1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua

23 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 629,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua

Trang 1

MỤC LỤC

1 KHÁI QUÁT SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT

NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 1

1.1 CHUYỂN BIẾN VỀ SỐ LƯỢNG 1

1.2 CHUYỂN BIẾN VỀ QUY MÔ VỐN 3

2 ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ THAY ĐỔI SỐ LƯỢNG CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG 20 NĂM QUA 6

2.1 SÁP NHẬP, HỢP NHẤT NGÂN HÀNG 7

2.2 NGÂN HÀNG BỊ ĐƯA VÀO DIỆN KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT 10

2.3 NGÂN HÀNG ĐỔI TÊN 13

2.4 NGÂN HÀNG BỊ MUA LẠI VỚI GIÁ 0 ĐỒNG 14

3 TRIỂN VỌNG NGÀNH NGÂN HÀNG TRONG TƯƠNG LAI 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản 5

Bảng 2: Các vụ hợp nhất, sáp nhập NHTM giai đoạn 2011-2013 8

Bảng 3: Các vụ sáp nhập, hợp nhất các TCTD giai đoạn 2014-2015 9

Bảng 4: Ngân hàng đổi tên 14

Trang 3

Chữ cái viết tắt Cụm từ đầy đủ

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

TCTD Tổ chức tính dụng

VAMC Doanh nghiệp đặc thù, được tổ chức dưới hình thức công ty

TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

1 KHÁI QUÁT SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa Nhiệm vụ cấp bách khi ấy là cải thiện đời sống nhân dân, do đó tổ chức tín dụngđầu tiên được thành lập theo quyết định của Chính Phủ, nhằm cung cấp vốn cho nhândân tham gia sản xuất Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các tổ chức tíndụng tư nhân cũng dần hình thành và phát triển, và thường được biết đến dưới tên gọiNHTM.Sự phát triển của hệ thống NHTM đã tác động rất lớn và đóng vai trò quantrọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá và khi kinh tế hàng hoá pháttriển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngàycàng được hoàn thiện hơn để trở thành những định chế tài chính không thể thiếu Hiệnnay, những xu hướng chủ yếu trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mạinhư: phi quản lý hoá; ứng dụng công nghệ; hiện đại hoá ngân hàng; hợp nhất, sápnhập,… điều này dẫn đến sự thay đổi về mặt số lượng và qui mô của ngân hàng

1.1 CHUYỂN BIẾN VỀ SỐ LƯỢNG

Năm 1997, VN đã có 5 NHTM nhà nước, 51 NHTMCP, 4 NHLD Mặc dù giaiđoạn này có sự gia tăng mạnh về số lượng NHTM, đặc biệt là NHTM cổ phần, nhưngnhìn chung quy mô NH còn bé nhỏ nên sức cạnh tranh không cao

Năm 2001, vì quy mô NH còn nhỏ nên một số NHTMCP đã sáp nhập lại, số lượngNHTMCP giảm còn 39 NH Số lượng NH tiếp tục thay đổi theo các năm với sự thamgia ngày càng nhiều hơn các NH từ khu ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu tưnước ngoài

Tính đến cuối tháng 6-2008, trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam có 5NHTMNN, 6 NHLD, 36 NHTMCP, 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Có 53 bộ hồ

sơ xin thành lập ngân hàng, trong đó 23 bộ hồ sơ trong nước

Đến tháng 6-2011, theo số liệu NHNN cung cấp, cả nước có 5 NHTMNN, 37NHTMCP, 5 NHLD, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 48 chi nhánh nước ngoài tạiViệt Nam

Trang 5

TCTD so với thời điểm 4 năm trước thông qua các hình thức sáp nhập, hợp nhất vào tổchức tín dụng khác; được mua lại; hoặc thanh lý (có 2 chi nhánh ngân hàng nước ngoàiđang trong quá trình thanh lý).

