1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của trịnh thanh phong (LV01966)

100 861 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu chung về vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, cũng có những bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI VÂN ANH

VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA TRỊNH THANH PHONG

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÝ HOÀI THU

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới quý thầy cô giáo trong Tổ Lí luận văn học - Khoa Ngữ văn và Phòng Sau đại học - Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian tôi học tập tại đây để hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS

Lý Hoài Thu đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo

và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn bên tôi, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Bùi Vân Anh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Bùi Vân Anh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Đóng góp của luận văn 9

8 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI VÀ TÁC GIẢ TRỊNH THANH PHONG 11

1.1 Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 11

1.1.1 Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới 11

1.1.2 Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới 15

1.2 Hành trình sáng tác của Trịnh Thanh Phong 20

1.2.1 Vài nét về tiểu sử 21

1.2.2 Hành trình sáng tác 23

CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRỊNH THANH PHONG 26

2.1 Bức tranh đời sống – xã hội nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong 26

2.1.1 Nông thôn với những tàn dư của cải cách ruộng đất và di hại của cơ chế quan liêu bao cấp 27

2.1.2 Nông thôn trong bão tố thị trường 33

2.1.3 Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú 38

2.2 Thân phận người nông dân 42

2.2.1 Người nông dân với số phận mang tính bi kịch 43

Trang 5

2.2.2 Người nông dân vượt lên trên hoàn cảnh, số phận 46

2.2.3 Người nông dân với sự phân hóa mạnh mẽ số phận trong thời mở cửa 49

2.3 Những rạn vỡ văn hóa 51

2.3.1 Những đổ vỡ trong mối quan hệ làng xã 52

2.3.2 Sự tràn lan của các tệ nạn xã hội 54

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾTVỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN CỦA TRỊNH THANH PHONG 56

3.1 Không gian – thời gian nghệ thuật 56

3.1.1 Không gian – thời gian hiện thực đời thường 57

3.1.2 Không gian – thời gian hồi tưởng 59

3.1.3 Không gian – thời gian tâm linh 62

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 63

3.2.1 Xây dựng nhân vật qua ngoại hình 63

3.2.2 Miêu tả hành động nhân vật 68

3.2.3 Khắc họa đời sống nội tâm nhân vật 70

3.3 Ngôn ngữ 73

3.3.1 Ngôn ngữ nhân vật 73

3.3.2 Ngôn ngữ trần thuật (Ngôn ngữ của người kể chuyện) 80

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân, văn học là một thành phần không thể tách rời Càng hội nhập sâu rộng với thế giới, văn học càng cần tự nguyện gánh vác sứ mệnh chuyên chở những giá trị thẩm mỹ khẳng định nền tảng Việt Nam, cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam theo từng nhịp điệu xây dựng nông thôn mới Để làm được điều đó, văn học phải cắm rễ vào làng quê Từ lâu, hiện thực đời sống nông thôn đã bám

rễ vào mạch nguồn văn học dân tộc, in dấu lên mọi sáng tác văn chương Đối với một nước đi lên từ nông nghiệp, phần đông dân số sống trong khu vực nông thôn, gắn bó với công việc đồng ruộng thì nông thôn và hình tượng người nông dân vẫn luôn là những đề tài lớn cho giới văn nghệ sĩ Đây cũng

là mảng đề tài ghi danh nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu như Nguyễn Khuyến, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Chu Văn, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú…

1.2 Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non sông thu về một mối, đất nước dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, một kỉ nguyên mới mở ra với lắm khó khăn, bộn bề nhưng cũng nhiều khát vọng Chính điều đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau 1975 vươn mình lớn dậy; đặc biệt tư tưởng đổi mới kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dân chủ, cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó có văn học Trong sự phát triển của nền văn học mới, văn xuôi nông thôn chiếm một vị trí không nhỏ cả

về số lượng lẫn chất lượng Việc khai thác đề tài này dưới nhiều góc độ đã góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của nền văn học

Trang 7

Tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975, nhất là sau năm 1986 vẫn tiếp tục “thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhưng phương thức khai thác thay đổi Trước bước ngoặt chuyển mình của dân tộc, tiểu thuyết viết về nông thôn đã hòa vào dòng chảy để phản ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn đương đại ở bề sâu dưới cái nhìn nhận thức lại hiện thực và nhu cầu đạo đức tối

đa Nhiều vấn đề mới, cách nhìn và cả hệ hình tư duy mới được đặt ra cấp thiết, sâu sắc trong mạch ngầm tiểu thuyết Nó mang đến hơi thở mới cho văn xuôi nói chung và sức cuốn hút mãnh liệt cho tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng với nhiều dáng nét độc đáo hơn Sự vận động hợp quy luật của văn xuôi đã mở ra nhiều ngả đường để tiểu thuyết nông thôn đi sâu vào mọi ngõ ngách của làng quê nhằm tìm kiếm, phát hiện những vẻ đẹp, những đau khổ, những ẩn ức… trong từng thân phận người nông dân Sự đóng góp đó đã mang lại sức sống mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết nước nhà

1.3 Bên cạnh những tác giả, tác phẩm nổi tiếng viết về vấn đề này như

Lê Lựu với Thời xa vắng, Dương Hướng với Bến không chồng, Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hoàng Minh Tường với Thuỷ hoả

đạo tặc, Đào Thắng với Dòng sông mía chúng ta không thể không nhắc tới

các nhà văn địa phương đã âm thầm viết và có những thành tựu đáng ghi nhận Trịnh Thanh Phong, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, là một trường hợp

như thế Sau tiểu thuyết Ma làng được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh

và gây tiếng vang lớn trong công chúng, Trịnh Thanh Phong xuất bản tiếp

các tiểu thuyết Đồng làng đom đóm và Ông mãnh về làng Cả ba tiểu thuyết

của ông đều viết về nông thôn với những xung đột thế sự đời tư vừa lâu dài, vừa mang tính thời sự

Nghiên cứu vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong, người viết nhận thấy số lượng các bài viết trên các báo Tuyên Quang, tạp chí Văn nghệ quân đội, những nhận xét của các tác giả khác về Trịnh

Trang 8

Thanh Phong khá phong phú, nhưng phần lớn chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, chưa

hệ thống Vì vậy, khi lựa chọn đề tài “Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong” người viết muốn góp một tiếng nói nhỏ để khẳng

định cá tính sáng tạo của nhà văn, những đóng góp của nhà văn vào xu thế vận động, cách tân của văn xuôi Việt Nam ở đề tài nông thôn trước và sau đổi mới 1986

2 Lịch sử vấn đề

Đặc thù nước ta là nền văn hóa lúa nước và văn hóa làng xã, chính vì thế có thể nói đây là mảnh đất màu mỡ cho văn học Tuy nhiên, để khai thác mảnh đất này lại không phải là điều dễ, ở mỗi vùng miền lại mang một nét đặc trưng, một bản sắc văn hóa riêng Xung quanh mảng văn học viết về nông thôn có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết

Tiêu biểu cho những công trình đã nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam

viết về đề tài nông thôn là cuốn Văn xuôi viết về nông thôn tiến trình và đổi

mới của tác giả Lã Duy Lan Trong cuốn sách, tác giả đã tổng kết toàn bộ tiến

trình và xu hướng phát triển của văn xuôi viết về đề tài nông thôn đặt trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam Nội dung chủ yếu tác giả cuốn sách muốn đề cập đó là bộ mặt thật của nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới được phản ảnh trong văn học Việt Nam như thế nào Cuốn sách là một cái nhìn tương đối toàn diện về mảng văn xuôi viết về đề tài nông thôn Việt Nam

Bài “Một số vấn đề văn xuôi thời kì đổi mới” của tác giả Tôn Phương Lan trong cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX đã đề cập đến văn học

sau chiến tranh Đặt đề tài nông thôn bên cạnh đề tài khác, bài viết đã chỉ ra những đổi mới của đề tài nông thôn trong sự đổi mới chung của tiểu thuyết sau 1986 Ngoài ra, trong bài viết này, tác giả còn nói đến một số vấn đề tồn tại của đời sống nông thôn trong mối quan hệ dòng tộc

Trang 9

Các nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này Bài viết “Nhà văn với vấn đề tam nông” của phóng viên Đỗ Ngọc

Thạch trên trang phongdiep.net cũng đề cập đến vấn đề đề tài nông thôn với

các nhà văn mới trong đó có ý kiến của nhà văn Nguyễn Khắc Trường cho rằng: “Viết về nông thôn, viết về người nông dân là động đến cái mẫu số chung, cái phần sâu thẳm nhất của dân tộc chúng ta… Còn nhiều vấn đề bức xúc ở nông thôn lắm, đây là một đề tài rộng lớn tưởng là dễ hiểu nhưng hết sức bí mật”

Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu chung về vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, cũng có những bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong, chúng ta có thể điểm qua một vài ý kiến tiêu biểu với những cái nhìn khác nhau về tiểu thuyết của ông như sau:

Tại Hội nghị tổng kết của Ủy ban Toàn quốc – Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2009 và Hội nghị tổng kết Chi hội nhà văn Sông Chảy năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh nêu ý kiến: Một nhà văn sống ở

miền núi Tuyên Quang mà làm nên được một Ma làng gây xôn xao dư luận

trong và ngoài nước, rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh Thanh Phong mà còn là đóng góp của văn học nước nhà cho công cuộc đổi mới Điều đó cho chúng ta thấy rằng: “Nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở chứ không có khoảng cách trong sáng tạo”

