dẫn từ cửa tam quan lên chính giữa

đền thờ Nửa sân bên trái có 2 tấm bia ghi đại lược như sau: Thăng Long là nơi đô

thành cũ; là nhà Thái Học xưa Hai bên cửa Văn Miếu có dựng bia đề tên Tiến sĩ, bắt đầu từ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo, tới khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng, nay hiện còn 82 tấm, đó chỉ là một số nhỏ Trong thời gian từ đó tới nay gió táp mưa sa, cỏ lấp rêu phong, có tới hơn 10 tấm chữ khắc bị mòn, lỏng chỏng mỗi

斑 駁 不 可 卒 讀 Thập diện dư linh tinh tán lập, đa ban bác bất khả tốt độc)

Tôi là Thanh đến làm quan ở đây, vẫn thường muốn làm việc ấy Mùa thu năm nay, công việc đỡ bận, tôi bàn với quan tổng đốc và quan án sát, bàn cách làm nhà ngói mỗi bên 2 tòa nhà, mỗi tòa 11 gian Tấm bia nào đổ lỏng chỏng thì đem xếp lại, mặt bia nào bị sứt sở thì đem so sánh mà khắc lại Cất giữ lấy vết tích xưa vậy Thật sự 2 tấm bia này cũng là những tư liệu quý Kiến trúc đền Khải Thánh

sơ sài hơn song cũng có Tả Vu, Hữu Vu 2 bên và đền thờ ở giữa Đền Khải Thánh xưa vốn là Quốc Tử Giám, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại Năm 1946 quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch không còn lại một kiến trúc nào Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới Toàn bộ mái đều được lợp hai lớp ngói lót, trên là một lớp chì dày 1,5mm rồi đến một lớp ngói lót nữa, và trên cùng là ngói

Trang 10

mũi hài Phần giữa các cột nhà với chân đá tảng cũng đặt một tấm chì dày 1,5mm

để chống ẩm từ dưới lên Nền sân đều được lát gạch bát kích thước 30x30x4cm Xung quanh nhà đều được bó vỉa bằng đá xanh Quy mô kiến trúc khu Thái Học mới rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước

Nhà Tiền đường, Hậu đường

Danh sư Chu Văn An

Đây là công trình xây dựng hoàn toàn mới do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích - Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999.Nhà Tiền đường 9 gian với 40 cột gỗ lim chống mái, đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài để trần không trát Gian đầu hồi và gian thứ ba mặt trước, mặt sau đều có cửa bức bàn chấn song con tiện dẫn sang nhà Hậu đường.So với nhà Bái đường của khu Văn Miếu, cột cái của nhà Tiền đường đều to và cao hơn, đường kính cột là 0,48m, chiều cao cột là 7m Tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo ngày nay, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc Ống muống nối Tiền đường với Hậu đường vào với nhau và có hai cửa sang nhà chuông, nhà trống.Hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, tầng 1 gồm 9 gian, 2 chái với

72 cột gỗ lim, trong đó 8 cột cái cao 11,5m đường kính 0,56m Hai đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài cũng để trần không trát Phía trước là cửa bức bàn chấn song con tiện, xung quanh là vách đố lụa Gian đầu hồi mặt sau, gian thứ 3 và gian thứ 7 mặt trước là cửa sổ chấn song con tiện.Tầng một là nơi tôn vinh

Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu

-Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát

lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị

sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc.Tầng 2 có 5 gian xung quanh là vách đố lụa, mặt trước

có 5 cửa và mặt sau có 4 cửa để ra lan can phía trước và sau.Tầng 2 là nơi tôn thờ

các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự

nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân T ông

Ý nghĩa

Về mặt di tích mà nói thì 2 nhà bia Tiến sĩ ở 2 bên giếng Thiên Quang là nơi bảo tồn những di tích quý nhất của cả khu di tích lịch sử này 82 tấm bia Tiến sĩ hiện còn có giá trị về nhiều mặt Đây là những tư liệu văn tự bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi được dựng

1 nhà sử học có thể tìm thấy ở đây những tư liệu về lịch sử giáo dục, về những tên tuổi gắn bó với lịch sử dân tộc, quê quán, danh tính những bậc nhân tài

Ngày đăng: 19/09/2016, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w