Trong đó riêng nhóm ngân hàng có 8 cái tên đã biến mất trên thị trường gồm MDBank,MHB, DaiABank, Ficombank, TinNghiaBank, SouthernBank, WesternBank,

Habubank, và hệ thống chỉ còn 34 ngân hàng thương mại thay vì 42 như trước đây

Hình 1: Sự thay đổi số lượng hệ thống ngân hàng từ năm 1991-2013

Nhận xét: Dấu ấn của quá trình tái cơ cấu là sự hiện diện của Nhà nước trong các ngân

hàng ngày một tăng lên

Nếu như trước đây NHNN chỉ sở hữu cổ phần ở 5 ngân hàng là Agribank,Vietcombank, BIDV, Vietinbank và MHB, thì đến nay con số ấy đã tăng lên gấp đôi,bao gồm sở hữu thêm 100% vốn của 3 ngân hàng mua lại 0 đồng là VNCB,OceanBank và GP.Bank, cùng việc nhận ủy quyền vô thời hạn không hủy ngang một

số cổ phần ở 2 ngân hàng Eximbank và Sacombank

Tuy nhiên, con số hơn 30 ngân hàng thương mại là quá lớn đối với Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay, theo các chuyên gia kinh tế Việt Nam nên giảm về mặt số lượng,đồng thời nâng cao chất lượng các ngân hàng để có thể điều phối về vốn và chống lạinhững rủi ro, cú sốc nội tại của nền kinh tế

Trang 6

1.2 CHUYỂN BIẾN VỀ QUY MÔ VỐN

- Giai đoạn năm 1990 đến năm 2010

Năm 1990, vốn sở hữu nhà nước trong lĩnh vực NH từ xấp xỉ 100% đã giảm xuốngcòn 62,5% vào năm 2006 Hệ thống NH phi sở hữu nhà nước đã phát triển và sở hữukhoảng 1/3 hệ thống NH

Theo báo cáo tài chính của 25 NHTMCP, vốn điều lệ của 25 NHTMCP cũng tăngtrưởng nhanh, từ 22.000 tỷ năm 2006, 44.000 tỷ năm 2007 và tăng 72.000 tỷ năm2008

Theo nghị định 141/2006/NĐ-CP, hết năm 2008, các NHTMCP phải đạt mức vốn điều

lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng

và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượtmứcvà có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009,muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 14

- Giai đoạn năm 2010 đến nay

Tính đến tháng 3/2010, trong số 39 NHTMCP, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có21/39 NHTMCP dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên3.000 tỷ đồng

Nghị định 10/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 141/2006/NĐ-CP, quy định mức vốnđiều lệ cho các NHTM tại Việt Nam đến hết ngày 31/12/2011 là 3000 tỷ đồng Đếntháng 2 năm 2011, vốn điều lệ của các ngân hàng đã dần thấy có biến chuyển tăng trênhoặc ở mức 3000 tỷ đồng Đứng đầu là Agribank với 20.708 tỷ đồng, Vietcombank với19.698 tỷ đồng , VietinBank là 18.712 tỷ đồng và Eximbank 12.355 tỷ đồng, ACB11.252 tỷ đồng,

Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến đầu tháng 7/2014, tổng vốn điều lệ của các tổ chứctín dụng đạt hơn 428,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,21% so với cuối 2013 Trong đó nhómcác NHTMNN có vốn điều lệ 130.634 tỷ đồng, NHTMCP là 190.314 tỷ đồng, tổngcộng chiếm 75% vốn của toàn hệ thống

Số liệu của các ngân hàng cập nhật cùng thời điểm thì cho thấy Vietinbank hiện làngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ với hơn 37.200 tỷ đồng, cao hơn trên dướichục nghìn tỷ so với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV vàVietcombank

Trang 7

Trong số 37 ngân hàng vẫn có 12 ngân hàng vốn điều lệ dưới 4.000 tỷ, trong đó có 6ngân hàng vốn tròn 3.000 tỷ - tối thiểu theo quy định của NHNN – đó là BaoVietBank,KienLongBank, NamABank, PGBank, VietcapitalBank và VietBank.