Tác giả Lã Hồng Minh sau khi đọc tác phẩm của Trịnh Thanh Phong cũng nhận định: “Nhân vật trở đi trở lại trong truyện của Trịnh Thanh Phong

là số phận của những người lính sau chiến tranh về làm nông dân, từng nếm trải nhiều cay đắng nhưng không bao giờ gục ngã” Đúng vậy, đọc tác phẩm của Trịnh Thanh Phong ta thấy hầu hết nhân vật chính trong các câu chuyện đều là những người nông dân, người lính, họ bước lên từ những luống cày đi

Trang 10

vào chiến trường đạn lửa rồi lại trở về hòa nhập với cuộc sống đầy cam go, thử thách Cũng chính nhà văn Trịnh Thanh Phong đã từng tâm sự trong tập

Kỷ yếu nhà văn Việt Nam: “Gắn bó với người nông dân, người lính sau chiến

tranh lại về làm nông dân Những nhọc nhằn của họ trong sinh sống đời thường luôn là nỗi day dứt trong tôi Giúp đỡ họ về vật chất, bàn tay mình bé quá Thế là tôi tìm đến văn học nhưng không phải động cơ để trở thành nhà văn mà tôi muốn nhờ văn học để sẻ chia với họ, từ học lại viết ra văn để nhớ nhau, yêu thương nhau, cùng nhau vượt qua những nhục nhằn, thua thiệt và vươn lên trong cuộc sống làm người Lý do đó tôi cầm bút viết văn, vẫn biết văn mình chưa hay, chưa đáp ứng với họ nhưng tôi còn viết nữa” [21, tr.50]

Đó là lời tâm sự chân thành của một nhà văn đã có nhiều năm gắn bó với người lính và hiểu được những thay đổi đang diễn ra từng ngày ở nông thôn trong quá trình phát triển

Trả lời phỏng vấn “Trò chuyện với tác giả tiểu thuyết Ma làng”, Trịnh Thanh Phong có nói đến chất liệu xây dựng tác phẩm: “Tất cả để dựng lên khuôn hình, cảnh vật con người trong cuốn sách này tôi đã tìm nhặt ở làng quê lở lói, nghèo khổ bám quanh viền chân núi Châm chạy nhoài ra phái bờ sông Lô ở chỗ con gà gáy ba tỉnh cùng nghe thấy! Bỏ vào cái túi da, tôi về ngồi dưới căn nhà lá cọ ở cái phố “Hủng “thị xã Tuyên Quang sắp đặt lại Công việc tôi làm giống như người tập đan lát thêu thùa… Kỳ cạch mãi rồi cũng xong! ” [2, tr.5] Như vậy có nghĩa là chất liệu hiện thực và những trải

nghiệm thực tế để vẽ lên một bức tranh làng quê trong tiểu thuyết Ma làng

phải chiếm tới 90% và có những cảnh vật, con người vẫn còn nguyên sơ ở ngoài đời nên nó mang tính thời sự khá cao

Tác giả Trần Lệ Thanh trong bài: “Ma làng và sự trăn trở của một ngòi

bút với quê hương” trên báo Văn nghệ trẻ, đã làm rõ hơn giá trị của Ma làng

về cả phương diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh

Trang 11

Thanh Phong Trong bài viết tác giả cho rằng nội dung chính của tác phẩm

Ma làng là: “Đằng sau việc miêu tả những mâu thuẫn dai dẳng, sự tranh chấp,

đố kị giữa làng trên xóm dưới, tộc này họ kia chi phối đời sống nông dân, đằng sau những mánh khóe hiểm ác những mưu mô toan tính của những người có thế lực, có quyền thế, lợi dụng đúng chỗ đứng của mình để thu lợi… Tác phẩm trong một chừng mực nào đó đã phản ánh được thực trạng khá đau đớn vẫn còn diễn ra trong đời sống tinh thần của một số làng quê nông thôn”

[52], tác giả bài viết cũng cho rằng cái làm nên sức nặng của tiểu thuyết Ma

làng là ở thái độ cách nhìn nhận của tác giả: “Cái làm nên sức hấp dẫn của

Ma làng là ở tấm lòng của tác giả, ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa

hiền lành đôn hậu của nhà văn Đặc biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút Trịnh Thanh Phong chính là ở chỗ, tuy luôn day dứt, trăn trở trước những số phận, những cảnh đời, mảnh đời vụn vỡ, nhưng tác giả không bao giờ thỏa hiệp với cái xấu” [52] Bên cạnh nội dung tác giả bài viết cũng đề cập sơ bộ

nhất vài nét nghệ thuật tự sự trong Ma làng như lối trần thuật “Bằng nhiều chi

tiết, qua lối trần thuật độc đáo giàu sức gợi”, giọng điệu “nghe và cách miêu

tả những nhân vật này, thấy được thái độ vừa trân trọng, cảm thông, vừa nghiêm khắc, khách quan phán xử của nhà văn”, “giọng điệu mỉa mai bông tếu cũng trở thành một phương thức khá quen thuộc của nhiều cây viết” [52], kết cấu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong được nhận xét “có được một phần kết luận hợp lý” Tuy đây là những đánh giá rất sơ lược về nghệ thuật trong

Ma làng nhưng nó cũng đã gợi mở cho chúng tôi đi sâu khám phá quan niệm

nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống con người đặc biệt thông qua những phương tiện nghệ thuật

Trung Trung Đỉnh trong bài “Tiểu thuyết Ma làng và những thói tục

mới ở làng quê” trên báo Văn nghệ trẻ số tháng 3.2003 đã đề cập khá rõ nét

về nội dung cũng như những mâu thuẫn được đề cập đến trong tác phẩm Ma

Trang 12

làng Tác giả bài viết khẳng định nhà văn Trịnh Thanh phong đã viết về nông

thôn Việt Nam thời hiện đại với những thói tục xưa cũ được cải biến thành thói tục thời nay Đó là “những thói tục mâm trên mâm dưới, họ hàng chú bác anh em cô dì giằng dịt lôi kéo nhau vào việc làng, việc nước… bọn phú hào mới của làng xã tranh thủ đục nước béo cò, xâu xé nhau bằng những chức vụ…” [13], với mâu thuẫn chủ yếu giữa “một bên là thân phận những người nông dân ngàn đời nay vẫn chưa ra khỏi lũy tre làng… một bên là bọn quan chức dùng mọi thủ đoạn mưu mô chước quỷ nắm các chức quyền trong làng ngoài xã” Đây cũng là nội dung bài viết “Tiểu thuyết “Ma làng – Bức tranh

quê trước ngày đổi mới” của tác giả Minh Hòa trên báo Tuyên Quang số ra

ngày 28 tháng 9 năm 2007 Những nội dung trên đã cho người viết những gợi

ý khi tìm hiểu về con người, cuộc sống nông thôn trong tiểu thuyết Ma làng

của nhà văn Trịnh Thanh Phong

Với tiểu thuyết Đồng làng đom đóm, tác giả Hà Linh trong bài “Ánh sáng từ đồng làng đom đóm (Đọc tiểu thuyết “Đồng làng đom đóm” của Trịnh Thanh Phong, Nxb Hội nhà văn, năm 2009)” trên báo Tuyên Quang số

ra ngày 27 tháng 01 năm 2010 đã đề cập đến cách xây dựng nhân vật chính của truyện, những khía cạnh về cuộc sống thời bình, thời chiến và hậu chiến của tác phẩm, về những dằn vặt, suy tư của con người thời chiến, những đóng góp của ông trong việc lý giải chiến tranh rất táo bạo trong những trang viết

về chiến tranh, đặc biệt, tác giả bài viết phát hiện ra đặc sắc về cách sử dụng chi tiết nghệ thuật “ánh sáng” của tác giả Trịnh Thanh Phong Bài viết cho thấy thêm một thành công nữa của nhà văn Trịnh Thanh Phong với thể loại tiểu thuyết

Xung quanh đề tài này còn có một số công trình nghiên cứu khoa học: khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Nhìn chung, mỗi công trình, bài viết đề cập, đánh giá ở những khía cạnh, góc độ khác nhau, nhưng

Trang 13

đa số đều thống nhất khẳng định giá trị từng tác phẩm Tất cả đều là những

tư liệu quý báu, gợi mở cho chúng tôi hướng nghiên cứu sâu hơn vào vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong đồng thời cho thấy những đóng góp của ông về phương diện đề tài và thể loại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

Trước hết, luận văn cố gắng tìm hiểu, tái hiện diện mạo nông thôn trước

và sau năm 1986, từ đó nhận thức được sự đổi mới tư duy tiểu thuyết đã chi phối đến quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và thế giới con người như thế nào Đây chính là cơ sở xác lập cảm hứng sáng tác về đề tài nông thôn của nhà văn

Thứ hai, để cụ thể hóa nội dung phản ánh trong ba tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích, lí giải những vấn đề của nông thôn trong thời kì đổi mới với bản sắc văn hóa, hiện thực xã hội, số phận người nông dân, thấy được tầm nhìn, những dự báo của nhà văn

về vấn đề này

Trang 14

Cuối cùng, luận văn đi vào khai thác một số phương thức tự sự nổi bật thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong công trình này tập trung vào vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong

Phạm vi khảo sát của đề tài này là 3 trên 4 tiểu thuyết về nông thôn của Trịnh Thanh Phong:

- Ma làng Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2000

- Đồng làng đom đóm Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2009

- Ông mãnh về làng Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2011

6 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu loại hình

- Phương pháp lịch sử xã hội

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

7 Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đánh giá các phương diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn của Trịnh Thanh Phong qua đó khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo và những đóng góp của ông trong mảng văn xuôi viết về nông thôn thời kì đổi mới

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương

Trang 15

Chương 1: Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và tác giả Trịnh Thanh Phong

Chương 2: Đời sống nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn của Trịnh Thanh Phong

Trang 16

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ

ĐỔI MỚI VÀ TÁC GIẢ TRỊNH THANH PHONG

1.1 Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Trong các thể loại văn xuôi, tiểu thuyết nhờ những ưu thế về đặc trưng thể loại có đủ khả năng thâu tóm, bao quát mọi vấn đề của hiện thực đời sống trong đó nông thôn là vấn đề được các tiểu thuyết gia đặt lên hàng đầu Cùng với bước chuyển mình của thời đại, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết viết

về nông thôn nói riêng cũng đang nỗ lực đổi mới tư duy nghệ thuật đặc biệt là cách tiếp cận hiện thực và con người, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của

đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại

1.1.1 Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới

Trước Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc Việt Nam phải sống trong hiện thực đen tối và số phận người nông dân chìm ngập trong tấn bi kịch đau thương Nông thôn Việt Nam hiện lên với những tối tăm, đói nghèo, bế tắc, đầy trớ trêu, nghịch cảnh và bất công Đó là nông thôn của những lớp người

“dưới đáy” thấp cổ bé họng, chịu nhiều chèn ép áp bức, chịu nhiều thảm kịch thương tâm nhưng vẫn không để mất đi bản chất làm người Đó là nông thôn với những mâu thuẫn xung đột của thực dân đế quốc và bè lũ tay sai với các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người nông dân, càng ngày càng trở nên sâu sắc, quyết liệt Xung đột giai cấp ấy là xung đột chính, là điểm “nóng” nhất của nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ Tiền đề xã hội này đã khơi nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các nhà tiểu thuyết khám phá về nông thôn và người nông dân Việt Nam Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì này đã vẽ lên trên nền của chủ nghĩa hiện thực những bức tranh sắc nét hầu như bao quát được thực trạng đen tối của nông thôn Việt Nam, số phận bi kịch của người nông dân

Trang 17

với xung đột giai cấp hết sức gay gắt Chúng ta có thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh này qua những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các nhà văn tiêu biểu thuộc

trào lưu hiện thực phê phán như Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng

(Nguyễn Công Hoan)…Các tác phẩm này ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị dự báo và giá trị nhân văn sâu sắc: Nó báo hiệu một cơn giông cách mạng sắp tới; là tiếng nói cảm thông, bênh vực con người; trân trọng, nâng niu những khát khao nhân bản và chân chính của những tâm hồn tưởng chừng đã bị cuộc đời làm cho cằn cỗi, u mê Với những giá trị này, các nhà tiểu thuyết đã trở thành những nhà nhân đạo lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại, chiếm được vị trí quan trọng trong lòng các thế hệ bạn đọc

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam Với thắng lợi này, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà Và một điều mà chúng

ta dễ nhận thấy là bộ mặt của nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi to lớn Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới Giờ đây ruộng đất đã được trao tận tay với quyền làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây dựng và kiến thiết cuộc sống mới Nhưng cũng trong giai đoạn này, người nông dân lại phải tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất nước Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu như không tách riêng ra thành một mảng rõ rệt với văn xuôi nói chung Đề tài nông thôn cũng nằm

trong đề tài kháng chiến, hoà quyện trong một cái tên chung là văn xuôi kháng

chiến Chủ đề yêu nước – chống giặc là tinh thần của văn xuôi nói chung và

tiểu thuyết nói riêng mà trong đó các nhà văn đóng vai trò tiên phong đưa kháng chiến kiến quốc mau đến thắng lợi

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, văn xuôi viết về nông thôn

Trang 18

khá nhiều, thành công hơn cả là tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng

Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, đời sống nông thôn Việt Nam nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Hai sự kiện này nhanh chóng in dấu sâu đậm với những thành tự đáng ghi nhận trong văn học viết về nông thôn, nhất là tiểu thuyết

Tiểu thuyết viết về nông thôn trong Cải cách ruộng đất nổi bật lên với

những tác phẩm có tiếng vang từ trước cách mạng: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tưởng) Trong thời kỳ sửa sai (1956),

có một số tác giả viết về Cải cách ruộng đất đúng với thực tế hơn, tiêu biểu

là tiểu thuyết Sắp cưới (Vũ Bão) Tác phẩm viết về những sự kiện đã xảy ra

khi tiến hành Cải cách ruộng đất tại một đơn vị cơ sở, sự phản ảnh của tác giả là khách quan và thỏa đáng

Tiểu thuyết viết về nông thôn trong Phong trào hợp tác hóa nông

nghiệp cũng rất thành công với những tác phẩm sáng giá như: Xung đột (Nguyễn Khải), Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm (Đào Vũ)…Đây được xem là

những tác phẩm có tiếng vang lớn trong dư luận và là những sự kiện văn học thời bấy giờ Các tác phẩm thời kỳ này xuất hiện với những chủ đề: Hai con đường trong thời kỳ đầu của Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và Con người trong thời kỳ cải tiến quản lý hợp tác xã và xây dựng nền sản xuất lớn

xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1964, cả nước bước vào công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nông thôn Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến: Nông thôn vừa là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, vừa là lực lượng sẵn sang chiến đấu chống giặc Mĩ phá hoại miền Bắc Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì này mang âm điệu sử thi anh hùng và thực sự “được mùa” cả về

số lượng tác phẩm và đội ngũ tác giả Có thể kể các tác giả, tác phẩm tiêu

Trang 19

biểu như: Bão biển, Đất mặn (Chu Văn); Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú); Cửa sông (Nguyễn Minh Châu); Ao làng (Ngô Ngọc Bội)… Nhìn

chung, các tiểu thuyết thời kỳ này đã tạo dựng được bức tranh hiện thực nông thôn sống động với nhiều sự kiện, chi tiết tiêu biểu như: Xây dựng và ngợi ca những con người tích cực, điển hình cho những con người mới xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; vấn đề nông thôn mới ở miền Bắc, hợp tác hóa, xây dựng nền kinh tế mới khẳng định sự thắng lợi của phương thức sản xuất tập thể, ca ngợi cuộc sống mới ở nông thôn dưới

sự lãnh đạo của Đảng; ngợi ca những tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mĩ cứu nước của hậu phương

Tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1975 đến 1985 diễn ra trong bối cảnh

xã hội bộn bề, gay cấn Những tổn thất trong chiến tranh đang bắt đầu tỏa sức nặng, nền kinh tế tự cấp, tự túc không đủ nuôi sống xã hội, cơ chế quản

lí quan liêu bao cấp bất lực, bộc lộ nhiều những yếu kém Hòa nhịp với tinh thần chung của văn xuôi hậu chiến, tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1980 đến

1985 cũng bắt đầu chuyển động mạnh với các tiểu thuyết: Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn)…Đặc biệt, cuốn tiểu thuyết hai tập Cù lao Tràm khi xuất hiện vào

năm 1985 đã đưa văn xuôi viết về nông thôn chuyển lên một bình diện mới Trong tác phẩm, Nguyễn Mạnh Tuấn đã đưa ra những vấn đề thời sự gây nhiều tranh cãi: Sự bất cập của cung cách làm ăn và quản lí nông thôn theo kiểu mới Với tiểu thuyết này, tác giả bước đầu chạm đúng vào thời điểm nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm không chỉ trong đời sống nông thôn Nam Bộ nói riêng mà của cả dân tộc nói chung

Có thể nói, những năm tiền đổi mới 1975 – 1985, tiểu thuyết viết về nông thôn đã âm thầm diễn ra cuộc chuyển mình ở chiều sâu trong đời sống nội tại, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt

Trang 20

Nhìn chung, tiểu thuyết viết về nông thôn trước thời kì đổi mới có những đặc thù riêng do viết dưới quan điểm dân chủ của chủ nghĩa hiện thực

xã hội chủ nghĩa Nét chính là sự đổi mới của hiện thực đời sống nông thôn

và con người vươn lên làm chủ vận mệnh của mình Xung đột chính là xung đột cũ – mới, kết thúc thường có hậu

1.1.2 Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới

Mốc năm 1986 không phải thời điểm làm thay đổi diện mạo của tiểu thuyết nông thôn Sự đổi thay đó như một dòng chảy ngầm từ những năm 80 của thế kỷ XX Những năm đầu thập niên 80 đến 1985 xuất hiện một số nhà văn mẫn cảm trước thời cuộc Đây là chặng đường cuối thời kỳ bao cấp, những tư tưởng, quan niệm lỗi thời vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn học Nằm trong mạch nguồn ấy, tiểu thuyết nông thôn chặng này vẫn đang “cựa quậy”, “dò tìm” – tức là đã có dấu hiệu đổi mới

