1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC - LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

115 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 821,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, văn hóa gia đình, xây dựng văn hóa gia đình, sự biến đổi của gia đình và văn hóa gia đình tron

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN TIẾN THẠO

VĂN HÓA GIA ĐÌNH

Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC - LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Văn hóa học

Mã số : 60 31 06 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ XUÂN KIÊU

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Xuân Kiêu, các số liệu đưa ra trong luận văn có chứng cứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của luận văn chưa hề được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Trần Tiến Thạo

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về văn hóa gia đình 9

1.2 Khái quát chung về thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng 23

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO

LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY 31 2.1 Thực trạng văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người trong các gia

đình ở thành phố Bảo Lộc 31 2.2 Thực trạng văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất

của các gia đình ở thành phố Bảo Lộc 42 2.3 Thực trạng văn hóa tinh thần và tiêu dùng các sản phẩm tinh thần

của các gia đình ở thành phố Bảo Lộc 54

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO

LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY VÀ CÁC GIẢI PHÁP,

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CB, CNVC : Cán bộ, Công nhân viên chức

UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức văn hóa và khoa học giáo dục

của Liên hợp quốc XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Trang

Biểu đồ 2.1: Khảo sát về sự quan tâm coi trọng con trai hay con gái

Biểu đồ 2.2: Khảo sát về sự coi trọng giáo dục con cái trong gia đình 39

Biểu đồ 2.3: Khảo sát mức chi phí của gia đình 51

Biểu đồ 2.4: Khảo sát về hôn nhân trong gia đình 55

Biểu đồ 2.5: Khảo sát việc sử dụng thời gian rỗi của các gia đình 67

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là nền tảng của xã hội Sự ổn định và phát triển của xã hội phụ thuộc rất lớn vào gia đình Một xã hội phát triển phồn vinh chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của gia đình ấm no, hạnh phúc Là thiết chế xã hội cơ bản, gia đình không chỉ là môi trường quan trọng nhất để hình thành nuôi dưỡng

và giáo dục nhân cách con người mà gia đình còn là nơi bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Gia đình là tế bào của xã hội, do đó xây dựng văn hóa gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Con người là chủ thể của văn hoá và cũng là sản phẩm của văn hóa Cá thể người chỉ trở thành con người nhờ có quá trình nhập thân văn hóa, mà trước hết diễn ra trong môi trường gia đình Chính gia đình là một thiết chế văn hoá góp phần tạo dựng nên nền tảng của xã hội Xã hội càng phát triển, càng phản ánh sự đa dạng phong phú trong cuộc sống gia đình Gia đình càng hoàn thiện, càng ổn định và có nền tảng văn hoá sẽ góp phần xây dựng lối sống tốt đẹp cho xã hội Khi gia đình và xã hội không gắn kết, đồng phát triển sẽ tạo nên sự trì trệ, xáo trộn và mất ổn định xã hội

Trong các văn kiện của Đảng, vấn đề gia đình chiếm vị trí quan trọng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh

tế mới, con người mới" Các Nghị quyết Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng Cộng sản Việt Nam đều đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đến Đại hội XI của Đảng, vị trí, vai trò của gia đình được xác định cụ thể và rõ ràng hơn: Phát huy giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, thích ứng với những giá trị của quá trình CNH, HĐH Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ

ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Trang 7

Từ những trình bày trên đây cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình nói chung, văn hóa gia đình nói riêng trong việc tạo ra môi trường lành mạnh, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ở nước ta, trong quá trình đổi mới, với truyền thống giàu lòng nhân ái, thủy chung, trọng tình nghĩa, giá trị của đạo đức gia đình, văn hóa gia đình và vai trò của gia đình trong quan hệ nhà - làng - nước vẫn được chú trọng Hiện nay, nhiều gia đình Việt Nam vẫn giữ gìn và phát huy được những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của đạo đức gia đình, văn hóa gia đình truyền thống Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mỗi gia đình được nâng lên, là điều kiện thuận lợi cho việc phát huy các giá trị của văn hóa gia đình Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh đó,văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề Sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, của các sản phẩm phi văn hóa, của lối sống thực dụng phương Tây… đang làm băng hoại văn hóa, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ các gia đình Những quan

hệ thiêng liêng trong gia đình như cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh em với những chuẩn mực đạo đức cơ bản là tình nghĩa, thủy chung, hiếu thảo, hòa thuận đang có nguy cơ bị xâm hại, lấn át bởi sức mạnh của đồng tiền Nhiều biểu hiện tiêu cực về đạo đức gia đình đã và đang phát sinh, ảnh hưởng không nhỏ tới đạo đức cá nhân và văn hóa gia đình trên địa bàn cả nước nói chung ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nói riêng

Thành phố Bảo Lộc là một thành phố mới được thành lập của tỉnh Lâm Đồng, thuộc đô thị miền núi của khu vực nam Tây Nguyên, nằm trên cao nguyên Di Linh, là trung tâm kinh tế khu vực phía nam của tỉnh Là một thành phố đô thị loại 3, thành phố Bảo Lộc có tính chất đặc thù riêng, hoàn toàn khác so với nhiều thành phố trong cả nước Đó là thành phố miền núi thuộc cao nguyên vừa có thành thị và nông thôn, với 11 đơn vị hành chính, gồm 6 phường và 5 xã; là địa bàn cư trú của hơn 20 dân tộc anh em sinh sống Với 4 tôn giáo chính gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, trong đó tín đồ các tôn giáo chiếm tỷ lệ hơn 50% dân số toàn thành phố hiện nay [47]

Trang 8

Cũng như các địa phương khác trong cả nước, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và đô thị hóa, văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc đang có những biến đổi mạnh mẽ, đan xen cả yếu tố tích cực và tiêu cực Do đó, việc nghiên cứu thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị thiết thực nhằm xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa

Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài“Văn hóa gia đình ở

thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp hệ đào

tạo thạc sĩ Văn hoá học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, ở nước ta, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình Liên quan đến đề tài, có thể kể đến nhiều hướng nghiên cứu, cụ thể như sau:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về gia đình nói chung

- Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam (1990), của tập thể tác

giả Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, thuộc Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn Quốc gia Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội nhưng mới chỉ đặt vấn

đề và gợi ý là chủ yếu

- Những nghiên cứu xã hội về gia đình Việt Nam (1991), do tập thể tác

giả của Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia phối hợp với Khoa xã hội học Trường đại học Gothenburg (Thụy Điển) đã tiến hành khảo sát ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước về đặc điểm của gia đình Việt Nam trước những năm 1990

- Văn minh Phương Đông và gia đình Việt Nam truyền thống (1994),

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia do quỹ Toyota Founddation tài trợ, đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu

về gia đình truyền thống ở Việt Nam qua một số mốc lịch sử của Việt Nam

- Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa (1998) của tác giả Lê

Ngọc Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Ở công trình này, tác giả đã tập trung trình

Trang 9

bày về chức năng xã hội hóa để làm rõ sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam truyền thống khi xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp

- Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới (2003) của GS

Lê Thi (kết quả cuộc điều tra về gia đình Việt Nam có quy mô lớn nhất từ trước tới nay), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Công trình này tác giả đã trình một cách tổng thể về gia đình Việt Nam Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi, đồng thời cũng đặt gia đình và công tác gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức Mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thực dụng tác động mạnh tới các giá trị đạo đức truyền thống và lối sống Sự phân hóa giàu nghèo giữa các gia đình đang có sự gia tăng

- Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam (2012) của tác giả Lê Ngọc

Văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Công trình này trình bày hệ thống về những vấn đề gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam trong hơn hai thập niên vừa qua và gợi ý cho những nghiên cứu tiếp tục về chủ đề gia đình trong thời gian tới

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình

- Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội (1994) của nhiều tác giả, do

nhà văn Lê Minh chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

(2001) của PGS.TS Lê Như Hoa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

- Văn hóa gia đình (2007) của GS Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên,

Hà Nội

- Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị (2003) của TS Lê Quý

Đức và Ths Vũ Thy Huệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, văn hóa gia đình, xây dựng văn hóa gia đình, sự biến đổi của gia đình và văn hóa gia đình trong bối cảnh mới, những vấn đề của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại, cũng như ảnh hưởng của văn hóa gia đình đối với sự phát triển của cá nhân nói riêng và xã hội nói chung

Trang 10

Thứ ba, các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu gia đình, xây dựng gia đình văn hóa, văn hóa gia đình dưới góc độ triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học và văn hóa học, có thể kể đến một số công trình sau:

- Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

(2001), Luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Nghiêm Sỹ Liêm (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Trong luận án này, tác giả đã làm rõ vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến gia đình và thực trạng của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

- Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt

Nam hiện nay (2003), Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã

hội khoa học, của Dương Thị Minh (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) Trong luận án này, tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, tạo bình đẳng thực sự để chị

em vừa có cơ hội thể hiện, cống hiến năng lực của mình

- Gia đình trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em của nước ta hiện nay