Trong năm nay, nhiều ngân hàng đã lên kế hoạch tăng vốn như BaoVietBank có kếhoạch tăng vốn lên 5.200 tỷ; VPBank muốn tăng tiếp lên 7.325 tỷ; NamABank vàSaiGonBank muốn tăng vốn lên 4.000 tỷ đồng; DongABank kế hoạch tăng lên 6.000tỷ; LienVietPostBank muốn lên 6.647 tỷ đồng.Nhóm các ngân hàng lớn hơn cũng có

kế hoạch tăng vốn như MB lên 15.500 tỷ; Sacombank lên gần 13.500 tỷ; SCB lên gần14.300 tỷ…

THỐNG KÊ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN

(đến 31/01/2016, tốc độ tăng trưởng so với thời điểm cuối năm trước liền kề)

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài

Số tuyệt đối

Tốc độ tăng

Số tuyệt

Tốc độ tăng

Số tuyệt

Tốc độ tăng

Hình 2: Vốn điều lệ của cácNH cập nhật cuối quý II 2015.(ĐVT: nghìn tỷ đồng.)

Trang 8

trưởng đối trưởng đối trưởng

tối thiểu

Trang 9

Toàn hệ

thống

7,287,01 3

Thứ nhất, tốc độ phát triển hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính của Việt Nam là

tương đối nhanh, qua đó cải thiện đáng kể của độ sâu tài chính.Tuy nhiên, sự tăngtrưởng về số lượng không tương đồng với chất lượng tăng trưởng

Thứ hai, số lượng ngân hàng lớn, nhưng quy mô của hầu hết các NHTM Việt Nam là

nhỏ hơn so với các ngân hàng có quy mô trung bình của khu vực

Thứ ba, mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thấp so với hệ thống

ngân hàng trong khu vực, xét trên 2 chỉ số: tỷ lệ an toàn vốn thấp, tỷ lệ nợ xấu cònnhiều vấn đề đáng lo ngại

Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên

đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngânhàng quy mô nhỏ

Điều quan trọng không phải ở số lượng mà là chất lượng hoạt động của các tổ chức tíndụng Trong điều kiện thị trường tài chính có các yếu tố bất lợi, việc giám sát rủi rocủa cơ quan quản lý còn thiếu và yếu, tình hình quản trị của các tổ chức tín dụng cònhạn chế, bất cập, thì việc tạm dừng thành lập ngân hàng mới để củng cố hệ thống tổchức tín dụng hiện có là cần thiết Chính vì vậy mà ngân hàng Nhà nước đã ra thôngbáo tạm dừng thành lập các NHTMCP mới nhằm nghiên cứu các tiêu chí thành lậpNHTMCP, trong đó ngoài điều kiện vốn, còn cần đến các điều kiện khác như năng lựcquản lý, năng lực quản trị doanh nghiệp, công nghệ thông tin và nhân lực

2 ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ THAY ĐỔI SỐ LƯỢNG CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG 20 NĂM QUA

Ngày nay toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới,

do đó mỗi biến động của nền kinh tế thế giới đều có thể ảnh hưởng đến nền kinh

tế của mỗi quốc gia Hoạt động kinh doanh ngân hàng là huyết mạch của toàn bộ nền

Trang 10

kinh tế cũng không nằm ngoài xu hướng biến động chung đó Không đứng ngoài xuhướng đó, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã và đang không ngừng thay đổi và hoànthiện mình cả về chức năng cũng như hình thức Sự chuyển biến ấy mạnh mẽ đến mứcđược xem là một cuộc “Cách mạng Ngân hàng”

