PHẠM ĐỨC HUY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DO
Trang 1PHẠM ĐỨC HUY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGUYỄN VĂN THANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình” là
kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các trang web
Tôi xin cam đoan các giải pháp nêu trên được rút ra từ các cơ sở lý luận
và quá trình nghiên cứu
Hà Nội,ngày 20 tháng 3 năm 2013 Phạm Đức Huy
Học viên cao học
Lớp QTKD khóa 2010 – 2012 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ 5
1.1.1 Khái niệm về CNTT [1] 5
1.1.2 Khái niệm CNTT Y tế Bệnh viện[3] 5
1.1.3 Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin đối với Y tế Bệnh viện 8
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN 14
1.2.1 Các ứng dụng của công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn của bệnh viện 14
1.2.2 Những lợi ích của công nghệ thông tin trông hoạt động Y tế của Bệnh viện 17
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ BỆNH VIỆN 20
1.3.1 Về thực trạng 20
1.3.2 Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế Bệnh viện 23
1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 25
1.4.1 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh: 25
1.4.2 Đánh giá kết quả ứng dụng CNTT thông qua chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 26
1.5 Tóm tắt chương I và nhiệm vụ chương II 27
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG Y TẾVÀ ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH 28
2.1 GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH 28
Trang 42.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 28 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 31
2.2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NHU CẦU CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
HOẠT ĐỘNG Y TẾ VÀ NHU CẦU HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH 32 2.2.1 Quy trình khám chữa bệnh tại bệnh viện 32 2.2.2 Đánh giá chung về chất lượng khám chữa bệnh 34
2.3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU VÀ XÂY
DỰNG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH TỪ NĂM 2009 – 2012 37 2.3.1 Nhu cầu khám chữa bệnh: 37 2.3.2 Nhiệm vụ đặt ra đối với bệnh viện: 42 2.4 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TỪ NĂM 2009 – 2012 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH 45 2.4.1 Cơ sở vật chất về công nghệ thông tin 45 2.4.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình….47
2.4.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2009 – 2012 512.5 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỌNG Y TẾ TỪ NĂM 2009 – 2012 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH 52 2.6 Tóm tắt Chương 2 và nhiệm vụ Chương 3 54 CHƯ ƠNG 3 : GIẢI P HÁP Ứ NG DỤNG CÔNG NG HỆ THÔNG TIN TRONG HO ẠT ĐỘNG Y TẾ T ẠI BỆNH VI ỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2 012 – 20 15 VÀ GIAI ĐOAN TI ẾP THEO 55
Trang 53.1 XU HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI, CÁC NƯỚC ASEAN, TRONG NƯỚC TẠI
BỆNH VIỆN 55
3.1.1 Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt Y tế trên thế giới và các nước ASEAN 55
3.1.2 Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động y tế tại các Bệnh viện trong nước 60
3.2 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 62
3.2.1 Mô hình ứng dụng CNTT của Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội 62
3.2.2 Định hướng ứng dụng công nghệ thông tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới 65
3.3 CÁC GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH ĐẾN NĂM 2015 VÀ GIAI ĐOẠN TIẾP THEO 66
3.3.1 Giải pháp 1: Nghiên cứu định hướng ứng dụng công nghệ thông tin ở các bệnh viện tiên tiến, khu vực phía Bắc và xây dựng điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 66
3.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ năm 2013 – 2015 và giai đoạn tiếp theo 77
3.3.3 Giải pháp 3: Dịch vụ hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 87
3.5 Tóm tắt nội dung và lợi ích các giải pháp đề xuất ở chương 3 93
KẾT LUẬN 96
KHUYẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 2.3: Tổng thu từ dịch vụ KCB của Bệnh viện đa khoa
Bảng 2.4: Chỉ số giường bệnh giữa Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội
Bảng 2.5: Cơ cấu BN khám và điều trị tại bệnh viện 39
Bảng 2.6: Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin của các
khoa, phòng trong bệnh viện năm 2009 – 2012 43
Bảng 2.7: Tình hình đầu tư hạ tầng CNTT trong Bệnh viện giai
Bảng 3.1: Quy trình công việc theo các nội dung 71 Bảng 3.2: Tóm tắt dự kiến kinh phí thực hiện giải pháp 71 Bảng 3.3: Qui trình công việc theo các nội dung 78 Bảng 3.4: Tóm tắt dự kiến kinh phí thực hiện giải pháp 79 Bảng 3.5: Qui trình công việc theo các nội dung 85 Bảng 3.6: Tóm tắt dự kiến kinh phí thực hiện giải pháp 86
Trang 8Danh mục hình
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các hệ thống CNTT Y tế tại Bệnh viện
hoạt động dựa trên chuẩn hình ảnh DICOM và chuẩn trao
Hình 1.2: Quy trình tạo ra Profile tích hợp trong IHE 7 Hình 3.1: Máy ảnh kỹ thuật số quét hình ảnh khuôn mặt lên máy
Hình 3.2: Cầu truyền hình 4 điểm ca ghép gan trên người đầu tiên tại
Việt Nam do Ban CNTT - HVQY ứng dụng công nghệ
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ thực hiện các nội dung giải pháp 69
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ thực hiện các nội dung giải pháp 77
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ thực hiện các nội dung giải pháp 84
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Bước vào Thế kỷ XXI, kinh tế tri thức với sản phẩm mũi nhọn là công nghệ thông tin đang thể hiện vai trò và sức mạnh vượt trội chi phối các hoạt động của con người Đặc biệt, CNTT là phương tiện trợ giúp đắc lực và có hiệu quả cao trong công tác quản lý nền hành chính nói chung và quản lý ngành y tế nói riêng
Trong những năm qua, lĩnh vực công nghệ thông tin đã và đang tạo ra những thay đổi mới mẻ, không chỉ thúc đẩy cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, hoạt động của đơn vị y tế mà còn hỗ trợ hiệu quả công tác ứng dụng thành công kỹ thuật cao trong các hoạt động khám chữa bệnh như: chụp cắt lớp, mổ nội soi, khám chữa bệnh từ xa, đào tạo E-Learning, y tế điện tử, bệnh viện không giấy tờ Đặc biệt trong quá trình triển khai dự án bệnh viện vệ tinh