(2004), Luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Phạm Thị Xuân (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Tác giả đã đề cập và khẳng định trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc con trẻ không chỉ là trách nhiệm mà còn là “bản năng” của họ

- Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh

Bạc Liêu hiện nay (2006), luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã

hội khoa học của Lê Cẩm Lệ Tác giả cũng đề cập tới vai trò quan trọng của người phụ nữ trên cơ sở thực hiện chức năng của gia đình trong tỉnh Bạc Liêu

- Văn hóa gia đình và vấn đề xây dựng gia đình văn hóa ở thủ đô Hà Nội

(2003), Luận văn thạc sỹ văn hóa học của Đỗ Xuân Đán (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) Tác giả phân tích thực trạng trong bối cảnh CNH, HĐH đất nước đồng thời khảo sát về cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở Hà Nội

- Văn hóa gia đình và xây dựng văn hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

(2009), Luận văn thạc sĩ Văn hóa học của Nguyễn Thị Nguyệt (Học viện Chính trị

Trang 11

- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) Trong luận văn này, tác giả đã đánh giá thực trạng việc xây dựng gia đình văn hóa và văn hóa gia đình ở tỉnh Hà Tĩnh

- Văn hóa gia đình ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình hiện nay (2012),

Luận văn Thạc sĩ của Võ Thị Thanh Thủy (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) Luận văn này nghiên cứu các phương diện lý luận về văn hóa gia đình, tập trung khảo sát văn hóa gia đình được thể hiện ở các hệ giá trị của gia đình

- Văn hóa gia đình trong việc giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường

tiểu học (tỉnh Hưng Yên), Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành văn hóa học của Lê

Thị Hiền Tác giả đã đề cập đến vai trò của gia đình, văn hóa gia đình trong việc hình thành nhân cách cho trẻ, góp phần tạo ra môi trường phát triển lành mạnh, toàn diện cho trẻ

Như vậy, có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn nghiên cứu, khảo sát về văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng hiện nay, đề xuất những giải pháp, kiến nghị để phát huy các giá trị văn hóa gia đình ở Bảo Lộc trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở hệ thống lại những vấn đề lý luận về văn hóa gia đình, luận văn nghiên cứu thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian vừa qua và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống những vấn đề lý luận về văn hóa gia đình, vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng hiện nay

- Khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

Trang 12

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: từ năm 2005 đến nay

- Về không gian: thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có vấn đề xây dựng văn hóa gia đình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành như: văn hoá học, lịch sử, nhân học, xã hội học và các phương pháp nghiên cứu cơ bản khác: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, logic và lịch sử, thống kê … để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn nghiên cứu thành công sẽ có những đóng góp sau:

- Đánh giá thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng từ năm 2005 đến nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng văn hóa gia đình của địa phương thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu về văn hóa gia đình

Làm cơ sở cho các cơ quan chức năng của thành phố Bảo Lộc trong quá trình thực hiện công tác gia đình và xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc

Trang 13

Làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác tuyên truyền vận động cho các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH

1.1.1 Quan niệm về văn hóa gia đình

1.1.1.1 Quan niệm về văn hóa

Sự phát triển của loài người gắn liền với văn hoá ngay từ những bước

đi lịch sử đầu tiên của mình Văn hoá xuất hiện cùng với con người Tuy không phải ngay lúc đó đã có một khái niệm văn hoá nhưng có thể nói rằng từ văn hoá xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế giới ngay từ thời cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp

Ở phương Đông, từ văn hoá mà chúng ta đang sử dụng có cội nguồn từ tiếng Hán Trong ngôn ngữ Hán, hai từ văn và hoá xuất hiện khá sớm, như hai

từ đơn có nghĩa riêng biệt Văn có nghĩa là vẻ đẹp, hoá có nghĩa là biến đổi, biến hoá Văn hoá gộp lại theo nghĩa gốc là làm cho đẹp, trở thành đẹp đẽ

Ở phương Tây, dựa theo sự nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Đức W.Vunđơ, từ văn hoá bắt nguồn từ một động từ tiếng Latinh “colere” sau chuyển thành cultural, có nghĩa là cày cấy, vun trồng Về sau, từ cultural chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối chuyển sang vun trồng tinh thần, trí tuệ Nhờ có quá trình gieo trồng tinh thần này mà loài người mới tạo ra được sự khác biệt về bản chất với muôn loài Cũng chính nhờ có văn hoá mà từng cộng đồng dân tộc có thể tự nhận thức về mình và mới có thể tự phân biệt mình với người khác Sau này, trong ngôn ngữ hiện đại, Culture trong tiếng Anh, Pháp, Kutur tiếng Đức, Kultura tiếng Nga đều chỉ văn hoá

Trong khoa học xã hội và nhân văn, từ văn hoá được đưa vào trong khoa học sớm nhất là ở Đức bởi Pu-phen-dooc, nhà nghiên cứu pháp luật người Đức năm 1774 và đến năm 1783, được ghi vào từ điển với nghĩa văn hoá là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra, văn hoá là cái đối lập với trạng thái tự nhiên

Trang 15

Đầu thế kỷ XX, các ngành khoa học nghiên cứu về văn hoá nở rộ trên thế giới, có rất nhiều ngành khoa học cùng lấy thuật ngữ văn hoá làm đối tượng nghiên cứu như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học, Nhân học…, mỗi nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh một khía cạnh đặc sắc của văn hóa, phù hợp với cách tiếp cận của họ Kết quả là ra đời hàng nghìn định nghĩa về văn hóa, trong đó, nhà văn hóa học người Nga, A.X.Ka-rơ-min đã tổng hợp và phân ra

14 nhóm định nghĩa văn hóa như sau: [34, tr.6]

Định nghĩa mang tính chất miêu tả thiên về liệt kê các yếu tố riêng lẻ

và các biểu hiện của văn hóa, như: phong tục, tín ngưỡng, các dạng hoạt động: nghệ thuật, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao

Định nghĩa mang tính chất nhân loại học;

Xuất phát từ chỗ cho rằng văn hóa là một tổng thể các sản phẩm do hoạt động người tạo ra, thế giới vật thể, đối lập với thiên nhiên, là những thứ

do con người sáng tạo ra (thiên nhiên thứ hai)

Định nghĩa mang tính chất giá trị;

Giải thích văn hóa như là tổng thể các giá trị tinh thần và vật chất, do con người sáng tạo ra

Định nghĩa mang tính chất chuẩn mực;

Xác nhận rằng nội dung của văn hóa tạo ra các chuẩn mực và quy tắc,

để điều tiết đời sống mọi người

Định nghĩa mang tính chất thích nghi;

Văn hóa được giải thích như là phương thức đáp ứng các nhu cầu, như một dạng hoạt động đặc biệt, là cái vốn có ở con người, bằng cách truyền đạt kinh nghiệm mà con người thâu lượm được từ thế hệ này đến thế hệ khác

Định nghĩa mang tính chất lịch sử;

Nhấn mạnh rằng văn hóa là sản phẩm của lịch sử xã hội và phát triển bằng cách truyền đạt kinh nghiệm mà con người thâu lượm được từ thế hệ này đến thế hệ khác

Định nghĩa mang tính chất chức năng;

Trang 16

Xác định văn hóa thông qua các chức năng, văn hóa thực hiện các chức năng trong xã hội, các chức năng ấy tạo nên sự thống nhất và mối tương liên giữa chúng trong văn hóa

Định nghĩa mang tính chất ký hiệu học;

Xem xét văn hóa như là hệ thống ký hiệu, được xã hội sử dụng

Định nghĩa mang tính chất biểu tượng;

Nhấn vào sự quan tâm đến việc sử dụng các biểu tượng trong văn hóa Định nghĩa mang tính chất thông diễn học;

Liên quan đến văn hóa như một đa số văn bản, chúng được thông giải

và được suy ngẫm bởi mọi người

Định nghĩa mang tính chất tinh thần;

Xác định văn hóa như là đời sống tinh thần của xã hội, như là dòng tư tưởng và các sản phẩm khác của sáng tạo tinh thần, chúng được tích lũy trong

ký ức xã hội

Định nghĩa mang tính chất tâm lý học;

Chỉ ra mối liên hệ giữa văn hóa với tâm lý học ứng xử (hành vi) của mọi người và nhận thấy trong văn hóa có những đặc điểm quy ước về mặt xã hội của tâm lý người

Định nghĩa mang tính chất học tập;

Xem xét văn hóa như là cái mà con người học được (chứ không phải là

di truyền sinh học)

Định nghĩa mang tính chất xã hội học;

Văn hóa được quan niệm như là nhân tố tổ chức đời sống xã hội, như là tổng thể các ý tưởng, các nguyên tắc, các định chế xã hội, bảo đảm duy trì hoạt động tập thể của mọi người

Trong toàn bộ các dạng định nghĩa vừa kể trên đây, mỗi dạng đều có nội dung hợp lý, chỉ ra những (nét) đặc điểm ít hay nhiều quan trọng của văn hóa

