1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN

78 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài trình bày này tóm tắt những kiến thức chính về khía cạnh kỹ thuậtgiúp các bên nâng cao nhận thức và hiểu biết trong hoạt động ngăn ngừa và ứngphó sự cố tràn dầu, nhằm bảo vệ các giá

Trang 1

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆT

HẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN

(Tràn dầu, thủy triều đỏ, sinh vật ngoại lai xâm hại, nguyên nhân gây

sự cố môi trường biển, hải đảo, tác động và các giải pháp kiểm soát và khắc

phục, cải thiện môi trường biển và hải đảo)

MỞ ĐẦU

Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1973 là một giaiđoạn mới trong tiến trình phát triển và ban hành luật pháp về lĩnh vực sự cố môitrường

Tham gia hội nghị có 156 quốc gia, 20 tổ chức liên chính phủ và hơn 60

tổ chức quốc tế phi chính phủ Sau các phiên họp, đàm phán và tư vấn khôngchính thức kéo dài đã đạt được sự thoả thuận quan điểm của các nước về nhiềuvấn đề đấu tranh chống ô nhiễm môi trường biển Ngày 30 tháng 4 năm 1982 tạiphiên họp toàn thể tổng kết khóa họp 11 của Hội nghị lần thứ ba của Liên hợpquốc về Luật biển ở Niu Ước (New York), Hoa Kỳ đã thông qua Công ước Liênhợp quốc về Luật biển, lễ ký kết diễn ra ở thành phố Montego-Bei, Jamaica

Khi xây dựng các chuẩn mực pháp luật về bảo vệ môi trường biển, Hộinghị đã sử dụng những điều khoản tương ứng bao hàm trong các hiệp định quốc

tế chung và khu vực đã ký kết trước đây Tại phần XII của Công ước đã định ratrách nhiệm chung của các quốc gia bảo vệ và gìn giữ môi trường biển Cácquốc gia với chủ quyền của mình phải thực thi những biện pháp cần thiết saocho sự ô nhiễm không lan ra ngoài phạm vi những vùng biển thuộc toàn quyềncủa mình

Các biện pháp này liên quan tới tất cả các nguồn ô nhiễm và giảm thiểutối đa về: Phát thải các chất độc, hại và có độc từ những nguồn trên đất liền; Ônhiễm từ tầu thuyền; Ô nhiễm từ các công trình và thiết bị sử dụng trong thăm

dò và khai thác tài nguyên đáy biển và lòng đất; Ô nhiễm từ tất cả các công trình

và thiết bị khác sử dụng trong môi trường biển

Công ước có chứa chương về sự phát triển hợp tác quốc tế và khu vựctrong việc hình thành và soạn thảo những chuẩn mực, tiêu chuẩn quốc tế, thựctiễn và các quy trình bảo vệ môi trường biển, trong việc tiến hành các chươngtrình nghiên cứu khoa học và trao đổi thông tin

Trang 2

Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển từ các nguồn trên đất liền, cácnước cần đề ra những luật và quy chế quốc gia dựa trên các chuẩn mực quốc tế

và điều chỉnh sự phát thải các chất ô nhiễm từ sông, cửa sông, đường ống dẫn,công trình dẫn nước v.v vào biển, trong khi khai thác tài nguyên đáy biển ởthềm lục địa và bên ngoài thềm lục địa, chôn giữ các chất ô nhiễm, trong quátrình giao thông biển

Các quốc gia cần đảm bảo sao cho tầu thuyền dưới kỳ hiệu nước mìnhkhông được ra khơi chừng nào còn chưa ở trạng thái đi ra biển tuân thủ nhữngyêu cầu về chuẩn mực và tiêu chuẩn quốc tế về phòng chống ô nhiễm

Việc xác lập các vùng kinh tế 200 hải lý trên Đại dương Thế giới với mụcđích bảo vệ những lợi ích kinh tế của các nước ven bờ có ý nghĩa to lớn Xuấtphát từ đó, Công ước ấn định phân chia các chủ quyền để thăm dò, khai thác vàbảo tồn những tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và phi sinh vật ở đáy, trong lòngđất và trong nước và để quản lý những tài nguyên đó cho các quốc gia ven bờ

Quốc gia ven bờ trong vùng kinh tế có thể thực hiện quyền về: (1) Xâydựng và sử dụng các đảo, các hệ thống và công trình nhân tạo; (2) Nghiên cứukhoa học biển; (3) Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển Đồng thời, ở vùng kinh tếtất cả các quốc gia khác được quyền tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp vàđường ống dẫn dưới nước và các quyền tự do khác phù hợp với những điềukhoản của Công ước

Quốc gia ven bờ có quyền trong vùng kinh tế của mình xác định sảnlượng cho phép đánh bắt tài nguyên sinh vật (Điều 61) Bằng con đường hợp tácvới các tổ chức khu vực và quốc tế, quốc gia ven bờ đảm bảo các biện pháp vềbảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật, để chúng không bị hiểm họa khai thác tháiquá Trong điều kiện có đủ dự trữ tài nguyên sinh vật, quốc gia ven bờ có thểcho phép các quốc gia khác được sử dụng vùng kinh tế của mình với điều kiện

họ tuân thủ những yêu cầu cần thiết (Điều 62, 69, 70) Công ước bao hàm nhữngđiều khoản điều chỉnh việc khai thác một số dạng tài nguyên sinh vật ở vùngkinh tế

Công ước năm 1982 đã xác định những điểm quan trọng của chế độ bảo

vệ môi trường biển trong khi khai thác tài nguyên đáy biển bên ngoài vùng chủquyền quốc gia Thí dụ, theo những điều khoản của Điều 87, thì tất cả các quốcgia, khi thực hiện tự do hàng hải, lắp đặt cáp và ống dẫn dưới nước, đánh bắt cá,nghiên cứu khoa học, có trách nhiệm không để xảy ra ô nhiễm môi trường biển.Điều này cũng liên quan tới sự thực hiện những quyền của các quốc gia trongkhi khai thác tài nguyên khoáng sản ở các vùng sâu của Đại dương Thế giới,

Trang 3

những quyền này đòi hỏi sự cho phép của Tổ chức quốc tế về đáy biển Côngước quy trách nhiệm sau đây cho các quốc gia: Trước giai đoạn khai thác phảinghiên cứu kỹ về sinh thái học và thủy văn học của vùng khai thác tài nguyênđáy, chọn phương pháp và kỹ thuật khai thác tốt nhất nhằm giảm thiểu tối đa sự

ô nhiễm biển Các quốc gia cần đề ra những luật pháp và quy chế để phòng ngừa

và giảm bớt ô nhiễm do hoạt động ở vùng quốc tế của đáy biển, xác định nhữngbiện pháp kiểm soát mức ô nhiễm môi trường biển trong khi khai thác nguyênliệu khoáng sản

Sự cố môi trường là gì? Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt độngcủa con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môitrường nghiêm trọng" Sự cố môi trường có thể xảy ra do:

- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun,mưa axit, mưa đá, biến đổi khí hậu và thiên tai khác;

- Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ

sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội,

an ninh, quốc phòng;

- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầukhí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự

cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;

- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sảnxuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ

Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh với độ sâu trung bình3.710 m và tổng khối nước 1,37 tỷ km3 Tài nguyên biển và đại dương rất đadạng được chia ra thành các loại: Nguồn lợi hoá chất và khoáng chất chứa trongkhối nước và đáy biển; nguồn lợi nhiên liệu hoá thạch, chủ yếu là dầu và khí tựnhiên, nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, nhiệt độ nước biển, các dònghải lưu và thuỷ triều Mặt biển và vùng thềm lục địa là đường giao thông thuỷ,biển là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi,giải trí, nguồn lợi sinh vật biển

Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng loạtnhóm động vật, thực vật và vi sinh vật Hai nhóm đầu có tới 200.000 loài Sảnlượng sinh học của biển và đại dương như sau: Thực vật nổi 550 tỷ tấn, thực vậtđáy 0,2 tỷ tấn, các loài động vật tự bơi (mực, cá, thú ) 0,2 tỷ tấn Năng suất sơcấp của biển khoảng 50 - 250g/m2/năm Sản lượng khai thác thuỷ sản từ biển vàđại dương toàn thế giới gia tăng, ví dụ năm 1960: 22 triệu tấn; 1970: 40 triệu

Trang 4

tấn; 1980: 65 triệu tấn; 1990: 80 triệu tấn Theo đánh giá của Tổ chức Nônglương Thế giới (FAO), lượng thuỷ sản đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn

Biển và đại dương là kho chứa hoá chất vô tận Tổng lượng muối tan chứatrong nước biển là 48 triệu km3, trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hoáhọc khác Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển như dầu khí, quặng Fe,

Mn, quặng sa khoáng và các loại muối Năng lượng sạch từ biển và đại dươnghiện đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợiích khác của con người

Biển Ðông của Việt Nam có diện tích 3.447.000 km2, với độ sâu trungbình 1.140 m, nơi sâu nhất 5.416 m Vùng có độ sâu trên 2.000 m chiếm 1/4diện tích thuộc phần phía Ðông của biển Ðông Thềm lục địa có độ sâu < 200 mchiếm trên 50 % diện tích Tài nguyên của Biển Ðông rất đa dạng, gồm dầu khí,tài nguyên sinh vật (thuỷ sản, rong biển) Riêng trữ lượng hải sản ở phần BiểnÐông thuộc Việt Nam cho phép khai thác với mức độ trên 1 triệu tấn/năm Sảnlượng dầu khí khai thác ở vùng biển Việt Nam đạt 10 triệu tấn hiện nay và 20triệu tấn vào năm 2.000

Việt Nam có diện tích đất liền khoảng 330.000 km2 và một vùng biển đặcquyền kinh tế khoảng trên 1.000.000 km2 Khu vực bờ biển, cũng như các đảo

có vị trí địa lý rất trọng yếu đối với phát triển kinh tế và an ninh, quốc phòng.Trên biển có trên 3.000 đảo lớn nhỏ, hai quần đảo là Trường Sa và Hoàng Sa.Các đảo và quần đảo là điểm tựa vững chắc cho bố trí thế trận phát triển kinh tếbiển gắn với bảo vệ an ninh chủ quyền trên biển Nhiều đảo có thể xây dựngthành các trung tâm kinh tế đảo và dịch vụ cho các hoạt động khai thác biển xa

Bờ biển nước ta dài 3.260 km, đây là những tiền đề cho phép hoạch định mộtchiến lược biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển Biển thực

sự là phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, là di sản thiên nhiên củadân tộc, là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho người dân Việt Nam hôm nay vàmai sau

Tuy nhiên thực trạng về ô nhiễm môi trường (ONMT) biển đang là vấn đềbáo động đỏ Các khu vực biển gần với đường giao thông trên biển hoặc cáccảng là nơi nước biển có nguy cơ dễ bị ô nhiễm từ các sự cố hàng hải này Sự cốtràn dầu và thải dầu cặn vẫn tiếp tục xảy ra nhiều, đôi khi trên diện rộng và gâythiệt hại lớn Khu vực biển nước ta nằm trên tuyến hàng hải quốc tế Ấn ĐộDương - Thái Bình Dương, chủ yếu vận chuyển dầu từ Trung Đông sang ĐôngBắc Á với khoảng 200 triệu tấn được vận chuyển hàng năm qua các vùng biểnngoài khơi của Việt Nam với lượng thải dầu hợp pháp và bất hợp pháp rất lớn

Trang 5

Đồng thời do vùng biển nước ta có bờ biển dài, và luôn chịu ảnh hưởng của giómùa Đông Nam và Đông Bắc Cho nên, nếu điều kiện biển không đủ khả nănghòa loãng, phân tán, phân hủy các loại dầu nói trên thì cuối cùng chúng cũngđược di chuyển (dù nhanh hay chậm) vào vùng bờ và các đảo của Việt Nam vàảnh hưởng đến các giá trị và nguồn tài nguyên ven biển, tác động mạnh đếnngành kinh tế - sinh thái biển Có thể nói, vùng biển ven bờ nước ta rất dễ bị tổnthương về sự cố ô nhiễm do dầu thải, dầu tràn Hàng năm, lượng dầu bị thải rabiển từ tàu do tai nạn và do các hoạt động bình thường của chúng trên biển tronghoạt động hàng hải chiếm một lượng rất nhỏ so với lượng dầu khai thác từ mỏ

và được đem sử dụng làm năng lượng cho các ngành công nghiệp Trong sốkhoảng hơn 3 triệu tấn dầu đổ ra biển và các đại dương hàng năm thì đóng gópmột nửa là do các hoạt động tàu bè như thải nước la canh, như tràn rò do sự cố.Tức là khoảng 1,6 triệu tấn So với Một phẩy bốn tỷ tỷ tấn nước của các biển vàđại dương thì lượng dầu tràn này chỉ chiếm 1,114 phần ngàn tỷ Tuy nhiên, sốdầu này sẽ tạo thành một lớp màng dầu cho toàn bộ 360 triệu km2 mặt nước củatoàn bộ đại dương để có thể biến mặt nước biển thành màu ánh bạc Ngoài ra, sựtích lũy năm này qua năm khác của spilled oil trên biển sẽ dần dần hủy hoại môitrường biển và đại dương [11]