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)

về đổi mới toàn diện đất nước đã diễn ra với hai khẩu hiệu: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá sự thật, nói rõ sự thật” Hai khẩu hiệu trên đã thổi một luồng gió mới vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống

xã hội, đặc biệt là văn học nghệ thuật Công cuộc đổi mới đã đưa đất nước chuyển mình từ cơ chế quản lí hành chính tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Đại hội VI cũng chỉ

ra điều cốt yếu của công cuộc đổi mới này chính là đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, cách nghĩa sao cho đúng quy luật khách quan của nó Bàn về vấn

đề này, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã đưa ra một quan niệm mới có cơ sở

lý luận và ý nghĩa thực tiễn như sau: “Đổi mới tư duy là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhưng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một cách khoa học và nghiêm túc…Trong quá trính đổi mới tư duy, tất nhiên

Trang 21

không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội

Đảng Lần thứ VI” (trích “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học”, tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 12/1987, tr.108-114)

Sau 1986, đất nước đổi mới toàn diện đã từng bước đem lại những biến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của mỗi người nông dân Nhà văn từ đó cũng có điều kiện, thời cơ thuận lợi để thể hiện những trăn trở, suy tư về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và nông dân một cách trực diện, thấu đáo Họ đề cập thẳng vào những vấn đề đặt ra trong thực tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý kinh tế –

xã hội với những khó khăn, bất cập từ lối tư duy sản xuất cũ Nhu cầu nhận thức lại thực tại trên tinh thần “chân lý phải được phát hiện nhiều lần” và trên cảm quan “cuộc sống và con người ngày càng trở nên phức tạp hơn” chiếm ưu thế trong cảm hứng sáng tác của các nhà tiểu thuyết thời kỳ này Đúng như nhà văn Hà Xuân Trường nhận xét: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn Đề tài, nhân vật, phong cách, cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được một cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình Không có cái đó thì không

có đổi mới”

Sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết nói chung và trong tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau năm 1986 nói riêng thể hiện trên nhiều phương diện: đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ…

Đề tài chiến tranh lịch sử, dân tộc của giai đoạn trước được thay thế bằng đề tài thế sự, đời tư Văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 tái hiện bức tranh hiện thực đời sống tối tăm, ngột ngạt bởi sự tồn tại của những mâu

Trang 22

thuẫn mang tính thời đại, ở đó, người nông dân sống thân phận nghèo khổ của con sâu cái kiến, không có quyền tự chủ trong lao động và trong sinh hoạt bình thường Văn học viết về thời kì đất nước xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, với mục tiêu được đặt lên hàng đầu là khích lệ niềm tin vào chế độ mới tốt đẹp, các nhà văn tập trung tái hiện một gương mặt nông thôn trong hăng say lao động và sản xuất Đến thời kì đổi mới, tiểu thuyết viết về nông thôn đã tái hiện được một bức tranh nông thôn với đủ gam màu sáng, tối: Nông thôn trong các cuộc đấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính

tư lợi cá nhân, gia đình, dòng tộc; những thiên kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai

dẳng trong đời sống nông thôn như một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông

Mía, Ma làng) Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nước, bòn rút

của nhân dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn Nguy

cơ xuống cấp về tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của bộ máy lãnh đạo ở

nông thôn (Chuyện làng Cuội, Cuồng phong, Đồng sau bão) Nông thôn thời

đổi mới với những khởi sắc và cả sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biến đổi sâu sắc trong sự tiếp biến văn hóa, trong khả năng và năng lực hành động của người nông dân trước sự đổi thay của nông thôn trên con đường hiện đại hóa

(Dòng chảy đất đai, Dưới chín tầng trời, Ông mãnh về làng) Khoảng cách

giữa hai thế hệ là một vấn đề đang ngày càng trở nên nhức nhối trong xã hội

nông thôn cũng được các nhà văn phản ánh (Lão Khổ, Dòng sông Mía, Giời

cao đất dày) Chủ đề ngợi ca những nông dân điển hình, những cán bộ xã,

thôn tâm huyết, có tầm nhìn xa, có ý thức tự lực, có lòng tự trọng, khát khao dân chủ và nhân văn và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp phần mang lại cho nông thôn sắc diện mới như Lại Tiến Thịnh, Nguyễn

Mạnh Quang trong Dòng chảy đất đai, Thương Huyền trong Dưới chín tầng

trời Những chủ đề đã được quan tâm trước đó như nông thôn thời chiến

tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại

Trang 23

Nông thôn với những thảm cảnh kinh hoàng, “long trời lở đất”, với những năm đầu cách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả sự hi sinh cao cả của những người nông dân chân lấm tay bùn được hiện ra chân thực Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết,

sự tương thân tương ái của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và

trong cuộc sống đời thường (Chuyện làng Cuội, Nước mắt một thời, Ba

người khác, Thời của thánh thần, Giời cao đất dày, Đồng làng đom đóm)

Ngoài ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ yếu đuối, bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân, gia đình đã đưa tiểu thuyết nông thôn đăng quang ở

chiều sâu và chiều cao trong phản ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội, Dòng

sông Mía)

Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết thể hiện rõ ràng qua phương diện cốt truyện Cốt truyện là hệ thống sự kiện làm nòng cốt cho sự diễn biến các mỗi quan hệ và phát triển tính cách nhân vật Tiểu thuyết thời kì đổi mới phong phú hơn tiểu thuyết trước đó về cách xây dựng cốt truyện Một số tiểu thuyết (như các tiểu thuyết hồi ức chiến tranh) lựa chọn cốt truyện giàu tâm trạng, thì các nhà tiểu thuyết khi viết về nông thôn lựa chọn cốt truyện sự kiện giàu

kịch tính Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thời xa

vắng (Lê Lựu), Dòng sông mía (Đào Thắng), Ma làng (Trịnh Thanh

Phong), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường),… đều là những tiểu thuyết

khá rõ ràng với mở đầu, phát triển, kịch tính, kết thúc Người đọc có thể dựa vào những sự kiện ấy mà kể lại cho người nghe về nội dung câu chuyện

Nếu như quan niệm con người trong văn học trước năm 1975 là quan niệm con người cá nhân hòa nhập trong tập thể, con người quần chúng thì sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới là quan niệm con người cá nhân được thể hiện trong mối quan hệ với cộng đồng trên cơ sở phát huy cá tính, tôn trọng

Trang 24

đời tư nhân vật Đồng thời, với việc tái hiện bức tranh nông thôn đầy phức tạp, các nhà văn đặc biệt quan tâm tới cuộc sống và thân phận con người Trong mỗi tiểu thuyết, người đọc đều tìm thấy một hoặc một số nhân vật có thân phận, có tính cách rất đặc biệt Tính cách và thân phận ấy có mối quan

hệ tương tác từ hoàn cảnh xã hội Sự lầm lì, cam chịu của Sài trong Thời xa

vắng của Lê Lựu căn nguyên từ những quy định, áp đặt của gia đình, cơ

quan Song ẩn sâu bên trong bề ngoài ấy, người ta nhận thấy có một cõi lòng muốn vượt thoát đi tìm hạnh phúc thực sự, song chưa đủ quyết tâm và mạnh

mẽ để vượt qua và vứt bỏ tất cả những cái được coi là danh dự, là sự nghiệp

Cuộc đời của Hạnh (Bến không chồng – Dương Hướng) phải chịu bao xô

đẩy, áp lực từ những lề thói, hủ tục để rồi hạnh phúc tan vỡ trong đau khổ… Có thể thấy rất rõ, số đông nhân vật trong các tiểu thuyết về đề tài nông thôn mang đầy đủ cái mộc mạc cùng sự toan tính thực dụng rất nông dân Nhưng ở họ ta cũng bắt gặp vẻ đẹp những tâm hồn thuần phác, trong lành, vẫn còn nguyên vẹn nền tảng đạo đức từ ngàn xưa Một thế giới phong phú con người sinh sống và làm việc ở nông thôn được tái hiện sinh động trên từng trang viết

Ngôn ngữ là đặc điểm khác biệt quan trọng giữa con người ở làng quê

và thành thị Trình độ văn hóa, suy nghĩ, lối sống, lối sinh hoạt tạo cho người dân sống nơi thôn dã có lời ăn tiếng nói rất đặc biệt Để xây dựng thành công thế giới phong phú và sinh động đó, các nhà văn phải dung nạp vào trong trang văn của mình tất cả ngôn ngữ của người dân nông thôn: tiếng địa phương, khẩu ngữ, lối nói dân dã, hò, vè Bằng con đường đó, ngôn ngữ nhân vật được cá thể hóa rõ rệt

Sự đổi mới tư duy đã mang lại cho tiểu thuyết viết về nông thôn nhiều thành tựu đáng ghi nhận Đó là sự nở rộ về số lượng các tác giả, tác phẩm:

Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990),

Trang 25

Dương Hướng với Bến không chồng (1990); Dưới chín tầng trời (2007); Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002), Đồng làng đom đóm (2008); Hoàng Minh Tường với bộ tiểu thuyết Gia phả của đất gồm: Thủy hỏa đạo tặc,

Đồng sau bão, Ngư phủ, và tiểu thuyết Thời của thánh thần; Đào Thắng với Dòng sông mía (2004)…