Luận văn tìm hiểu về văn hóa của một nhóm xã hội đặc thù là gia đình, trên một địa bàn cụ thể là thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng Với cách tiếp cận

Trang 17

này, văn hóa mang ý nghĩa của nhân tố có khả năng gắn kết các thành viên của gia đình thông qua việc chia sẻ các giá trị, thực hiện các chuẩn mực, các hoạt động chung, thực hiện các chức năng của gia đình, qua đó hình thành nên văn hóa gia đình

1.1.1.2 Quan niệm về gia đình

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “gia đình” là một trong những phạm trù sớm xuất hiện trong lịch sử nhân loại; và từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong các nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi “gia đình” được định nghĩa một cách rõ ràng Ngày nay, chúng ta vừa biết nhiều hơn lại vừa biết ít hơn về gia đình, bởi sự biến đổi và tính đa dạng của gia đình Trong thực tế không có một loại gia đình đồng nhất cũng như không có một hình thức gia đình giống nhau ở mọi nơi và mọi thời điểm Gia đình không chỉ khác nhau giữa các quốc gia và các nền văn hóa mà thậm chí còn không

giống nhau từ gia đình này đến gia đình khác trong một nền văn hóa

Xác định gia đình có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi người, trong nhận thức xã hội, đồng thời còn là cơ sở để xây dựng những chính sách, chương trình phù hợp với gia đình Trong các nghiên cứu, gia đình không chỉ là chủ thể nghiên cứu mà còn là một đơn vị cơ bản để thu hút thông tin, phân tích

số liệu Vì thế việc xác định khái niệm gia đình là hết sức cần thiết cho việc tiến

hành những nghiên cứu về gia đình, định hướng các vấn đề nghiên cứu

Cho dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình đã được triển khai, song “gia đình là gì” vẫn còn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi Cho đến nay gia đình được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Và thuật ngữ gia đình vẫn là “một thuật ngữ được định nghĩa lỏng lẻo nhất trong từ vựng của nhà xã hội học” [36, tr.34] Khó khăn trong việc xác định khái niệm gia đình do nhiều nguyên nhân Trước hết bởi gia đình là một thuật ngữ hết sức quen thuộc với tất cả mọi người Gia đình là nơi mỗi người sinh ra và lớn lên khi nhắc tới khái niệm gia đình ai cũng có thể có ngay những hình dung về

nó Chính sự quen thuộc này khiến nhiều người tưởng hiểu rất rõ về gia đình

Trang 18

lại cảm thấy rất mơ hồ khi được yêu cầu cung cấp những tiêu chí để nhận diện gia đình Thứ hai, gia đình là một nhóm xã hội đặc thù, khác với các nhóm xã hội khác, gia đình hội tụ trong đó tất cả các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa

và cả kinh tế Sự phức tạp trong chính đặc điểm của gia đình khiến việc định nghĩa gia đình trở nên khó khăn Thứ ba, gia đình luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội, của nền văn hóa mà gia đình tồn tại trong đó Không dễ dàng để xác định một khái niệm gia đình đúng với tất cả các dạng gia đình khác nhau về mặt văn hóa, lịch sử Thực tế lịch sử phát triển của loài người đã cho thấy, gia đình đã tồn tại với rất nhiều kiểu loại, từ gia đình cùng dòng máu, tới gia đình cặp đôi, gia đình một vợ, một chồng… khác biệt trong bản chất của nó Cho đến nay, gia đình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân chủ biên - Nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành - định nghĩa “ Gia đình là đơn vị xã hội thành lập trên cơ

sở cùng dòng máu, bắt đầu có từ thời đại thị tộc mẫu hệ; trong thời đại phong kiến, thường có cha mẹ, con cháu, có khi có cả chắt nữa, trong thời đại tư bản thường chỉ có vợ chồng và con cái” [71, tr.17]

Từ điển tiếng Việt, 1996 do tác giả Hoàng Phê chủ biên - Nhà xuất bản

Đà Nẵng định nghĩa gia đình là: “Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [71, tr.17]

Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một thiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xã hội nhất định, trước hết là chức năng tái sinh sản ra con người Trong cuốn từ điển xã hội học của G.Endweeit và G Trommsdorff, các tác giả đưa ra định nghĩa gia đình như sau: Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố, mẹ, con gái, con trai, cháu, em,…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (bằng một hay đa thế hệ, nam, nữ) và qua nó sẽ chuyển hóa một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó [80, tr.27] Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm xã hội này

Trang 19

những chức năng rất đặc biệt Theo định nghĩa này, gia đình được xác định là một nhóm có cấu trúc và đảm nhận chức năng trong xã hội

Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình, năm 2000 (điều 8): “Gia đình là một tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo quy định của luật này” [49, tr.12]

Bên cạnh sự quy định của pháp luật, trong cuộc sống gia đình duy trì phương thức ứng xử, tình nghĩa giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái lòng biết ơn, sự quan tâm chăm sóc người già, trẻ em, sự hy sinh vì người thân của gia đình

Gia đình là một cộng đồng người mang tính huyết thống (thân tộc) khác với cộng đồng làng xã, (phường bản) mang tính địa lý hành chính Gia đình cũng khác với cộng đồng người (mang đặc trưng chung về nguồn gốc xuất hiện…) Nó cũng khác cộng đồng dân tộc hình thành trên quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội

Như vậy, có nhiều định nghĩa về gia đình với các cách tiếp cận khác nhau Dưới góc độ văn hóa học, khái niệm gia đình trong luận văn chỉ một cộng đồng người (nhóm xã hội) có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và tinh thần mang tính đặc thù dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên, các quan hệ pháp

lý hay luật tục khác

Định nghĩa này đã nêu bật được đặc trưng quan trọng và chức năng của gia đình trong việc sinh sản, giáo dục con người Đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc xã hội hóa con người, biến con người tự nhiên thành con người xã hội, duy trì sự sống và chuyển giao các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác qua những giá trị chuẩn mực trong quan hệ ứng xử cơ bản của gia đình

1.1.1.3 Quan niệm về văn hóa gia đình

Văn hóa gia đình là một nội dung quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu

về gia đình Nghiên cứu văn hóa gia đình giúp chúng ta có cơ sở khoa học để hiểu đúng đắn bản chất và truyền thống của gia đình Việt Nam, trên cơ sở đó,

Trang 20

xác định những giải pháp để phát huy vai trò to lớn của gia đình trong sự phát triển chung của xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình “Chưa đưa ra được một định nghĩa đầy đủ và một cách giải thích thuyết phục về khái niệm văn hóa gia đình Điều này đã gây ra khó khăn cho việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của văn hóa gia đình” [80, tr.47] Một số nhà nghiên cứu định nghĩa văn hóa gia đình bằng việc liệt kê các yếu tố được coi là thuộc về văn hóa gia đình, một số tác giả khác xác định văn hóa gia đình là các giá trị, chuẩn mực tốt đẹp của đời sống gia đình mà mỗi thành viên trong gia đình phải chấp nhận tuân theo

Nếu coi văn hóa là gồm tất cả những gì làm cho cộng đồng này phân biệt với cộng đồng khác, thì văn hóa gia đình, một bộ phận của văn hóa nói chung cũng “bao gồm tất cả những gì làm cho gia đình của một cộng đồng, xã hội này, dân tộc này, khu vực này khác với gia đình của các cộng đồng, xã hội, dân tộc, khu vực khác” [80, tr.52] Nghiên cứu văn hóa gia đình là tìm hiểu những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh… của gia đình Đó là những dấu ấn “được duy trì qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lý, chi phối hành vi, cách ứng

xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế

hệ này sang thế hệ khác Những dấu ấn để lại trong đời sống gia đình ở các cộng đồng, quốc gia, dân tộc không giống nhau, tạo nên tính đa dạng của văn hóa gia đình” [80, tr.53] Xuất phát từ quan niệm như vậy, tác giả Lê Ngọc Văn đưa ra định nghĩa về văn hóa gia đình:

Văn hóa gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho cộng đồng các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh

tế, môi trường tự nhiên và xã hội [57, tr.54]

Trang 21

Theo tác giả Lê Ngọc Văn, các thành tố của văn hóa gia đình không tồn tại một cách cô lập mà liên kết với nhau tạo thành một hệ thống thực hiện các chức năng của văn hóa gia đình, cùng với sự biến đổi của xã hội, văn hóa gia đình cũng có những biến đổi mạnh mẽ, từ sự thay đổi của mỗi chức năng cũng như vị trí, mối quan hệ của các chức năng trong hệ thống văn hóa gia đình