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là khám chữa bệnh không còn là vấn đề mới tại Việt Nam nhưng tính hiệu quả của mô hình này vẫn mang tính chất đơn lẻ ở từng đơn vị khám chữa bệnh, đào tạo (chủ yếu là những cơ sở y tế tuyến trung ương); do đó rất cần năng lực cung cấp dịch vụ hiện đại, đồng bộ và chuyên nghiệp của các nhà cung cấp dịch vụ
Trong những năm qua, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình đã ứng dụng CNTT vào công tác khám chữa bệnh và quản lý bệnh viện.Tuy nhiên, thực tế cho thấy ứng dụng CNTT mới chỉ được ứng dụng ở một số công tác như quản
lý hồ sơ bệnh án, quản lý thanh toán viện phí, BHYT, nhưng các hệ thống còn riêng lẻ, chưa kết nối thành hệ thống tổng thể và còn đem đến nhiều bất cập
Trang 10trong công tác quản lý Bệnh viện, đặc biệt là chưa đáp ứng được công tác quản lý, điều hành Bệnh viện trong giai đoạn mới cần một mô hình ứng dụng CNTT tổng thể đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn
Ý thức sâu sắc được những vẫn đề nêu trên, chúng tôi thấy cần phải đầu
tư nghiên cứu đưa ra những giải pháp định hướng phát triển dựa trên cơ sở lý luận thực tiễn để góp phần vào công tác phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Hòa Bình”
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích thực trạng và điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động Y
tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, nhằm xác định được những thuận lợi
và khó khăn khi xây dựng mô hình và đề ra hướng giải quyết
- Trên cơ sở phân tích thực trạng đó đề xuất các giải pháp xây dựng mô hình ứng dụng CNTT, góp phần thúc đẩy ứng dụng CNTT trong hoạt động y
tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
b Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình Số liệu thống kê của Bệnh viện tiếp cận các năm 2009 – 2012, số liệu mục tiêu dựa trên bản phương hướng nhiệm vụ của Bệnh viện giai đoạn 2009 – 2012 Dựa vào đó, luận văn tập trung nghiên cứu các giải pháp có phạm vi ứng dụng hiệu quả nhất vào giai đoạn 2013 – 2015
Do thời gian hạn chế, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu để xây dựng các giải pháp ở dạng dự án tiền khả thi
Trang 113 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Để tìm và xây dựng được những giải pháp thiết thực cho ứng dụng công nghệ thông tin tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ tập trung vào 2 đối tương sau:
- Các mô hình bệnh viện ứng dụng CNTT thành công và thực trạng ứng dụng CNTT của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
- Các vấn đề liên quan đến lập dự án đầu tư
b Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài, đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích, so sánh, khảo sát thực tế, tổng hợp….cụ thể:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, khảo sát thực tế được sử dụng trong việc hệ thống hóa các cơ sở lý luận ở Chương 1 và thu thập số liệu của luận văn tại Chương 2
- Phương pháp phân tích, so sánh xử lý các số liệu của đề tài để rút ra kết luận, đánh giá ở Chương 2, Chương 3
4 Những đóng góp của đề tài và giải pháp đề xuất
- Chương 1: Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản của lý thuyết về ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế, các nội dung về mô hình ứng dụng CNTT trong hoạt động y tế góp phần thúc đẩy quá trình phát triển ứng dụng CNTT
- Chương 2: Trình bày về thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ đó nhận thấy được những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Trang 12- Chương 3: Trên cơ sở các nội dung phân tích ở Chương 2, luận văn đề xuất các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình đến năm 2015 và giai đoạn tiếp theo cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Nghiên cứu định hướng ứng dụng công nghệ thông tin ở các Bệnh
viện tiên tiến, khu vực phía Bắc và xây dựng điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ năm 2011 –
2015 và giai đoạn tiếp theo
Giải pháp 3: Dịch vụ hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, tóm tắt luận văn, luận văn được chia làm ba chương nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động Y tế và điều kiện ứng
dụng công nghệ thông tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình
Chương 3: Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2013 – 2015 và giai đoạn tiếp theo
Phối cảnh góc công trình Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Trang 131.1.2 Khái niệm CNTT Y tế Bệnh viện[3]
Trong những năm qua, ứng dụng CNTT trong y tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các hệ thống thông tin y tế HIS, RIS và PACS được triển khai ứng dụng rộng rãi và hiệu quả, xây dựng dựa trên tiêu chuẩn DICOM và HL7 nhằm hướng tới thống nhất về trao đổi và xử lý thông tin dữ liệu giữa các cơ sở y tế phục vụ công tác quản lý, chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe Sau đây là một số khái niệm về hệ thống, tiêu chuẩn CNTT y tế ứng dụng phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay
Trang 14HIS (Hospital Information System): Hệ thống thông tin bệnh viện là hệ
thông tin quản lý, điều hành công việc tại Bệnh viện; với các chức năng chính: quản lý bệnh nhân, bệnh án, dược, tài chính, trang thiết bị vật tư y
tế, nhân sự Ngày nay, HIS là công cụ tối ưu hóa hệ thống trong quản lý điều hành; phục vụ nghiên cứu - đào tạo; thống kê, dự báo, dự phòng tại Bệnh viện
EPR (Electronic Patient Record): Bệnh án điện tử là hệ thống phần mềm
dùng thay thế cho Bệnh án giấy trong quản lý thông tin bệnh nhân, kết quả chẩn đoán, xét nghiệm, liệu trình điều trị Với nhiều ưu điểm trong tìm kiếm, tra cứu, tổng hợp số liệu phục vụ điều trị và hỗ trợ nghiên cứu
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các hệ thống CNTT Y tế tại Bệnh viện hoạt động dựa trên chuẩn hình ảnh DICOM và chuẩn trao đổi dữ liệu HL7
RIS (Radiology Information System): Hệ thống thông tin chẩn đoán hình