Sự nổi trội của tiểu thuyết viết về nông thôn không chỉ được đánh giá bằng tiêu chí số lượng mà còn khẳng định bằng chất lượng nghệ thuật Giá trị thực tế đã được khẳng định với khá nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng của

Hội Nhà văn: Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường đoạt giải năm 1991; Dòng sông mía (Đào Thắng) đoạt giải năm 2004 và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý nhất năm; Ma làng của Trịnh Thanh Phong

tuy không giành được giải thưởng của Hội nhà văn nhưng đã đạt giải nhì của

Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2002,

và được chuyển thể thành bộ phim cùng tên, khi công chiếu được nhiều khán giả đón nhận nồng nhiệt

Như vậy, có thể thấy rằng, các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã

có nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn một cách kỹ càng ở nhiều phương diện Họ nhìn vào tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn và thấu hiểu những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống cũng như những mặt trái trong tính cách của người nông dân cũng như nông thôn với những bất cập khi bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế thị trường Từ đó, họ góp tiếng nói chung để xây dựng một nông thôn mới

1.2 Hành trình sáng tác của Trịnh Thanh Phong

Trong số những nhà văn của Tuyên Quang có lẽ nhà văn Trịnh Thanh Phong được công chúng biết đến nhiều hơn cả Người ta biết đến ông không phải vì ông đã từng nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh, mà biết đến thông qua sự nghiệp cầm bút và những tác phẩm của ông “Phong Ma

Trang 26

làng” – biệt danh mà bạn đọc thường gọi chính là sự ghi nhận và trân trọng của công chúng dành cho ông

1.2.1 Vài nét về tiểu sử

Nhà văn Trịnh Thanh Phong còn có bút danh tác nghiệp là Hải Thanh Ông sinh ngày 20 tháng 2 năm 1950, quê gốc vốn ở làng Phủ Chính – Vĩnh Tường – Lập Thạch – Vĩnh Phúc nhưng được sinh ra và lớn lên ở làng Thông

xã Lâm Xuyên huyện Sơn Dương – Tuyên Quang Chính vùng đất hài hòa giữa rừng núi với suối sông (Lâm Xuyên) này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Tuổi thơ Trịnh Thanh Phong lầm lũi với rừng và lấm láp với sông ngòi, đồng ruộng quê hương Hoàn cảnh sống đó đã giúp nhà văn sớm tiếp cận và gắn bó với người nông dân, thấu hiểu những niềm vui nỗi buồn, cảm thông sâu sắc với những nhọc nhằn, lam lũ của họ Có lẽ chính vì vậy mà trong mỗi trang văn, Trịnh Thanh Phong vừa như muốn bày tỏ tấm lòng tri ân, tri kỷ với người nông dân chân chỉ hạt bột quê nhà vừa như muốn giải tỏa cho những tâm sự của chính mình vậy Chẳng thế mà ngay từ khi bắt tay vào nghề cầm bút, Trịnh Thanh phong đã viết:

Mẹ sinh con trên quãng sông này Mùa nước lũ phù sa ngàu đỏ Con đâu biết tháng ngày gian khổ

Mẹ hát ru cái vạc cái cò

Tuổi thơ con đằm trong cát đỏ Những mùa màng mẹ lặn lội lo toan Bãi ngô ngập dưới mùa mưa lũ Trận đói bò ngang lưng núi Châm

Những vần thơ dung dị ấy đã đánh dấu sự nghiệp sáng tác của Trịnh Thanh Phong suốt những tháng ngày tuổi trẻ, bởi lẽ ngay sau đó ông không có

Trang 27

tác phẩm nào được công bố tiếp Đang học dở phổ thông, chàng trai 18 tuổi hăm hở lên đường nhập ngũ Khi đó Trịnh Thanh Phong được biên chế vào

Sư đoàn 304 rồi chuyển sang Trung đoàn 335 chiến đấu tại chiến trường Lào Đây có lẽ chính là môi trường nuôi dưỡng những tâm tư, suy nghĩ, quan sát của nhà văn, là những tháng ngày ông thai nghén đứa con tinh thần tiếp theo của mình Trong điều kiện chiến trường đầy khắc nghiệt, đồng đội hầu hết đều là những người xuất thân từ nông thôn hoặc miền núi, những con người lam lũ, Trịnh Thanh Phong luôn mở rộng tấm lòng và tầm quan sát để sau này những trải nghiệm đó trở thành vốn quý và được thể hiện sâu sắc trong những trang viết của ông Là người rất nhạy cảm, hàng ngày phải chứng kiến nhiều những mất mát, hy sinh của đồng đội, Trịnh Thanh Phong càng thêm day dứt bởi ông hiểu hơn ai hết những con người ra đi từ đồng đất, bước vào kháng chiến từ những rãnh cày trên mọi miền quê Điều đó đã thôi thúc ông phải cầm bút, nhưng lần này ông không làm thơ nữa mà bắt đầu viết những trang

ghi chép trong chiến trận, sau đó là bút ký, truyện ngắn… Tiểu thuyết Đất cánh

đồng Chum cũng được ra đời trong giai đoạn này (1972) Viết xong, nhà văn -

người lính chỉ lặng lẽ đưa cho đồng đội đọc rồi lặng lẽ cất vào đáy ba lô, một phần vì ở chiến trường không có điều kiện để gửi đăng, mặt khác ông cũng nghĩ rất đơn giản và mộc mạc: “văn mình là của mình thôi…gửi để làm gì”

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết (1973), Trịnh Thanh Phong được điều về học tiếp chương trình cấp 3 tại trường Văn hóa quân đội (Lạng Sơn), sau đó về học tại Học viện Hậu Cần Cuối năm 1976, một phần vì sức khỏe yếu, một phần do cái “nghiệp chướng giời đày” (như lời nhà văn thường nói), ông xin giải ngũ và về công tác tại Sở văn hóa thông tin Hà Tuyên

Thời gian này ông thường lui về làng Thông, gặp lại những người đồng đội cùng sống chết trong chiến tranh giờ phải đương đầu với những khó khăn, thiếu túng Nhiều người muốn bứt phá nhưng cơ chế hợp tác xã lại ngột ngạt

Trang 28

khiến họ cũng phải lẫn vào sự đói nghèo của dân chúng Từ đó, thực tại gần như trở thành một nỗi ám ảnh, Trịnh Thanh Phong suy nghĩ rất nhiều về số phận con người gắn liền với những vùng quê nghèo đói Việc ông trở đi trở lại với làng quê để sống với những người nông dân chân chất có lần đã suýt khiến nhà văn phải điêu đứng Thật may trời đã không phụ lòng người, kết quả của những chuyến đi về vùng quê đó chính là những sáng tác khá thành công về đề tài nông thôn và người lính của Trịnh Thanh Phong sau này

1.2.2 Hành trình sáng tác

Từ khi còn ở chiến trường đầy lửa đạn cho đến hôm nay ở cái tuổi ngoài 60, Trịnh Thanh Phong vẫn lặng lẽ viết Nhà văn có những tác phẩm in trên báo Trung ương và địa phương từ những năm 1980 và đến hôm nay, ông

đã cho ra đời một số lượng tác phẩm khá lớn Cụ thể như sau:

* Tác phẩm chính đã xuất bản:

- Thơ: Đôi mắt vầng trăng (1999)

- Truyện ngắn:

+ Bãi cuối sông – tập truyện ngắn đầu tay xuất bản năm 1990

+ Lời ru ban mai (2000)

+ Dưới chân núi Bắc Quan (2002)

+ Hiện ra từ huyền thoại (2010)

- Tiểu thuyết:

+ Ma làng (2002)

Trang 29

+ Ngày thơ dại

+ Sấp ngửa đời người

- Tập truyện ngắn: Không chết được thì phải sống

* Những giải thưởng văn học:

- Ma làng, tiểu thuyết, Giải Nhì, Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội

Văn học nghệ thuật Việt Nam trao, 2002

- Ma làng, tiểu thuyết, giải A, Giải thưởng Văn học – Nghệ thuật sáng

tác về đề tài nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hội Nhà văn, 2011

- Đất cánh đồng Chum, tiểu thuyết, Giải thưởng văn học Đông Dương

“Sông Mêkông”, 2008

- Đất cánh đồng Chum, tiểu thuyết, Giải B, Hội Văn học – Nghệ thuật

các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2008

- Đồng làng đom đóm, tiểu thuyết, Giải thưởng Tân Trào, UBND tỉnh Tuyên Quang, 2012

Với trên 10 đầu sách đã xuất bản, tác phẩm của Trịnh Thanh Phong chủ yếu bám chắc vào đề tài nông thôn và người lính Chính nhà văn đã từng chia sẻ: “Như các bạn biết, mỗi nhà văn đều có vùng đất của mình Nhưng theo tôi khi lựa chọn, điều quan trọng là nhà văn phải biết vùng đất ấy có hợp với cái

“tạng” của mình không Khi thấy hợp rồi thì mình còn phải có biện pháp thích hợp để tiếp cận nó Bản thân tôi khi chắc chắn vùng đất nông thôn với những người lính bước ra từ cuộc chiến hợp với mình, tôi bắt đầu bỏ công khai thác

