1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI

23 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 262 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người. Nó không chỉ là hoạt động trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa con người với con người trong xã hội mà còn có thể sử dụng để tạo lập, duy trì và củng cố mối quan hệ giữa họ. Có nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức phổ biến và quan trọng nhất. Nhờ phương tiện ngôn ngữ, con người đã thực hiện rất nhiều hành động khác nhau để thể hiện những ý định và cảm xúc của mình, trong đó, “xin lỗi” được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Nhà văn Nikolai Vasilyevich Gogol đã từng nói “Không có ai trên đời mà lương tâm không có vài tội lỗi”. Thật vậy, mỗi người chúng ta trong cuộc sống này để làm đúng tất cả mọi việc mọi lúc, mọi nơi và không làm tổn thương ai là điều không hề dễ dàng. Có lúc chúng ta cố tình mắc lỗi, sau đó, cảm thấy hổ thẹn. Nhưng cũng có lúc lỗi lầm xảy ra lại do chúng ta vô tình. Song dù là vô tình hay cố ý thì một lời xin lỗi trong các tình huống đó là hoàn toàn hợp lý. Nhà văn Stephen Gosson đã từng nói “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn là im lặng”. Do đó, việc sử dụng lời xin lỗi trong cuộc sống hàng ngày là vô cùng cần thiết, bởi “xin lỗi” không chỉ đơn giản là giúp chúng ta nhận ra sai lầm của mình để từ đó sửa sai và hoàn thiện mình hơn mà “xin lỗi” còn góp phần củng cố, tạo lập và cải thiện mối quan hệ với mọi người xung quanh, đồng thời thể hiện nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt. Như vậy, con người sử dụng hành vi xin lỗi, ngoài mục đích xin lỗi còn có nhiều những ý định và cảm xúc khác nhau, do đó cũng dẫn đến những sự tiếp nhận rất khác nhau. Với mỗi giới, việc thực hiện hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi cũng có nhiều điểm không giống nhau. Trong đời sống văn hóa – xã hội, “xin lỗi” không chỉ là một nghi thức giao tiếp cần thiết mà còn là nét văn hóa ứng xử của người Việt. Nói lời xin lỗi trong giao tiếp không chỉ thể hiện sự hối lỗi của người nói trước một sự việc không nên do mình gây ra, mà trong nhiều trường hợp, nó còn thể hiện phép lịch sự, sự tôn trọng của người nói đối với người nghe. Từ góc độ dụng học, xin lỗi là một hành động ngôn ngữ hướng tới nhu cầu xoa dịu thể diện của người tiếp nhận và có ý muốn sửa lại cho đúng một sự vi phạm mà người xin lỗi biểu lộ trách nhiệm, giúp tái thiết sự cân bằng giữa người xin lỗi và người tiếp nhận. Hay nói cách khác, xin lỗi là hành động xin được tha thứ vì đã biết lỗi. Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, hành vi xin lỗi được nghiên cứu theo quan hệ tương tác giao tiếp có sự phân tầng về xã hội. Theo định hướng này, với tư cách là một biến thể, hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi được xem xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi, địa vị, giới, nghề nghiệp, học vấn… của người xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi. Như vậy, theo cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội, giới là một trong những biến xã hội quan trọng có tác động mạnh mẽ vào hoạt động giao tiếp của con người, trong đó có hành vi xin lỗi. Và nếu như trong ngôn ngữ học xã hội có “phong cách ngôn ngữ của mỗi giới” thì tất sẽ có phong cách ngôn ngữ của mỗi giới ở hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi. Có thể nói, hành vi xin lỗi cho đến nay cũng được nghiên cứu nhiều ở góc độ dụng học và văn hóa, nhưng chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu sâu về sự tác động của nhân tố giới đến hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi trong tiếng Việt. Đây chính là lí do khiến tôi lựa chọn vấn đề “Xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ giới” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Các công trình nghiên cứu về hành vi xin lỗi từ góc độ ngôn ngữ Vận dụng lý thuyết dụng học vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ (HVNN) nói chung và hành vi xin lỗi (HVXL) nói riêng trong khoảng thời gian gần đây cũng bắt đầu được các nhà ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu. Các HVNN được thực hiện trong thực tiễn giao tiếp vô cùng phong phú và đa dạng như: mời, hỏi, khen, chê, chào, chúc, tặng, cấm, cám ơn, hứa, cam kết, thề, giới thiệu, cảm thán, khuyên bảo, yêu cầu, tuyên bố, miêu tả, kể, khẳng định, phủ định, nhận xét, đe dọa, phân tích, đánh giá, phê phán,đề nghị… Đã có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN này. Hành vi xin lỗi là một trong những hành vi thuộc nghi thức lời nói, được sử dụng phổ biến đến nhưng nghiên cứu về nó chưa thật đầy đủ và toàn diện. Dưới đây là một số công trình chúng tôi đã khảo sát được: Năm 1989, luận văn Thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Văn Lập đã đi vào phân loại, miêu tả các HVNN thuộc nghi thức lời nói tiếng Việt theo các phạm vi giao tiếp khác nhau như phạm vi giao tiếp xã hội hóa; phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo đức và phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ cầu khiến. Với hành vi xin lỗi, tác giả đã chia thành hai loại tương ứng với hai phạm vi giao tiếp là phạm vi giao tiếp xã hội hóa và phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo đức. Ở phạm vi giao tiếp xã hội hóa, tác giả xác định hành vi xin lỗi với động từ “xin lỗi” như một tín hiệu thu hút sự chú ý của người không quen để thông báo, yêu cầu, hỏi về một điều gì đó với thái độ lịch sự. Tác giả đã đưa ra công thức ở dạng này như sau: Xin lỗi B + làm ơn cho A (hỏi)… Ví dụ: (1) Xin lỗi, anh làm ơn xem hộ tôi mấy giờ rồi? Ở phạm vi giao tiếp thứ hai – phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo đức, tác giả khái quát những cách biểu hiện của hành vi xin lỗi như sau: Xin lỗi bằng động từ ngữ vi “xin lỗi”. Ví dụ: (2) Anh xin lỗi em Xin lỗi bằng các động từ tha lỗi, thứ lỗi, tha thứ, lượng thứ. Ví dụ: (3) Dạ, thầy thứ lỗi cho con. Xin thầy thứ lỗi cho con Xin lỗi bằng cách từ chối lịch sự. Ví dụ: (4) Ấy Ông ngồi chơi đã. Đi bây giờ nắng chết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ THÙY LINH

XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người Nó không chỉ là hoạt động trao đổi thông tin, tưtưởng, tình cảm giữa con người với con người trong xã hội mà còn có thể sử dụng để tạo lập, duy trì và củng cố mốiquan hệ giữa họ Có nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức phổ biến vàquan trọng nhất Nhờ phương tiện ngôn ngữ, con người đã thực hiện rất nhiều hành động khác nhau để thể hiện những

ý định và cảm xúc của mình, trong đó, “xin lỗi” được sử dụng phổ biến và rộng rãi Nhà văn Nikolai Vasilyevich Gogol đã từng nói “Không có ai trên đời mà lương tâm không có vài tội lỗi” Thật vậy, mỗi người chúng ta trong

cuộc sống này để làm đúng tất cả mọi việc mọi lúc, mọi nơi và không làm tổn thương ai là điều không hề dễ dàng

Có lúc chúng ta cố tình mắc lỗi, sau đó, cảm thấy hổ thẹn Nhưng cũng có lúc lỗi lầm xảy ra lại do chúng ta vôtình Song dù là vô tình hay cố ý thì một lời xin lỗi trong các tình huống đó là hoàn toàn hợp lý Nhà văn Stephen

Gosson đã từng nói “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn là im lặng” Do đó, việc sử dụng lời xin lỗi trong cuộc

sống hàng ngày là vô cùng cần thiết, bởi “xin lỗi” không chỉ đơn giản là giúp chúng ta nhận ra sai lầm của mình

để từ đó sửa sai và hoàn thiện mình hơn mà “xin lỗi” còn góp phần củng cố, tạo lập và cải thiện mối quan hệ với

mọi người xung quanh, đồng thời thể hiện nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt Như vậy, con người sửdụng hành vi xin lỗi, ngoài mục đích xin lỗi còn có nhiều những ý định và cảm xúc khác nhau, do đó cũng dẫn đếnnhững sự tiếp nhận rất khác nhau Với mỗi giới, việc thực hiện hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi cũng có nhiềuđiểm không giống nhau

Trong đời sống văn hóa – xã hội, “xin lỗi” không chỉ là một nghi thức giao tiếp cần thiết mà còn là nét văn

hóa ứng xử của người Việt Nói lời xin lỗi trong giao tiếp không chỉ thể hiện sự hối lỗi của người nói trước một sựviệc không nên do mình gây ra, mà trong nhiều trường hợp, nó còn thể hiện phép lịch sự, sự tôn trọng của người nóiđối với người nghe

Từ góc độ dụng học, xin lỗi là một hành động ngôn ngữ hướng tới nhu cầu xoa dịu thể diện củangười tiếp nhận và có ý muốn sửa lại cho đúng một sự vi phạm mà người xin lỗi biểu lộ trách nhiệm, giúp táithiết sự cân bằng giữa người xin lỗi và người tiếp nhận Hay nói cách khác, xin lỗi là hành động xin được thathứ vì đã biết lỗi

Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, hành vi xin lỗi được nghiên cứu theo quan hệ tương tác giao tiếp có

sự phân tầng về xã hội Theo định hướng này, với tư cách là một biến thể, hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xinlỗi được xem xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi, địa vị, giới, nghề nghiệp, học vấn… của ngườixin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi

Như vậy, theo cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội, giới là một trong những biến xã hội quan trọng cótác động mạnh mẽ vào hoạt động giao tiếp của con người, trong đó có hành vi xin lỗi Và nếu như trong ngônngữ học xã hội có “phong cách ngôn ngữ của mỗi giới” thì tất sẽ có phong cách ngôn ngữ của mỗi giới ởhành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi

Có thể nói, hành vi xin lỗi cho đến nay cũng được nghiên cứu nhiều ở góc độ dụng học và văn hóa,nhưng chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu sâu về sự tác động của nhân tố giới đến hành vi xin lỗi và

Trang 3

tiếp nhận lời xin lỗi trong tiếng Việt Đây chính là lí do khiến tôi lựa chọn vấn đề “Xin lỗi và tiếp nhận lờixin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ giới” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về hành vi xin lỗi từ góc độ ngôn ngữ

Vận dụng lý thuyết dụng học vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ (HVNN) nói chung và hành vixin lỗi (HVXL) nói riêng trong khoảng thời gian gần đây cũng bắt đầu được các nhà ngôn ngữ quan tâmnghiên cứu

Các HVNN được thực hiện trong thực tiễn giao tiếp vô cùng phong phú và đa dạng như: mời, hỏi,khen, chê, chào, chúc, tặng, cấm, cám ơn, hứa, cam kết, thề, giới thiệu, cảm thán, khuyên bảo, yêu cầu, tuyên

bố, miêu tả, kể, khẳng định, phủ định, nhận xét, đe dọa, phân tích, đánh giá, phê phán,đề nghị… Đã có rấtnhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN này Hành vi xin lỗi là một trong những hành vi thuộc nghithức lời nói, được sử dụng phổ biến đến nhưng nghiên cứu về nó chưa thật đầy đủ và toàn diện Dưới đây làmột số công trình chúng tôi đã khảo sát được:

Năm 1989, luận văn Thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Văn Lập

đã đi vào phân loại, miêu tả các HVNN thuộc nghi thức lời nói tiếng Việt theo các phạm vi giao tiếp khácnhau như phạm vi giao tiếp xã hội hóa; phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạođức và phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ cầu khiến Với hành vi xin lỗi, tác giả đã chiathành hai loại tương ứng với hai phạm vi giao tiếp là phạm vi giao tiếp xã hội hóa và phạm vi giao tiếp củanhững hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo đức

Ở phạm vi giao tiếp xã hội hóa, tác giả xác định hành vi xin lỗi với động từ “xin lỗi” như một tínhiệu thu hút sự chú ý của người không quen để thông báo, yêu cầu, hỏi về một điều gì đó với thái độ lịch sự.Tác giả đã đưa ra công thức ở dạng này như sau:

Xin lỗi B + làm ơn cho A (hỏi)…

Ví dụ:

(1) Xin lỗi, anh làm ơn xem hộ tôi mấy giờ rồi?

Ở phạm vi giao tiếp thứ hai – phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạođức, tác giả khái quát những cách biểu hiện của hành vi xin lỗi như sau:

- Xin lỗi bằng động từ ngữ vi “xin lỗi”

Ví dụ:

(2) Anh xin lỗi em!

- Xin lỗi bằng các động từ tha lỗi, thứ lỗi, tha thứ, lượng thứ.

Ví dụ:

(3) Dạ, thầy thứ lỗi cho con Xin thầy thứ lỗi cho con!

- Xin lỗi bằng cách từ chối lịch sự

Ví dụ:

(4) - Ấy! Ông ngồi chơi đã Đi bây giờ nắng chết.

- Ông tha phép (cho)…! Tôi phải ra tỉnh ngay cho kịp.

Trang 4

- Xin lỗi bằng sự nhận lỗi.

Ví dụ:

(5) Bác, cháu thật có lỗi với bác!

Từ đó, tác giả đồng thời cũng đưa ra hai dạng lời đáp cho hành vi xin lỗi trong phạm vi giao tiếp này: Sp2chấp nhận lời xin lỗi và Sp1 không chấp nhận lời xin lỗi

Cũng theo hướng nghiên cứu này, Phạm Thị Thành trong luận án của mình (1995) đã đi sâu tìm hiểu

và chia các phát ngôn xin lỗi ra thành hai loại:

- Các phát ngôn xin lỗi được thực hiện một cách tường minh: là các phát ngôn có động từ ngữ vi

“xin lỗi” Với kiểu HVXL này, tác giả đã kế thừa và phát triển quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Lập

- Các phát ngôn xin lỗi được thực hiện một cách hàm ẩn: là các phát ngôn không chứa động từ ngữ

vi “xin lỗi” Với kiểu HVXL này, tác giả bước đầu đưa ra được những cấu trúc xin lỗi gián tiếp Đây chính làđiểm nổi bật trong công trình của tác giả

Năm 2007, trong công trình “Hành vi xin lỗi của người Việt”, Trần Thị Kim Oanh dựa vào lý thuyết về

hành vi ngôn ngữ, lý thuyết về phép lịch sự đã phân tích, miêu tả các phát ngôn xin lỗi theo hai hình thức thể hiện(trực tiếp và gián tiếp) trên các phương diện là cấu trúc, hoàn cảnh sử dụng và lời đáp