ảnh có nhiệm vụ quản lý bệnh nhân tại Khoa chẩn đoán hình ảnh RIS được tổ chức gần giống HIS nhưng ở qui mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý danh sách bệnh nhân, phòng khám, số liệu kết quả chụp chiếu và chẩn đoán, thao tác với bệnh án, lưu trữ hình ảnh Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM (từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng từ…)
Trang 15PACS (Picture Archiving and Communication System): Hệ thống thông
tin lưu trữ và truyền hình ảnh, có nhiệm vụ: quản lý, lưu trữ và truyền hình ảnh từ những thiết bị như: siêu âm, X-quang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hạt nhân với định dạng ảnh phổ biến nhất hiện nay là DICOM PACS khác RIS là chỉ quan tâm đến quản lý lưu trữ và truyền hình ảnh mà không quan tâm đến các
dữ liệu dạng Text như: số lần chụp chiếu, bệnh án, liệu trình điều trị
DICOM (Digital Imaging and Communication in Medicine): Tiêu chuẩn
ảnh và truyền thông trong y tế, được phát triển từ năm 1988 dựa trên chuẩn ACR-NEMA; là qui chuẩn về định dạng và trao đổi ảnh y tế cùng các thông tin liên quan, từ đó tạo ra một phương thức chung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất cũng như người sử dụng trong kết nối, lưu trữ, trao đổi,
in ấn ảnh y tế Hiểu một cách đơn giản, tập tin ảnh DICOM ngoài dữ liệu hình ảnh giống như các tiêu chuẩn JPG, BMP, GIF còn chứa thêm một số thông tin dạng Text như: tên bệnh nhân, loại thiết bị chụp chiếu tạo ra hình ảnh…
HL7 (Health Level Seven): Tên gọi HL7 bắt nguồn từ mô hình mạng truyền
thông OSI 7 lớp trong đó lớp 7 là lớp ứng dụng (Application Level) HL7
là chuẩn dùng cho trao đổi dữ liệu dạng Text; chia sẻ, kết hợp, truy xuất các thông tin y tế điện tử giữa các bệnh viện cũng như các cơ sở y tế Ra đời từ năm 1987, trải qua nhiều phiên bản, cho đến nay HL7 ngày càng được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi
Hình 1.2: Quy trình tạo ra Profile tích hợp trong IHE
Trang 16IHE (Intergrating Healthcare Enterprise): được phát triển từ năm 1998, là
giải pháp tích hợp các hệ thống, tiêu chuẩn giữa các tổ chức y tế bằng cách đưa ra các quy trình thực hiện (Process) và cách thức giao dịch (Transaction) IHE sử dụng các tiêu chuẩn DICOM và HL7, đưa ra các “Profile” tích hợp (Intergration Profile), hướng dẫn các thông tin hoặc quy trình làm việc dựa trên các tiêu chuẩn có sẵn như DICOM hoặc HL7 Tóm lại, IHE sẽ giúp loại bỏ sự không thống nhất, giảm chi phí, tạo ra khả năng tương thích ở mức độ cao nhất
1.1.3 Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin đối với Y tế Bệnh viện [2]
Thế giới luôn luôn phát triển không ngừng, luôn hướng tới những cái mới, ngày càng tạo ra nhiều tri thức mới để phục vụ cho cuộc sống con người Tri thức Khoa học Công nghệ là một tri thức khoa học mà sản phẩm của nó
là các thành tựu khoa học vô cùng quý giá
Việc tạo ra các tri thức Khoa học, công nghệ như là một bước đột phá của sự phát triển trong xã hội loài người, nó thể hiện những gì tinh túy nhất của tri thức con người Giờ đây khoa học công nghệ (KHCN) đã không thể thiếu trong cuộc sống con người, nó đã đi sâu vào mọi mặt mọi lĩnh vực của cuộc sống trong xã hội Nhờ có nó mà cuộc sống con người đã hoàn toàn thay đổi
Từ việc con người phải dùng tay tính toán các phép tính đơn giản thì ngày nay có phát minh của máy vi tính mà việc tính toán hàng tỷ phép tính chỉ trong vài giây đã trở nên hết sức đơn giản phục vụ cho các nghiên cứu và
dự đoán Từ việc liên lạc với nhau bằng những bức thư viết tay thì giờ đây nhờ có hệ thống Internet toàn cầu thì con người có thể trực tiếp nói chuyện với nhau ở bất cứ nơi đâu trên trái đất
Trong các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện…thì việc quản lý đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nhờ các phần mềm quản lý do con người tạo ra
Trang 17Cũng như trong y học thì việc khám và chữa bệnh nhờ các kĩ thuật hiện đại
đã thực sự không thể thiếu, nhờ có nó mà một số căn bệnh trươc đây y học phải bó tay mà giờ đây đã trở nên hết sức dễ dàng…
Ta có thể thấy vai trò không thể thiếu của các tri thức khoa học công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội hiện đại Với sự phát triển của các lĩnh vực đó thì nó càng thể hiện rõ được vai trò của nó Tri thức khoa học, công nghệ luôn khẳng định được vai trò chủ đạo của nó với sự phát triển
đi lên của các lĩnh vực trong xã hội hiện đại ngày nay Việc ứng dụng các thành tựu của khoa học vào mục tiêu phát triển là một điều tất yếu không thể thiếu vì những gì mà KHCN đem lại là hết sức to lớn, góp phần cho sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả
Cụ thể ta có thể thấy được hiệu quả của việc áp dụng Công nghệ thông tin (CNTT) vào lĩnh vực Y tế như thế nào Vai trò của CNTT với sự phát triển của ngành Y tế là hết sức to lớn và cần thiết CNTT đã dần trở thành một yếu
tố không thể thiếu trong sự nghiệp phát triển ngành Y tế của một quốc gia, nó nắm giữ một vai trò chủ đạo
Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các
kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử
Ta có thể thấy được những hiệu quả vô cùng to lớn mà Công nghệ thông tin đem lại trong việc khám chữa bệnh ở các Bệnh viện: “Hơn một năm trước, Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, BV Bạch Mai, một trong những đơn vị
Trang 18tiên phong của BV đã áp dụng thử nghiệm đưa thẻ KCB điện tử nhỏ gọn như thẻ ATM với rất nhiều tiện ích cho bệnh nhân Theo đó chỉ cần sở hữu một thẻ KCB điện tử mua thẻ tại Khoa KCB theo yêu cầu, bệnh nhân sẽ có mã số,
mã vạch và mật khẩu để truy cập trang web của BV Bạch Mai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu miễn là có đường truyền Internet
Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT đã thấy rõ, bởi thẻ KCB điện tử giống như một bệnh án điện tử, mỗi lần đi KCB, bệnh nhân không phải mang nhiều giấy tờ, hồ sơ bệnh án và chờ đợi làm các thủ tục xét nghiệm, thăm khám lại mà bác sĩ điều trị vẫn có thể xác định tương đối chính xác phác đồ điều trị bởi mọi thông tin như tiền sử bệnh, triệu chứng, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các chất chống chỉ định cũng như tất cả thông tin liên quan qua các lần KCB, điều trị đã được lưu giữ tại hệ thống máy tính của BV Việc này vừa tạo ra vô vàn thuận lợi cho người bệnh vừa góp phần nâng cao chất lượng KCB và đẩy nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính của Khoa.”