Ngày nay dầu mỏ là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với tất

cả các nước trên thế giới, nó đe dọa nguồn an ninh năng lượng của toàn cầu.Hầu như dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ có mặt trong tất cả các hoạt độngkinh tế cũng như sinh hoạt hàng ngày của con người Đi đôi với những lợi ích từviệc thu hồi dầu, chúng ta còn phải đối mặt với những nguy cơ ô nhiễm dochúng gây ra Dầu có những tính chất đặc biệt do vậy khi xảy ra sự cố tràn dầuhay rò rỉ dầu đều gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

Trang 6

Bài 1 SỰ CỐ TRÀN DẦU TRÊN BIỂN

I KHÁI NIỆM VỀ SỰ CỐ TRÀN DẦU

Sự cố tràn dầu là hiện tượng thất thoát đáng kể dầu ra môi trường gâythiệt hại lớn hoặc hiểm họa đối với con người, các hệ sinh thái và các hoạt độngkinh tế xã hội

Tràn dầu thường xảy ra trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác,vận chuyển, chế biến, phân phối, tàng trữ dầu và các sản phẩm của dầu Nguyênnhân trực tiếp thường là rò rỉ hoặc vỡ đường ống, bể chứa dầu; tai nạn đâm vagây thủng tàu, đắm tàu, sự cố tại các dàn khoan dầu khí, cơ sở lọc hoá dầu v.v.Tràn dầu cũng có thể xảy ra do rò rỉ tự nhiên từ các cấu trúc địa chất chứa dầudưới đáy biển do các hoạt động của vỏ trái đất gây nên, như động đất,

Có thể thấy nơi dầu tràn xảy ra và đối tượng bị ảnh hưởng tới chủ yếu làtrên biển và ven biển Dầu tràn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các sinh vậtbiển, các sinh cảnh và hệ sinh thái ven bờ, nhiều loại hình hoạt động trên biển

và ven biển, đặc biệt là bảo tồn, du lịch, nghỉ dưỡng, nuôi trồng thủy sản, làmmuối, …

Do hậu quả nghiêm trọng của các vụ tràn dầu nên các kế hoạch ứng phó

sự cố tràn dầu được xây dựng và triển khai ở các cấp, ngành, khu vực và cơ sởkhác nhau Những khía cạnh cơ bản, liên quan đến kỹ thuật phát hiện, theo dõi,đánh giá và xử lý dầu tràn trên mặt biển và mắc cạn trên bờ là rất quan trọng đốivới các cán bộ tổ chức, triển khai và tham gia hoạt động ứng phó sự cố tràn dầutrên thực tế

Bài trình bày này tóm tắt những kiến thức chính về khía cạnh kỹ thuậtgiúp các bên nâng cao nhận thức và hiểu biết trong hoạt động ngăn ngừa và ứngphó sự cố tràn dầu, nhằm bảo vệ các giá trị sinh thái môi trường và kinh tế xãhội liên quan của nhà nước, nhân dân và các đối tượng bị ảnh hưởng khác nhau,

hỗ trợ hiệu quả việc thực hiện các kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu nói trên

Bài trình bày tập trung vào sự cố tràn dầu trên biển, là loại hình sự cố tràndầu khó phát hiện, khó ứng cứu, khó khắc phục hậu quả và khó đánh giá thiệthại nhất so với tràn dầu ở những khu vực khác Mặc dù vậy, tràn dầu trong các

Trang 7

Lan truyền Bốc hơi Ô xi hóa Lan truyền

hộ, phòng chống thiên tai và sự cố môi trường ở Trung ương và các địa phươngven biển; đại diện các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp vàlực lượng tình nguyện viên nòng cốt ở trung ương và địa phương tại các địaphương ven biển Tùy theo chức năng, nhiệm vụ và trình độ chuyên môn, nghềnghiệp, các đối tượng nêu trên sẽ lĩnh hội được kiến thức và nâng cao được nhậnthức về các khía cạnh khác nhau, ở mức độ khác nhau trong công tác phòngngừa và ứng phó sự cố tràn dầu

II Sự vận chuyển, biến đổi và tác động của dầu tràn

2.1 Sự vận chuyển và biến đổi của dầu tràn

Sau khi tràn ra môi trường,

dầu di chuyển và biến đổi khá

phức tạp, phụ thuộc chủ yếu vào

các yếu tố tự nhiên Dưới đây là

những quá trình chính mà dầu

tràn có thể trải qua trong môi

trường nước biển:

phẩm dầu nhẹ như dầu hỏa,

gasolin bốc hơi hết trong vòng vài

giờ, dầu thô nhẹ sẽ bay hơi cỡ 40% ngay trong ngày đầu tiên Trong khi đó, dầuthô nặng hay nhiên liệu dầu nặng ít bay hơi, hay thậm chí không bay hơi Quátrình bay hơi có thể diễn ra trong vòng 1 tuần lễ đầu tiên và là quá trình làm mấtdầu nhiều nhất

2.1.2 Sự hòa tan dầu

Trang 8

Nhìn chung hàm lượng dầu hoà tan không vượt quá 1mg/l, do đó quátrình này không đóng vai trò thật đáng kể trong làm cho dầu rời khỏi mặt nước.

2.1.3 Sự phân hủy dầu

Sự phân hủy được coi là kết quả của các quá trình hóa học hoặc sinh hóacủa dầu Một số loại thuỷ sinh vật có khả năng phân hủy dầu với hiệu quả đáng

kể Thành phần dầu nhẹ dễ bị phân huỷ sinh học hơn dầu nặng, dầu thấm vào đấtcát thì tốc độ phân rã sẽ diễn ra chậm

hơn

2.1.4 Sự loang và lan truyền dầu

Sự loang dầu cơ học là một trong

các quá trình quan trọng trong lúc đầu

khi dầu loang Loang dầu cơ học dựa

trên sự cân bằng giữa lực trọng trường,

lực nhớt và sức căng mặt ngoài Dầu

tràn có thể bị lan truyền trôi dạt cả vệt

do gió, dòng chảy, sóng và hiệu ứng

khuếch tán Tốc độ và quỹ đạo lan truyền vệt dầu có thể được tính toán, nhờ các

mô hình toán Nhiều mô hình tính toán xét đến cả các quá trình khác của dầutràn xảy ra cùng với sự lan truyền, như bốc hơi, nhũ tương hóa, lắng đọng vàmắc cạn trên bờ

2.1.5 Quá trình nhũ tương hóa

Một trong những quá trình quan trong làm vết dầu có thể tồn tại lâu bền làquá trình nhũ tương hóa hay quá trình tạo nước trong dầu Nhiều loại dầu có khảnăng này, làm

Trang 9

vỉa cát, dầu Thông thường các lớp cát thấm dầu như vậy tồn tại trong thời giandài

2.1.6 Sự kết hợp các quá trình

Các quá trình bay hơi, lan truyền, tán xạ, nhũ tương hóa, hòa tan là rấtquan trọng trong giai đoan đầu sau khi xảy ra tràn dầu, trong khi quá trình oxihóa, lắng đọng và phân hủy lại quan trọng ở giai đoạn sau đó Để hiểu được sựbiến đổi của dầu tràn theo thời gian trong môi trường nước biển, cần biết sựtương tác qua lại giữa các quá trình này Có thể dự báo sự phong hóa dầu thôngqua các mô hình đơn giản xây dựng cho mỗi loại dầu Dầu tràn có thể được chiamột cách tương đối thành các nhóm theo mật độ của chúng Dầu có mật độ thấp

sẽ kém bền vững hơn, tuy nhiên một số dầu nhẹ vấn có thể biến đổi khá giốngvới dầu nặng do tính kết dính của nó cao Mặc dù các mô hình đơn giản khôngthể dự báo chính xác sự biến đổi của dầu, nhưng chúng giúp cho việc đánh giámột cách tương đối việc dầu thâm nhập vào môi trường nước biển như thế nào

và đổ bộ vào bờ ra sao Những thông tin như vậy có thể sử dụng để đưa ra quyếtđịnh lựa chọn giải pháp và kỹ thuật ứng phó hợp lý và kịp thời

2.2 Tác động của dầu tràn

2.2.1 Tác động đến sinh cảnh, sinh vật biển

Dầu tràn có thể tác động trực tiếp lên các sinh cảnh và sinh vật biển Mức

độ tác động của dầu lên sinh vật biển phụ thuộc vào tính chất vật lý, cũng nhưtính chất hoá học của dầu Sinh vật biển còn có thể bị tác động gián tiếp trongquá trình xử lý ô nhiễm dầu hoặc do mất nơi cư trú

Sự đe doạ chính của dầu tràn đối với sinh cảnh và sinh vật biển là phần dưbền vững của dầu tràn, nhũ tương nước ngậm dầu, cũng như tính dính bết vật lídẫn đến thay đổi chất lượng môi trường sống, giết hại sinh vật do cản trở cácchức năng thông thường của chúng như ăn, thở và di động Độc tố do thànhphần hoá học của dầu sẽ phát huy chậm hơn, sẽ tác động vào quần thể sinh vậttheo một số hiệu ứng khác, như làm cản trở, suy giảm khả năng của sinh vậtbiển để tái tạo, phát triển, sinh sản, …

Đến rừng ngập mặn: Váng dầu xâm nhập vào vùng rừng ngập mặn khi

nước triều lên, chúng đọng lại trên rễ thở của cây và trên bề mặt trầm tích khitriều rút Cơ chế này gây nên sự phân bố không đồng đều váng dầu và do đó mà

ở các vùng rừng khác nhau, các khu vực có biên độ triều khác nhau thì mức độảnh hưởng của dầu tràn cũng khác nhau Cây ngập mặn có thể bị chết do dầunặng hoặc dầu nhớt bao bọc lấy các lỗ khí trên hệ rễ thở của cây, ngăn cản sựcung cấp oxy từ phần rễ thở đó xuống hệ thống rễ trong đất Ngoài ra, các thànhphần hoá học có trong dầu, mà đặc biệt là các thành phần nhân thơm phân tửlượng thấp, có khả năng phá huỷ màng tế bào trong các rễ lớp dưới bề mặt, làmsuy yếu khả năng lọc muối thông thường của cây, làm cây chết Những loài sinh

Trang 10

vật sống dựa vào rừng ngập mặn bị ảnh hưởng bởi hai nguyên nhân: do ảnhhưởng trực tiếp bởi dầu và do mất nơi cư trú Theo thời gian, một vài nhân tố sẽlàm giảm độc tính của dầu đọng lại trong rừng ngập mặn, như nước mưa, thuỷtriều và thời tiết nói chung Sự phân huỷ của dầu ở vùng nhiệt đới có thể diễn ranhanh và cây có thể mọc lại từ các hạt giống tự nhiên trong vòng 1 năm sau sự

cố tràn dầu Tuy nhiên, có nhiều yếu tố làm chậm lại quá trình này như đất trongtình trạng yếm khí, nồng độ chất tanin cao trong đất làm hạn chế hoạt động của

vi sinh vật phân huỷ dầu

Đến rạn san hô: Rạn san hô được coi là nơi có mức đa dạng sinh học cao

nhất và là phức hệ lớn nhất của các quần xã sinh vật biển (một rạn san hô đơnđộc có thể có tới trên 3.000 loài sinh vật), với năng suất sinh học lớn gấp 50-100lần vùng nước biển xung quanh Tuy nhiên, hệ sinh thái này đặc biệt nhạy cảmvới dầu tràn Với tỷ trọng nhỏ hơn nước, nói chung dầu sẽ nổi trên mặt rạn san

hô nhưng một vài vùng của rạn lại nổi lên trên mặt nước trong pha triều thấp,khi đó nếu xảy ra sự cố tràn dầu thì dầu sẽ ảnh hưởng trực tiếp, san hô sẽ chết do

bị ngạt thở Một cơ chế khác là sóng vỡ trên rạn và ở đường bờ tạo nên các hạtdầu nhỏ, chúng sẽ phân bố dòng nước và có nhiều khả năng tiếp xúc với san hô.Khả năng tiết ra chất nhầy, nhất là khi bị kích thích của san hô càng tạo điềukiện cho hạt dầu dễ dàng dính vào chúng Ảnh hưởng của thời tiết (bao gồm sựbay hơi và tác động của ánh sáng mặt trời) cũng làm cho dầu chìm xuống và tiếpxúc với các rạn san hô phân bố dưới sâu Phần lớn các nghiên cứu về ảnh hưởngcủa dầu đến san hô đều được thực hiện trong phòng thí nghiệm; tuy nhiên, cóthể đưa ra kết luận như sau: ảnh hưởng lớn nhất của dầu là làm giảm khả năngsinh trưởng, sinh sản và định cư của quần xã san hô, ảnh hưởng xấu đến tập tính,làm thay đổi hoạt động của các tế bào màng nhầy Một số các nghiên cứu thựcđịa cũng đã được tiến hành, tiêu biểu là chương trình nghiên cứu dài hạn tại vịnhEilat, biển Đỏ Nghiên cứu cho thấy, ô nhiễm do dầu ngấm vào trong rạn sẽ gâytác động lâu dài làm giảm khả năng định cư của san hô trên rạn, gây chết san hô,ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và gây ra nhiều thay đổi khác; ngoài ra cònlàm cho san hô dễ bị tổn thương hơn bởi các điều kiện tự nhiên