- Với hành vi xin lỗi trực tiếp: Tác giả đưa ra cấu trúc là: dạng đầy đủ và dạng khuyết thiếu Tronghai hoàn cảnh sử dụng là: xin lỗi khi có lỗi thực sự và xin lỗi khi thực hiện mục đích khác Lời hồi đáp đượcthực hiện theo hai hướng là: hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực

- Với hành vi xin lỗi gián tiếp: Tác giả đã chỉ ra những hành vi ngôn ngữ có khả năng thực hiện giántiếp hành vi xin lỗi là: cầu khiến, hỏi, phân trần, xác tín, ăn năn, phân trần – xác tín, phân trần – cầu khiến,xác tín – hứa, cám đoan, xác tín – cầu khiến Với mỗi hành vi cụ thể tác giả lại đưa ra những mô hình cấutrúc, hoàn cảnh sử dụng và lời đáp tương ứng

Năm 2009, trong luận văn Thạc sĩ “Xin lỗi, cám ơn – biểu hiện của phép lịch sự trong văn hóa ứng

xử người Việt”, Nguyễn Thị Thủy đã trình bày khái quát về phép lịch sự, về hành vi xin lỗi và hành vi cám

ơn Đặt hai hành vi xin lỗi và hành vi cám ơn trong mối tương quan với phép lịch sự của người Việt Tác giảkết luận hành vi xin lỗi có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người ViệtNam

Gần đây nhất, năm 2013, trong khóa luận tốt nghiệp “Sự biến đổi của lời xin lỗi và lời cảm ơn trong giao tiếp tiếng Việt từ năm 1930 đến nay”, Nguyễn Thị Lành qua khảo sát sự xuất hiện của lời xin lỗi, cảm

ơn trong các tác phẩm văn học từ năm 1930 đến nay đã chỉ ra rằng, lời xin lỗi trong các giai đoạn 1930 –

1954, 1954 – 1975 và từ 1975 đến nay có một số biến đổi nhất định Theo thời gian, nếu sự biến đổi tronggiai đoạn 1954 – 1975 còn mờ nhạt thì giai đoạn từ năm 1975 đến nay lại có những thay đổi đậm nét hơn.Nếu ở giai đoạn trước hình thức xin lỗi sử dụng động từ ngữ vi xin lỗi kèm điệu bộ, cử chỉ thì từ năm 1975đến nay ngoài việc sử dụng hành vi xin lỗi có chứa động từ ngữ vi xin lỗi, còn sử dụng những cái bắt tay, vỗvai thân thiện thỉnh cầu sự tha thứ ở người phạm lỗi, có khi là những nụ cười tỏ ý xin lỗi

Trang 5

Như vậy, tuy không nhiều và chưa thật sâu, hành vi xin lỗi cũng đã được tìm hiểu cả ở phương diệnngữ nghĩa lẫn cấu trúc với những mục đích khác nhau Tuy nhiên, hành vi xin lỗi từ góc độ giới cho đến naychưa có đề tài, luận văn nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết.

2.2 Các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, hành vi xin lỗi từ góc độ giới

Có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN từ các góc độ khác nhau như cấu trúc, tương tác hộithoại, lịch sự Chẳng hạn, nghiên cứu HVNN từ góc độ tương tác hội thoại có một số công trình sau: hành vi chê(Nguyến Thị Hoàng Yến, luận văn thạc sĩ 2000, luận án tiến sĩ 2006), hành vi cam kết (Vũ Tố Nga, 2000), hành

vi thỉnh cầu (Nguyễn Thị Vân Anh, 2001), hành vi điều khiển (Trịnh Thanh Hà, 2001), hành vi trách (NguyễnThu Hạnh, 2004), hành vi khen (Trần Thị Lan Anh, 2005), hành vi mỉa mai (Nguyễn Minh Huệ, 2007), hành vixin lỗi (Trần Thị Kim Oanh, 2007)… Song, không có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu HVNN, đặc biệt làHVXL từ góc độ giới – một biến xã hội rất quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội Theo khảo sát củachúng tôi, cho đến nay mới chỉ có một số công trình đi sâu nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ từ góc độ giới Đólà:

Luận án Tiến sĩ “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt (qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen)” của Phạm Thị Hà (2013) đã nghiên cứu hành vi khen theo hướng của ngôn ngữ học xã hội Tác

giả đã xem hành vi khen như một biến xã hội và việc sử dụng hành vi khen – tiếp nhận lời khen có sự phânbiệt khá rõ giữa các giới Cụ thể:

- Đối với khen: Tác giả chỉ ra rằng, chiếm tỉ lệ cao là lời khen dành cho nữ, trong đó cao nhất là namkhen nữ, tiếp đó là nữ khen nữ và nữ khen nam, chiếm tỉ lệ khiêm tốn nhất là nam khen nam Hình thức khen giántiếp xuất hiện chủ yếu khi nam khen nữ và nữ khen nữ Trong lời khen, khi nam khen nữ và nữ khen nữ rất ưa sửdụng các tình thái từ làm yếu tố tăng cường cho lời khen Nữ khen nam ít sử dụng tình thái từ hơn và nam khennam là cặp giao tiếp có số lượng tình thái từ được sử dụng hạn chế nhất Về chủ đề khen, với 13 chủ đề có mặttrong các lời khen về ngoại hình, nam giới chỉ chiếm ưu thế trong việc nhận được lời khen về ngoại hình nóichung, phong thái và trang phục Hầu hết các chủ đề còn lại như: dáng, da, mắt, nụ cười, khuôn mặt… đều dànhcho nữ giới

Đối với tiếp nhận lời khen, nữ giới sử dụng triệt để 8 chiến lược hồi đáp khen bằng lời gồm: cảm ơn,chia sẻ kinh nghiệm, khẳng định lời khen, khen phản hồi, hỏi lại, phủ định lời khen, giảm bớt mức độ khen vàkhông hồi đáp vào nội dung khen Trong khi đó, nam giới sử dụng ít hơn và nhiều khi lấy sự im lặng để thaycho trẻ lời

Đây là những phát hiện khá mới mẻ và là tiền đề cho một chuỗi các công trình nghiên cứu theohướng này ra đời

Trong công trình “Hành vi chê và tiếp nhận lời chê của người Việt nhìn từ góc độ giới khảo sát trong một số tác phẩm văn học”, Vũ Thị Mai Hương đã tiến hành phân tích làm rõ mối quan hệ giữa hành

động chê và giới tính qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam sau 1986 ở các phương diện cụ thể là:

- Cấu trúc – chiến lược chê: Tác giả chỉ ra rằng cấu trúc – chiến lược chê của nam giới thường mangtính áp đặt, còn nữ giới thường mang tính mềm mỏng, lịch sự

Trang 6

- Đối tượng bị chê: Tác giả xác định nam giới lấy đối tượng bị chê là bản thân mình nhiều hơn nữgiới, còn nữ giới lại có xu hướng lựa chọn đối tượng bị chê là ngôi thứ ba nhiều hơn.

- Nội dung chê: Tác giả cho rằng nam giới có xu hướng lựa chon nội dung chê là hành động, còn nữgiới có xu hướng lựa chọn nội dung chê là đạo đức, phẩm chất

Trong công trình“Hành vi chào và tiếp nhận lời chào của người Việt nhìn từ góc độ giới (khảo sát trong giới học sinh – sinh viên)”, Dương Thị Minh Hạnh đã tiếp cận hành vi chào trong sự so sánh về cách

sử dụng lời chào giữa các giới Phạm vi của đề tài được giới hạn trong giới học sinh – sinh viên nên đã đượctác giả tiến hành khá cụ thể, từ đó đưa ra kết quả khảo sát và những nhận xét rất chân thực về cách sử dụng,tần suất và cấu trúc lời chào theo từng giới ở lứa tuổi này Cụ thể, tác giả xác định học sinh – sinh viên nam

ưa sử dụng kiểu chào trực tiếp, tích cực, ngắn gọn, ít động chạm tới thể diện, tránh vấn đề liên quan đến đời

tư và bình giá chủ quan Còn học sinh – sinh viên nữ lại thường sử dụng kiểu chào gián tiếp nhằm đảm bảo

sự tế nhị, kín đáo, mang biểu cảm, cảm xúc

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu trên cơ sở của tư liệu tiếng Việt hoặc theo hướng đối chiếu

(tiếng Việt với các ngôn ngữ khác) đã chỉ ra tác động của giới đối với giao tiếp ngôn ngữ của người Việt:

– Nghiên cứu vấn đề lịch sự gắn với yếu tố giới: Vũ Thị Thanh Hương “Giới tính và lịch sự”; Vũ Tiến Dũng “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính(qua một số hành động nói)”.

– Nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt của người Việt dưới tác động của nhân tố giới có: Nguyễn Đức Thắng

“Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt”– Nghiên cứu về sự tác động của yếu tố giới tới

tư duy ngôn ngữ có Nguyễn Trà My “Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của người Việt (khảo sát trên đối tượng là sinh viên)”.

– Nghiên cứu đối chiếu sự tác động của nhân tố giới tới sử dụng ngôn ngữ giữa tiếng Việt với các

ngôn ngữ khác Ví dụ: Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Hải Yến nghiên cứu đối sánh “Đặc trưng ngôn ngữ

- văn hóa trong hành vi chào hỏi Nga – Anh – Việt” và nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Vân về

“Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hành động chào hỏi trong tiếng Đức và tiếng Việt”.

Một số công trình nghiên cứu quan niệm về giới cũng như sự kì thị về giới nữ được thể hiện trong

ngôn ngữ và qua đó góp phần vào việc kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị, tạo ra sự bình đẳng về giới Ví

dụ: Nguyễn Văn Khang “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính”, Nguyễn Văn Khang “Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kỳ thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị đối với nữ giới trong việc sử dụng ngôn ngữ”.