Việc áp dụng CNTT vào việc khám bệnh đã làm giảm thời gian khám bệnh, giúp cho bệnh nhân không phải chờ đợi lâu so với trước kia, vì vậy đã giúp ích rất tốt cho công tác khám chữa bệnh ngày nay: “Tại BV Nhi Đồng 1, thời gian chờ khám khi chưa ứng dụng CNTT trung bình khoảng 30 phút, đến nay đã giảm hơn nửa; thời gian chờ mua thuốc trước là 45 phút nay còn khoảng 10 phút; thời gian làm thủ tục xuất viện trước từ 2-4 giờ, nay chỉ còn 15 phút
Việc kê đơn thuốc trước đây nhiều người kêu ca về chữ bác sĩ xấu, khó đọc nay nhờ áp dụng CNTT, đơn thuốc được in trên giấy không chỉ dễ đọc, lãnh đạo BV lại dễ dàng quản lý việc kê đơn đã làm giảm đáng kể tình trạng các đơn thuốc chưa hợp lý cho người bệnh.” “Với BV Gang thép Thái Nguyên, 100% bệnh nhân đã được quản lý trên mạng của BV với mã số riêng
Trang 19giúp cho việc tra cứu các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh từ những lần khám trước rất nhanh chóng trong thời gian khoảng 1 phút thay cho việc phải chờ đợi các thủ tục hành chính để rút các hồ sơ bệnh án như trước (kéo dài gần 1 ngày);
Việc ứng dụng CNTT cũng đã giúp phòng chức năng kiểm tra được các thất thu về tài chính, làm giảm tỷ lệ thất thu trong toàn BV từ trung bình >10 triệu đồng/tháng xuống còn < 1 triệu đồng/ tháng và làm giảm 2/3 thời gian giải quyết thủ tục hành chính tạo điều kiện cho cho các thầy thuốc có thêm thời gian chăm sóc bệnh nhân”
Trong công cuộc đổi mới của đất nước hơn 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Chính phủ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và sự phấn đấu vượt lên trên mọi gian khó của đội ngũ cán bộ khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên trong ngành, Ngành Y tế Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực phòng bệnh, chữa bệnh, các chỉ tiêu tổng quát về sức khoẻ con người Việt Nam đã đạt đựơc mục tiêu đề ra Trong
đó, khoa học và kỹ thuật công nghệ đã đóng góp vai trò quan trọng giải quyết những vấn đề thiết thực, cấp bách về y tế và y học, góp phần to lớn nâng cao chất lượng, hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Khoa học, công nghệ thực sự là động lực phát triển Y tế và Y học Việt Nam
Không chỉ vây, việc áp dụng CNTT nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn cho nền Y học của Việt Nam: Khoa học, công nghệ đã góp phần tích cực để khống chế, đẩy lùi và từng bước thanh toán một số dịch bệnh nguy hiểm ở Việt Nam trong 10 năm cuối thể kỷ XX, giảm tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh như: sốt rét, tiêu chảy, nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp ở trẻ em, khống chế không để xảy ra các dịch bệnh lớn ngay cả trong và sau thiên tai bão lụt lớn
Trang 20Ví dụ như, về dịch sốt rét năm 2008 so với năm 1995 đã giảm chết hơn 96,8% và giảm mắc bệnh hơn 73,1% và duy trì kết quả bền vững đến nay Trong lĩnh vực khám chữa bệnh: “Ứng dụng nhiều kỹ thuật mới hiện đại
đã thiết thực nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Các kỹ thuật hiện đại về chẩn đoán hình ảnh đã được áp dụng tại các trung tâm y tế chuyên sâu Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế góp phần phát hiện chính xác một số căn bệnh mà trước kia chưa chẩn đoán được Các kỹ thuật điều trị hiện đại như phẫu thuật nội soi, tán sỏi, ghép thận, ghép tuỷ, thay chỏm xương đùi, hồi sức cấp cứu, phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh ngoài bao (phương pháp Phaco), các kỹ thuật vi phẫu tạo hình, công nghệ cao về nha khoa, ứng dụng công nghệ laser vào y học, ứng dụng máy gia tốc trong điều trị ung thư, về sản khoa, đã thành công thụ tinh trong ống nghiệm
Đặc biệt, trong chuyên ngành Tim mạch đã tiếp thu, ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật tiên tiến Đó là các kỹ thuật không xâm hiện đại như Siêu
âm Doppler màu, siêu âm ba chiều, siêu âm trong thực quản Ngành tim mạch Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều kỹ thuật tim mạch can thiệp như mổ tim hở, thay van tim, chụp buồng tim, nong động mạch vành, bắc cầu nối động mạch vành, nong van 2 lá bằng bóng Inoue, ghi điện sinh lý trong buồng tim và triệt bỏ các cầu nối phụ để điều trị loạn nhịp tim”
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp các bệnh viện quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thống thất thu viện phí, công khai minh bạch tài chính bệnh nhân, giúp kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý an toàn
Chẩn đoán hình ảnh đã góp phần quan trọng nâng cao tính chính xác, kịp thời và hiệu quả cao trong chẩn đoán bệnh Như dựa trên hình ảnh siêu âm, người thầy thuốc có thể đo được tương đối chính xác kích thước các tạng đặc trong ổ bụng (gan, lách, thận, tuỵ, ) và phát hiện các khối bất thường nếu có
Từ hình ảnh siêu âm tim có thể xác định cấu trúc, kích thước các buồng
Trang 21tim, van tim và các mạch máu lớn Trong sản khoa, siêu âm giúp xác định và theo dõi sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ; hình ảnh CT Scanner giúp thầy thuốc xác định được một số bệnh lý ở sọ não, đặc biệt là xác định máu tụ nội sọ, khối u não; chụp cộng hưởng từ hạt nhân xác định chính xác hơn các hình thái và các khối bất thường trong cơ thể (nếu có)