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh cho rằng, văn hóa con người bắt đầu từ chính văn hóa gia đình Văn hóa gia đình không phải là một cái gì trừu tượng, chung chung mà được thể hiện cụ thể, sinh động trong nếp sống, sinh hoạt, suy nghĩ, tình cảm của mỗi người và mỗi thành viên trong gia đình Văn hóa gia đình chính là gia phong của gia đình đó, bao gồm gia giáo (nền giáo dục theo truyền thống gia đình); gia lễ (nghi lễ truyền thống hay tập tục riêng trong cung cách ăn nói, ứng xử); gia huấn (truyền dạy cho con cháu những điều hay lẽ phải phù hợp với gia đình và đạo lý của xã hội); gia phả (để biết công đức của tổ tiên); gia đạo (đạo lý của gia tộc); gia pháp (nguyên tắc, quy tắc của gia đình); gia thanh (tiếng thơm của gia đình); gia thế (thế lực của gia đình) Với tư cách là văn hóa của một nhóm xã hội, văn hóa gia đình và văn hóa xã hội

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, biến đổi cùng với văn hóa xã hội

Xuất phát từ quan niệm cho rằng, gia đình là một thiết chế văn hóa - xã hội đặc biệt, bao trùm trong toàn bộ cuộc sống gia đình là sự chi phối của hệ thống giá trị văn hóa, các chuẩn mực đạo đức của cộng đồng xã hội đối với nhận thức, thái độ, hành vi của các thành viên trong gia đình khi giải quyết các mối quan hệ trong và ngoài gia đình theo hướng Chân - Thiện - Mỹ, tác giả Hoàng Hồng Hạnh đưa ra định nghĩa “Văn hóa gia đình là hệ thống giá trị văn hóa được tích hợp từ các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại của một dân tộc, thể hiện nhận thức, thái độ, hành vi của các thành viên trong việc thực hiện các chức năng của gia đình và ứng xử trong các mối quan hệ cá nhân - gia đình - xã hội, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” [71, tr.479] Văn hóa gia đình có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội Sức mạnh nội sinh của hệ thống giá trị văn hóa gia đình “sẽ quy định thái độ, tình cảm, cách thức ứng

Trang 22

xử, tổ chức cuộc sống tích cực giữa các thành viên trong gia đình và mối quan

hệ của gia đình với xã hội” [71, tr.479]

Từ những trình bày trên đây về văn hóa gia đình, trong luận văn này, văn hóa gia đình được quan niệm như sau:

Văn hóa gia đình là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trưng văn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của một cộng đồng mà các thành viên trong gia đình đã chọn lựa và ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội [22, tr.33]

1.1.2 Cấu trúc văn hóa gia đình

Từ các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa gia đình nên việc phân chia cấu trúc văn hóa gia đình cũng đa dạng Quan niệm văn hóa gia đình là hệ

thống các giá trị, các tác giả của đề tài cấp Nhà nước Văn hóa gia đình thuộc

chương trình KX06, do PGS,TS Lê Minh làm chủ nhiệm, xác định cấu trúc văn hóa gia đình gồm ba yếu tố: các giá trị cấu trúc, các giá trị chức năng và các giá trị tâm linh Cũng ở cách tiếp cận này, nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ

Bạo lực gia đình dưới góc độ tiếp cận văn hóa học, chia văn hóa gia đình

thành những nhóm giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại: nhóm giá trị văn hóa tâm linh, nhóm giá trị tình cảm - đạo đức, nhóm giá trị xã hội - công dân Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh chia giá trị văn hóa gia đình thành hai loại: thứ nhất là các giá trị văn hóa gia đình gắn với đời sống hiện hữu, với các quan hệ hiện hữu của gia đình và các thành viên của nó Tiêu biểu như cấu trúc gia đình, kiến trúc nhà ở… Thứ hai là các giá trị về mặt tâm linh, những giá trị bền vững và có thể xem là hằng số của văn hóa gia đình, hạt nhân của văn hóa gia đình

Luận văn nghiên cứu văn hóa gia đình dưới góc độ văn hóa của một nhóm xã hội là gia đình, tập hợp những người có quan hệ mật thiết với nhau trong cả đời sống vật chất, tinh thần và các quan hệ đặc thù khác theo hôn nhân và huyết thống Do đó, cấu trúc văn hóa gia đình được lựa chọn, là cơ sở

để khảo sát thực trạng văn hóa gia đình ở thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng

Trang 23

được xác định bởi ba yếu tố: văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người, văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất, văn hóa tinh thần và hưởng thụ

các sản phẩm tinh thần

Văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người

Việc sinh đẻ, tái sản xuất ra thế hệ tương lai một mặt để đáp ứng nhu cầu của xã hội Mặt khác, đáp ứng nhu cầu của chính những thành viên trong gia đình, đặc biệt là những người đóng vai trò làm cha, làm mẹ Con cái là tài sản vô giá mà mỗi một cặp vợ chồng khi kết hôn có được Mong muốn thiên chức được làm cha, làm mẹ là điều tất yếu và thiêng liêng cao cả của các gia đình Niềm vui, hạnh phúc của người làm cha, làm mẹ là được chăm sóc, nuôi dạy, dưỡng dục con cái Vì vậy, khi tái sản xuất ra thế hệ tương lai, sinh con

dù trai hay gái đều rất thiêng liêng cao cả trong mỗi gia đình

Để đáp ứng nhu cầu dạy dỗ con cái, các gia đình đã “tích lũy một loạt những tri thức, kinh nghiệm, cách thức, thái độ và các thể chế cho việc sinh

nở, nuôi dạy con người” Từ những hiểu biết về quan hệ tính giao hay quan hệ tình dục đến việc chăm sóc giáo dục thai nhi (thai giáo) ở trong bụng mẹ đến lúc trưởng thành, từ lúc một sinh thể người được sinh ra cho tới lúc trưởng thành Những tri thức đó được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua vai trò của giáo dục gia đình Do vậy, giáo dục trong gia đình là một yếu tố quan trọng của văn hóa gia đình Bài học đầu tiên của con người là trong gia đình, nơi diễn ra quá trình nhập thân văn hóa của con người từ tuổi thơ ấu Giáo dục trong gia đình diễn ra liên tục trong cuộc đời con người Đó

là sự tác động một cách “kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người” [71, tr.358] Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm, vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao

Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của các thành viên, dựa trên nền tảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha mẹ Nguyên tắc của giáo dục trong gia đình là tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng

Trang 24

của mỗi thành viên Nội dung giáo dục gia đình rất phong phú, bao gồm: hành

vi đạo đức, tri thức căn bản; thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất và thẩm mỹ Trong đó, kỹ năng sống là một nội dung mới và đặc biệt quan trọng của giáo dục gia đình trong xã hội hiện đại Mục tiêu của giáo dục gia đình là tạo ra những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình và xã hội

Văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất

Để đáp ứng nhu cầu vật chất, gia đình và các thành viên của nó phải tiến hành sản xuất ra các sản phẩm vật chất cho những sinh hoạt hàng ngày về

ăn, mặc, ở, đi lại và các phương thức sử dụng Những sản phẩm ấy và các phương thức sử dụng nói lên trình độ chiếm lĩnh, khai thác các vật thể trong

tự nhiên, trình độ phát triển lực lượng bản chất của con người trong lĩnh vực sản xuất và đời sống vật chất Từ những kinh nghiệm hiểu biết, kỹ năng, bí quyết trong sản xuất sản phẩm tiêu dùng đến cách thức, kỹ thuật công nghệ chế tác công cụ sản xuất, các phương tiện sử dụng… từ cách tiêu dùng, phân phối, hưởng thụ, trao đổi, dâng biếu các sản phẩm vật chất đến thể chế phân chia tài sản, thừa kế gia sản đã tạo nên văn hóa vật chất của gia đình

Văn hóa tinh thần và hưởng thụ các giá trị tinh thần

Bên cạnh những biểu hiện, kinh nghiệm, cách thức ứng xử trong văn hóa sản sinh, nuôi dạy con người, văn hóa sản xuất và tiêu dùng vật chất của gia đình là toàn bộ giá trị đạo đức, tín ngưỡng tâm linh, phong tục, tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và cả những bí quyết nghề nghiệp truyền thống… là phương diện văn hóa tinh thần của gia đình Chúng được đúc kết lại thành hệ giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu văn hóa của gia đình mà trong gia đình truyền thống gọi là gia phong Hệ giá trị văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi làm nên đặc điểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chi phối đời sống tâm

lý, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình, trong đó nổi bật là mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái bao gồm hai chuẩn mực cơ bản đó là

Từ và Hiếu Từ đòi hỏi và thể hiện tình thương, trách nhiệm với con cái Tình

Trang 25

thương và trách nhiệm của cha mẹ với con cái được hình thành trong lòng sâu của sinh hoạt gia đình của nền văn hóa truyền thống dân tộc Trong đời sống thường nhật, tình thương ấy được thể hiện ở sự quan tâm chăm sóc cho đời sống tinh thần và vật chất, cho tương lai của những đứa con Nuôi con khỏe, dạy con ngoan khôn lớn, trưởng thành, nhân cách ứng xử trong quan hệ cha

mẹ, anh em, họ hàng và cộng đồng xã hội, dựng vợ, gả chồng và cố gắng chắt chiu, dành dụm cho con một chút sản nghiệp vừa là trách nhiệm và vừa là niềm vui của cha mẹ Tình thương yêu và trách nhiệm đó tạo nên công nghĩa sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà ca dao đã nói:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Con cái yêu quý, kính trọng, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ là chuẩn mực và trách nhiệm của những người con trong gia đình Đã có nhiều tấm gương hiếu thảo với gia đình, ông bà, cha mẹ được thể hiện qua hành động chăm chỉ học tập làm làm việc, rèn đức luyện tài