Trang 30

Nói vậy bạn sẽ hỏi: bằng cách nào? “Đơn giản thôi: sống và gắn bó với vùng đất đó, gắn bó với họ đồng thời phải hiểu họ… Hiểu đƣợc rồi phải biết biến những đều đó thành máu thịt trong cơ thể mình Trên cơ sở đó vận hành những nguồn lực đã có trong mình nhƣ vốn văn hóa, năng khiếu trời cho… để

khơi dòng chảy cho tác phẩm văn học Quá trình sáng tác, nhất là khi viết Ma

làng, Đất cánh đồng Chum… tôi đã làm nhƣ thế…” [25]

Quá trình nghiên cứu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong sẽ cho ta thấy ý nghĩa của những lời tự bạch trên

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA

Không khí dân chủ trong đời sống sáng tác đã khiến hiện thực nông thôn sau đổi mới được phản ánh ở nhiều chiều Các nghệ sĩ không chỉ tái tạo cái cụ thể trông thấy được, mà còn tìm tòi, khám phá, sáng tạo, đánh giá, lý giải cái bí ẩn của mảng hiện thực đời sống Sự tiến bộ của thời đại, sự cởi mở của tư tưởng đã tạo tiền đề cho nhiều nhà văn đi vào khai thác những mảng hiện thực trước đây chưa hề có hoặc hiếm khi xuất hiện Họ đã tạo ra cho tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này hướng đi riêng nhưng cũng phù hợp với

xu thế phát triển của thời đại

Viết về nông thôn đương đại với tấm lòng thiết tha, Trịnh Thanh Phong

đã đem đến cho bạn đọc một cái nhìn toàn diện về đời sống nông thôn sau đổi mới Trước hết, nông thôn trong tác phẩm của ông hiện lên với sự nghèo đói, nhọc nhằn, thân phận người nông dân vẫn chưa ra khỏi lũy tre làng Nếu như trong sáng tác của Ngô Tất Tố, miếng ăn và cái đói được miêu tả như một nỗi đau khổ cơ cực của người nông dân; trong sáng tác của Nam Cao cái đói làm

tha hóa, mất nhân cách của con người hay sau này trong Mảnh đất lắm người

nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, sự nghèo đói được miêu tả đến mức làm

Trang 32

linh hiển âm khí của làng Giếng Chùa “…xóm Giếng Chùa, xóm vẫn quen đứng đầu về cái sang cái giàu toàn xã…Ấy thế mà vụ này cũng đói vàng

mắt!” [66, tr.5] thì trong những trang viết của Trịnh Thanh Phong, cái đói, cái

khổ không hoành hành và cũng chưa trở thành nỗi ám ảnh của người nông dân Cuộc sống của những con người nơi đây vẫn “có vẻ” đủ đầy, chưa đến nỗi phải quay quắt lo từng bữa ăn hàng ngày Con người vẫn bám vào đồng ruộng, đi đánh ống lươn, đánh giậm để kiếm cơm qua ngày

Điều mà nhà văn đặc biệt quan tâm khi viết về nông thôn trung du Bắc

Bộ thời hiện đại là những thói tục xưa cũ được cải biến thành thói tục thời nay, những toan tính manh mún từ bờ ruộng, luống cày, ra tới trại chăn nuôi,

bè thả cá lồng, những tàn dư của cuộc cải cách ruộng đất, di hại của chiến tranh đặc biệt là những biến chứng di căn của căn bệnh quan liêu, cửa quyền

do cơ chế bao cấp để lại (Ma làng, Đồng làng đom đóm); nông thôn trong bão

tố thị trường với nhiều vấn đề mới như các dự án kéo về làng làm xuất hiện

những ông mãnh, đồng tiền và thủ đoạn đang thao túng làng quê (Ông mãnh

về làng) Vì vậy, khi khảo sát đời sống nông thôn trong các tiểu thuyết Ma làng, Đồng làng đom đóm và Ông mãnh về làng, chúng tôi tập trung vào ba

vấn đề lớn: nông thôn với những tàn dư của cải cách ruộng đất và di hại của

cơ chế quan liêu bao cấp; nông thôn trong bão tố thị trường và nông thôn với đời sống tâm linh phong phú

2.1.1 Nông thôn với những tàn dư của cải cách ruộng đất và di hại của cơ chế quan liêu bao cấp

Mọi sự phát triển đều bắt nguồn bằng sự đối kháng của những mâu thuẫn Xã hội nông thôn Việt Nam đang chuyển mình để bước sang một giai đoạn mới với những định hướng hết sức tốt đẹp Nhưng trong quá trình vận động ấy, sự song song tồn tại của hai luồng tư tưởng cũ và mới đã dẫn đến những rối ren, phức tạp Các nhà văn thời kì đổi mới đã hoàn thành sứ mệnh

Trang 33

của thế hệ mình khi dũng cảm viết về nông thôn trong những biến cố đã qua của lịch sử: cải cách ruộng đất, công cuộc sửa sai, thời kì bao cấp, đưa nông dân vào hợp tác xã, khoán 10 trong sản xuất Đó là những vấn đề bức thiết, trung tâm trong tiểu thuyết nông thôn thời kì đổi mới

Trong tiểu thuyết Ma làng, nhà văn Trịnh Thanh Phong đã tái hiện một

bức tranh nông thôn miền núi trong “đêm trở dạ” với xung đột giữa sai lầm của cải cách ruộng đất, những biến chứng “di căn” của căn bệnh quan liêu, cửa quyền do cơ chế bao cấp để lại với thân phận con người Lão Tòng và đồng bọn nhìn cơ ngơi nhà Nghiệp như “miếng mỡ nổi giữa làng”, lập tức cha con chú cháu nhà lão tìm cách chiếm đoạt Một cái “cớ” rất phù hợp “tự do vô chính phủ, có tư tưởng địa chủ, chúa đất phục hồi…Lão Tòng kết tội hắn là kẻ chống đối, thế là hắn bị dân quân, du kích áp tải suốt ngày dãi nắng xới cỏ sân trụ sở ủy ban Còn đàn bò của hắn lão Tòng ra lệnh tịch thu nhập vào trại chăn nuôi của xã” [45, tr.16] Hết hạn xới cỏ sân ủy ban, Nghiệp lại trở về với hai bàn tay trắng, uất ức hắn đốt nhà và trở nên điên điên khùng khùng Có thể nói, để kiếm lợi cũng như củng cố vị trí của mình trong làng xã những kẻ cầm quyền đã mượn những sơ hở của chế độ, chính sách của nhà nước để quy chụp, áp đặt tội trạng khiến cho những người có tài năng, có chí vươn lên như Nghiệp phải rơi vào kiếp đọa đày Bằng việc xây dựng hình ảnh những nhân vật như Phạm Tòng, Lường, Lại cùng vây cánh của chúng với đủ những mánh khóe hại người, nhà văn đã khắc họa được một cách sinh động rõ nét bức tranh hiện thực hay chân dung chủ nghĩa cá nhân nông thôn Những “mảng tối” của hiện thực được nhà văn nhìn thấu và soi rõ, từ đó cắt nghĩa một cách sâu sắc, ngọn nguồn Ông nhìn ra bản chất vấn đề, tất cả đều xuất phát từ đầu

óc thủ cựu, tư lợi cá nhân vốn tiềm tàng trong nếp nghĩ, trong cách hành xử của con người, nay được dịp bùng phát, trở thành ung nhọt kìm hãm sự phát triển của nông thôn

Trang 34

Trong Đồng làng đom đóm, hình ảnh làng Thông cũng hiện lên với rất

nhiều những “điểm nóng” hiện thực của nông thôn từ khi cải cách ruộng đất đến những năm tháng sau hòa bình Nhà văn nhìn thấy trong cuộc sống nông thôn những ung nhọt từ chính thói vị kỷ, lộng quyền, từ chính những tệ lậu của thời bao cấp Chuyện của Trịnh Thanh Phong là chuyện làng, chuyện xã, chuyện về cái mới, cái cũ đang đan cài dữ dội vào đời sống nông thôn Ông phản ánh điều đó trong chính diễn biến cuộc đời nhân vật

Hữu - nhân vật mà nhà văn dày công xây dựng, gửi gắm nhiều yêu thương, trân trọng đã phải gánh một “án” phạt nặng nề, bị đuổi học chỉ vì muốn mua một ít đường cho bà cụ Vuông đang ốm nặng Dần, người sau này trở thành vị thiên sứ thực hiện những ước mơ của Hữu cũng phải gánh chịu bao điều tiếng nặng nề, phải chấp nhận bao bất công trong cuộc sống và cả trong công việc Không ít lần Trịnh Thanh Phong để cho nhân vật của mình nói lên tiếng nói phản kháng, đòi quyền lợi cho người nông dân, những người không được bất cứ một quyền ưu tiên nào Nhân vật Hữu trong cuốn nhật ký của mình đã viết: “Dần ơi! Có sống vào cuộc chiến này thì mới thấy được máu xương, nước mắt của dân thường Họ sẵn sàng nhịn ăn để nuôi quân, dỡ

cả nhà làm đệm cho xe vượt sình lầy ra tiền tuyến Những con người ấy giống hệt bà cụ Vuông, bà lang đồng Mụng, như bố bầm của chúng mình Họ không

có tem phiếu mua đường, không có sổ y bạ để hưởng chế độ ưu tiên đâu, nhưng trong cuộc chiến này họ đã hy sinh hết thảy…” [43, tr.225] Việc bác sĩ Dần mở bệnh xá tư của riêng mình với cái tên giản dị “Bệnh Xá Nhân Dân” cũng là để biến những ước mơ của Dần và Hữu thành hiện thực, để những người nông dân cần cù như hạt lúa củ khoai, không quyền, không chức cũng được đảm bảo những quyền lợi tối thiểu cho mình, như lời Hữu từng dặn lại:

“Làm bác sĩ Dần phải nhớ dân thường nhé!” [43, tr.218] Những đấu tranh, dằn vặt trong suy nghĩ của nhân vật Hữu cho thấy xung đột mạnh mẽ giữa

Trang 35

tầng lớp người có chức có quyền, người có quyền hành cấp phát bổng lộc với người dân thường Cũng trong tác phẩm, xung đột giữa sai lầm của cải cách ruộng đất với thân phận con người, tuy không được phản ánh trực tiếp nhưng đọc toàn bộ tác phẩm, chúng ta thấy xung đột ấy để lại ấn tượng rất sâu sắc đối với chính nhân vật trong truyện (lão Bành, bà lang Đồng Mụng, bà cụ Vuông) đến số phận của nhân vật hay nói cách khác nó chính là một mâu thuẫn xã hội được phản ánh trong truyện, góp phần hình thành và trở thành cái cớ để phát triển cốt truyện, ảnh hưởng đến kết cấu nội tại của truyện Sở dĩ chúng ta có thể khẳng định như vậy vì chính những sai lầm trong cải cách ruộng đất đã dẫn đến bước ngoặt trong cuộc đời lão Bành Lão kể lại với Hữu:

“Năm ta đánh đổ địa chủ, cường hào, dành lại ruộng đất cho người bần nông,

bố lại là thành phần bần cố, dựa vào thế mình, bố xui bà Khăn tố khổ bà ấy không nghe Một hôm bố đi họp với đội về khuya, châm lửa hút thuốc lào, hút xong mắt nhắm, mắt mở, bố dụi cái đóm vào khe liếp rồi lăn ra ngủ… Sau bố

đổ cho chú em đồng hao đốt nhà của bố và bắt ép bà Khăn đấu tố trước đội” [43, tr.107] Việc làm này của lão Bành đã dẫn đến bi kịch tan cửa nát nhà của gia đình bà cụ Vuông Nhưng điều đáng bàn ở đây là việc quản lí theo nguyên tắc cứng nhắc của chính quyền với việc cải cách ruộng đất, cứ thành phần bần nông là thành phần tốt, đáng tin cậy còn địa chủ không kể xấu tốt đều bị kết tội như nhau, tịch thu toàn bộ sản nghiệp – bài học xương máu thực tế ở nông thôn của nước ta những năm cải cách ruộng đất Điều này cũng được nhà văn nhắc đến trong tác phẩm qua lời bà cụ Khăn: “Nhà cháy Năm ấy anh Bành lại

là thành phần bần nông được các ông ở trong đội đánh đổ địa chủ tin cậy, anh

ấy nói gì đội cũng tin, thế là cái tội anh ấy vu cho người nhà bà ngày càng to lớn thêm ra Cái mái nhà êm ấm của bà đành mỗi người một phương” [43, tr.157] Trong hơn 300 trang tiểu thuyết, xung đột chỉ được nhắc qua hai lần với số lượng dòng rất nhỏ nhưng sức nặng và tầm quan trọng của nó không hề

Trang 36

nhỏ chút nào Một sự phê phán có vẻ nhẹ nhàng, thoáng qua nhưng lại thâm thuý và gay gắt vô cùng Đây chính là giá trị hiện thực của chi tiết này và cũng là cái tài của nhà văn Trịnh Thanh Phong

So sánh với những tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986, có thể thấy hiện thực nông thôn được miêu tả trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong có những thay đổi đáng kể Trước 1945, tiểu thuyết viết về nông thôn cũng có

cái nhìn tỉnh táo, không né tránh hiện thực Những tác phẩm như Tắt đèn,

Bước đường cùng,… đã dựng nên một bức tranh nông thôn hầu như bao trùm

bởi gam màu tối Người nông dân vốn cực nhọc nay lại phải chịu thêm mấy tròng áp bức, nhiều khi họ bị tước đoạt cả quyền sống, nhân tính lẫn nhân hình “Đó là nông thôn với sưu cao thuế nặng, vô lý và bất công; của những

bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng) Đó là nông thôn của

những hủ tục nhiêu khê và sự căng thẳng ngột ngạt, do mâu thuẫn và chèn ép

của các phe cánh tranh nhau địa vị ăn trên ngồi trốc (Việc làng) Và đó cũng

là nông thôn của những người cùng khổ bị dồn đẩy đến chân tường (chị Dậu, anh Pha); của những cảnh lầm than, cơ cực, của những người sống cảnh quằn quại, đau đớn, hoặc liều lĩnh, biến chất Bức tranh nông thôn của các nhà văn hiện thực đã báo hiệu cơn giông bão cách mạng đang sắp tới gần” [26, tr.13-14] Trong hoàn cảnh ấy, các nhà văn đều nhìn rõ bản chất hiện thực nhưng

họ không nhìn ra được hướng giải quyết vấn đề Vì vậy, gam màu tối hầu như chiếm vị trí chủ đạo trong bức tranh hiện thực nông thôn trước 1945 Đây là một hạn chế mang tính lịch sử của cả trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam ở giai đoạn này

Sau cách mạng tháng Tám, tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn có nhiều thay đổi Theo đánh giá tổng kết của Lã Duy Lan trong công trình “Văn xuôi viết về nông thôn tiến trình và đổi mới”, tiểu thuyết viết về nông thôn “ngoài những giá trị ít nhiều có tính phát hiện, còn thấy nhiều trang miêu tả khung

Trang 37

cảnh lao động sản xuất, những phong tục tập quán cùng những quan hệ làng xóm… cũng khá sinh động Những phong trào sản xuất như phá bờ, cấy dày, làm bèo hoa dâu, hoặc những cảnh như đón máy cày, các hội thi, hội ra quân sản xuất…” [26, tr.21] “Văn xuôi viết về nông thôn trong chiến tranh chống

Mỹ (1965- 1975) ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng, do tác động của hoàn cảnh vừa sản xuất vừa chiến đấu (hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn) và ảnh hưởng chung, trực tiếp của mảng văn học viết về chiến tranh” [26, tr.22] Như vậy, bộ phận văn xuôi viết về nông thôn từ sau 1945 chịu ảnh hưởng của văn xuôi viết về chiến tranh Cho đến khoảng 10 năm sau

1975, văn xuôi vẫn theo quán tính đó Hiện thực cuộc sống nông thôn trong các tiểu thuyết hầu như mới được phản ánh bằng cái nhìn một chiều mang âm hưởng lạc quan và chưa thực sự phù hợp với thực tế

Bằng cái nhìn phân tích hiện thực một cách thấu đáo, thẳng thắn, không

né tránh, qua hai tác phẩm Đồng làng đom đóm và Ma làng, Trịnh Thanh

Phong đã xây dựng được hình ảnh một vùng nông thôn trong cả những năm tháng chiến tranh và hòa bình với vấn đề “nhạy cảm” như cơ chế quản lý, chính sách của nhà nước Đây là điều mà tiểu thuyết trước 1975 viết về nông thôn hầu như không bao giờ đề cập đến Sang thời kỳ đổi mới, khi nhà văn có một khoảng cách nhất định để nhìn lại quá khứ, mặt khác những ràng buộc về

cơ chế không còn, nhà văn có điều kiện để nói ra những điều mắt thấy tai nghe, những điều trước đây bị coi là “cấm kỵ” Nhờ đó mà trong tiểu thuyết của mình, với những đoạn viết về nông thôn trong chiến tranh hay dưới thời bao cấp, Trịnh Thanh Phong thể hiện được những miêu tả, suy nghĩ, trăn trở

về những hạn chế, yếu kém của một thời Đó là điểm khác biệt tương đối lớn giữa tiểu thuyết viết về quá khứ trong quá khứ và tiểu thuyết viết về quá khứ

từ thời hiện tại (trong đó có tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong)

Trang 38

2.1.2 Nông thôn trong bão tố thị trường

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới được đề ra trong Đại hội lần thứ

VI của Đảng (12/1986) đến nay, Việt Nam đã từng bước chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường với những mặt tốt xấu, được mất của nó đang chạm vào từng căn nhà, góc phố, xóm thôn Cùng với sự phát triển không ngừng của thế giới và những vận hội mới của đất nước, bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi ghê gớm Một nông thôn đã từng là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến với bao hy sinh thầm lặng sẽ ra sao trước cơn lốc của nền kinh tế thị trường? Nó còn lưu giữ được những nét đẹp truyền thống xưa hay không? Nó đã biến cải như thế nào? Hiện thực này cũng là một vấn đề lớn, khiến nhiều cây bút quan tâm và thể hiện khá sắc sảo