Các thiết bị và máy y tế về chẩn đoán hình ảnh ngày càng ứng dụng nhiều hơn về công nghệ thông tin, các phần mềm cho các máy Y tế ngày càng được nâng cấp, nhất là khi kỹ thuật số ra đời và phát triển đã ghi nhận và phân tích tín hiệu rất tốt, cho hình ảnh sâu hơn, chất lượng ảnh tốt hơn
Hơn nữa việc giao diện giữa các thiết bị và máy y tế kỹ thuật cao với hệ thống máy tính dùng trong quản lý tại bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau ngày một nhiều, nên các giao thức truyền ảnh trên mạng được dưa ra (có một chuẩn chung thống nhất, chất lượng ảnh đủ để chẩn đoán, giảm nhẹ gánh nặng đường truyền), tạo nên phòng “hội chẩn ảo" giữa các chuyên gia y tế ở xa nhau Trong X - quang việc ứng dụng CNTT cũng đã góp phần hiệu quả hơn rất nhiều Việc trợ giúp chẩn đoán, lưu trữ tư liệu và nghiên cứu hình ảnh X quang là một trong những ứng dụng tin học phổ biến nhất trong các mạng
PACS và Telemedicine Việc chuyển tín hiệu từ máy chụp X quang lên phòng
mổ Chấn thương chỉnh hình đã được nhiều nước áp dụng phổ biến, ở Việt Nam một số cơ sở đã áp dụng phương pháp này, việc ứng dụng này đã cung cấp cho phẫu thuật viên trong khi mổ có hình ảnh trực tiếp giúp cho việc mổ được tiến hành hiệu quả hơn, tốt hơn
Có thể nói Việc ứng dụng CNTT trong các thiết bị và máy y tế với các phần mềm chuyên dụng đã tạo ra bước phát triển đột phá trong việc ghi hình ảnh có chất lượng cao các cơ quan bị bệnh của cơ thể con người, giúp cho các chuyên gia y
tế chẩn đoán bệnh khách quan hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn nhiều Với việc lưu trữ và truyền ảnh giữa các khoa, phòng trong bệnh viện và
Trang 22giữa các bệnh viện với nhau đã tạo ra phòng "Hội chẩn ảo", góp phần quan trọng vào việc sử dụng trí tuệ tập thể, đặc biệt là trí tuệ của các chuyên gia y
tế giỏi, chuyên gia đầu ngành trong chẩn đoán và điều trị bệnh cho mọi người bệnh ở nhiều vùng đất nước khác nhau, thậm chí giữa các nước khác nhau trên thế giới
Vì vậy tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế được tổ chức vào cuối tháng 2/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã yêu cầu: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí việc ứng dụng CNTT cần được xem là một trong những ưu tiên để đầu tư phát triển
Ngành Y tế cần nâng cao nhận thức cho cán bộ y tế từ TƯ đến địa phương về vai trò sự cấp thiết của việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNTT y tế; đảm bảo môi trường pháp lý, ứng dụng hết sức linh hoạt và thuận lợi để CNTT thực sự trở thành một công cụ hết sức hữu ích và tiện dụng trong công tác y tế; Đảm bảo nguồn đầu tư tài chính xứng đáng cho CNTT.”
Do vậy ta có thể thấy được vai trò vô cùng to lớn và cần thiết của CNTT trong sự phát triển của ngành Y học
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN
1.2.1 Các ứng dụng của công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn của bệnh viện
CNTT được ứng dụng trong mọi hoạt động do khả năng xử lý thông tin
tự động, nhanh chóng và chí`nh xác Việc ứng dụng CNTT cho phép nâng cao hiệu quả trong quản lý CNTT được ứng dụng vào bệnh viện trên rất nhiều
Trang 23các lĩnh vực, khía cạnh như: khám, điều trị ngoại trú, nội trú, quản lý, thống
kê, cận lâm sàng
Đặc biệt là trong quản lý, ứng dụng nổi bật nhất là việc hình thành các
hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là tập hợp những con người, các thiết
bị phần cứng, dữ liệu … cùng thực hiện các hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý, truyền đạt thông tin trong một tập các ràng buộc gọi là môi trường [4]
Hệ thống thông tin được chia làm hai loại là hệ thống thông tin tác nghiệp và hệ thống thông tin quản lý
1.2.1.1 Hệ thống thông tin tác nghiệp:
Hệ thống thông tin tác nghiệp (OIS – Operations Information Systems) gắn liền với việc xử lý các hoạt động tác nghiệp của một chức năng nghiệp vụ xác định Nó nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động có tính thường xuyên trong một đơn vị [5]
Hệ thống thông tin tác nghiệp chịu trách nhiệm xử lý các hoạt động giao dịch, công việc điều khiển các quá trình hoặc các hệ thống tự động hóa văn phòng Hệ thống xử lý tác nghiệp có các đực trưng sau: Khối lượng công việc giao dịch nhiều; các quy trình để xử lý giao dịch là rõ rang, chặt chẽ, có thể mô tả một cách chi tiết; ít có trường hợp ngoại lệ [5]
Hoạt động văn phòng tin học hóa (OAS Office Automation Systems) là một ví dụ tiêu biểu về hệ thống xử lý tác nghiệp [6 ] Ở đây máy tính được sử dụng để thực hiện các chức năng của hoạt động văn phòng như:
- Xử lý văn bản: Người quản lý sử dụng các phần mềm soạn thảo, xử lý văn bản để biên soạn, in ấn các tài liệu văn bản như thư từ, công văn, báo cáo, bảng biểu Đó là ứng dụng phổ biến nhất của tin học văn phòng
- Bảng tính điện tử: Sử dụng các bảng tính điện tử để lập các bảng biểu thống kê, tính toán và quản trị cơ sở dữ liệu Các dữ liệu được thể hiện không chỉ
Trang 24trong các bản dữ liệu dạng biểu đò, bảng biểu liên quan đến dữ liệu đó
1.2.1.2 Hệ thống thông tin quản lý:
Hệ thống thông tin quản lý (MIS – Management Information Systems)