Đến cỏ biển: Cũng như rạn san hô, thảm cỏ biển cũng là nơi nuôi dưỡng,

cung cấp thức ăn cho nhiều loại cá có giá trị kinh tế Khi xảy ra sự cố tràn dầu,vết dầu loang tồn tại lâu dài và tạo thành một rào cản vật lý trên mặt nước ngăncản sự quang hợp của cỏ biển Cỏ biển phân bố nhiều ở nơi nước nông nênchúng sẽ tiếp xúc trực tiếp với dầu trong pha triều thấp; độc tố trong đầu có thểlàm chết chúng

Đến đất ngập nước: Đất ngập nước là sinh cảnh lý tưởng cho các loài

định cư cũng như bản địa Tại đây có các nguồn dinh dưỡng sơ cấp cho quần thểđộng vật đa dạng và phong phú gồm giun, ốc, trai, cua, rồi đến lượt chúng lại làcon mồi cho các loài chim kiếm ăn ở vùng nước nông, có thể với số lượng đặcbiệt lớn vào những thời điểm nhất định trong năm Các loài thực vật ở bãi ngậptriều đặc biệt nhạy cảm với loại dầu thô nhẹ hay sản phẩm dầu nhẹ đã tinh chế,

Trang 11

trong khi dầu vón (do tác động của thời tiết) lại ít gây hại hơn Nhiễm dầu ởphần gốc hay hệ rễ của cây sẽ dẫn đến chết cây trong khi mặc dù lá cây bị dínhdầu nghiêm trọng thì mức độ ảnh hưởng vẫn ít hơn nhất là nếu sự cố không xảy

ra trong mùa sinh trưởng của cây Sẽ nguy hại hơn nếu bãi ngập triều bị ô nhiễmnhiều lần hay dầu thâm nhập vào lớp trầm tích và tồn tại ở đó trong nhiều năm.Cũng như vậy, nếu gặp kỳ triều cao dầu sẽ xâm nhập vào sâu phía trong bãingập triều và thời gian tồn tại của dầu ở đây sẽ lâu dài hơn, gây tác hại đến câycối cũng như các loài chim kiếm ăn, trú ngụ ở đây

Đến sinh vật phù du: Sinh vật phù du là thuật ngữ dùng để chỉ các loài

động, thực vật trôi nổi ở tầng trên cùng theo dòng nước biển Thành phần củachúng phụ thuộc vào mạng lưới thức ăn và bao gồm cả trứng cá, cá con, các loàiđộng vật có vỏ và ấu trùng của nhiều loài sinh vật sống đáy Tác động của dầutràn đến quần thể sinh vật phù du là làm chết, dẫn đến giảm số lượng chúngtrong thời gian ngắn

Đến sinh vật đáy: Sinh vật đáy (động vật, thực vật) sống ở đáy biển cũng

tạo nên một mắt xích quan trọng trong dây chuyền thức ăn ở khu vực ven bờ,rất nhiều loài động vật như tôm, cua, trai, sò , vẹm Một vài loại rong tảo biển(như tảo bẹ) có giá trị kinh tế đang được khai thác Dầu tràn ít gây tác hại đếnquần thể sinh vật đáy ở vùng biển sâu ngoài khơi Tuy nhiên ở vùng nước nông,các hạt dầu có thể di chuyển xuống đáy (đặc biệt khi thời tiết xấu) Dầu thô haydầu nhẹ tinh chế có hàm lượng độc tố cao có thể gây tác hại đến quần thể cỏbiển sống đáy và nhiều loại động vật đáy khác như trai, nhím biển, giun, Dầuđọng lại trong lớp trầm tích có thể tồn tại vài năm, tuy không gây chết, nhưngcũng gây độc hại đến các loài có giá trị kinh tế

Đến tôm, cá, : Nguồn lợi tôm cá có thể sẽ bị suy giảm ngay sau sự cố

tràn dầu do chúng bị chết Tuy nhiên chưa có ghi nhận nào về thiệt hại đáng kểcủa dầu tràn đối với các quần thể trưởng thành vì chúng có khả năng di chuyển

ra xa nơi bị ô nhiễm Mặc dù vậy, với nghề nuôi trồng hải sản thì thiệt hại có thểlớn hơn nhiều do địa điểm nuôi cố định, và các chất ô nhiễm có khả năng tồnđọng lâu hơn Mặt khác, hải sản nuôi trồng cũng bị giảm sút về chất lượng, dẫnđến suy giảm về giá trị kinh tế

Đến trứng cá, cá con: Ở các nước vùng nhiệt đới, nói chung cá đẻ quanh

năm Trong cả năm lúc nào cũng có thể vớt được trứng cá, cá con Mật độ phân

bố có xu hướng mùa mưa nhiều hơn mùa khô Khi xảy ra sự cố tràn dầu, có thểmột số lớn trứng cá, cá con sẽ bị thối, bị chết, mặc dù chưa có đánh giá về suygiảm số lượng cá lớn

Đến quần thể chim biển: Các loài

chim biển bao gồm các loài sống ven bờ

phân bố trong giới hạn khoảng 75m cách

đường bờ (phía đất liền và phía biển);

chim đầm lầy phân bố ở bãi triều, vụng,

Trang 12

cửa sông, đầm phá; chim nước phân bố ở dải nước 500m cách bờ và 75m vềphía đất liền dọc theo các bờ biển hở Chúng thường tập trung rất đông để sinhsống, sinh sản, nuôi con và là đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương do tác hại củadầu tràn Dầu có thể gây độc hại cho các loài chim biển khi thâm nhập vào cơthể do chúng rỉa lông, do ăn các sinh vật bị nhiễm dầu, nhưng nguyên nhân chủyếu dẫn đến cái chết của chim biển là do tập tính lặn xuống nước kiếm thức ănlàm chúng bị chết đuối, chết đói và mất thân nhiệt khi bộ lông bị dầu làm hỏng

Đến một số loài động vật biển khác: Phần lớn các loài động vật biết bơi

như mực, cá, rùa, cá voi, cá heo có khả năng di chuyển rất cao và ít bị ảnhhưởng bởi dầu tràn ở vùng ngoài khơi, ngay cả khi có sự cố tràn dầu lớn xảy ra.Tuy nhiên, ở vùng ven bờ, một vài loài động vật có vú như sư tử biển, loài bòsát như rùa có thể bị tổn thương do dầu vì chúng cần ngoi lên mặt nước để thởhay nhận oxy qua luồng nước lấy vào

2.2.2 Tác động đến các hoạt động kinh tế, dân sinh

Đến các khu bảo tồn, bảo vệ: Khu di sản, dự trữ sinh quyển, bảo tồn, bảo

vệ là những khu vực rất có giá trị về mặt tự nhiên, môi trường Các khu vực nàyđều có tính đa dạng sinh học rất cao, trong đó có nhiều khu vực là tổ hợp của các

hệ sinh thái đặc biệt nhạy cảm với tràn dầu như rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏbiển, các loài chim nước di cư …, được quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt Một khixảy ra, sự cố sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều loài, ảnh hưởng tới mục đích bảo tồn do

đó cần có ngay các biện pháp khắc phục Tuy nhiên, quá trình phục hồi lạikhông diễn ra nhanh chóng mà mất nhiều thời gian, vài năm thậm chí là hàngchục năm (như đối với rừng ngập mặn, các loài chim nước di cư), hậu quả lâudài có thể sẽ rất trầm trọng như mất đi các loài đặc hữu, suy giảm tính đa dạngsinh học của vùng

Đến nghề làm muối: Khi có sự cố tràn dầu xảy ra, ảnh hưởng trước mắt là

các hoạt động làm muối sẽ bị ngưng trệ do nước tháo vào đồng muối bị nhiễmdầu cho đến khi xử lý xong ô nhiễm Mặt khác, nghề làm muối lại rất phụ thuộcvào thời tiết do đó mức độ rủi ro lại càng cao Ảnh hưởng lâu dài có thể rấtnghiêm trọng, dầu có thể gây ô nhiễm đất ven bờ, nơi dẫn nước vào đồng muối.Loại ô nhiễm này sẽ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian và tiền của để xử lý Ngay

cả khi đã loại bỏ được ô nhiễm, chất lượng của muối sản xuất cũng cần phảikiểm định lại

Đến ngành du lịch: Ô nhiễm do sự cố tràn dầu ở các khu du lịch, nghỉ

dưỡng ven biển là một thực tế thường gặp và luôn gây tâm lý lo ngại cho dukhách, làm cản trở tới nhiều hoạt động vui chơi, nghỉ dưỡng như tắm biển, duthuyền, câu cá và lặn biển Có thể dễ dàng hình dung phản ứng của du khách khi

sự cố xảy ra, phần lớn sẽ bỏ đi, sẽ khuyên những người quen không nên đến đó

Về lâu dài, ngay cả sau khi đã xử lý ô nhiễm, sức hấp dẫn của khu nghỉ đó cũng

đã giảm sút đáng kể Đối với những người kinh doanh du lịch nói chung, trong

đó bao gồm cả chủ khách sạn, nhà hàng, các công ty du lịch và rất nhiều người

Trang 13

làm dịch vụ ở địa phương thì sự cố này gây thiệt hại trực tiếp tới lợi ích kinh tế

của họ, nhất là khi sắp bắt dầu hay đang trong mùa du lịch

Đến đánh bắt và nuôi trồng hải sản: Tàu đánh cá, ngư lưới cụ các loại

bẫy cố định, các thiết bị nổi trên mặt nước dùng để đánh bắt cũng như phục vụcho nuôi trồng thuỷ sản sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dầu tràn Trong khi đó, cácloại thiết bị khác ngập dưới nước như lưới đặt chìm, lưới vét cũng có khảnăng chúng bị nhiễm bẩn do dầu chìm Sự nhiễm bẩn các thiết bị này sẽ dẫn tớinhiễm dầu vào các loại thủy hải sản đánh bắt được, gây kém phẩm chất cho cácsản phẩm, hay thậm chí phải loại bỏ chúng Qua số liệu thống kê được, sảnlượng đánh bắt cá, tôm, cua và hải sản nói chung đều giảm rõ rệt sau mỗi sự

cố tràn dầu Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm này là các loài bị chết do nhiễmbẩn dầu, đặc biệt là ở các vực nước nông nơi có trao đổi nước kém; các loàiđộng vật biển phải di chuyển ra xa nơi có sự cố Mặt khác, trứng và ấu trùng bịhuỷ gây tình trạng suy giảm tài nguyên về lâu dài Các khu vực nuôi trồng thuỷsản, như các lồng nuôi cá có nhiều khả năng chịu rủi ro hơn do dầu tràn Tácđộng trực tiếp của dầu tới vật nuôi có thể giảm đi do các cơ chế tự nhiên nhưdòng chảy mang vệt dầu ra xa , tuy nhiên dầu bám vào các dụng cụ nuôi trồnglại là nguồn ô nhiễm lâu dài đối với các loài nuôi Một vấn đề khác nảy sinh sau

sự cố tràn dầu là phản ứng e ngại của khách hàng đối với các sản phẩm biển cónguồn gốc từ vùng xảy ra sự cố tràn dầu, làm cho lợi ích kinh tế của thị trường

thủy, hải sản giảm sút

Đến hoạt động cảng, giao thông thủy: Hoạt động vận tải biển, hoạt động

cảng cũng sẽ đặc biệt bị ảnh hưởng nhất là trong trường hợp sự cố tràn dầu xảy

ra trong phạm vi cảng hay luồng tàu vào cảng Các biện pháp xử lý ô nhiễm nhưthả hàng phao nổi quây dầu sẽ phần nào gây khó khăn, chậm trễ cho các hoạtđộng nêu trên Các cầu tàu và dây neo cố định trên bến cũng dễ dàng bị ô nhiễmbởi nước biển có dầu Sự cố tràn dầu, đặc biệt là khi loại dầu tràn là dầu thô nhẹ,xăng hay các hợp chất dễ cháy sẽ gây nguy hiểm cho việc vận hành giao thôngđường thuỷ (đơn cử như tại các bến phà) Các công việc liên quan đến kỹ thuậthàn hay các thiết bị, máy móc phát tia lửa điện đều có thể bị cấm một khi khảnăng bốc cháy của dầu tràn vẫn còn Trong trường hợp này, dù chỉ có một lượngnhỏ dầu tràn cũng đủ để gây hậu quả đáng kể đến một bến cảng hoạt động tấpnập

Đến một số ngành công nghiệp: Một số ngành công nghiệp cần đến nguồn

nước biển trong quá trình vận hành (chủ yếu dùng trong các công đoạn làm mát,làm lạnh), đơn cử là các trạm phát điện Nhìn chung, địa điểm thuận lợi để đặtcác trạm này là gần bờ biển để có thể dễ dàng lấy một lượng lớn nước biển dùngcho làm lạnh Khi nước biển nhiễm dầu, một lượng dầu đáng kể tải vào do nước

sẽ làm bẩn các ống ngưng Trong trường hợp này trạm phát buộc phải giảmcông suất hay thậm chí là đóng cửa trong thời gian xử lý ô nhiễm