1.1.3 Vai trò của văn hóa gia đình

1.1.3.1 Truyền tải văn hóa từ thế hệ trước đến thế hệ sau

Gia đình là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập

Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển của xã hội, góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc;

là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của gia đình trong xã hội:

“Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã

Trang 26

hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý hạt nhân cho tốt” [42, tr.523]

Gia đình là tế bào của xã hội, cấu thành cộng đồng xã hội, là nền tảng của sự cấu kết cộng đồng Chính vì vậy mà khi gia đình có nguy cơ sụp đổ thì

xã hội không tránh khỏi chao đảo, kỷ cương xã hội trở nên yếu kém, chuẩn mực xã hội, giá trị đạo đức bị đảo lộn Cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh xã hội tốt thì gia đình càng tốt và ngược lại gia đình tốt thì xã hội mới tốt Thông qua sự giữ gìn, giáo dục các giá trị truyền thống, văn hóa gia đình

đã thực hiện chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc

Các giá trị truyền thống văn hóa gia đình cũng như truyền thống văn hóa của dân tộc được các gia đình quan tâm giáo dục con cháu Đó là việc giáo dục lòng yêu nước và ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, kiên cường, lòng nhân ái thủy chung, việc truyền dạy đức tính cần

cù chịu khó, tinh thần lạc quan và ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, giáo dục lòng hiếu thảo, biết ơn ông bà, tôn kính tổ tiên, tinh thần học tập, ham hiểu biết, nâng cao tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ cho con cái và tinh thần tôn sư, trọng đạo, thông qua lễ tết và thờ cúng tổ tiên; thông qua các quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và giữa các gia đình với nhau; thông qua việc giữ gìn nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc và giữ gìn các di sản văn hóa…những giá trị ấy được truyền thụ

và giáo dục cho các thế hệ con cháu từ khi mới sinh ra cho đến lúc trưởng thành, từ đời này sang đời khác

1.1.3.2 Duy trì sự cân bằng của đời sống gia đình

Ở nước ta hiện nay, đang thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa Sự giao lưu, mở cửa hội nhập đã đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội phát triển kinh tế, giao lưu hội nhập với các nền văn hóa tiến tiến của các nước trên thế giới Song, bên cạnh những mặt tích cực đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng nẩy sinh nhiều vấn đề tác động đến đời sống gia đình Việt Nam đang đứng trước những thử thách sóng

Trang 27

gió Chính vì vậy, cơ sở của sự cần bằng trong đời sống gia đình có được chính

là ở việc lựa chọn các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Bên cạnh đó, còn phải biết tiếp thu những tinh hoa của giá trị mới, hợp với thời đại là yếu tố cần thiết để vận dụng cụ thể trong các quan hệ ứng xử cơ bản của gia đình để duy trì sự tồn tại, cân bằng bền vững của đời sống gia đình

1.1.3.3 Hình thành các giá trị văn hóa mới

Gia đình chính là môi trường tạo nên nhân cách con người ngay từ thuở

ấu thơ, là nơi chắp cánh cho chúng ta vào đời Gia đình là tế bào của xã hội, là hạt nhân cơ bản của sự phát triển xã hội, là nơi gắn kết tình cảm của mọi thế

hệ con người với nhau

Điều đó đã được khẳng định qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với xu hướng hòa nhập với cộng đồng quốc tế, chúng ta vẫn đang giữ gìn và phát huy những nét đặc trưng cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt vấn đề gia đình vẫn phải được nhìn nhận, xem xét dưới góc độ văn hóa, và là nền tảng chủ yếu để hình thành nhân cách văn hóa con người từ thuở ban đầu

Mỗi con người, ai cũng được sinh ra và lớn lên nơi mái ấm gia đình, những năm tháng của tuổi thơ đã đi qua để lại những ký ức tốt đẹp về một tổ

ấm gia đình, về hình ảnh của những người thân yêu trong gia đình Và chính những tháng năm của thời thơ ấu đó có một ý nghĩa quyết định trong bước đường hình thành nhân cách, lối sống, tư tưởng, văn hóa… của mỗi cá nhân trước những tác động và ảnh hưởng sâu sắc của môi trường văn hóa, xã hội và tất cả cộng đồng

Chính vì vậy, gia đình hôm nay phải là một môi trường tái sản xuất ra những con người mới phát triển toàn diện, có tri thức, có lương tâm, đạo đức, sống có đạo lý, biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân nhằm thỏa mãn chung mọi nhu cầu về tâm lý, tinh thần, tình cảm và vật chất của mỗi thành viên trong gia đình Giáo dục con cái từ thuở ấu thơ là chắp đôi cánh cho các cháu vào đời với niềm vui sáng tạo, cảm nhận được vai trò làm chủ của mình trong việc chiếm lĩnh tri thức và có đầy đủ ý thức trách nhiệm

Trang 28

đối với gia đình, đất nước đang bước vào thiên niên kỷ mới Đó chính là những nền tảng quan trọng để trên cơ sở đó, các cá nhân sáng tạo và cống hiến những giá trị văn hóa mới cho xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG 1.2.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

Bảo Lộc là một thị xã trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, được thành lập năm

1994 trên cơ sở tách huyện Bảo Lộc cũ thành hai đơn vị mới là thị xã Bảo Lộc

và huyện Bảo Lâm Bảo Lộc nằm trên tuyến quốc lộ 20, cách Thành phố Đà Lạt khoảng 110 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 190 km, cách thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) khoảng 100 km Tháng 3-2009, Bảo Lộc được công nhận là đô thị loại III thuộc tỉnh và ngày 8-4-2010, Chính phủ đã

ra Nghị quyết thành lập thành phố Bảo Lộc (trực thuộc tỉnh Lâm Đồng) Bảo Lộc có diện tích 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng Phía đông, phía nam và phía bắc giáp với huyện Bảo Lâm Phía tây giáp với huyện ĐạHuoai Địa bàn huyện này thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Thành phố Bảo Lộc nằm trên cao nguyên Bảo Lộc-Di Linh, địa hình có sự phân hoá thành 3 dạng địa hình chính là núi cao, đồi dốc và thung lũng:

Núi cao ở khu vực Tây Nam (900-1.100m) chiếm 11% diện tích toàn thành phố, khoảng 2.500 ha

Đồi dốc với các ngọn đồi và dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng phẳng (800-850m), độ dốc sườn đồi lớn, chiếm 79,8% diện tích toàn thành phố, là địa bàn sản xuất cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, dâu tằm

Thung lũng tập trung ở Lộc Châu và Đại Lào, chiếm 9,2% diện tích toàn thành phố Đây là địa hình thấp, bằng phẳng, thích hợp phát triển cà phê

và chè, cũng có thể trồng cây dâu và cây ngắn ngày

Thành phố Bảo Lộc được xây dựng trên các ngọn đồi tương đối bằng phẳng có độ cao trung bình 850m, địa hình dốc từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây So với các đô thị miền núi, Bảo Lộc có địa hình xây dựng lý tưởng, đẹp về cảnh quan thiên nhiên, thuận lợi về xây dựng và phát triển du lịch

Trang 29

Bảo Lộc có khí hậu thuận lợi nhất trong vùng cao nguyên, quanh năm mát mẻ Khí hậu theo chế độ nhiệt đới gió mùa nhưng biến thiên theo độ cao

và hình thể địa hình Với những điều kiện địa lý, tự nhiên như vậy, Bảo Lộc là vùng đất phù hợp để chuyên canh trà, cà phê, dâu tằm, chăn nuôi gia súc và phát triển các ngành công nghiệp chế biến bao gồm các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc

1.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Với chức năng là vùng kinh tế trọng điểm phía nam tỉnh Lâm Đồng, đồng thời là trung tâm công nghiệp của cả tỉnh, trong những năm qua, kinh tế thành phố Bảo Lộc luôn tăng trưởng ở mức cao, cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố được chuyển dịch tích cực phù hợp với tính chất kinh tế đô thị theo hướng: tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp Với thế mạnh là các ngành công nghiệp chế biến nông sản, dệt may, tơ tằm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác, chế biến khoáng sản và các ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ…, với hàng trăm doanh nghiệp lớn, nhỏ đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế của Bảo Lộc Các khu, cụm công nghiệp đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định như: Khu công nghiệp Lộc Sơn, cụm Công nghiệp - dịch vụ Lộc Phát, cụm công nghiệp Đại Lào… Thương mại - Dịch vụ - Du lịch trong những năm gần đây tăng trưởng ổn định, hệ thống trung tâm thượng mại, siêu thị, chợ trung tâm, chợ khu dân cư, nhà hàng… được quan tâm đầu tư xây mới và nâng cấp như chợ trung tâm thành phố, Siêu thị Coop Mart,….; hệ thống cơ sở lưu trú phát triển mạnh với