có mục đích cung cấp thông tin trợ giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý trong việc ra quyết định và quản lý công việc trong tổ chức, cung cấp thông tin và hỗ trợ cho việc ra quyết định ở tất cả các cấp độ quản lý, từ quản lý chiến lược, quản lý chiến thuật đến quản lý tác nghiệp hệ thống thông tin quản lý bao gồm các cơ sở dữ liệu, các luồng thông tin và được quy định chức năng để thực hiện mục tiêu chung
Hệ thống này hỗ trợ nhiều chức năng xử lý dữ liệu trong giao dịch và lưu trữ, thích ứng được với thay đổi quy trình xử lý thông tin, cung cấp đầy
đủ thông tin để các nhà quản lý sử dụng trong quá trình ra quyết định và điều hành hoạt động của đơn vị [5]
So với hệ thống thông tin tác nghiệp, hệ thống thông tin quản lý mềm dẻo hơn, có nhiều chức năng xử lý dữ liệu hơn Có hai loại hệ thống thông tin quả lý sau [5]:
Hệ thống thông tin tổng hợp thông báo (IRS Information Reporting Systems) là dạng chung nhất của hệ thống thông tin quản lý, nó cung cấp cho nhà quản lý các sản phẩm thông tin hỗ trợ việc ra quyết định hang ngày của
họ Các hệ thống thông tin này tìm các thông tin về hoạt động nội bộ từ các cơ
sở dữ liệu được cập nhật bởi hệ thống xử lý các hoạt động giao dịch Chúng cũng có thể nhận dữ liệu về môi trường xung quanh từ các nguồn bên ngoài
Hệ thống phải cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin theo yêu cầu, những thông tin mang tính định kỳ hoặc theo một danh mục đã xác định
từ trước Ngoài ra còn cung cấp những thông tin đặc biệt mang tính ngoại lệ, những bản báo cáo theo yêu cầu và những câu trả lời tức thì cho những câu
Trang 25hỏi Ví dụ, Ban giám đốc có thể nhận được câu trả lời tức thì về số lượng bệnh nhân đến khám tại một phòng khám nào đó
Các chương trình ứng dụng và các phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu của IRS sẽ cho phép nhà quản lý tiếp cận tới các cơ sở dữ liệu hợp thành của tổ chức và cả những cơ sở dữ liệu bên ngoài khi cầ thiết
Hệ thống thông tin hỗ trợ quyết định (DSS Decision Support Systems):
Hệ thống này thường được xây dựng trên hệ thống thông tin tác nghiệp và hệ thống thông tin thông báo tồn tại trong tổ chức Hệ thống này cung cấp cho các nhà quản lý các mô hình phân tích để mô phỏng các vấn đề thực tiễn, cách tìm kiếm dữ liệu, các khả năng biểu diễn thông tin và thường nhấn mạnh về kiết xuất thông tin bằng hình ảnh DSS không tự làm quyết định cụ thể giúp con người trong công tác quản lý mà chỉ hỗ trợ việc tính toán các phương án
để nhà quản lý lựa chọn và đưa ra quyết định cuối cùng
1.2.2 Những lợi ích của công nghệ thông tin trông hoạt động Y tế của Bệnh viện
1.2.2.1 Lợi ích đối với Lãnh đạo Bệnh viện [7]
Giám sát hoạt động Bệnh viện một cách toàn diện, ngay tại bàn làm
việc, theo thời gian thực Không cần chờ báo cáo từ cấp dưới Dữ liệu được lưu dưới dạng số hóa, truyền qua mạng, đến ngay bàn làm việc của Giám đốc
Dễ dàng thống kê Số liệu báo cáo tuyệt đối chính xác Số liệu được hiển thị dưới dạng biểu đồ
Giám sát hoạt động Bệnh viện từ xa: Với hệ thống internet Ban giám
đốc có thể truy cập vào máy chủ bệnh viện để kiểm tra số liệu tất cả mọi mặt hoạt động của Bệnh viện: nhân sự, tài chính, lâm sàng… theo thời gian thực
Trang 26Minh bạch thông tin tài chính trong Bệnh viện: Các thông tin tài
chính và thuốc men được nhập liệu chính xác và quản lý theo quy trình, loại
bỏ hoàn toàn các sai sót do vô tình hay cố ý trong bệnh viện Chống thất thoát viện phí và thuốc men
Tiết kiệm giấy tờ, phim ảnh: Các thông tin nội bộ có thể truyền qua
hệ thống mạng, xóa bỏ hình thức thông tin trên giấy Phim ảnh X - quang hay các hình ảnh y khoa lưu trữ dưới dạng Digital, dễ dàng nhân bản và chia sẻ
Y học thực chứng, chứng cứ pháp lý: Các thông tin dù nhỏ cũng
được lưu trữ giúp làm bằng chứng khoa học và pháp lý Lãnh đạo Bệnh viện
có thể truy nguyên sai sót khi có sự cố xảy ra
Báo cáo lên cấp trên (Bộ Y Tế, Sở Y Tế, Bảo Hiểm Y Tế): Các số liệu
chuyên môn được thống kê ngay tức thì và chuyển qua mạng internet có thể giúp nhà quản lý y tế như Bộ Y Tế, Sở Y Tế có ngay số liệu phục vụ cho quản
lý cộng đồng và quản lý dịch bệnh Các mẫu báo cáo thống kê được thiết kế sẵn theo chuẩn của các cơ quan quản lý Cập nhật nhanh chóng thay đổi của BHYT
1.2.2.2 Lợi ích đối với bác sĩ, y tá, nhân viên y tế [7]
Tiết giảm thời gian làm việc: Do tất cả các công việc liên quan đến dữ
liệu được lập trình, các thao tác phức tạp trước đây được đơn giản hóa
Kế thừa thông tin: các đơn vị chức năng không cần phải nhập liệu lại những
dữ liệu đã được người khác nhập rồi Ví dụ tên bệnh nhân, đơn thuốc bác sĩ…
Hội chẩn online: các bác sĩ cùng làm việc trên hệ thống và thấy được
dữ liệu của nhau, cùng phát hiện sai sót và cùng đối chiếu công việc của nhau
Chẩn đoán từ xa: các thông tin bệnh nhân dưới dạng digital có thể gởi
lên mạng Ineternet hoặc email để cùng hội chẩn từ xa
Giảm thiểu sai lầm y khoa: các thông tin giúp trí nhớ như bài giảng y
khoa, thông tin thuốc, xét nghiệm được cung cấp cho bác sĩ ngay khi bác sĩ
Trang 27cần Các hệ thống hỗ trợ chẩn đoán, hỗ trợ điều trị được lập trình sẵn giúp tránh sai sót Các đơn thuốc được in ấn rõ ràng, tránh nhầm lẫn khi dùng thuốc
Hệ thống thông tin nội bộ: các bác sĩ có thể trao đổi thông tin chuyên