Mặc dù đã có một số công trình đi sâu vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ theo hướng của ngônngữ học xã hội xong mới chỉ xuất hiện ở hành vi khen, chê, chào, trong khi hành vi ngôn ngữ còn rất nhiềukiểu hành vi khác nhau, trong đó có hành vi xin lỗi – được sử dụng thường xuyên cuộc sống hàng ngàylạichưa được nghiên cứu Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành đi sâu nghiên cứu khảo sát hành vi xin lỗi vàtiếp nhận lời xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới để làm rõ thêm mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu HVXL từ góc độ giới để tìm ra những sự khác nhau khi thực hiện vàtiếp nhận hành vi này giữa giới nam và giới nữ

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích như vừa nêu ở trên, luận văn cần hoàn thành những nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất, đưa ra những kiến thức khái quát về hành vi ngôn ngữ, về ngôn ngữ học xã hội, đặc biệt

là ngôn ngữ và giới

- Thứ hai, tìm hiểu về hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi từ góc độ giới

- Thứ ba, thống kê – khảo sát – điều tra: Chúng tôi tiến hành thống kê, khảo sát ngữ liệu trong cáctác phẩm của một số tác giả là Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn CôngHoan… và trong cuộc sống hàng ngày

4 Đối tượng và tư liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành vi xin lỗi và hành vi tiếp nhận lời xin lỗi

- Tư liệu mà chúng tôi thu thập chủ yếu theo bằng hai nguồn là giao tiếp nói và giao tiếp viết

+ Đối với tư liệu từ giao tiếp nói, luận văn tiến hành thu thập tư liệu bằng cách ghi âm, quan sát ghichép và tiến hành phỏng vấn

+ Luận văn sử dụng tư liệu từ các phim phát sóng trên các chương trình truyền hình của Việt Nam.+ Đối với tư liệu từ giao tiếp viết, luận văn tiến hành thu thập tư liệu từ một số tác phẩm văn của một số tácgiả là Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… và trong cuộc sống hàngngày

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện được luận văn này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn theo cách trò chuyện để thu thậpthông tin về lời xin lỗi

- Nhập thân vào vai giao tiếp: Cách điều tra này đòi hỏi chúng ta tham gia trực tiếp vào cuộc tròchuyện (trở thành một vai giao tiếp) Khi gặp gỡ, trò chuyện, bản thân mình cố gắng dẫn cuộc trò chuyện cóliên quan đến xin lỗi và hồi đáp xin lỗi để thu thập tư liệu Chẳng hạn, chúng tôi sử dụng lời xin lỗi kèm theoviệc làm phiền tới người khác: nhờ xem hộ giờ đồng hồ, xin đi nhờ xe… Trong các cuộc bàn bạc như vậy sẽxuất hiện các lời xin lỗi và hồi đáp xin lỗi

- Quan sát: Có thể nói, đi tới đâu, gặp gỡ bất cứ ai chúng ta cũng có thể bắt gặp những cuộc giao tiếpbắt đầu với lời xin lỗi Bởi vậy, ta có thể cố gắng quan sát và ghi chép khi lời xin lỗi và hồi đáp lời xin lỗi xuấthiện

- Điều tra bằng anket: Chúng tôi xây dựng anket theo hai cách là mở và đóng: ngoài những câu hỏi

có sẵn các phương án trả lời để cộng tác viên lựa chọn còn có những câu hỏi mở để cộng tác viên phát biểu ýkiến, suy nghĩ của mình

- Việc chọn mẫu điều tra: trong hai loại mẫu chủ ý và mẫu ngẫu nhiêu, chúng tôi sử dụng chủ yếu làmẫu ngẫu nhiên Lí do là phạm vi tư liệu rộng và nhiều, nếu chọn mẫu chú ý sẽ có thể làm hạn chế tư liệunên chúng tôi sử dụng mẫu ngẫu nhiên để có cho nguồn tư liệu được phong phú hơn

- Thủ pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành thống kê các ngữ liệu về hành vi xin lỗi và tiếpnhận lời xin lỗi của cả nam và nữ ở phạm vi rộng, cả trong văn chương và giao tiếp hàng ngày Sau đó, tiếnhành phân loại chúng theo các nội dung cần phân tích như: hành vi xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới,

Trang 8

hành vi tiếp nhận lời xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới, cấu trúc của hành vi xin lỗi, cấu trúc của hành

vi tiếp nhận lời xin lỗi…

- Phương pháp phân tích, miêu tả kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi tiến hànhphân tích và miêu tả các ngữ liệu tìm được về hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi Từ đó tiến hành so sánhđối chiếu để tìm ra sự giống và khác nhau giữa nam và nữ trong việc sử dụng lời xin lỗi và tiếp nhận lời xinlỗi