2.2.3 Tác động đến sức khỏe con người

Trang 14

Những vụ tràn dầu lớn, ngay khi xảy ra có thể làm nhiều người dân trongvùng ảnh hưởng bị khó thở phải nhập viện, do ngửi phải hơi dầu Dầu tràn gây ônhiễm nước biển nặng có thể làm cho người dân bị các bệnh như dị ứng, lở loét,cùng những dấu hiệu bất thường trong gan, phổi, máu, tuyến giáp hoặc hệ thầnkinh… Nguyên nhân có thể là do tác động trực tiếp và gián tiếp của dầu quathức ăn, nước dùng

Lượng dầu tồn đọng trong nước hoặc trầm tích không được xử lý hết, vềlâu dài, sẽ tiếp tục ảnh hưởng, để lại di chứng trên các hệ sinh thái vùng venbiển, gián tiếp gây ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của con người

Dầu tràn không được xử lý hợp lý có thể ngấm xuống các tầng nước ngầmqua đất, cát, làm nhiễm độc lâu dài môi trường đất và nước ngầm, tác động trởlại đối với con người qua nguồn nước và thực phẩm

III Phát hiện và theo dõi dầu tràn

Dựa vào mật độ của các hoạt động chuyên chở và xuất nhập dầu, các giànkhoan dầu khí, vị trí của các khu vực nhạy cảm cao, cần được bảo vệ, có thể đưa

ra các tuyến và vùng cần theo dõi định kỳ Các tuyến này cũng có thể được kếthợp với các tuyến giao thông vận tải và các tuyến tuần tra bảo vệ bờ biển, lãnhhải Theo dõi phát hiện dầu tràn trên biển, liên quan đến các hoạt động theo dõiđịnh kỳ cũng như theo dõi sự cố khi có tín hiệu báo động

Sau khi dầu thô hay dầu nhiên liệu bị tràn trên biển, chúng trải qua nhữngthay đổi đáng kể về hình dạng bên ngoài cũng như lượng và trạng thái của chúng

do các quá trình bay hơi, nhũ tương hóa, hòa tan, …, mà ta gọi chung là "phonghóa" Lúc bắt đầu tràn, dầu lan truyền ra xung quanh dưới ảnh hưởng của lựctrọng trường và ứng suất bề mặt, tạo nên các vết dầu đen dày liên tục, sau đó trởthành màng mỏng dần, có màu sáng bạc Một số loại dầu thô và dầu nhiên liệunặng có độ nhớt cao sẽ không loang nhiều mà tồn tại dưới dạng những vệt trònthẫm hoặc sáng nhạt Đám dầu lập tức sẽ bị phá vỡ khi có gió thổi tạo thành cácvệt cách nhau 30-50m nằm song song với hướng gió Sự loang dầu thô hay một

số dầu đốt dẫn đến việc hình thành nhũ tương "nước trong dầu" mà có thể phânbiệt được qua màu đồng hoặc màu da cam của chúng Dầu mới tràn thường dễphát hiện được, nhưng sau đó khó hơn nhiều Ngoài việc độ dày của bản thânváng dầu giảm nhanh và hình dạng của nó cũng thay đổi, dầu nổi có thể bị nhầmlẫn với các hiệu ứng khác liên quan đến điều kiện khí hậu và trạng thái của biểnnhư sóng, mây, mưa, sương mù, khi khoảng cách từ điểm quan sát tới mặt biểnquá lớn

Trang 15

3.1 Phát hiện, theo dõi dầu tràn từ trên không

Kỹ thuật phát hiện vệt dầu từ trên không được coi là có hiệu quả nhất vìtầm quan sát rộng và khả năng cơ động nhanh của phương tiện

Ở những nước phát triển, phát hiện và theo dõi các sự cố tràn dầu đượcquan tâm bằng việc sử dụng vệ tinh Sử dụng vệ tinh cho phép có thể theo dõiđược toàn bộ vùng biển ven bờ và biển khơi một cách đồng bộ Hiện nay, trênthế giới có hàng loạt vệ tinh được trang bị các thiết bị quan trắc váng dầu.Nguyên lý làm việc của các thiết bị này dựa trên sự phản xạ khác nhau của ánhsáng mặt trời từ mặt biển có và không có váng dầu Tuy nhiên, việc xử lý cácảnh vệ tinh thường khó và chậm, do vậy chưa đáp ứng tốt yêu cầu về thời giancủa công tác ứng cứu Đối với Việt Nam, ngoài vấn đề kỹ thuật, chi phí cho hoạtđộng này là vấn đề khó khăn

Máy bay có thể được sử dụng để tuần tra phát hiện dầu tràn Ở vùng gần

bờ và trong một phạm vi nhỏ, sự linh hoạt của máy bay trực thăng sẽ chiếm ưuthế, nhất là đối với những nơi có đường bờ phức tạp, có các vách đá nhô ra, cóvịnh nhỏ, đảo, Trong khi đó, ở ngoài khơi, không gian quan sát rộng, vận tốc

và độ cao bay yêu cầu phải lớn, do vậy cần đến các máy bay có động cơ Đối vớihoạt động quan sát tăng cường ở những vùng biển xa, cần lưu ý đến độ an toàncao bằng việc sử dụng máy bay nhiều động cơ Với máy bay, ngoài việc dễ xácđịnh được vị trí, ước lượng được khối lượng và theo dõi được hướng di chuyểncủa dầu tràn trên biển, người ta còn hỗ trợ hoạt động thu dọn và xử lý nó

Khi theo dõi dầu tràn, vị trí các tuyến bay, độ cao bay và tốc độ của máybay cũng phụ thuộc vào các loại thiết bị hiện đại được trang bị trên máy bay,được quy định theo quy trình vận hành của thiết bị phát hiện dầu tràn Nếu quantrắc bằng mắt, cần bay ở độ cao 500 m Khi phát hiện các khu vực nghi vấn, cầngiảm 1/2 độ cao, đồng thời quan sát chi tiết và đánh giá vệt dầu

Khi bay tìm

kiếm phát hiện, cần

bay theo theo các bậc

thang cắt ngang hướng

gió thịnh hành với độ

dài các bậc thang

khoảng 30 hải lý,

khoảng cách giữa các

Trang 16

bậc thang phụ thuộc vào dải quét phát hiện vệt dầu của thiết bị Vị trí của vệtdầu được xác định sơ bộ căn cứ vào trường gió và trường dòng chảy.

Việc dự báo vị trí của màng dầu sẽ được đơn giản hóa nếu có số liệu gió

và dòng chảy, hai yếu tố chủ yếu gây chuyển động của dầu nổi Cơ cấu chuyểnđộng của dầu trên mặt nước dưới tác động gió khó biết được chính xác, song kếtquả thực nghiệm cho thấy, dầu nổi chuyển động nói chung theo hướng gió vàvới vận tốc xấp xỉ bằng 3% vận tốc gió Dòng chảy mặt (không phải do gió), nếu

có, sẽ được cộng (cộng vec tơ) vào chuyển động của dầu (hình dưới) ở gần bờ,

độ lớn và hướng của dòng triều thường là quan trọng, trong khi đối với vùngbiển xa bờ thì chúng có thể được bỏ qua do tính chất tuần hoàn tự nhiên củadòng triều Tóm lại, có thể dự báo một cách xấp xỉ chuyển động của dầu nổi từmột vị trí, thời điểm cho trước nào đó, nếu có số liệu về dòng và gió

Các yếu tố thường ảnh hưởng đến tầm nhìn là sương mù hoặc sự phảnchiếu ánh sáng mặt trời từ mặt biển, do đó cần chọn đường bay thích hợp và cầnkinh nghiệm của quan sát viên

Đối với Việt Nam, khi các máy bay chuyên dụng chưa sẵn có, thì việckhai thác các máy may vận tải và máy bay chở khách trong hoạt động phát hiện

và theo dõi sự cố tràn dầu, cần được quan tâm

3.2 Phát hiện, theo dõi dầu tràn từ tàu biển

Phát hiện và theo dõi dầu tràn trên biển từ các tuyến theo dõi định kỳ bằngphương tiện tàu biển có ưu điểm chính là có thể trực tiếp tiếp cận tới váng dầu,thu được các mẫu và sử dụng các thiết bị máy ảnh, máy quay phim ghi lại cáchình ảnh liên quan đến chứng cứ và hiện tượng Các tuyến theo dõi định kỳthường được bố trí dọc theo bờ biển Sử dụng các loại tàu vận tải định kỳ theocác tuyến trên đường hàng hải ven biển làm các nhiệm vụ này là thuận lợi nhất.Các địa phương có thể huy động lực lượng biên phòng tuần tra trên các vùngbiển địa phương, các tàu đánh cá Có thể phát hiện váng dầu trên tàu biển bằngradar hoặc bằng mắt, song chủ yếu là bằng mắt (kể cả dùng ống nhòm) Vì kỹthuật phát hiện và theo dõi dầu tràn từ tàu biển chủ yếu thực hiện bằng mắt vàquy trình quan trắc đơn giản, cơ quan có trách nhiệm tại địa phương có thể kếthợp với bộ đội biên phòng tổ chức huấn luyện các quy trình quan trắc và lập báocáo, thông báo cho các đơn vị tàu vận tải và đánh cá

Nếu đã phát hiện được váng dầu, sau khi thông tin về trung tâm trên đấtliền phát tín hiệu báo động, cần tiến hành các bước khảo sát xác định sơ bộlượng dầu tràn, loại dầu tràn, lấy mẫu và dùng máy ảnh hoặc máy quay video

Trang 17

ghi cảnh các dạng váng dầu và vùng giáp ranh giữa vệt dầu và vùng nước sạch,đồng thời ghi nhật ký về thời gian và vị trí thực hiện mỗi kiểu ảnh và bình luậnthêm về hiện trạng

3.3 Phát hiện, theo dõi dầu tràn từ trên bờ

Rất nhiều khả năng xảy ra các vụ tràn dầu ở sát bờ biển và do ảnh hưởngcủa gió, dòng chảy, vệt dầu dễ tạt vào bờ Tại các vùng cửa sông, cửa biển, đầumối giao thông vận tải biển, do quy mô hẹp nên việc theo dõi lan truyền dầu chủyếu từ trên bờ Có thể sử dụng radar đặt trên bờ để theo dõi dầu tràn Nguyên lýlàm việc của radar này tương tự như radar trên tàu nhưng do vị trí đặt cao (trêncác mỏm núi ven bờ) nên tầm quan sát cũng lớn hơn so với tàu biển Trongtrường hợp này cần khai thác điều kiện và nguồn lực của lực lương biên phòngtại các địa phương

3.4 Phát hiện dầu tràn mắc cạn trên bờ

Sự hiện diện, tồn tại và ảnh hưởng của dầu mắc cạn phụ thuộc nhiều vàodạng của bờ biển Bờ biển có thể là bờ đá, bờ sỏi, bờ cát hay bờ bùn khuất Cácváng dầu ít khi đồng nhất về độ dày cũng như bề rộng Sóng, gió và dòng chảylàm cho dầu dạt vào bờ theo các vệt hay dải chứ ít khi tạo thành mặt kín ở bãitriều, vệt dầu để lại có thể tương đối rộng, nhất là trên các bãi tắm hoặc các vùng

bờ khuất; còn ở những nơi khác, vết dầu rất mảnh nằm ở gần vị trí mức triềucường Khi thông báo về sự cố ô nhiễm bờ biển do dầu, cần phân loại phần nàocủa bờ là bị phủ bởi dầu Các bức ảnh chụp được sẽ rất bổ ích cho việc mô tả vịtrí và sự biểu hiện của dầu trên bờ Chúng cũng là tư liệu để đối chiếu với trạngthái ô nhiễm ở các thời điểm sau đó

Dầu ban đầu dạt lên bờ cát có thể nhanh chóng bị cát phủ từng phần dotác động của sóng Cần đào, hót đi lớp dầu bị cát sạch phủ Dầu lỏng với độ nhớtthấp sẽ thấm vào cát tới và ngấm đến mức nào là phụ thuộc vào thành phần cát,kích cỡ hạt và độ ngậm nước của cát Ví dụ, cát thạch anh ẩm với thành phần hạtmịn sẽ hấp thụ dầu ít hơn cát lẫn vỏ sò khô, hạt thô

Tốc độ của các quá trình "phong hóa" như bay hơi, ô xy hóa, phân hủyhóa, sinh học ảnh hưởng đến mức độ dầu mắc cạn Các quá trình trên được giatăng khi nhiệt độ cao và sóng lớn Trong quá trình "phong hóa", các khối hắc ín

có thể lắng xuống khi trời nóng và trở nên trơ đối với quá trình phân hủy Tuynhiên, những lớp dầu mỏng phơi dưới ánh nắng mặt trời có thể trở nên rất dính

và khó mà tách khỏi bề mặt đất rắn Sóng có thể làm vỡ các khối dầu trơ thànhcác hạt nhỏ, dễ bị tác động bởi các quá trình sinh hóa hơn Trên các bờ khuất,

Trang 18

nếu dầu dạt vào các bờ cát thì chúng ít bị tác động của sóng, và quá trình phânhủy dầu xảy ra kém hơn do thiếu ôxy

Đánh giá lượng dầu bị mắc cạn một cách chính xác là rất khó, việc phânbiệt loại dầu cũng không dễ dàng, đặc biệt nếu dầu đó đã bị "phong hóa" nhiều.Việc nhận dạng dầu cũng gặp khó khăn khi chỉ có một lượng nhỏ dầu mắc cạn