môn qua các forum nội bộ Hệ thống này có thể dùng làm hội chẩn và đào tạo liên tục (CME) Giám đốc có thể gửi ngay thông điệp mỗi ngày đến toàn thể nhân viên, những thông tin này lập tức xuất hiện ngay trên màn hình làm việc của nhân viên
Nghiên cứu khoa học: những dữ liệu bệnh án được lưu trữ và dễ dàng
trích xuất, thống kê một cách nhanh chóng và chính xác giúp bác sĩ, nhân viên
y tế, y tá trong công tác nghiên cứu khoa học
1.2.2.3 Lợi ích đối với bệnh nhân [7]
Tiết giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân: các thông tin hành chính
bệnh nhân được lưu trữ trên thẻ bệnh nhân và trên máy chủ Có thể dùng lại qua thời gian Các thông tin thường xuyên không cần lập lại Với số lượng bệnh nhân đông, việc tiết giảm thời gian sẽ rất đáng kể Có thể lập nhiều trạm thu phí ở nhiều chỗ khác nhau giúp thuận tiện cho bệnh nhân nộp phí
Không cần mang theo hồ sơ: Tài liệu bệnh nhân được lưu trữ trong hệ
thống mạng, sắp xếp theo mã số bệnh nhân Khi bệnh nhân đến khám TẤT
CẢ tài liệu của bệnh nhân được thể hiện đầy đủ trên màn hình Đây là điều quan trọng đối với bệnh nhân có bệnh mạn tính
Sao chép hồ sơ: bệnh nhân có thể yêu cầu sao chép toàn bộ hồ sơ một
cách nhanh chóng dưới dạng digital hoặc bảng in mà không làm mất hồ sơ gốc tại bệnh viện
Tài liệu y khoa rõ ràng: Bệnh nhân nhận được các tài liệu in dưới dạng vi
tính, đẹp mắt, rõ ràng, tránh nhầm lẫn nguy hiểm do chữ viết tay không rõ ràng
Trang 28Dịch vụ an toàn: Bệnh nhân nhận được dịch vụ khám và điều trị an
toàn nhờ hệ thống hỗ trợ chẩn đoán và hỗ trợ điều trị Hệ thống không chỉ là nơi lưu trữ thông tin mà còn là phương tiện nhắc nhở bác sĩ đối với những sai sót thường ngày như trùng tên thuốc, chống chỉ định thuốc
Truy cập internet để sao lục thông tin sức khỏe của mình Những tài
liệu y khoa như xét nghiệm, nội soi, đơn thuốc… được lưu trữ trong website của bệnh viện trong những thư mục riêng giúp bệnh nhân có thể truy cập bất
cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu Bệnh nhân có hẳn một bộ bệnh án đầy đủ, tích lũy
từ nhiều lần khám bệnh, giúp xem xét lại toàn bộ lịch sử bệnh tật của mình
Hóa đơn tài chính minh bạch: Bệnh nhân cảm thấy thoải mái khi
nhận hóa đơn minh bạch từ hệ thống máy vi tính
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ BỆNH VIỆN
1.3.1 Về thực trạng
CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành nghề công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu xắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại [8]
Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [9]
Tuy nhiên, công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên
Trang 29thế giới và khu vực Việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu hội nhập của khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ
Việc phát triển nguồn nhân lực CNTT chưa được chuẩn bị kịp thời cả
về số lượng và chất lượng, về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ, viễn thông
và internet chưa được thuận lợi, chưa đáp ứng hết yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triển CNTT Đầu tư cho CNTT chưa đủ mức cần thiết, quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí
Theo số liệu của Bộ Y tế, Việt Nam hiện có 13.600 cơ sở y tế, trong đó gồm 1.263 bệnh biện; 1.0916 trung tâm y tế dự phòng; 11.104 trạm y tế xã Con số này tiếp tục tăng lên [12]
Theo báo cáo mới nhất của Viện Công nghệ thông tin – Bộ Y tế về tình hình ứng dụng CNTT, công tác tin học quản lý Bệnh viện trong thời gian qua
đã đạt được một số tiến bộ đáng kể:
Một số Bệnh viện có tiềm năng về tài chính và công nghệ thông tin đã vươn lên bằng nội lực của chính mình xây dựng hệ thống phần mềm quản lý Bệnh viện đồng bộ và ứng dụng thành công tin học hóa quản lý Bệnh viện (Bệnh viện Phụ sản Hà Nội; Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Bưu Điện
Hà Nội …) Đây là những mô hình tốt cho các Bệnh viện khác học tập và là bằng chứng vô cùng thuyết phục về hiệu quả của ứng dụng tin học trong quản
lý Bệnh viện trong việc nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh
Qua thực tế tại các bệnh viện này cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin tổng thể đã giúp các nhà quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Bệnh viện, chống thất thu viện phí, công khai minh bạch tài chính
Trang 30bệnh nhân, giúp kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý an toàn, đảm bảo tính tra cứu thuận tiện, lưu trữ lâu dài và vẹn toàn của thông tin rút ngắn thời gian thống
kê báo cáo …
Bên cạnh việc ứng dụng thành công về tin học trong quản lý, rất nhiều Bệnh viện đã xây dựng được website riêng với nhiều nội dung chuyên môn phong phú hấp dẫn (Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Nhi TW; Bệnh viện Chợ Rẫy…), đưa phạm vi chăm sóc sức khỏe vượt ra ngoài Bệnh viện, đưa các dịch vụ Y tế đến gần với người dân hơn
Tuy vậy trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Bệnh viện ở Việt Nam còn thấp so với nhiều ngành khoa học khác và còn kém xa các nước trung bình tiên tiến trong khu vực Theo số liệu báo cáo của các Bệnh viện trên toàn quốc, đa số ứng dụng công nghệ thông tin ở các Bệnh viện ở Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc khai thác công việc văn phòng, thống kê, báo cáo