52 khách sạn, nhà nghỉ, các dịch vụ: tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, dịch vụ kiểm hóa, kiểm định ngày càng phát triển theo hướng hiện đại Trên địa bàn thành phố có hầu hết chi nhánh các ngân hàng lớn như Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư phát triển BIDV, Ngân hàng Công thương (ViettinBank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng Á Châu (ACB)….với cơ sở vật chất khang trang cùng với hệ thống các

Trang 30

Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn các phường xã, hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng chung của thành phố Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát huy thế mạnh của các loại cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn thành phố như trà, cà phê, dâu tằm với diện tích trà 7.756

ha, cà phê hơn 8000 ha, dâu tằm 160 ha, sản lượng trà, cà phê tăng hàng năm Trong đó sản lượng chè tươi bình quân hàng năm đạt trên 75.000 tấn, sản lượng chè chế biến đạt 17.000 tấn/ năm; Thành phố tập trung thực hiện các

mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp; Kinh tế trang trại phát triển, có trọng tâm, quy hoạch cụ thể theo thế mạnh của địa phương Đến nay, thành phố Bảo Lộc có gần 100 trang trại, bao gồm trang trại chăn nuôi và trang trại trồng trọt phát triển theo hướng quy

mô, tập trung, đảm bảo cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến [76] Các hoạt động y tế, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, văn hóa - thông tin, thể dục thể thao… có nhiều chuyển biến tiến bộ Toàn thành phố hiện có 74 cơ sở giáo dục từ hệ mầm non đến cao đẳng, tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp đạt 82% Thành phố đang tập trung triển khai các dự án xây dựng phân hiệu Đại học Tôn Đức Thắng, trường PTTH chuyên Bảo Lộc, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho thành phố và khu vực [76]

Ngành y tế thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số, truyền thông sức khỏe cộng đồng, chăm sóc sức khỏe sinh sản; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 12,1%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 12,5

%, tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch trên 88%.Trên địa bàn thành phố có

2 bệnh viện cấp tỉnh, 2 phòng khám khu vực và có 11 trạm y tế phường, xã, Thành phố đang tập trung triển khai dự án xây dựng mới Bệnh viện II Lâm Đồng Nhìn chung, các công trình y tế tương đối đầy đủ về lực lượng, trang thiết bị, đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thành phố và các địa phương trong khu vực phía Nam của tỉnh [75]

Công tác thông tin tuyên truyền gắn với các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của thành phố được triển khai sâu rộng đến các khu dân cư Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng

Trang 31

đời sống văn hóa” được quan tâm củng cố, kiện toàn và từng bước nâng cao chất lượng Toàn thành phố có 94% số khu dân cư văn hóa, 36.4% số xã phường đạt chuẩn văn hóa, 66% cơ quan đơn vị văn hóa, 86% hộ gia đình văn hóa, 36% số xã phường có thiết chế nhà văn hóa, 56,3% số thôn, tổ dân phố

có Nhà sinh hoạt cộng đồng Thành phố đang tập trung thực hiện hạng mục sân tập bóng đá và nhà thi đấu đa năng đi đôi với triển khai dự án xây dựng trung tâm văn hóa thể thao thành phố tại khu quy hoạch Hà Giang Chương trình xây dựng nông thôn mới ở 5 xã của thành phố được tập trung đẩy mạnh

và gắn kết với thực hiện các nhiệm vụ của phong trào TDĐKXDĐSVH Công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin cơ bản thực hiện tốt Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao [48]

Bưu chính, viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân trên địa bàn thành phố số máy điện thoại cố định là 17 máy/100 người và di động là 29 máy/100 người, cao hơn nhiều so với bình quân chung toàn tỉnh Toàn thành phố có một bưu cục trung tâm và 5 bưu cục cấp 3 được trang bị hiện đại, một trung tâm viễn thông, đã hòa mạng thông tin trong nước, quốc tế và phát triển khá đều, phủ sóng rộng khắp thành phố Mạng đại lý bưu điện đa dịch vụ phát triển rộng khắp Mạng lưới đường thư cấp II, III bảo đảm hành trình 100% xã, phường, cơ quan, đơn vị trên địa bàn thị xã có báo trong ngày, 100% số trường học trên địa bàn thành phố có mạng internet, 100% số xã, phường có đại lý dịch vụ internet Thành phố có 01 Đài Truyền thanh, truyền hình với quy mô, trang thiết bị cơ bản cùng với hệ thống các trạm Truyền thanh FM tại các phường xã đáp ứng nhu cầu về văn hoá tinh thần của nhân dân địa phương cũng như thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với mọi người dân tại cơ sở [48]

Thành phố đã nỗ lực trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo Đến nay, tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 1,85% Giải quyết việc làm hàng năm cho gần 4.200 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 37,8% [76]

Hoạt động của MTTQVN và các đoàn thể đã thực hiện có hiệu quả các

Trang 32

phong trào thi đua yêu nước, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, năng lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền đã được nâng lên, lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị

Đặc trưng của dân cư: Do những biến cố lịch sử trong nhiều thập niên của thế kỷ trước và quá trình phát triển qua những lần điều chỉnh ranh giới hành chính nên đặc điểm dân cư và dân số địa phương cũng có nhiều biến động: ngoài số ít đồng bào dân tộc thiểu số gốc bản địa (chiếm 2%), số đông dân cư của thành phố là người lao động từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, duyên hải miền Trung, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ di cư đến trong những năm 1930 -

1945, họ mang theo cả gia đình đến định cư lập nghiệp, làm ăn sinh sống sau những lần bộ phu khai phá đất đai mở đồn điền của các nhà tư sản Pháp, đi công tra mở đường giao thông, hoặc chạy trốn khi bị địch truy lùng hoặc đàn áp… sống phụ thuộc làm công cho các chủ đồn điền

Năm 1954, một bộ phận đồng bào công giáo từ các tỉnh phía Bắc di cư vào Sau năm 1975 thống nhất đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và quá trình đô thị hóa phát triển của kinh tế thị trường, một bộ phận khá đông người lao động từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung, có cả đồng bào dân tộc thiểu số đến định cư lập nghiệp và làm ăn sinh sống trong các nông, lâm trường, cơ quan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất… dẫn đến dân số trên địa bàn thành phố tăng nhanh Những biến động đó là một trong các nguyên nhân làm cho đặc điểm

về dân cư của thành phố thêm đa dạng, phong phú nhiều màu sắc về tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, nhận thức hiểu biết của các tầng lớp nhân dân thành phố không đồng nhất

Tuy vậy, người dân thành phố Bảo Lộc đa số xuất thân từ những người lao động, là người nông dân với bản chất cần cù lao động, siêng năng trong mọi công việc, có tinh thần yêu nước, biết giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, có đường lối và sự lãnh đạo của Đảng tinh thần yêu nước được phát huy, đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và rất quý trọng tự do độc lập

Trình độ dân trí: Trước năm 1975 do chính sách áp bức bóc lột của chế

Trang 33

độ thực dân đế quốc, hệ thống giáo dục của Bảo Lộc kém phát triển, số người

mù chữ chiếm trên 10%, còn phổ biến là chỉ học hết cấp 1, đặc biệt trong đồng bào DTTS ít người biết chữ

Từ sau giải phóng, được Đảng và Nhà nước quan tâm đã tổ chức xóa

mù chữ đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành phổ cập giáo dục THCS và hiện nay đang phấn đấu để hoàn thành phổ cập chương trình giáo dục PTTH Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao từng bước làm cho nhận thức trong các tầng lớp nhân dân có những chuyển biến tích cực trên cơ sở các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và truyền thống văn hóa dân tộc Phần lớn lực lượng trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật tương đối cao so với các năm trước đây và so với các huyện trong toàn tỉnh

1.2.3 Môi trường văn hóa

Là vùng đa văn hóa, nhiều dân tộc, nhiều cộng đồng người và truyền thống văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước về sinh sống Nên ngoài những đặc điểm của văn hóa gia đình Việt Nam nói chung thì vẫn có những nét văn hóa gia đình của các vùng, miền cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và văn hóa gia đình của tộc người, người bản địa KơHo và Châu Mạ sống xen kẽ giữa các hộ dân cư đều hòa quyện, tạo nên sự hỗn dung, đa dạng trong văn hóa

Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên Bảo Lộc là nơi lý tưởng để xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB'ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn Khu du lịch ĐamB'ri nổi tiếng với thác nước hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyên sinh, là địa điểm lý tưởng cho nghỉ dưỡng, cắm trại Năm 2010, Công trình giải trí máng trượt dài nhất Đông Nam Á được thực hiện tại khu du lịch Thác ĐamB'ri thu hút hàng năm trên 130 nghìn lượt du khách [75]

Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ toàn thành phố hiện có 52 cơ sở lưu trú từ

3 sao, với tiện nghi được trang bị khá tốt đã đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan, du lịch đến với Bảo Lộc Mạng lưới các nhà hàng, các điểm dịch

Trang 34

vụ bán hàng đặc sản của địa phương và hàng trăm cơ sở chế biến, kinh doanh trà, cà phê lớn nhỏ của thành phố sẵn sàng cung ứng cho du khách các sản phẩm của địa phương với đa dạng các loại trà Ôlong, trà hương, trà đen đã lảm nên một thương hiệu trà Blao có tiếng từ bao đời nay

Và cũng chính vì vậy, cứ 2 năm một lần thành phố lại được tỉnh giao trách nhiệm tổ chức Lễ hội văn hóa trà Lâm Đồng - một lễ hội ngành nghề truyền thống của nhân dân Lâm Đồng - và như một điểm hẹn cho du khách gần xa về với vùng trà B’Lao - Bảo Lộc để được hiểu hơn về vùng đất, con người Bảo Lộc gắn bó với nghiệp trà gần 100 năm qua trên vùng đất bazan Những điều kiện như vậy đã thu hút một lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với thành phố Bảo Lộc ngày càng tăng Do vậy, sự giao lưu văn hóa trên địa bàn thành phố được mở rộng, ít nhiều đã tác động đến lối sống của các gia đình ở thành phố Bảo Lộc

Thời gian gần đây cảnh quan kiến trúc, bộ mặt đô thị được chỉnh trang, cải thiện đáng kể Văn hoá, xã hội có bước phát triển đồng bộ An ninh - Quốc phòng vững chắc, chính trị - xã hội ổn định Thu nhập bình quân đầu người, đời sống vật chất, tinh thần và dân trí của người dân thành phố đã được cải thiện đáng kể, đạt trên mức trung bình của cả nước Nhiệm vụ xây dựng Đảng đã được chú trọng trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức Phong trào thi đua yêu nước được các ngành, các cấp và nhân dân hưởng ứng và thu được nhiều kết quả

Với những kết quả đạt được nói trên, thành phố Bảo Lộc đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh Lâm Đồng

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng con người, một thiết chế văn hóa xã hội đặc thù, được hình thành tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục giữa các thành viên trong gia đình Trình độ phát triển kinh tế - xã

Trang 35

hội quyết định quy mô, kết cấu, hình thức tổ chức và tính chất của gia đình Tuy nhiên, với tư cách là “ Tế bào xã hội”, gia đình đã tác động to lớn đến tiến trình phát triển xã hội Vị trí, vai trò to lớn của gia đình và văn hóa gia đình đối với xã hội được thể hiện qua các chức năng cơ bản của gia đình: chức năng sinh sản và nuôi dạy con người, chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm

và chức năng giáo dục…

Có thể thấy, thông qua việc thực hiện những chức năng này mà gia đình tồn tại, phát triển, đồng thời tác động đến sự biến đổi chung của xã hội Xây dựng văn hóa gia đình là điều kiện để các giá trị văn hóa gia đình lan tỏa, chi phối nhận thức, thái độ và hành vi của các thành viên gia đình xử lý các mối quan hệ trong và ngoài gia đình, hướng đến xây dựng gia đình hạnh phúc Thông qua sự giữ gìn, giáo dục các giá trị truyền thống văn hóa gia đình, các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc cũng được bảo tồn và phát huy

Nghiên cứu văn hóa gia đình, vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển của xã hội luôn là một đề tài mở đối với các nhà khoa học và những người quan tâm đến gia đình, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước

ta đang trong quá trình đổi mới, sự xuất hiện các chuẩn mực và các giá trị mới đan xen với những chuẩn mực truyền thống Vì vậy, việc phát huy những giá trị văn hóa gia đình có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần, giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam nói chung, ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nói riêng, nhằm nuôi dưỡng, giáo dục thế

hệ trẻ để văn hóa gia đình trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước hôm nay và trong tương lai một cách bền vững

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC,

TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG VĂN HÓA SẢN SINH VÀ NUÔI DẠY CON NGƯỜI TRONG CÁC GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ BẢO LỘC

2.1.1 Quan niệm về vấn đề con cái

Con cái là tài sản vô giá của cha mẹ, sự gắn kết bền vững của hạnh phúc gia đình Quan niệm về vấn đề con cái ở mỗi thời kỳ, với mỗi cộng đồng, địa phương lại có những điểm khác nhau

Trên địa bàn thành phố Bảo Lộc đa số các gia đình đều ý thức về vấn

đề sinh con và nuôi dạy con cái Là vùng đất có nhiều cư dân của hơn 20 tỉnh thành trong cả nước về cư trú, họ mang theo những phong tục, tập quán khác nhau giữa các vùng miền nên có những nhận thức và quan niệm khác nhau ở từng thời kỳ, cho nên việc sinh con và nuôi dạy con cái cũng có nét đặc trưng văn hóa Thời gian qua, ở đây đã có những thay đổi nhất định của các gia đình trong quan niệm về con cái Trước đây, con cái được coi là tài sản chung của

bố mẹ Gia đình càng nhiều con càng có nhiều sức lao động do đó sẽ tạo ra được nhiều của cải cho gia đình Do đặc điểm của vùng núi khu vực Nam Tây Nguyên, đất rộng, người thưa nên các gia đình thường mong muốn nhiều con

để có nguồn lao động dồi dào, tạo ra của cải vật chất cho mọi sinh hoạt trong gia đình Hơn nữa, nó cũng là nền tảng về tinh thần cho các bậc làm cha, làm

mẹ sau này khi trở thành ông bà, đến lúc ốm đau được “con đàn, cháu đống” quây quần chăm sóc, họ an tâm khi về già, trái gió trở trời Ngày nay, quan niệm này đã thay đổi cơ bản Đa số các cặp vợ chồng chỉ muốn có hai con để nuôi dạy cho tốt Việc đầu tư cho con cái là nhằm phát triển hoàn thiện con người với những chi phí lớn cho nuôi dưỡng, học tập, đào tạo nghề nghiệp kéo dài nhiều năm Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó là do xã hội hiện đại, cạnh tranh gay gắt trong nhiều lĩnh vực của đời sống nên cũng như các gia đình Việt Nam hiện nay, nhiều gia đình ở Bảo Lộc không muốn sinh nhiều

Trang 37

con Mô hình gia đình truyền thống “ con đàn, cháu đống” không còn phù hợp Vì thế mà mô hình hạt nhân và gia đình chỉ có từ một đến hai con dần trở nên phổ biến

Trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chỉ còn một bộ phận rất nhỏ các gia đình có quan niệm muốn sinh nhiều con Đó là ở những vùng có trình độ dân trí thấp, thường có từ 3 con trở lên mà buộc phải có con trai để nối dõi tông đường, rơi vào những gia đình vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, một bộ phận vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo ở một số phường, xã: Phường Blao, phường Lộc Sơn, phường Lộc Phát, xã Lộc Châu,

xã Lộc Nga, xã Lộc Thanh Có nơi tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tới 17% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở những năm 2005 và 2008 quá cao Năm 2005 là 1,36% dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 là 10,2%; năm 2008 là 1,46% dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13% cao hơn các năm từ năm 2006 đến năm 2012 [68] Trong khi đó, công tác thông tin giáo dục tuyên truyền ở một số địa phương trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chưa đáp ứng tính đặc thù về nghề nghiệp, địa lý, dân tộc cũng như phong tục, tập quán của vùng này Bên cạnh đó là sự thiếu hiểu biết và sử dụng các phương pháp kế hoạch hóa gia đình Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo do những phong tục, tập quán, yếu tố tâm lý, văn hóa của đạo công giáo cấm phụ nữ đã mang thai thì không được phá thai, phải sinh con để nuôi nấng, cùng với tâm

lý muốn có nhiều con của xã hội cổ truyền, tư tưởng có con trai nối dõi tông đường, đông con là nhờ hồng phúc vẫn tồn tại Đây cũng chính là nỗi trở ngại cho công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình còn gặp nhiều khó khăn trên địa bàn thành phố

Qua khảo sát, điều tra các phường, xã trên địa bàn thành phố Bảo Lộc khi được hỏi về mong muốn số con trong gia đình có tới 80% là muốn có 2 con, 15% muốn có 1 con và 5% muốn có từ 3 người con trở lên [ Phụ lục 1]

Điều đó cho thấy, mô hình mỗi gia đình chỉ có 2 con ở thành phố Bảo Lộc đang ngày càng phổ biến được các gia đình lựa chọn phù hợp trong việc

Trang 38

nuôi dạy con cái cho thuận tiện để tập trung phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và có điều kiện để học tập, công tác Việc coi trọng con trai con gái gần như là tương đương không còn khoảng cách quá xa như trước đây chỉ coi trọng con trai