Do đó cần nắm được đặc tính của những loại dầu phổ biến nhất và nguồn sinh rachúng ở những nơi mà chúng có thể đến từ đó, trong và ngoài vùng biển quantâm Kỹ thuật phát hiện vệt dầu sau khi đã đổ bộ lên bờ phụ thuộc vào số lượngdầu tràn và đặc điểm của địa hình, địa mạo bờ biển:

• Ở các loại bờ đá vệt dầu dễ phát hiện, nhưng khó đánh giá diện tích nó

• Ở các loại bờ sỏi hoặc đá cuội, dầu có thể lọt sâu xuống dưới Khi pháthiện, cần đào tại một số điểm đại diện để xác định mức độ dầu lọt xuốngdưới

• Ở các loại bờ cát to, cát thô, dầu có khả năng thấm hết xuống đáy và sẽnổi lên từng lớp váng mỗi khi sóng tràn qua Cần khảo sát đào sâu ở một

số điểm đại diện Tại các vị trí khảo sát, xác định độ sâu dầu thấm, lấymẫu tại 1/2 độ sâu và tại lớp mặt, chụp ảnh, quay phim và ghi nhật ký, sau

đó điền vào mẫu báo cáo dầu tràn

Dầu tràn được phát hiện có thể ở các dạng như sau:

• Dầu đã tràn vào bờ một phần, một phần còn ở dưới nước

• Dầu tràn tất cả vào bờ ở dạng nổi trên mặt

• Dầu tràn tất cả vào bờ ở dạng một phần nổi, một phần chìm xuống đáy

• Dầu còn đang ở ngoài vùng sóng đổ

Cơ sở khoa học của việc thiết lập tuyến khảo sát phát hiện tràn dầu mắccạn trên bờ cần dựa trên đặc điểm là đường bờ được coi là tuyến tìm kiếm cốđịnh Các đội tìm kiếm đi dọc theo bờ biển Việc sử dụng bản đồ ứng cứu, dựbáo tràn dầu cho phép biết được khả năng dầu sẽ lan truyền vào các đoạn bờ cụthể nào, do vậy, có thể bố trí các đoàn khảo sát tìm kiếm tập trung ở các vùngđó

3.5 Thông báo, báo cáo về sự cố tràn dầu

Các tổ chức, cá nhân, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên vùngbiển khi phát hiện dấu hiệu xảy ra sự cố tràn dầu, cần thông báo khẩn cấp cho

Sở TN&MT - Thường trực Ban chỉ đạo ứng phó sự cố tràn dầu của tỉnh nơi xảy

ra sự cố tràn dầu Đồng thời, tổ chức, huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ

để khống chế và hạn chế mức độ lan truyền và ảnh hưởng của dầu trong khảnăng, trách nhiệm của mình Ngoài ra, có thể thông báo đến các cơ quan khácnhư: Cảng vụ hàng hải khu vực, Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực,

Trang 19

UBND huyện, xã, nơi xảy ra sự cố tràn dầu và các đơn vị hải quân, biên phòng,cảnh sát giao thông đường thủy,

Các cơ quan có trách nhiệm như các cấp chính quyền địa phương, SởTN&MT, …, được báo cáo hoặc phát hiện về sự cố tràn dầu, cần thông báongay cho các đơn vị liên quan như phòng cháy chữa cháy, lực lượng cảnh sát,quân đội đóng tại địa phương, huy động vào việc ứng cứu sự cố; đồng thời,trong trường hợp cần thiết, báo cáo ngay cho Bộ TN&MT để phối hợp xử lývà/hoặc nhận hướng dẫn xử lý

Quy trình thông báo cần được phổ biến rộng rãi trong cán bộ và cộngđồng nhân dân, nhất là các đối tượng có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụtrên biển và tại bờ biển Đối với các cơ sở, các địa phương, khu vực đã có kếhoạch ứng phó sự cố tràn dầu, quy trình thông báo là một phần được nêu chi tiếttrong kế hoạch đó Đối với các sự cố xảy ra trên một địa bàn rộng bao gồmnhiều tỉnh, thành phố hoặc sự cố chưa xác định được nguyên nhân, việc thôngbáo thường được thực hiện thông qua hệ thống thông tin tìm kiếm cứu nạn hoặccổng thông tin điện tử của Cục Hàng hải Việt Nam Theo quy định, danh sáchliên lạc trong kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu phải được cập nhật thường xuyênnhằm đảm bảo thông tin chính xác và xuyên suốt, đặc biệt là trong quá trình ứngphó sự cố Danh sách này bao gồm các cơ quan quản lý tại địa phương (ủy bannhân dân tỉnh, huyện, các sở, ban ngành, các trung tâm và công ty ứng phó tràndầu, các bộ, ngành liên quan)

IV Định lượng dầu tràn

Khi có các loại thiết bị phân biệt các váng dầu, độ dầy của váng dầu, thìviệc đánh giá được tiến hành theo hướng dẫn sử dụng và khai thác thiết bị.Trong trường hợp quan sát phát hiện bằng mắt, việc đánh giá phân loại váng dầu

và xác định diện tích vệt dầu cần thực hiện đồng thời trong thời gian quan trắc.Cần xác định rõ các loại váng dầu và tỷ lệ của chúng, trên cơ sở các tính chất và

sự thể hiện của dầu

4.1 Định lượng dầu nổi

Sự định lượng chính xác một loại dầu nào đó quan sát được trên biển làhoàn toàn không thể được vì khó mà xác định đúng được hai thông số quantrọng là diện tích phủ dầu và độ dày của màng dầu

Diện tích phủ dầu được ước lượng khi quan sát vệt dầu Nhằm tránh sựnhầm lẫn khi đánh giá phân bố của các mảng dầu, cần quan sát thẳng đứng từtrên xuống Nếu sử dụng máy bay hay tầu thủy, thì có thể bay hoặc chạy tàu dọctheo vệt dầu và cắt ngang nó để ước lượng diện tích Sơ đồ bay hay chạy tàuhình bậc thang có thể được áp dụng để tăng độ chính xác của phép ước lượng

Trang 20

nói trên Trong trường hợp quan trắc bằng tàu, cần tính đến tốc độ di chuyểntương đối của vệt dầu so với tàu Khi đã ước lượng được phần trăm diện tíchphủ của dầu, có thể tính xấp xỉ được tổng diện tích mảng dầu thông qua cáctham số về thời gian và tốc độ bay hay chạy tàu.

Độ dày của màng dầu, cần được đánh giá qua một số yếu tố khác, như: sựloang của dầu dưới tác dụng của trọng lực rất nhanh và đa số dầu lỏng nhanhchóng đạt độ dày cân bằng khoảng 0.1mm và thường có màu đen, tối hoặc nâu.Các màu khác của màng đầu tương ứng với độ dày của chúng được cho trongbảng dưới

xỉ

Thể tích (m3/km2)

Dầu thô và dầu nhớt Đen / nâu tối >0,1mm 100

Nhũ tương nước trong

dầu

Đồng / dacam

Việc đánh giá lượng nước trong nhũ tương không thể thực hiện được nếukhông có các phân tích trong phòng thí nghiệm Tuy nhiên, đối với loại nhũtương có độ dày xấp xỉ 1mm, thì lượng nước trong dầu vào khoảng 50%-70%

Sử dụng bảng trên và kết quả đánh giá về độ phủ của màng dầu, có thểtính được một cách xấp xỉ lượng dầu tràn trên toàn miền

4.2 Định lượng dầu mắc cạn

Để tiến hành việc dọn sạch bờ, trước hết cần đánh giá nhanh lượng dầumắc trên bờ Cũng tương tự như trên máy bay và trên tàu biển, việc đánh giátổng lượng dầu tràn được thực hiện qua hai bước: đánh giá diện tích vùng phủdầu và tỉ lệ phủ dầu đối với từng loại dầu Tuy nhiên, đánh giá tổng lượng dầutràn khi dầu đã vào bờ khó và kém chính xác hơn so với ở ngoài biển vì sau khi

đã dạt vào bờ, dầu sẽ phân bố không đều và thường thấm sâu xuống đất Nếu córadar chuyên dụng được trang bị ở trên bờ gần nơi dầu dạt vào, thì cần phải huyđộng nó cho việc theo dõi và đánh giá lượng dầu tràn trước khi dạt vào bờ, nhằmcung cấp bổ sung thông tin và giảm chi phí đánh giá

Trang 21

Trong trường hợp đánh giá bằng mắt, diện tích váng dầu được tính bằngcách đi dọc theo bờ biển ước lượng chiều dài và chiều rộng của váng dầu và độdày xấp xỉ của váng dầu trên đá hoặc mặt đất Đồng thời xác định các loại vángdầu và tỷ lệ của chúng trong tổng diện tích Trong trường hợp dầu thấm xuốngsâu cần đánh giá bằng cách chọn các vùng tương tự mà ở đó dầu không thấmđược để đánh giá độ dày của váng Nếu tồn tại nhũ tương, thì lượng dầu thực sựnhận được là số lượng dầu đánh giá nhân với 30 - 50% (tỷ lệ dầu trong nhũtương) Khi tồn tại cả váng dầu dưới nước và trên bờ cần đánh giá riêng chotừng phần và cộng lại.

Sự phân bố không đều của dầu có thể đưa đến sai số lớn, trừ khi việc đánhgiá lượng dầu mắc cạn được thực hiện một cách cẩn thận Việc đánh giá này chủyếu dựa vào quan sát, do vậy sẽ không thể tốt nếu dầu bị vùi hoặc che khuất,nhất là bởi rừng ngập mặn Tuy nhiên, ở những nơi dầu lộ ra thì có thể đánh giálượng dầu theo 2 giai đoạn sau:

Trước hết, đánh giá phạm vi ô nhiễm dọc theo bờ và đánh dấu trên bản đồ

tỷ lệ lớn Trong trường hợp tràn dầu nặng thì sử dụng máy bay trực thăng là cóhiệu quả và thuận tiện nhất cho việc ước lượng chung Có thể sử dụng máy bay

có cánh bay ở độ cao thấp Nên kết hợp việc quan trắc bằng máy bay với việc đi

bộ kiểm tra các điểm cục bộ để tránh sự nhầm lẫn dầu với các biểu hiện kháccủa bờ có vẻ ngoài như dầu Hết sức lưu ý khi nhận dạng những nơi mà đặctrưng của đường bờ thay đổi dẫn đến mức độ phủ dầu thay đổi Sử dụng ốngnhòm cũng có ích, song các nhận biết từ xa cần được kiểm tra lại bằng cách tiếpcận gần hơn

Bước thứ hai của việc đánh giá lượng dầu mắc cạn là dùng các mẫu đạidiện đã lựa chọn để tính lượng dầu có trên thực tế Mẫu được chọn phải đủ nhỏcho phép đánh giá chính xác thể tích dầu tích tụ trong khoảng thời gian hợp lýnào đó, nhưng cũng phải đủ lớn để đại diện cho cả vùng bờ bị ô nhiễm tương tựnhau

Tính toán này cần được lặp lại đối với các vùng khác, nơi có mức độ dầuphủ khác Đánh giá lượng dầu mắc cạn theo cách này chỉ cho một con số xấp xỉ

và có những sai số không ước lượng được Đối với bờ cát, có thể tính diện tích

bị ô nhiễm tương đối dễ Trong khi đó, rác hoặc đá và khe nứt của bờ đá sẽ gâykhó khăn cho việc đánh giá lượng dầu Ngoài ra, sự có mặt của nhũ tương "nướctrong dầu" cũng dẫn đến sai số Các nhũ tương thông thường chứa từ 40% đến80% nước Trong một số trường hợp, nếu không thể sử dụng các tính toán trên

Trang 22

thì có thể mô tả mức độ ô nhiễm nhẹ, trung bình hay nặng nhờ sự so sánh cácđoạn bờ bị nhiễm dầu qua các bức ảnh chụp được

Cần thiết lưu ý rằng đây chỉ là các đánh giá sơ bộ và trong biểu mẫu báocáo dầu tràn, có thêm các thông tin chi tiết về đặc điểm vùng bờ, đặc điểm dầutràn vào bờ; điều này sẽ giúp cho việc hiệu chỉnh các kết quả đánh giá đó

Cũng cần nhắc lại rằng, việc sử dụng các mô hình toán học mô tả và dựbáo sự lan loang của vệt dầu tràn đã và đang ngày càng có trở nên thông dụng

do tính nhanh gọn, chính xác và kinh tế của nó Tuy nhiên, việc sử dụng môhình còn là vấn đề khó khăn vì đòi hỏi kiến thức chuyên ngành sâu và rộng vànhiều thông tin dữ liệu đầu vào Để các mô hình trở thành tác nghiệp, đáp ứngđược các yêu cầu thực tiễn, sự phối kết hợp giữa các chuyên gia, trong đó có cácnhà mô hình hoá, các chuyên gia tin học, các nhà sinh học, hoá học (hoá dầu),địa mạo, khí tượng hải văn là rất quan trọng

V Thu gom và xử lý dầu tràn

5.1 Thu gom dầu tràn trên biển

5.1.1 Phao quây dầu

Phao ngăn dầu dùng để ngăn

không cho dầu loang rộng và gom

dầu lại cho việc hớt hút và thấm dầu

Hướng dầu loang cần được dự báo

theo các yếu tố gió và dòng chảy mặt

Để ngăn dầu người ta thường sử dụng

nhiều loại phao: phao ngăn dầu bằng

vật liệu cứng, phao ngăn dầu bằng

màng chất dẻo được bơm hơi, phao ngăn dầu tấm có gắn vật liệu nổi ở giữa tấm,phao ngăn dầu bằng vật liệu tự tạo như rơm rạ, cỏ khô, rong biển, tre, nứa, vv