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa lí luận

Về mặt lí luận, chúng tôi thực hiện luận văn này nhằm góp phần vào việc nghiên cứu để làm sáng tỏthêm lí thuyết hành vi ngôn ngữ và lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội cụ thể là mối quan hệ giữa ngôn ngữ vàgiới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, chúng tôi thực hiện luận văn này nhằm góp phần vào việc nghiên cứu hành vi xinlỗi và tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt thông qua giao tiếp dưới tác động của nhân tố giới Trên cơ sở đóthấy được những sự khác biệt về lối ứng xử văn hóa – ngôn ngữ từ góc độ giới của người Việt

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tối có cấu trúc như sau: Ngoài phần mở đầu, phần nội dung của luận văn đượcchia thành 3 chương là :

Chương 1 Cơ sở lí luận

Chương 2 Đặc điểm của hành vi xin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ giới

Chương 3 Đặc điểm của hành vi tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ giới

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết chung về ngữ dụng học

1.1.1 Cặp thoại

Khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ không thể tách rời nó với hội thoại, vì thông qua hội thoại, tất cảcác vấn đề thuộc về giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người đều được bộc lộ như: hành vi ngôn ngữ, chiếuvật và chỉ xuất, vấn đề tính lịch sự, lập luận

Hội thoại là do những đơn vị ở những bậc khác nhau tạo nên, những đơn vị cấu trúc của hội thoạiđược chia thành hai nhóm đơn vị sau đây:

- Nhóm 1: Là những đơn vị lưỡng thoại Những đơn vị này do cả người nói và người nghe tạo nên,bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại

- Nhóm 2: Là những đơn vị đơn thoại do một nhân vật hội thoại tạo ra và nằm trong một lần trao lời,gồm có: tham thoại và hành vi ngôn ngữ

Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất, còn gọi là cặp trao đáp hay cặp kế cận, gồm một hành vidẫn nhập và một hành vi hồi đáp, hoặc có thể hơn hai hành vi Đây là đơn vị cơ sở quan trọng cấu thành hộithoại, nó do các tham thoại của người nói và người nghe đi với nhau tạo nên

1.1.2 Hành vi ngôn ngữ

1.1.2.1 Định nghĩa, phân loại các hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ (speech act): vốn có nhiều cách dịch là hành động ngôn ngữ, hành động ngôn từ, hành động nói Với cách dịch là hành vi ngôn ngữ thì hành động này được hiểu là hành vi được thực hiện

bằng phương tiện ngôn ngữ

Theo J L Austin, có 3 loại hành vi đó là hành vi tạo lời (act locutoire), hành vi mượn lời (actperlocutoire) và hành vi ở lời (act illocutoire) Trong đó:

Hành động ở lời lại được phân ra thành nhiều loại khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có sự thốngnhất giữa các nhà nghiên cứu về việc phân loại các hành động này bởi các hành động này có số lượng rấtlớn Dưới đây chúng tôi chỉ đưa ra một số cách phân loại đáng chú ý như sau:

Trước tiên là Austin, ông đã dựa trên sự liệt kê của Wittgenstein về các hành vi ngôn ngữ trước đó

và phân loại thành 5 phạm trù, đó là:

(1) Phán xử: xử trắng án, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại…

(2) Hành xử: ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, xin, khuyến cáo, biện hộ cho và các hành vi ngôn ngữ như:

bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc…

(3) Cam kết: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền…

(4) Trình bày: khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác…

(5) Ứng xử: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyền rủa, thách thức, nghi ngờ…

Như vậy, theo Austin, hành vi xin lỗi thuộc phạm trù Ứng xử

Trang 10

Tiếp theo là cách phân loại của Searle Ông đã chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại của Austin

và đưa ra cách phân loại của bản thân mình dựa trên tiêu chí là “12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngônngữ” Cụ thể ông phân ra thành 5 loại hành vi ở lời như sau:

(1) Tái hiện (representatives):: tán thành, khẳng định, xác nhận, giải thích…

(2) Điều khiển (directives, directifs):: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, cho phép, cấm, khuyên

(3) Cam kết (commissives, commissifs): thề, hứa hẹn, cam đoan, tặng, biếu…

(4) Biểu cảm (expositives, expossitifs):: chúc mừng, khen ngợi, tán thưởng, cảm ơn, xin lỗi…

(5) Tuyên bố (declarations, declaratifs):: tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ…

Như vậy, theo Searle, xin lỗi thuộc phạm trù biểu cảm

Từ cách phân loại của Austn và Searle, chúng tôi nhận thấy, dù hành vi xin lỗi thuộc phạm trù Ứng

xử hay Biểu cảm thì cũng đều hướng tới mục đích để bày tỏ thái độ, tình cảm của người nói đối với ngườinghe

Tuy nhiên, các cách phân loại trên mới chỉ nhằm mục đích là hướng tới các hành động ở lời khichúng được sử dụng đúng với biểu thức của hành động ấy và chúng còn được gọi là các hành động ở lời trựctiếp Trong thực tế giao tiếp, còn xuất hiện những trường hợp mà hành động ở lời được sử dụng thông quamột hành động ở lời khác Từ đó dẫn đến quan điểm phân chia hành động ở lời thành hai loại đó là hànhđộng ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “xin lỗi” được hiểu là:

1 Xin được tha thứ vì đã biết lỗi

Trang 11

2 Dùng để mở đầu lời nói một cách lịch sự khi có việc phải làm phiền tới người khác [29, 1470]Như vậy, đối với người Việt, “xin lỗi” không chỉ là một hành động để người thực hiện hành vi đónhận ra lỗi lầm của mình để sửa chữa và trở nên tốt đẹp hơn “Xin lỗi” còn là biểu hiện của truyền thống ứng

xử văn hóa, là hành vi lịch sự trong các mối quan hệ xã hội

HVXL có nhiều biểu hiện khác nhau nhưng xét về cách thức, nó được chia thành hai kiểu: xin lỗitrực tiếp và xin lỗi gián tiếp

- HVXL trực tiếp là hành vi có chứa ĐTNV xin lỗi và có BTNV xin lỗi Ở dạng đầy đủ, hành vi xinlỗi chứa cả 3 yếu tố là: chủ thể thực hiện hành vi xin lỗi Sp1, động từ ngữ vi thể hiện hành vi xin lỗi và chủthể tiếp nhận hành vi xin lỗi Sp2 Dạng này có cấu trúc là:

SP1+ ĐTNV (xin lỗi/cáo lỗi/tạ lỗi) + SP2.

- HVXL gián tiếp là hành vi không chứa ĐTNV xin lỗi mà mượn các HVNN khác như hỏi, cầukhiến, xác tín,… để đưa ra lời xin lỗi ở dạng hàm ẩn, phụ thuộc vào ngữ cảnh

1.1.2.2 Điều kiện sử dụng hành vi xin lỗi

Searle trên cơ sở phân tích một hành vi ở lời đó là hành vi “hứa” (tiếng Anh là “promise”) đã bổsung vào những điều kiện may mắn mà Austin đưa ra trước đó khiến cho chúng hoàn thiện hơn, ông gọichúng là điều kiện sử dụng, cụ thể là bốn điều kiện sau:

(1) Điều kiện nội dung mệnh đề

(2) Điều kiện chuẩn bị

(3) Điều kiện chân thành

(4) Điều kiện căn bản

Theo bốn điều kiện nói trên, chúng tôi có thể đưa ra các điều kiện sử dụng mà hành vi xin lỗi phảiđáp ứng là:

- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành động X do SP1 thực hiện có thể diễn ra trong quá khứ, hiện tạihoặc tương lai

- Điều kiện chuẩn bị: SP1 nghĩ rằng hành động X đã, sẽ, đang ảnh hưởng tiêu cực tới SP2

- Điều kiện chân thành: SP1 thực sự hối hận vì hành động X của mình

- Điều kiện căn bản: SP1 thực hiện hành vi xin lỗi nhằm mong SP2 tha thứ cho lỗi lầm của mình

1.1.2.3 Động từ ngữ vi xin lỗi – biểu thức ngữ vi xin lỗi

(1) Động từ ngữ vi xin lỗi

Theo kết quả khảo sát của các nhà nghiên cứu đi trước, các động từ thuộc nhóm xin lỗi là: xin, tha, xin lỗi, tha lỗi, thứ lỗi, tạ lỗi, cáo lỗi, lượng thứ, dung thứ, tha thứ, bỏ qua, bỏ quá, tha tội, thông cảm, xá tội, đại xá… Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu có 3 động từ được sử dụng đúng với chức năng ngữ vi khi

chúng được sử dụng làm phương tiện thể hiện hành vi xin lỗi trực tiếp, nghĩa là người nói đồng thời thựchiện hành vi xin lỗi mà động từ đó biểu thị Đó là:

- Xin lỗi: là “xin được tha thứ vì đã biết lỗi” hay “dùng để mở đầu lời nói một cách lịch sự khi có

việc phải làm phiền tới người khác” [34,1470]

- Tạ lỗi: là “bày tỏ lòng biết ơn hay xin lỗi một cách trân trọng” [34,1136].

Ngày đăng: 19/09/2016, 13:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Kết quả khảo sát tổng quát các kiểu xin lỗi theo tiêu chí Giới 2.2. Một vài nhận xét về hành vi xin lỗi trong tiếng Việt từ góc độ giới - Tóm tắt LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI  CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát tổng quát các kiểu xin lỗi theo tiêu chí Giới 2.2. Một vài nhận xét về hành vi xin lỗi trong tiếng Việt từ góc độ giới (Trang 15)
Bảng 2.5. Bảng kết quả khảo sát các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi gián tiếp giữa hai giới - Tóm tắt LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI  CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
Bảng 2.5. Bảng kết quả khảo sát các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi gián tiếp giữa hai giới (Trang 18)
Bảng 3.1. Tổng quát các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi tích cực, tiêu cực, trung gian theo tiêu chí - Tóm tắt LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI  CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
Bảng 3.1. Tổng quát các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi tích cực, tiêu cực, trung gian theo tiêu chí (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w