Tiểu thuyết Ma làng của Trịnh Thanh Phong đã tái hiện bức tranh nông

thôn miền núi trước thềm đổi mới Nhà văn đã khái quát về một vùng quê với bao thăng trầm, chất chứa bao nỗi niềm của người cầm bút: “Bước xuống xe, tôi bàng hoàng thấy viền quanh chân núi Châm ánh điện xanh đỏ nhấp nháy, tiếng đài, tiếng ti vi ran rộn Trời đất, làng Lộc thay da đổi thịt nhanh quá…” [45, tr.177] Đó là những tín hiệu tốt của những vùng quê vốn khép kín mình bao đời nay Có được những thay đổi này phải kể đến việc làm của người

“cầm cân nảy mực” Anh Tâm - một cán bộ chỉ huy xuất ngũ, là người có trình độ, đã đi đầu trong phong trào khoán ruộng, khoán vườn, mang cây lên đồi trồng Sự thành công của những việc làm này khiến các tệ nạn hết dần, củng cố an ninh trật tự trong làng xã, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp, đem đến no ấm cho người làng Lộc

Nối tiếp câu chuyện Ma làng, Ông mãnh về làng là cuốn tiểu thuyết tái

hiện cuộc sống mới ở làng quê trong thời hội nhập Cũng vẫn là bối cảnh làng

Trang 39

Lộc –Bâm Dương đó, xen lẫn quá khứ và thực tại, chúng ta thấy hiện lên hai bức tranh đời sống xã hội nông thôn vừa tương đồng vừa dị biệt So với bức

tranh nông thôn được miêu tả ở tiểu thuyết Ma làng, nông thôn trong tiểu thuyết Ông mãnh về làng hiện lên với sự thay đổi cả về lượng và chất Nếu như trong Ma làng, nhà văn tập trung miêu tả bức tranh nông thôn miền núi

trong đêm trở dạ với những thói tục xưa cũ được cải biến thành thói tục thời nay đang kìm hãm sự phát triển ở nông thôn, kéo người nông dân trở về với

lối sống ao từ nước đọng thì sang đến tiểu thuyết Ông mãnh về làng, cách

khai thác bức tranh nông thôn của nhà văn đã có sự thay đổi, hàng loạt những vấn đề táo bạo và sâu sắc trong đời sống nông thôn thời mở cửa được đưa ra

và suy ngẫm Chỉ vài năm sau cơn lốc làng Lộc, bộ mặt đời sống kinh tế – xã hội ở đây có sự thay đổi đáng kể Làng xã mở mang to đẹp hơn nhiều Điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa được củng cố Nhiều dự án mới được đưa

về như việc mở rộng sự liên kết với nhà máy đường, làm cầu Kim Sơn bắc qua sông Lô lưu thông với Hạc Trì, Phú Thọ, nạo vét xây bờ sông Lô để chống lở và đặc biệt tỉnh còn thành lập trung tâm nuôi bò sữa ở ngay xã Nếu lấy nông thôn Việt Nam của những năm phong kiến để so sánh thì đời sống vật chất của người nông dân đã thay đổi mạnh mẽ Trước đây, người nông dân phải lo cái ăn, cái mặc thì giờ đây điều mà họ quan tâm là cải thiện đời sống vật chất và làm giàu trên chính mảnh đất của mình

Đằng sau những thay đổi diệu kì trên, nhà văn còn miêu tả quá trình hội nhập kinh tế của một vùng quê với muôn ngàn những bộn bề ngổn ngang, đan xen sáng tối Những dự án mới được triển khai, lượng dân cư tăng lên kéo theo không khí bình yên, trong trẻo ở làng Lộc bị phá vỡ Quán Đặc sản Thủy Lâm của mụ Bẹo trở thành chỗ tụ tập cho đám tàu vét sỏi ngoài sông, công nhân nhà máy đường, công nhân dự án đường sá giao thông, các đoàn kiểm tra, cán bộ về họp hành, hôm nào cũng nhậu nhẹt đến tận khuya Nhà nghỉ,

Trang 40

phòng hát, quán xá được mọc lên nhiều hơn, dần phát sinh nhiều “chuyện trụy lạc” Và đặc biệt, từ khi khu nhà hàng cao cấp của Ất được nâng lên cấp khách sạn, “đám da phấn mắt xanh về đông hơn, trong làng những đứa đỏng đảnh, lười biếng cũng ra đấy” [46, tr.480], nhiều đứa còn mắc lậu, thậm chí cả HIV… Bao nếp sinh hoạt của làng xã đã bị những trò đồi trụy, bê tha làm đảo lộn

Những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông thôn khi được triển khai xuất hiện nhiều câu chuyện dở khóc, dở cười và nhiều điều đáng để suy ngẫm Chủ trương đưa mía xuống vùng đất soi bãi ven Lô – vùng đất mấy đời nay là cái vựa ngô, vựa khoai và đỗ lạc gối mùa của bà con, khi thực hiện, dân biết là thua thiệt, đói kém nhưng miệng vẫn phải nói “dân tôi giàu lên từ mía” Rồi chủ trương đưa hàng ngàn con bò sữa về nuôi và xây dựng nhà máy sữa bò tại làng Lộc bộc lộ nhiều vấn đề Từ ngày bò sữa về, đồng ruộng thơi thớt dần, nhiều gia đình còn nhổ bỏ những cây mùa vụ để trồng cỏ vì thấy lời, “người được cũng khổ mà kẻ mất càng ê ẩm” [46, tr.488] Đối lập với sự cực nhọc của người dân Bâm Dương, trong những hội nghị ban chấp hành của làng, xã, người ta vẫn hô vang sự tất thắng của việc nuôi bò sữa, những cán bộ cấp cao như ông Đà luôn tin tưởng “Tiên Sáng sẽ là một tấm gương, một mô hình đặc biệt cho cả nước noi theo” [46, tr.488], thậm chí có nhà thơ còn “thảo một tráng ca, ca ngợi người trồng cỏ” Vẫn biết những chủ trương, chính sách đều nhằm mục đích phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhưng trước và trong khi thực hiện còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu sót Trong cuộc trò chuyện với bí thư Thành và anh Tâm, ông Thường đã chỉ rõ:

“…đành rằng là chủ trương nhưng người ở địa hạt lại không nêu ra được nguyên căn của vùng đất, lại mắc bệnh thành tích hay vụ lợi một tí là chết dân bởi cơ chế của ta cái gì cũng điều hành bằng nghị quyết, mà nghị quyết các anh đều biết có cái thực thi, có cái không thực thi Đưa ra nhưng khi không làm được thì bỏ đấy chả ai chịu trách nhiệm, đổ cả lên đầu dân” [46, tr.304]

Ngày đăng: 19/09/2016, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
[2]. Hà Anh (2007), “Trò chuyện với tác giả tiểu thuyết Ma làng”, báo Tuyên Quang, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chuyện với tác giả tiểu thuyết Ma làng”, báo" Tuyên Quang
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2007
[3]. Lê Huy Bắc (2016), “Tiểu thuyết điện ảnh: “Ma làng” của Trịnh Thanh Phong”, tạp chí Văn nghệ quân đội, (số 844) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết điện ảnh: “Ma làng” của Trịnh Thanh Phong”, tạp chí "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2016
[4]. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, khảo sát trên nét lớn, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, khảo sát trên nét lớn
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
[5]. Huy Cận (1990), “Nhiệm vụ của văn học nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng hiện nay”, Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ của văn học nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng hiện nay”, "Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1990
[6]. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, báo Văn nghệ, (số 49, 50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[7]. Nguyễn Minh Châu (1983), “Vài suy nghĩ về tiểu thuyết”, báo Văn nghệ, (số 39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tiểu thuyết”, báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1983
[8]. Thành Duy (1975), “Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn Miền Bắc”, Tạp chí văn học, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn Miền Bắc”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1975
[9]. Nguyễn Đăng Duy (2009), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2009
[10]. Trần Trọng Đăng Đàn (1975), “Hiện thực mới ở nông thôn trong tiểu thuyết”, Tạp chí văn học, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực mới ở nông thôn trong tiểu thuyết”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Năm: 1975
[11]. Phan Cƣ Đệ (1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cƣ Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
[12]. Phan Cƣ Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cƣ Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[13]. Trung Trung Đỉnh (2003), “Tiểu thuyết Ma làng và những thói tục mới ở làng quê”, báo Văn nghệ trẻ, (số tháng 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Ma làng và những thói tục mới ở làng quê”, báo "Văn nghệ trẻ
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Năm: 2003
[14]. Hoàng Cẩm Giang (2010), “Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, Tạp chí Văn học, (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Năm: 2010
[15]. Phan Thị Ngọc Hà (2013), Nông thôn thời kì đổi mới trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn thời kì đổi mới trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn
Tác giả: Phan Thị Ngọc Hà
Năm: 2013
[16]. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[17]. Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu (1993), “Những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người”, Tạp chí văn học, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu
Năm: 1993
[18]. Hoàng Ngọc Hiến (1995), “Những điểm sáng, những vùng tranh cãi”, Tạp chí văn học, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm sáng, những vùng tranh cãi”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1995
[19]. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
[20]. Minh Hòa (2007), “Tiểu thuyết “Ma làng” – Bức tranh quê trước ngày đổi mới”, báo Tuyên Quang, (số ra ngày 28/9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết “Ma làng” – Bức tranh quê trước ngày đổi mới
Tác giả: Minh Hòa
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w