2.1 SÁP NHẬP, HỢP NHẤT NGÂN HÀNG

a/ Tổng quan về sáp nhập, hợp nhất ngân hàng

Ngày 1/3/2012 Thủ tướng chính phủ ban hành đề án cơ cấu lại tổ chức tín dụng giaiđoạn 2011-2015 kèm theo quyết định số 254/QG-TTg.Theo đề án tái cơ cấu của chìnhphủ, các TCTD mất thanh khoản tạm thời phải xây dựng phục hồi phương án khảnăng chi trả, bao gồm “tích cực huy động vốn để trả nợ NHNN và tăng khả năng chitrả” Các TCTD này đượcNHNN khuyến khích sáp nhập, hợp nhất với nhau và sápnhập, hợp nhất với TCTD lành mạnh

Chỉ sau khi ban hành Đề án cơ cấu lại các TCTD, NHNN mới công khai 9 NHTMCPyếu kémphải tái cơ cấu trong “Đợt 1” Theo NHNN, đây là những NH mất thanhkhoản và có rủi ro mất khả năng chi trả: SCB , NH Tín Nghĩa , NH Đệ Nhất ,Habubank, NH Tiên Phong, Navibank , Westernbank , NH Đại Tín, GP.Bank

Thực hiện đề án trong 2 giai đoạn, trên bản đồ hệ thống NHTMVN có nhiều thay đổi

rõ rệt:

- Trong giai đoạn 2012 - 2013, 8 ngân hàng yếu kém, gồm SCB, Đệ Nhất, Tín NghĩaHabubank, Tienphongbank, Navibank, TrustBank và Western Bank đã từng bướcthực hiện phương án cơ cấu lại thông qua các giải pháp sáp nhập, hợp nhất hoặc tựtái cơ cấu bằng chính nguồn lực của ngân hàng, của cổ đông hiện hữu, trong đó tậptrung vào việc củng cố hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị điềuhành

NHTM CP Đệ Nhất

NHTM CP Tín Nghĩa

NHTM CP Sài Gòn

Hợp nhất thành NHTM

CP Sài Gòn

2011 Sử dụng nguồn vốn ngắn hạn

cho vay trung dài hạn (chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản)

Trang 11

NHTM CP Liên Việt

Công ty tiết kiệm bưu điện

Sáp nhập thành NHTM

CP Bưu điện liên việt

2011 Công ty Tiết kiệm Bưu điện

đang gánh khoản lỗ khoảng

145 tỷ đồng do huy động với lãi suất cao nhưng đi gửi lấy lãithấp

Shinhan Việt Nam

Shinhan Vina

Shinhan Việt Nam

2012 Ngân hàng Habubank có nợ

xấu cao 32% do cho khách hàng Vinashin vay khoảng 3.700 tỷ đồng không có khả năng trả nợ

NHTM CP Phương Tây

Tổng công ty CP tài chính

dầu khí

NHTMCP Đại chúng

2013 Western Bank có một tỷ lệ rất

lớn tín dụng của nhà băng dànhcho các doanh nghiệp sân sau,

cổ đông nội bộ dẫn đến nhiều rủi ro cho Ngân hàng

Bên cạnh đó, giúp PVN từng bước thực hiện lộ trình thoái vốn tại PVFC

NHTMCP phát triển nhà

TP Hồ Chí Minh

NHTMCP Đại Á

NHTMCP phát triển nhà

TP Hồ Chí Minh

2013 Tinh thần tự nguyện của hai

bên nhằm tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành

Bảng 2: Các vụ hợp nhất, sáp nhập NHTM giai đoạn 2011-2013

- Trong 2 năm 2013 - 2014, cả nước đã giảm 5 TCTD thông qua mua bán và sápnhập (M&A), giải thể, rút giấy phép 3 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cổ phầnhóa các NHTMNN (trừ NHNN&PTNT) và mở đầu cho làn sóng M&A các NHTMtrong năm 2015 Trong năm 2015, tiếp tục có thêm những thương vụ hợp nhất điển

Trang 12

hình là sáp nhập giữa BIDV - MHB, MSB - MDB, VietinBank - PGBank.