Tùy theo nơi xảy ra sự cố

tràn dầu, người ta áp dụng các biện

pháp thả phao ngăn dầu khác nhau

Nếu dầu tràn ngoài khơi xa, người

ta sẽ kéo phao ngăn dầu kết hợp với

sử dụng máy hút dầu Nếu dầu tràn

gần bờ biển, cần thả phao ngăn

chặn không cho dầu loang đến

Trang 23

những khu vực ưu tiên bảo vệ như: bãi tắm, đầm nuôi thủy sản, khu bảo tồn, bảo

vệ, vv Khi kéo phao và neo phao cần tính đến lực tác động của dòng chảy lênphao

Cần xem xét lựa chọn cẩn

thận kiểu phao ngăn dầu sao cho

đáp ứng được các yêu cầu ngăn

chặn dầu trên thực tế Lưu ý

rằng, phao có thể không bền,

không đảm bảo ngăn được dầu

khi có sóng lớn hoặc khi tốc độ

tương đối giữa phao và nước

biển lớn quá một giới hạn nào

đó (đối với loại phao thông dụng

và trong điều kiện không sóng,

tốc độ đó là 30 cm/s) Sóng làm cho việc thu gom dầu khó khăn thêm nhiều, mộtmặt nó làm cho chiều dày màng dầu trở nên không ổn định (ở đỉnh sóng dày hơn

ở chân sóng), mặt khác nó làm tăng quá trình phân tán hạt dầu vào nước biểncũng như quá trình nhũ tương hóa, làm cho các hạt dầu ( có kích cỡ khác nhau)chìm sâu xuống nước (tới 1 mét hoặc hơn), hoặc làm đứt các vệt dầu thành cácvệt nhỏ, hạn chế hiệu quả của các thiết bị thu gom

Để dồn dầu nổi ngoài khơi, các phao có thể được kéo theo hình chữ U, V,hoặc J nhờ hai tầu Thiết bị gom dầu hoặc được đặt trên một tầu hoặc được gắnnối với các phao

5.1.2 Thiết bị hớt, hút và thấm dầu

Thiết bị hớt dầu được thiết kế để thu gom dầu hoặc hỗn hợp - dầu trên mặtnước, thường được sử dụng khi dầu tích tụ thành lớp dày bị vướng lại trongphao gom hay bởi vật cản khác Sóng (kể cả sóng vừa phải) cũng làm giảm hiệuquả của các máy hớt Do đó, thiết bị hớt ít được dùng ở ngoài khơi mà thườngdùng ở vùng khuất sóng Nếu biết dạng dầu, độ nhớt và độ dày của nó, thì việc

sử dụng máy hớt là rất hiệu quả

Bơm là một bộ phận luôn gắn liền với thiết bị hớt nhằm chuyển lượng dầugom được tới thùng chứa Bên cạnh nó, có thiết bị phục vụ việc tách dầu ra khỏinước từ hỗn hợp thu được

Một số dạng máy hớt chủ yếu có thể được liệt kê dưới đây:

Trang 24

a Thiết bị hớt dùng băng tải: Hệ

thống băng tải được gắn vào mạn

tàu, một đầu ngập xuống nước,

quay khi làm việc nhờ trục guồng

trên tàu Băng tải chuyển dầu từ

mặt nước dính vào nó, lên đến

đỉnh cao nhất của hệ thống băng,

từ đó dầu được gạt vào thùng

chứa, băng tải trước khi quay

xuống được ép để tách dầu dính

vào một thùng chứa khác trong

tàu Thiết bị hớt dùng băng tải

thích hợp với dầu có độ nhớt trung bình

b Thiết bị thấm dầu dùng dây oleophilic: Các sợi oleophilic được ghép vào một

dây lau dài Dây này nổi trên mặt nước và quay liên tục nhờ một hệ thống trục.Dầu dính vào dây sẽ được trục vắt

ép vào thùng chứa Loại thiết bị

này cũng thích hợp với dầu có độ

nhớt trung bình và hiệu quả sẽ

giảm khi độ nhớt dầu tăng

c Thiết bị hớt dầu dùng đĩa: Đĩa

được quay qua mặt phân cách dầu

- nước, dầu dính vào mặt đĩa được

gạt vào bể trung gian, từ đó bơm

vào thùng chứa Thiết bi này thích hợp đối với loại dầu có độ nhớt trung bình,hiệu suất sẽ giảm đối với dầu ở dạng nhũ tương, dầu thải, và khi có sóng

d Thiết bị hút dùng đăng: Quả đăng được chế tạo có khả năng tự điều chỉnh độ

nổi để dầu chảy tràn vào một lỗ rồi từ đó được bơm vào bể chứa Thiết bị loạinày thích hợp đối với dầu chảy tự do, kém hiệu quả khi có sóng, khi dầu là dầuthải, ở dạng nhũ tương hoặc có độ nhớt cao

e Thiết bị hớt xoáy: Xoáy sinh ra nhờ một thiết bị đẩy và do lực hướng tâm, dầu

tích tụ ở khu vực trung tâm xoáy, từ đây dầu được bơm vào bể chứa Loại thiết

bị này không thích hợp đối với dầu thải, rất có hiệu quả khi dầu chảy tự do

Trang 25

g Thiết bị bơm khí: Nước, dầu và không khí được hút qua vòi bơm vào bể chứa

được thiết kế đặc biệt Tại đây, dầu, nước nặng hơn sẽ đọng lại ở đáy bể cònkhông khí được bơm ra ngoài Thiết bị này kém hiệu quả đối với dầu thải Nóthích hợp với dầu có độ nhớt thấp hoặc trung bình và có thể dùng được đối vớidầu có độ nhớt cao

5.2 Xử lý dầu ngoài biển

Dầu thu hồi ngoài biển sẽ được xử lý tùy từng trường hợp Trước tiên, dầuthu hồi được lưu giữ trên tàu cứu hộ hay các thùng, bồn, bể bằng thép, chất dẻo,sau đó được chở vào bờ Việc xử lý có thể là tái chế hoặc đổ bỏ Trong một sốtrường hợp khi dầu không thể thu gom hoặc không thu gom hết, có thể sử dụngcác kỹ thuật khác là đốt dầu hay rải chất phân hủy dầu

Đốt dầu là một phương pháp tương đối mới mẻ trong việc xử lý dầu tràn.Dầu được ngăn chặn bằng những phao quây chịu lửa và được đốt cháy trên biển.Làm như vậy, có thể loại trừ nhanh chóng số dầu đã được quây lại Tuy nhiên,việc đốt dầu đòi hỏi phải có các hoạt động quây chặn trước đó và lớp dầu trànphải có độ dày tối thiểu từ 2-3mm mới có thể cháy được Thêm vào đó, sự phứctạp của hoạt động ngăn chặn và thu hồi dầu tràn làm

cho việc đốt dầu trở nên không phổ biến

Việc sử dụng chất phân hủy có thể dẫn đến lợi

ích cũng như tác hại, nhất là đến chất lượng môi

trường Theo thời gian, chất phân hủy càng được

nghiên cứu và hoàn thiện để giảm bớt hiệu ứng có

hại, tuy nhiên, sự cân nhắc lợi hại của việc dùng chất

phân hủy luôn mang tính thời sự và cần được đề cập

đến trong mỗi trường hợp cụ thể

Túi chứa tạm thời

Trang 26

5.3 Thu dọn dầu mắc cạn trên bờ

Thông thường, việc thu dọn sạch dầu trên bờ bãi không đòi hỏi trang bị kỹthuật đặc biệt Trước hết, nên đánh giá nhanh và càng chi tiết càng tốt về mức độ

và loại đoạn bờ có dầu mắc cạn, các đoạn bờ cần được làm sạch theo thứ tự ưutiên và khả năng kinh phí (trong nhiều trường hợp, có thể cứ để thời tiết và thờigian làm sạch)

5.3.1 Thu gom và làm sạch dầu trên bờ biển

Nhiều kỹ thuật khác nhau được sử dụng cho việc làm sạch bờ, phụ thuộcvào các yếu tố sau:

• Khối lượng dầu tràn;

• Loại dầu tràn;

• Cấu tạo bờ;

• Mức độ thấm dầu;

• Phạm vi khu vực bị ảnh hưởng;

• Thiết bị sẵn có và công tác hậu cần;

• Khả năng tiếp cận và vận chuyển;

• Chi phí;

• Rủi ro tiềm tàng đối với môi

trường

Các phương pháp làm sạch có thể chia thành bốn nhóm chính sau:

• Loại bỏ dầu và vật nhiễm dầu ra khỏi môi trường bằng cơ học;

• Phun rửa (phun áp lực thấp/cao);

• Phân hủy sinh học;

• Làm sạch tự nhiên

Hoạt động làm sạch bờ cần trải qua

3 giai đoạn chính:

• Giai đoạn 1: dọn váng dầu ở mép

nước và lớp dầu bám lên bờ, nơi bị

ô nhiễm nặng bởi dầu và dầu có thể

bị trôi đi;

• Giai đoạn 2: làm sạch khu vực bị ô

nhiễm vừa phải, dọn các vật liệu bị

bám dầu trên bãi biển;

• Giai đoạn 3: làm sạch bờ biển bị ô nhiễm nhẹ và dọn sạch lần cuối

Thực ra, chỉ những đoạn bờ, bãi dùng cho du lịch, giải trí mới đòi hỏi làmsạch triệt để, tức là thực hiện cả 3 bước nói trên ở những đoạn bờ khác, có thể

Trang 27

5.3.2 Xử lý dầu và rác thải có dầu sau khi thu gom

Hầu hết các hoạt động làm

sạch dầu, đặc biệt các thao tác

trên bờ đều dẫn đến việc phải đổ

dầu và rác thải có dầu thu lượm

được Việc xem xét và lựa chọn

các phương pháp xử lý thích hợp

đối với dầu thải bỏ là rất quan

trọng đối với bất cứ kế hoạch

khẩn cấp chống dầu tràn nào Lý

tưởng nhất là dầu thu được sẽ

được xử lý bởi một nhà máy lọc

dầu hoặc tái chế dầu Tuy nhiên,

điều này không thể thực hiện được bởi vì

dầu đã trải qua quá trình dầm mưa dãi gió

và lẫn với rác Do đó việc đổ bỏ dầu này

là hết sức thông thường Tất nhiên có thể

dùng nó để cải tạo đất, làm nền đường, có

thể phá hủy nó thông qua các quá trình

sinh học hoặc đốt cháy Như vậy cách đổ

bỏ dầu thải này phụ thuộc vào lượng và

dạng của nó, vị trí nguồn dầu tràn, các

xem xét về môi trường và pháp luật liên quan, cũng như giá thành của công việc

Dầu thu được trên biển một phần ở dạng nhũ tương dầu ngậm nước, phầnkhác chưa nhũ tương hóa song có độ nhớt cao do quá trình dầm mưa dãi gió Ba

Trang 28

loại dầu thải chính có thể lượm được trên bờ đó là dầu lẫn cát, dầu lẫn gỗ, chấtdẻo, tảo biển và các mảng hắc ín cứng Mỗi loại đòi hỏi các phương pháp khácnhau trong việc xử lý và đổ bỏ chúng.