Đối với các gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên là người KơHo và người Châu Mạ thì có những đặc điểm riêng Họ rất muốn gia đình đông con, đặc biệt là có con gái thì càng tốt, đây là yếu tố của chế độ mẫu hệ Con cái được sinh ra theo họ mẹ và người chồng phải ở rể phụ thuộc phần lớn vào bên gia đình vợ Việc sinh sản, chăm sóc và nuôi dạy con cái còn rất hạn chế Do đó, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng gia tăng, việc giáo dục cho con cái ăn học còn nhiều hạn chế trong những vùng đặc thù này

Người KơHo và người Châu Mạ, trước đây họ sinh con theo tập tục sàng lọc tự nhiên và những hủ tục kiêng kị Đứa bé sinh ra thường được đưa

ra suối để tắm rửa và mẹ chúng là những người cắt rốn, dùng thuốc là những

lá cây rừng, đa phần tự sinh ở nhà chứ ít có trường hợp tới trạm xá hay bệnh viện Trong nhà, ở thời điểm có người sinh đẻ và súc vật nuôi trong nhà cũng

đẻ thì họ kiêng kị không dám vào vì sợ rằng sẽ gặp điều không tốt…Hiện nay, những hủ tục đó đã dần mất đi, do quá trình giao lưu với các gia đình người Kinh, học tập ở người Kinh về những cách thức lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Đặc biệt, ở một số gia đình có điều kiện về kinh tế họ cũng đầu tư cho con cái ăn học, hiểu biết, tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng nên đời sống dân trí được nâng lên, dễ hòa đồng và biết áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Họ chính là nhân tố để góp phần xây dựng tinh thần đại đoàn kết dân tộc giúp buôn làng xóa bỏ những hủ tục không còn phù hợp với cuộc sống mới

Trong quan niệm về giới tính con cái, phần lớn các hộ gia đình, nhất là các hộ gia đình là cán bộ, công nhân viên chức và một bộ phận người dân đã

có những nhận thức thay đổi trong quan niệm phải có con trai để nối dõi tông đường đã không còn phổ biến, các gia đình có ý thức về số lần sinh con và khoảng cách các năm sinh để thực hiện nuôi dạy cho tốt Việc sinh con trai,

Trang 39

con gái không còn là nỗi lo ngại và trở thành áp lực cho các cặp vợ chồng trẻ Nhiều gia đình sẵn sàng đầu tư cho con cái ăn học bất kể là con trai hay con gái Họ tự cân nhắc và thận trọng trong vấn đề nuôi dạy con cái phải đến nơi, đến chốn, mục đích là chăm sóc và nuôi dạy trẻ cho tốt, nuôi con khỏe, dạy con ngoan Khi được hỏi về sự coi trọng con trai hay con gái trong gia đình, chị Nguyễn Anh Thư ở phường II, thành phố Bảo Lộc cho biết:

“ Trong xã hội bây giờ, con trai và con gái đều như nhau Con nào thì mình cũng phải lo cho chúng nó ăn học nên người, đứa nào ráng học tốt thì mình sẵn sàng đầu tư, còn đứa nào học không được phải cho đi học nghề Đứa nào cũng đối xử công bằng, chứ không có coi trọng con trai mà xem nhẹ con gái Anh thấy đấy, khối gia đình có con trai rất nhiều mà cũng chẳng phụ giúp bố mẹ chu đáo, nhất là lúc ốm đau, chỉ có con gái mới gần gũi với bộ mẹ

và chăm lo chu đáo nên bây giờ, mỗi gia đình chỉ có hai con, nếu gia đình nào

không có con gái là một thiệt thòi” Điều đó, ít nhiều đã cho thấy sự nhìn

nhận và đánh giá rất khác so với xã hội truyền thống, thậm chí ở một số gia đình lại thích có được con gái

Biểu đồ 2.1: Khảo sát về sự quan tâm coi trọng con trai hay con gái

Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả tháng 12/2013 [Phụ lục 1]

Các gia đình trẻ, gia đình cán bộ, công chức, gia đình ở thành phố biết cách chăm sóc, giáo dưỡng thai nhi từ trong bụng mẹ, từ chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí để đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, thông minh, tạo điều kiện cho cha mẹ có đủ thời gian học tập và công tác, nâng cao chất lượng

Trang 40

cuộc sống của cá nhân và gia đình Đó cũng là xu hướng của các gia đình trẻ trên địa bàn thành phố Đặc biệt, đối với những gia đình cán bộ, công chức thì quyền quyết định số con và lựa chọn khoảng cách sinh con để nuôi dưỡng cho phù hợp

và thuận tiện Chính yếu tố này đã góp phần làm cho tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của địa phương đạt được chỉ tiêu Từ năm 2005 là 1,36%, năm 2006 là 1,33, năm

2007 là 1,32 và cho tới năm 2012 là 1,25% [68]

Như vậy, qua phản ánh thực trạng quan niệm về sinh con trong các gia đình ở thành phố Bảo Lộc đã có sự thay đổi so với trước đây Nguyên nhân là

do xã hội ngày một phát triển và quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế, văn hóa của đất nước nói chung và thành phố Bảo Lộc nói riêng đã có những ảnh hướng tích cực, tác động mạnh mẽ vào ý thức, trong đời sống của các gia đình, làm cho trình độ nhận thức, trình độ dân trí, điều kiện sống được nâng lên rõ rệt Từ đó, việc sinh sản không bị ép buộc phải sinh nhiều con vì điều kiện sản xuất không cần phải có đông con để có nhiều lao động, nhu cầu khác trong cuộc sống các gia đình được phát triển mạnh Cùng với việc tuyên truyền về Pháp lệnh dân số của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có chuyển biến tích cực nên có sự thay đổi về quan niệm đông con sang ít con Mô hình gia đình chỉ có hai con để nuôi dậy cho tốt là khá phổ biến, các gia đình đều hướng tới chất lượng của cuộc sống và nguồn nhân lực chất lượng cao

2.1.2 Giáo dục trong gia đình

Cũng giống gia đình Việt Nam nói chung, mục tiêu giáo dục trong gia đình ở Bảo Lộc là tạo ra những người con hiếu thảo, có đạo đức trong sáng,

có lối sống, suy nghĩ lành mạnh, có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cao, đáp ứng yêu cầu của gia đình và xã hội Hay nói cách khác, giáo dục gia đình tạo ra những con người chân chính, có đời sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có năng lực, trí tuệ, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương

Về nội dung giáo dục trong gia đình trước đây, hầu hết tất cả các gia đình ở thành phố Bảo Lộc đều chú trọng trong việc giáo dục con cái và các thành viên gia đình về những giá trị truyền thống như răn dạy con cái phải

Ngày đăng: 19/09/2016, 01:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1984), Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và sở hữu của nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và sở hữu của nhà nước
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
2. Toan Ánh (2012), Nếp cũ - Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình và Lễ - Tết - Hội hè, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình và Lễ - Tết - Hội hè
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
7. Mai Huy Bích (2009), Xã hội học gia đình, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
8. Trần Văn Bính (1999), Toàn cầu và vấn đề gia đình, Tham luận tại Hội thảo: Tác động của toàn cầu hóa tới cơ cấu gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu và vấn đề gia đình", Tham luận tại Hội thảo: "Tác động của toàn cầu hóa tới cơ cấu gia đình
Tác giả: Trần Văn Bính
Năm: 1999
10. Bùi Đình Châu (2002), Văn hóa gia đình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình
Tác giả: Bùi Đình Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
11. Phan Đại Doãn (2010), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa - xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
12. Khắc Dũng (2005), Nam Tây Nguyên những điều kỳ thú, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Tây Nguyên những điều kỳ thú
Tác giả: Khắc Dũng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2005
13. Thùy Dương (1995), Hạnh phúc gia đình, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạnh phúc gia đình
Tác giả: Thùy Dương
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1995
14. Dương Tự Đam (1999), Gia đình và việc hình thành nhân cách thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và việc hình thành nhân cách thanh niên
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
18. Ngô Quốc Đông (2009), “Văn hóa gia đình bảo lưu và thách đố”, Diễn đàn Văn hóa nghệ thuật, (296) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình bảo lưu và thách đố”, "Diễn đàn Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Ngô Quốc Đông
Năm: 2009
19. Đỗ Thái Đồng (1991), Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
20. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2004), Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
21. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
22. Lê Quý Đức (1995), “Những giải pháp phát huy vai trò của văn hóa gia đình đối với quá trình nhập thân văn hóa của trẻ em”, Tạp chí Khoa giáo, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát huy vai trò của văn hóa gia đình đối với quá trình nhập thân văn hóa của trẻ em”, "Tạp chí Khoa giáo
Tác giả: Lê Quý Đức
Năm: 1995
23. Lê Quý Đức (2000), Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sụ nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sụ nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
24. Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị
Tác giả: Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
25. Phạm Thanh Hà (2011), Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Tác giả: Phạm Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
26. Dương Phú Hiệp (2012), Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w