NHPT Nhà Đồng bằng

sông Cửu Long – MHB

Sáp nhập vào BIDV

2015

Tinh thần tự nguyện của hai bên nhằm tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành

NHTMCP Phương Nam Sáp nhập

vào Sacombank

NHTMCP Xăng dầu – PG

Bank

Sáp nhập vào Vietinbank

Việc sáp nhập, hợp nhất các NHTM đã đem lại hiệu quả rõ rệt

- Việc giảm số lượng các ngân hàng thương mại giúp cho Ngân hàng nhà nước dễdàng hơn trong công tác quản lý, thực thi các quy định và giám sát hệ thống các tổchức tín dụng một cách tốt nhất Những sự việc không hay vừa qua tại một số ngânhàng thương mại là do sự quản lý thiếu chặt chẽ của Ngân hàng nhà nước

Trang 13

- Thông qua sáp nhập các ngân hàng sẽ loại bỏ được những ngân hàng yếu kém, quy

mô nhỏ, thiếu vốn Việc giảm các ngân hàng yếu kém này là tránh những nguy cơrủi ro cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

- Việc sáp nhập sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại lớn mở rộng hơn mạng lướicác chi nhánh của mình, mở rộng thị phần và đặc biệt những ngân hàng này sẽ sẵnsàng cung ứng vốn cho nền kinh tế nhiều hơn

- Tiếp nữa, sau khi sáp nhập thì ngân hàng lớn sẽ xử lý được nợ xấu tốt hơn rất nhiều

vì ngân hàng lớn có tiềm lực về tài chính, trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn vàđảm bảo các chỉ tiêu về an toàn vốn

Ví dụ: ngân hàng SCB hợp nhất có vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng, tổng tài sản là

150.000 tỉ đồng, và có hơn 200 chi nhánh, phòng giao dịch Sau 1 năm tái cơ cấu,SCB đã tăng vốn điều lệ, củng cố giá trị tài sản đảm bảo, đẩy mạnh xử lý nợ và huyđộng vốn từ nền kinh tế của SCB tăng 35,9% trong năm 2012 và tăng 7% trong 2tháng đầu năm 2013

Hạn chế:hoạt động sáp nhập này vẫn còn có những hạn chế nhất định:

- Quyền lợi của các cổ đông thiểu số bị ảnh hưởng

Trong quá trình thâu tóm và sáp nhập ngân hàng làm cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số bị ảnh hưởng rất lớn Các quyền lợi và ý kiến của cổ đông thiểu số cóthể bị bỏ qua trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để thông qua việc sáp nhập bởi

vì số phiếu của họ không đủ để phủ quyết Nghị quyết đại hội đồng cổ đông

- Xung đột mâu thuẫn của các cổ đông lớn

Sau khi sáp nhập, ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hoạt động với số vốn cổ phần lớn hơn, những cổ đông lớn của ngân hàng bị thâu tóm có thể sẽ mất quyền kiểm soát ngân hàng như trước đây do tỷ lệ quyền biểu quyết trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đã giảm nhỏ hơn trước Vậy nên, trong các tập đoàn tài chính lớn, cuộc chiến giữa các cổ đông lớn không khi nào chấm dứt

- Văn hóa doanh nghiệp bị pha trộn

Mỗi doanh nghiệp có nét văn hóa ứng xử riêng biệt như: sự trung thành của nhânviên, môi trường làm việc, cách đối xử của nhân viên với lãnh đạo, với nhân viên,các hành vi ứng xử của nhân viên với khách hàng, lòng tin của đội ngũ nhân viênđối với cấp quản lý và ngược lại Sau khi sáp nhập, sẽ khó khăn trong việc tìm