Dầu ngấm cát hoặc lẫn vào rác và đã bị cứng được rách ra nhờ các sàngthủ công hay sàng máy, sau đó đưa đi đốt Có thể tổ chức trạm đốt tạm thời ngaytrên bờ biển để tránh chi phí chuyên chở dầu thải Tuy nhiên, việc đốt dầu thảichỉ áp dụng trong trường hợp vùng xử lý ở cách ly, để tránh làm ô nhiễm môitrường không khí

Nếu dầu được đổ vào lòng đất thì cần phải lưu tâm đến việc chọn địađiểm đổ sao cho nó không làm bẩn nguồn nước ngầm, nhất là khi nguồn nướcnày sử dụng cho mục đích dân sinh và công nghiệp

Tóm lại, kỹ thuật chính để xử lý chất thải có thể chia thành các nhóm theoloại chất thải rắn hay lỏng

Đối với chất thải lỏng, các phương pháp chính là:

• Tách hỗn hợp dầu/rắn/1ỏng bằng các thiết bị đặc biệt;

• Tái chế/tái xử lý: chất bẩn được loại khỏi dầu thu hồi & tái sử dụng sảnphẩm thu hồi;

• Kỹ thuật đốt: dung dịch thải được đốt tại chỗ, sử dụng lò đốt đảm bảo yêucầu về môi trường

Đối với chất thải rắn, các phương pháp chính là:

• Tách hỗn hợp dầu/rắn/1ỏng bằng các thiết bị đặc biệt;

• Đốt tại chỗ, sử dụng các lò đốt đảm bảo yêu cầu về môi trường;

• Chôn ở các bãi thải được thiết kế đặc biệt;

• Sử dụng kỹ thuật sinh học, tăng cường quá trình phân hủy tự nhiên tại chỗhay tại các điểm xử lý;

• Rải đường

Kỹ thuật ưu việt nhất theo phương diện môi trường và kinh tế là kỹ thuậttái chế và phân hủy sinh học Tuy nhiên, khả năng áp dụng của cả hai phươngpháp này rất hạn chế, vì chỉ những loại dầu thu hồi lẫn ít nước và tạp chất (cát,

đá, mảnh vụn nhỏ) mới được chấp thuận tái xử lý và chỉ những bãi biển bịnhiễm dầu nhẹ mới được xử lý bằng phương pháp sinh học Đối với chất thảilỏng, nói chung, kỹ thuật đốt thường được chọn dựa trên quan điểm về môitrường và kinh tế, nhưng cũng chỉ thích hợp cho dầu lỏng và nhũ tương chứa íttạp chất Khi chọn lựa phương pháp xử lý, cần cân nhắc các yếu tố sau:

Trang 29

• Hiệu suất: nên chọn phương pháp mà việc xử lý, vận chuyển và chứa tốithiểu chất thải;

• Hiệu quả: tiến trình xử lý không gây thêm các vấn đề về sức khỏe và antoàn môi trường;

• Tuân thủ: phải tuân thủ quy chuẩn và qui định của nhà nước

Tóm lại, cần lưu ý các điểm sau:

• Việc đổ bỏ dầu thải và rác dính dầu là vấn đề quan trọng, luôn dòi hỏitrong quá trình làm sạch bờ khi mà lượng dầu, rác thải đủ lớn

• Mặc dù các kỹ thuật xử lý dầu thải rất đa dạng song chúng có những hạnchế nhất định Trong trường hợp tràn dầu nặng, tất cả các phương phápnêu trên đều nên xem xét đến

• Việc sử dụng các bể chứa dầu thải tạm thời là giải pháp quan trọng đốivới những vùng tràn dầu nặng

• Cần xem xét khả năng tái chế dầu trước khi hủy bỏ

• Việc áp dụng các kỹ thuật hủy bỏ dầu cần dựa trên các tính toán về giáthành, trong đó có chi phí chuyên chở

5.4 Sử dụng các chất phân hủy dầu

5.4.1 Nguyên tắc làm việc của các chất phân hủy

Chúng ta đều biết, dầu và nước không trộn được với nhau Tuy nhiên, nếucho dầu vào nước và khuấy nhiều thì dầu sẽ phân tán vào nước ở dạng các hạtnhỏ Tương tự như vậy, các mảng dầu trên mặt biển sẽ phân tán vào nước biểndưới tác động của sóng Khi năng lượng sóng nhỏ thì điều này ít xảy ra Hơnthế, các hạt nhỏ lại có thể liên kết thành những hạt lớn và tạo nên các mảng dầu

Chất phân hủy có chứa “tác nhân hoạt động trên bề mặt” Phân tử của tácnhân này có cấu trúc đặc biệt: một phần giống dầu (oleophile) phần khác giốngnước (hydrophile) Khi thả lên màng dầu nổi, chất phân hủy thâm nhập vào mặtphân cách dầu - nước, làm giảm ứng suất tại đó Điều này cho phép biến mảngdầu thành những hạt dầu nhỏ, làm giãn nở vùng phủ dầu so với ban đầu Hạt dầucàng nhỏ càng dễ lơ lửng trong nước (vì vận tốc nâng nhỏ) Các hạt rất nhỏ lơlửng trong nước và nhanh chóng tham gia vào các chuyển động của nước biển

Sự tán xạ của các phần tử dầu đó trong nước làm cản trở quá trình hình thànhnhũ tương dầu ngậm nước - hỗn hợp khó mà dọn sạch được Ở trạng thái phântán nhỏ như vậy, dầu có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với ô xy, tăng khả năng bayvào không khí và dễ bị phân hủy bởi các vi sinh vật có trong nước biển

Trong thực tế, đối với hầu hết các loại dầu đen, các hạt dầu được tạothành có đường kính trung bình là 0.2mm Còn đối với các sản phẩm dầu tinh cótrọng lượng riêng thấp thì các hạt dầu tạo thành sẽ nhỏ hơn nhiều Hầu hết các

Trang 30

chất phân hủy đều chứa dung môi thích hợp cho phép nó thâm nhập vào dầu vàtác động lên từng phần tử của nó.

Nếu dầu có độ nhớt cao, thì các chất phân hủy trở nên kém hiệu quả vìviệc thâm nhập vào các phần tử dầu của chúng bị hạn chế bởi độ nhớt Nóichung các chất phân hủy có thể phân hủy hầu hết các dầu lỏng, nhũ tương dầungậm nước có độ nhớt nhỏ hơn 2000 centistokes tương đương với dầu nhiên liệutại 10-20oC; song chúng kém hiệu quả đối với nhũ tương có độ nhớt cao hoặcdầu có nhiệt độ hoá lỏng gần hoặc cao hơn nhiệt độ xung quanh

Các chất phân hủy đôi khi lại trở nên có hiệu quả hơn đối với các loại dầunhớt ở trên bờ, bởi vì ở đó thời gian tiếp xúc lâu cho phép các hóa chất thấm vàolớp dầu

Có ba loại chất phân hủy chính hiện được dùng (được tìm ra theo thứ tựthời gian), đó là:

1) Hydrocarbon với tỉ lệ hợp chất thơm thấp - các dung môi hydrocarbonchứa từ 15-25% tác nhân bề mặt dùng với tỷ lệ chất phân hủy/dầu từ 1:1đến 1:3

2) Dạng cô đặc, hòa vào nước biển với tỉ lệ khoảng 10% Tỷ lệ sử dụng: chấtphân hủy nguyên chất/dầu khoảng 1:30

3) Dạng hỗn hợp với cồn hoặc dung môi, sử dụng trực tiếp (không pha) với

tỉ lệ chất phân hủy/dầu khoảng 1:30 Chất phân hủy loại này thường dùng

để phun bằng máy bay, tỉ lệ thực tế thường dùng khoảng 50 l/ha

5.4.2 Loại chất phân hủy có thể sử dụng và điều kiện sử dụng

Ủy ban nghiên cứu quốc gia hoa kỳ năm 1989 đã kết luận, trong một sốtrường hợp kiểm tra hiện trường theo kế hoạch đã định, được giám sát và thôngbáo cẩn thận thì một số chất phân hủy có hiệu quả trong việc phân tán phần lớnlượng dầu trên mặt nước khi áp dùng chúng hợp lý Tính hiệu quả của việc sửdụng chất phân huỷ đặc biệt trở nên nổi trội so với tính hiệu quả của các phươngpháp vật lý khi điều kiện biển khắc nghiệt Tuy nhiên, các chất phân hủy tỏ rakém hiệu quả trong hầu hết các trường hợp được quan trắc trên thực tế Các yếu

tố đánh giá tính hiệu quả của chất phân hủy rất khó xác định, song với những kếtquả kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên hiện trường, thì có một số yếu

tố quan trọng cần lưu ý, đó là:

• Độ nhớt của dầu: hiệu quả cao hơn khi độ nhớt nhỏ

• Điểm hoá lỏng của dầu: hiệu quả kém khi dầu có nhiệt độ hoá lỏng xấp xỉhoặc cao hơn nhiệt độ môi trường

Trang 31

• Tính phong hóa của dầu: trong điều kiện thời tiết biển, thành phần và độnhớt của dầu có thể thay đổi, tạo thành nhũ tương, làm giảm hiệu quả sửdụng chất phân hủy

• Công thức của chất phân hủy: tính hiệu quả phụ thuộc vào điều kiện môitrường nơi áp dụng chất phân hủy

• Lượng chất phân hủy: trong một giới hạn nào đó tỉ lệ chất phân hủy/dầucàng cao thì hiệu quả càng cao

• Độ mặn nước biển: hầu hết chất phân hủy đều được chế tạo để sử dụngtrong môi trường nước biển, tuy nhiên có một số ít - cho môi trường nướcngọt và trên mặt đất

• Nhiệt độ nước biển: nhiệt độ càng cao thì hiệu quả càng cao

• Năng lượng rối: phụ thuộc vào các yếu tố hải dương học, rất quan trọngđối với sự tán xạ của các hạt dầu thông qua tác động cả tự nhiên cũng nhưhoá học

5.4.3 Độc tính của chất phân hủy

Có nhiều thí nghiệm đã được tiến hành để kiểm tra độc tính của chất phânhủy Các thí nghiệm này có thể chỉ ra chất phân hủy độc nhiều hay ít, nhưngkhông thể nói lên được mức độ ảnh hưởng của chúng đối với môi trường khi sửdụng để phân hủy dầu tràn Các số liệu về độc tính cần được phân tích kỹ cànglưu ý đến các điều kiện khác nhau của các thí nghiệm cũng như cách đánh giámức độ nguy hại của các sinh vật đối với dầu và chất phân hủy Các kết quảkiểm tra riêng đối với chất phân hủy cho thấy các chất mới được chế tạo nóichung có độc tính thấp hơn các chất đã có trước đây Chính vì vậy các thínghiệm kiểm tra độ tính hiện nay có xu hướng tập trung vào xem xét ảnh hưởngcủa dầu bị phân hủy bởi chất phân hủy so với dầu bị phân hủy tự nhiên (do cácquá trình vật lý)

5.4.4 Phương pháp áp dụng

a Trên biển

Dùng máy bay: ngoài mục đích tuần tra, phát hiện dầu tràn như đã nói ởtrên, máy bay còn được sử dụng để rải chất phân hủy, đặc biệt đối với vùngngoài khơi Máy bay lên thẳng cũng như máy bay có cánh nhiều động cơ được

sử dụng khá hiệu quả trong việc phun các chất phân hủy Đối với hoạt động này,máy bay cần bay ở độ cao thấp với vận tốc nhỏ

Trang 32

Hệ thống phun: máy bơm điều khiển bằng gió đẩy hóa chất với lưu lượngnhất định từ một hoặc nhiều thùng chứa qua phao rây gắn ở bụng hoặc cánh máybay Hoá chất được đẩy qua các lỗ phân bố dọc theo phao tạo thành các hạt cókích thước theo ý muốn

Thiết bị phun trên máy bay

trực thăng thường giống loại dùng

cho các máy bay nhỏ, cánh cố định

Song nó có thể dễ dàng liên kết với

các thùng đựng hoá chất, máy bơm,

trống phun và tất cả được treo lơ

lửng dưới máy bay bằng những dây

neo đơn giản

Khi điều kiện không cho

phép sử dụng các thiết bị phun, các vòi bơm cứu hỏa có thể dùng để thay thế.Điều này thường xảy ra đối với các vùng hẹp và địa thế phức tạp Tuy nhiên, cầnlưu ý rằng các chất phân hủy gốc dung môi hydrocarbon không dùng được đốivới các thiết bị này

b Trên bờ

Các chất phân hủy có thể được sử dụng cho một số vùng bờ trong trườnghợp đặc biệt, nếu được phép, nhất là tại giai đoạn cuối của quá trình làm sạch.Tuy nhiên, khi mức độ ô nhiễm là trầm trọng thì trước hết phải hót sạch các đámdầu bị mắc cạn trên bờ, ví dụ bằng xẻng, thùng, xô, vòi phun, vv Bờ biển chịu

Trang 33

tác động của sóng mạnh thường tự làm sạch, vì vậy không cần đến các bước xử

lý tiếp theo

Cả hai loại chất phân hủy (gốc hydrocarbon và dung dịch cô) đều có thểđược sử dụng để làm sạch bờ Tuy nhiên loại thứ nhất sẽ hiệu quả hơn với cácloại dầu có độ nhớt cao bởi vì dung môi hydrocarbon có khả năng thấm vào dầumạnh hơn Dầu mắc cạn sẽ làm giảm hiệu quả của các chất phân hủy, do đó cầnphải làm thử nghiệm đối với một vùng kích cỡ nhỏ trước khi áp dụng cho vùnglớn Trong trường hợp ô nhiễm nặng, phải lặp lại quá trình xử lý hai lần hoặcnhiều hơn Khi sử dụng các chất phân hủy trên bờ, điều quan trọng là phải làmsạch được bờ trong vòng khoảng 30 phút để hạn chế sự thấm dầu vào đất đá ởnhững vùng bờ chịu tác động của thủy triều, việc phun các chất phân hủy cầnđược thực hiện ngay trước thời điểm triều cường

Thiết bị hợp lý nhất đối với việc làm sạch bờ phụ thuộc vào chất liệu của

bờ, kích thước miền làm sạch Đối với các vùng bờ rộng có thể sử dụng xe cơgiới, máy xúc, máy ủi và máy bay

Chất phân hủy cũng có thể dùng làm sạch các bờ đá, tường chắn hoặc cáccông trình nhân tạo Tuy nhiên, trong trường hợp này, cần thiết phải sử dụng cácvòi xả áp suất cao để tẩy rửa dầu trên các mặt đứng hoặc ở trong hốc đá

Để có được các chính sách đúng đắn trong việc sử dụng các chất phân hủycần phải xem xét vấn đề bảo vệ môi trường, sự mất cân bằng của môi trường dodầu chưa được xử lý hết gây nên Chính sách đối với việc sử dụng các chất phânhủy phải được đưa ra cho từng vùng biển riêng biệt

Trang 34

tế liên quan khác.

Ngoài sức khỏe của con người, đối tượng quan trọng mà tác động của dầutràn khó nhận thấy và đánh giá, các đối tượng bị đe dọa có thể phân thành hainhóm là các tài nguyên sinh học (thiên nhiên) và tài nguyên nhân tạo, mà cả haiđều rất phong phú và giá trị

Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội ven biển sẽ càng gia tăng rủi rotiềm tàng trước sự cố tràn dầu, và đó là những thách thức mới đòi hỏi sự chuẩn

bị trước và nghiêm túc cho công tác phòng chống và ứng cứu sự cố tràn dầu

Các cách phát hiện và xử lý dầu tràn trình bày ở trên cho phép đưa ra một

số kết luận như sau:

1) Việc phát hiện ra dầu tràn là rất quan trọng vì phát hiện càng sớm và càngchính xác, các hậu quả và thiệt hại càng giảm Công việc này đòi hỏi phảitận dụng tất cả các tàu thuyền trên biển và các lực lượng trên bờ, nhưngtrong đó phải có máy bay đặc nhiệm chịu trách nhiệm tuần tra, tốt nhất làmáy bay lên thẳng và máy bay có cánh loại nhỏ

2) Vấn đề thông tin, thông báo và liên lạc trong phát hiện và xử lý dầu tràn làrất quan trọng cần được phổ biến sâu rộng và kỹ lưỡng trong cán bộ vàcộng đồng nhân dân Điều này giúp giảm thiểu thiệt hại do dầu tràn vàtránh được những phí tổn do nhầm lẫn

3) Các đánh giá về khối lượng, loại dầu tràn thường chứa sai số đáng kể.Song, áp dụng các biện pháp thích hợp vẫn có thể đảm bảo được mức độtin cậy cần thiết

4) Các phương pháp và kỹ thuật xử lý dầu tràn rất đa dạng Tuy nhiên, nênchú trọng sự lan loang của vệt dầu ngay sau khi xảy ra sự cố, coi việcphòng ngừa, ngăn chặn là quan trọng hàng đầu Nên ưu tiên các biện phápthu gom cơ học, cả dưới biển và trên bờ Cần rất thận trọng trong việc sửdụng các chất phân hủy, dù các chất này là được phép sử dụng

5) Cấu tạo bờ biển Việt Nam rất đa dạng: đất, đá, bùn, sét, rừng ngập mặn,san hô, cửa sông, bãi triều lầy, Do đó, việc lựa chọn các phương pháp

Trang 35

thích hợp cho từng nơi, từng vùng cụ thể khi thu gom và xử lý dầu tràn làrất cần thiết Ngay cả việc áp dụng các phương pháp cơ học trong thu dọndầu tràn cũng rất đa dạng.

6) Đối với các phương pháp cơ học nói trên, trong trường hợp cần thiết cóthể tận dụng một số nguyên vật liệu rẻ tiền và sẵn có ở Việt Nam

Trang 36

Tài liệu tham khảo

1 Academic Press London - New York - San Francisco, 1976 MarinePollution

2 BC Environment, 1992 Marine oil spill shoreline protection and cleanupmanual

3 Burrard Clean Environment, 1993 Waste management guidelines formarine oil spill response in British Collombia

4 International Tanker Owners Pollution Federation Ltd Technicalinformation paper Number 1/1981 Arieal observation of oil at sea

5 PEMSEA, 1996 Methodology and technique used for real time coastalmonitoring system for oil spill Report at the Workshop on Oil SpillModelling, Pusan, 30 May - 3 June

6 US Governmental Print, 1990 Oil spill research need

7 CMESRC, 2004 Báo cáo đánh giá nhạy cảm dầu tràn vùng ven bờ QuảngNinh, Hải Phòng

8 CMESRC, 2005 Báo cáo đánh giá nhạy cảm dầu tràn vùng ven bờ từ ĐàNẵng đến Khánh Hoà

9 Công ty năng lượng foster wheeler, Thành phố Hồ Chí Minh, 9/2000 Kếhoạch ứng cứu tràn dầu Đề án nhà máy lọc dầu việt nga tại dung quất 10.Sở KH&CN Đà nẵng, 2008 Báo cáo thuyết minh về nhạy cảm tràn dầuđối với đường bờ thành phố Đà Nẵng

11.Trung tâm KSNC&TVMT Biển, 1997 Dự báo khả năng lan truyền vệtdầu ở vùng biển bắc và trung bộ Báo cáo đề tại bộ KHCN&MT

12.UBQG TKCN, 2001 Kế hoạch Quốc gia ứng phó SCTD giai đoạn 2010

2001-Bài 2 THUỶ TRIỀU ĐỎ

Trang 37

I KHÁI NIỆM VỀ THỦY TRIỀU ĐỎ

“Thủy triều đỏ” là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo biển Thủytriều đỏ là tên gọi chung cho những hiện tượng được biết đến như là những đợtbùng phát tảo biển nở hoa, xảy ra ở cửa sông, mặt biển tích tụ nhanh chóngnhững cột hoa do tảo biển sinh ra Sự “nở hoa” của tảo biển có khi làm nướcbiển có màu đỏ, có khi màu xanh, màu xám hoặc màu cám gạo…Đây là mộthiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tếbào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trườnghợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml) làm biến đổi màu củanước biển từ xanh lục đậm, đỏ cho đến vàng xám (người dân ven biển thườnggọi là nước cám, nước mùn cưa)

Nhiều năm qua, những người sống ở ven bờ biển Nam Phi hay ven bờTây Ban Nha phía Đại Tây Dương, vùng vịnh Mannar ở phía Đông Nam của Ấn

Độ, vùng vịnh Mexico hay bờ biển Mỹ thuộc Thái Bình Dương thường đượcchứng kiến một hiện tượng kì lạ: Nước biển đỏ hồng một màu như máu Đêmđêm, những ngọn sóng lớn xuất hiện, làm bừng lên trên mặt đại dương nhữngcon rắn khổng lồ, màu lửa lô xô đuổi nhau tiến vào bờ Xa xưa, những thổ dânsống ở ven bờ Bắc Mỹ, khi phát hiện ra hiện tượng này đã đoán chắc có một taihoạ đang đến với họ trong đời sống chài lưới: Cá biển chết trắng trên mặt nước,trai, ốc, sò sẽ sinh độc không thể ăn được như trước Thật là kinh hoàng! Vềsau, người ta đặt tên cho hiện tượng nhuộm “máu” của biển và đại dương là thuỷtriều đỏ (Hình 1, 2, 3)

Thuỷ triều đỏ làm cho nước biển, đại dương bị nhiễm độc nặng, giết chếtnhiều loài thuỷ sản, và làm cho cả con người cũng gặp tai hoạ khi ăn phải tôm,

cá đã bị nhiễm độc Thủy triều đỏ là thuật ngữ chỉ hiện tượng nước biến đổi màu

do sự bùng phát của tảo biển, tạo thành các lớp váng màu hồng hoặc đỏ trên bềmặt nước Mặc dù không sinh độc tố, nhưng với mật độ cao, chúng gây nên tìnhtrạng cạn kiệt nhanh ôxy hòa tan và thực vật phù du trong thủy vực

Trang 38

Hình 1 Hiện tượng thủy triều đỏ, hay còn gọi là tảo 'nở hoa' ở vùng biển

Cát Bà, Hải Phòng.

Hình 2 Thủy triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Cát Bà, Hải Phòng.

Hình 3 Một dải thủy triều đỏ vây quanh một mỏm núi đá tại vùng biển Cát Bà, Hải Phòng Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản

Trang 39

Đến nay, các nhà khoa học đã xác nhận có khoảng 300 loài vi tảo biển đãhình thành sự nở hoa làm thay đổi màu nước biển Trong đó có khoảng 1/4 loài(70 - 80 loài) gây hiện tượng nở hoa có khả năng sản sinh độc tố đang là mối đedọa đến khu hệ động vật và thực vật tự nhiên ở nước, nghề nuôi trồng thủy sản

và sức khỏe của con người

Theo các nhà klhoa học, hiện tượng Thủy triều đỏ là một trong những vấn

đề cấp bách cần được quan tâm nghiên cứu cụ thể, lâu dài như: Về quy luật phátsinh và lan truyền của hiện tượng Thủy triều đỏ; về sinh thái phát triển và sảnsinh độc tố của một số loài vi tảokể cả các loài đang hình thành có khả năng nởhoa Trên cơ sở đó, có sự cảnh báo để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thờiđánh giá đầy đủ về những thiệt hại mà Thủy triều đỏ gây ra Ở Mỹ, việc giám sáttảo biển gây hại ở vịnh Florida đã tốn cả triệu đô la mỗi năm Ở Trung Quốc,hàng năm cũng bỏ ra một số tiền không nhỏ từ ngân sách để nghiên cứu và giámsát tảo gây hại Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, hiện tượng Thủy triều

đỏ cũng đã từng xảy ra ở một số vùng biển như Bình Thuân, Hải Phòng và bướcđầu cũng đã được quan tâm nghiên cứu

Từ trung tuần tháng 7-2009, thủy triều đỏ xuất hiện trên diện rộng ở BìnhThuận Nước biển từ màu trong xanh chuyển dần sang màu thẫm đến màu đỏ,xám, nâu và cuối cùng… đen như nước cống

II NGUYÊN NHÂN XẢY RA HIỆN TƯỢNG THỦY TRIỀU ĐỎ

Nguyên nhân nào sinh ra thuỷ triều đỏ? Khoảng vài chục năm gần đây,

người ta mới xác định được bản chất của hiện tượng trên Đó là sự phát triển cựcthịnh của những loại tảo nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy được Chúngthuộc giống Gonyaulax, Gymnodinium, Peridinium thuộc ngành tảo Mắt

Tảo Mắt cũng tương tự như những động vật nguyên sinh, trong đời sốngcủa nó được đặc trưng bởi sự hình thành giai đoạn bào xác, tức là thời kì yêntĩnh, sống tiềm sinh Bào xác có rất nhiều trong cát ở đáy thềm lục địa Trongmỗi gam cát, có tới vài chục nghìn bào xác của các loài tảo khác nhau Vào mộtthời điểm nào đó, từ các bào xác, thế hệ mới của tảo xuất hiện, sẽ mở đầu chomột đợt triều đỏ Lúc này, các loài tảo sinh sản rất nhanh, tạo nên một mật độdày tới 60 – 70 triệu tế bào trong 1 lít nước và cũng nhanh chóng lan toả ra vùngnước nông ở thềm lục địa rộng hàng nghìn km2 Thuỷ triều đỏ làm cho nướcbiển biến đổi màu, từ trong xanh đến vàng nhạt, rồi vàng thẫm và cuối cùngnước trở thành màu đỏ như pha máu

Ngày đăng: 19/09/2016, 01:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hiện tượng thủy triều đỏ, hay còn gọi là tảo 'nở hoa' ở vùng biển - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 1. Hiện tượng thủy triều đỏ, hay còn gọi là tảo 'nở hoa' ở vùng biển (Trang 38)
Hình 7. Các cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hải sản đang lấy - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 7. Các cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hải sản đang lấy (Trang 45)
Hình 9. Thủy triều đỏ xuất hiện trong tháng 7/2002, tại vùng bãi triều - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 9. Thủy triều đỏ xuất hiện trong tháng 7/2002, tại vùng bãi triều (Trang 47)
Hình 11. Thủy triều đỏ đã xảy ra vào cuối tháng 3 năm 2012 tại khu vực - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 11. Thủy triều đỏ đã xảy ra vào cuối tháng 3 năm 2012 tại khu vực (Trang 49)
Hình 12. Ngao nuôi trong bãi rộng 1,5ha của gia đình ông Nguyễn Văn - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 12. Ngao nuôi trong bãi rộng 1,5ha của gia đình ông Nguyễn Văn (Trang 50)
Hình 3. Rùa tai đỏ là sinh vật ngoại lai vô cùng nguy hiểm tại Hồ - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 3. Rùa tai đỏ là sinh vật ngoại lai vô cùng nguy hiểm tại Hồ (Trang 63)
Hình 5. Chuột hải ly con 1 ngày tuổi - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 5. Chuột hải ly con 1 ngày tuổi (Trang 64)
Hình 6. Ấu trùng của bọ cánh cứng hại dừa - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 6. Ấu trùng của bọ cánh cứng hại dừa (Trang 65)
Hình 7. Ốc sên - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 7. Ốc sên (Trang 66)
Hình 8. Tôm thẻ chân trắng 2.2. 8. Hàu Thái Bình Dương - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 8. Tôm thẻ chân trắng 2.2. 8. Hàu Thái Bình Dương (Trang 67)
Hình 11. Trai vằn - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 11. Trai vằn (Trang 69)
Hình 12. Cua khe di cư 2.2.12. Sứa Lược Leidyi - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 12. Cua khe di cư 2.2.12. Sứa Lược Leidyi (Trang 69)
Hình 14. Trai Địa Trung Hải - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 14. Trai Địa Trung Hải (Trang 70)
Hình 13. Sứa Lược Leidyi 2.2.13. Trai Địa Trung Hải - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 13. Sứa Lược Leidyi 2.2.13. Trai Địa Trung Hải (Trang 70)
Hình 15. Ốc bươu vàng hại lúa - GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT, KHẮC PHỤC VÀ GIẢM THIỂU THIỆTHẠI TỪ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hình 15. Ốc bươu vàng hại lúa (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w