Trang 14

được phương pháp kết hợp hài hòa một cách tối ưu nhất thì sẽ mất rất nhiều thờigian việc trộn lẫn các văn hóa doanh nghiệp mới có thể thành một thực thể thốngnhất và vững chắc văn hóa doanh nghiệp

- Xu hướng chuyển dịch nguồn nhân sự

Hoạt động sáp nhập ngân hàng sẽ tất yếu dẫn đến việc tái cấu trúc bộ máy hoạt động làm cho một số nhân viên bị mất việc, một số vị trí quản lý sẽ bị thay đổi từ

đó sẽ gây ra tâm lý ức chế, không hài lòng về môi trường mới của một số cán bộ quản lý bị sắp xếp Vì vậy sẽ gây ra thiệt hại cho ngân hàng sau sáp nhập khi có số lượng đáng kể nhân sự nòng cốt ở đây ra đi

2.2 NGÂN HÀNG BỊ ĐƯA VÀO DIỆN KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT

a/Khi nào một ngân hàng rơi vào diện 'kiểm soát đặc biệt'?

Việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được quy định tại Thông tư07/2013/TT-NHNN và trước đó là Thông tư 08/2010/TT-NHNN Theo đó, kiểm soátđặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàngNhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán hoặc vi phạmnghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an toàn hoạt động

Cũng theo thông tư này, một ngân hàng có thể bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệtdưới hình thức giám sát đặc biệt (giám sát hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng)hoặc kiểm soát toàn diện (kiểm soát trực tiếp, toàn diện hoạt động hàng ngày của tổchức tín dụng)

Theo khoản 1 Điều 152 của Luật Các tổ chức tín dụng, ngân hàng được Ngân hàngNhà nước quyết định chấm dứt kiểm soát đặc biệt khi: ngân hàng trở lại hoạt độngbình thường; ngân hàng được sáp nhập, hợp nhất vào một tổ chức tín dụng khác hoặcngân hàng rơi vào tình trạng phá sản

b/Hệ quả sau kiểm soát đặc biệt: ngân hàng “hồi sinh” hoặc “biến mất”

Khi một ngân hàng bị NHNN kiểm soát đặc biệt, thì về bản chất cũng giống với việcmột doanh nghiệp đã bị tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản Kiểm soát đặc biệt chính

là một hành động “ân huệ” của NHNN đối với ngân hàng thương mại, tương tự nhưthủ tục mà chủ nợ quyết định “ân huệ” cho doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh

Ngày đăng: 18/09/2016, 23:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sự thay đổi số lượng hệ thống ngân hàng từ năm 1991-2013 - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Hình 1 Sự thay đổi số lượng hệ thống ngân hàng từ năm 1991-2013 (Trang 5)
Hình 2: Vốn điều lệ của cácNH cập nhật cuối quý II 2015.(ĐVT: nghìn tỷ đồng.) - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Hình 2 Vốn điều lệ của cácNH cập nhật cuối quý II 2015.(ĐVT: nghìn tỷ đồng.) (Trang 7)
Bảng 1: Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Bảng 1 Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản (Trang 9)
Bảng 2: Các vụ hợp nhất, sáp nhập NHTM giai đoạn 2011-2013 - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Bảng 2 Các vụ hợp nhất, sáp nhập NHTM giai đoạn 2011-2013 (Trang 11)
Bảng 3: Các vụ sáp nhập, hợp nhất các TCTD giai đoạn 2014-2015 - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Bảng 3 Các vụ sáp nhập, hợp nhất các TCTD giai đoạn 2014-2015 (Trang 12)
Bảng 4: Ngân hàng đổi tên - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Bảng 4 Ngân hàng đổi tên (Trang 18)
Hình 3: Tình hình các ngân hàng trước khi bị mua lại - Khảo sát và đánh giá số lượng ngân hàng thương mại việt nam trong 20 năm qua
Hình 3 Tình hình các ngân hàng trước khi bị mua lại (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w