Một số Bệnh viện ứng dụng công nghệ thông tin quản lý Bệnh viện nhưng chỉ mới thực hiện được từng phần riêng lẻ như là quản lý nhân sự, viện phí, quản lý kho dược, bệnh nhân ra vào viện,… Chỉ có một số ít Bệnh viện triển khai quản lý đồng bộ tới người bệnh trong toàn bộ quá trình điều trị
Thực trạng phát triển phần mềm quản lý Bệnh viện đã được nhắc đến nhiều trong các hội nghị CNTT của ngành như còn manh mún, mang tính tự phát và chưa hiện đại
Theo số liệu của Vụ Điều trị, năm 2005 cả nước có gần 1000 bệnh viện công lập nhưng mới chỉ có khoảng 5% có phần mềm ứng dụng tin học QLBV tương đối tổng thể, nhưng do hàng chục nhà cung cấp phần mềm khác nhau Các phần mềm được viết trên nhiều ngôn ngữ và hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, theo các yêu cầu riêng của từng Bệnh viện và không kết nối được với nhau
Trang 31Tại một số Bệnh viện, thông tin của một bệnh nhân BHYT phải nhập lại 3 lần trên 3 phần mềm khác nhau (phần mềm quản lý Bệnh viện; phần mềm thanh toán BHYT; phần mềm quản lý báo cáo thống kê) gây phiền hà cho bệnh nhân phải chờ đợi và gây lãng phí nhân lực nhập số liệu của Bệnh viện
Hệ thống máy vi tính dùng trong các Bệnh viện lại không đồng bộ do mua
ở nhiều thời gian khác nhau với nhiều cấu hình khác nhau, một số đơn vị có nối mạng toàn Bệnh viện nhưng hệ thống mạng quá cũ, tư vấn thiết kế không tốt dẫn đến hạn chế việc triển khai chất lượng các phần mềm Bệnh viện
Kiến thức về tin học của đại đa số cán bộ trong Bệnh viện còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ thông tin trong Bệnh viện, mặc dù yêu cầu phải có trình độ tin học cơ bản từ lâu đã trở thành một tiêu chí tuyển dụng bắt buộc
Một số Bệnh viện đã có chuyên gia tin học, song chưa có chế độ đãi ngộ thích hợp nên chưa khuyến khích được việc phát triển các ứng dụng tin học phục vụ cho quản lý, đa số vẫn chỉ làm công tác quản trị mạng đơn thuần
Một tồn tại lớn nhất là không ít các Giám đốc Bệnh viện nhận thức chưa đầy đủ về phát triển công nghệ thông tin trong Bệnh viện nên chưa đầu
tư ngang tầm với yêu cầu phát triển
Trước thực trạng nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong Bệnh viện là một yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay Việc nhìn nhận đánh giá thẳng thắn những tồn tại trong công tác tin học hóa quản lý Bệnh viện sẽ giúp chúng
ta định hướng tốt cho giai đoạn phát triển sắp tới [13]
1.3.2 Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế Bệnh viện [14]
Ứng dụng CNTT trong hoạt động chăm sóc, khám chữa bệnh đang là một xu thế tất yếu của ngành Y tế Nhiều bệnh viện đã có một mô hình hoạt động khoa học, hiệu quả hơn khi triển khai phần mềm công nghệ hợp lý, phù hợp với đặc điểm, năng lực đơn vị
Trang 32* Trong công tác cải cách thủ tục hành chính:
Không chỉ tiện lợi ngay ở vòng xếp hàng chờ khám, ở mỗi công đoạn tiếp sau khám bệnh, việc ứng dụng CNTT cũng thể hiện những sự tiện lợi thực sự Khi phần mềm đã nhận thông tin số bấm thì tự động nhảy sang số khác Nhờ phần mềm, thông tin dữ liệu cập nhật của mỗi số thứ tự tương đương với một bệnh nhân được phân phối đều vào các quầy đón tiếp trong bệnh viện.Từ đó lại tiếp tục được phân loại đi các phòng khám, xét nghiệm tuỳ từng nhu cầu khác nhau của bệnh nhân
* Trong công tác quản lý Bệnh viện:
Với bệnh viện, mọi công tác kiểm tra dữ liệu của người bệnh từ việc khám bằng thẻ bảo hiểm hay không có thẻ bảo hiểm, thậm chí việc kiểm tra thẻ còn hạn dùng hay không cũng được phần mềm thực hiện chứ không phải cần tới nhân công Mọi dữ liệu về một bệnh nhân cần phải có khi khám chữa bệnh được cập nhật và phần mềm sẽ tự phân loại bệnh nhân nội trú, ngoại trú,
có bảo hiểm hay không có bảo hiểm, khám bệnh gì thì vào phòng nào, khoa nào…
Còn bệnh nhân, sau khi xếp theo số thứ tự, khai báo thông tin, nhu cầu khám, chữa bệnh với nhân viên tiếp đón, chỉ cần nhìn lên màn hình vi tính được trang bị ngay phòng chờ là người bệnh có thể biết mình đang xếp thứ tự bao nhiêu tại phòng khám đó và khi nào đến lượt
Hệ thống quản trị bệnh viện thường được xây dựng để đảm nhận thực hiện các quy trình nghiệp vụ trong bệnh viện bao gồm nhiều lĩnh vực nghiệp vụ: Quản lý bệnh nhân , nhân sự , tài chính , dược Hệ thống ở bệnh viện được thiết kế với định hướng lấy công tác khám và điều trị bệnh nhân làm trung tâm
Việc áp dụng CNTT trong bệnh viện được đánh giá là rất cần thiết, bắt buộc người sử dụng khi làm bất cứ việc gì đều phải nhập vào máy, kể cả một
Trang 33đôi găng, bông băng, một viên thuốc nhập, xuất khỏi kho Hệ thống sẽ lưu giữ toàn bộ quá trình điều trị, chi phí của bệnh nhân để bệnh viện có thể dễ dàng quản lý
Sử dụng phần mềm, công tác khám chữa bệnh được tối ưu hoá rất nhiều khâu, từ việc quản lý và điều hành về công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu đến những dự báo về dịch bệnh… Phần mềm cũng giúp quản lý bệnh nhân tức thời; quản lý viên phí đến từng bệnh nhân Từng viên thuốc đến mỗi bệnh nhân cũng được quản lý khoa học, tránh nhầm lẫn, sai sót
Nhìn chung, việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam trong hoạt động Y tế những năm qua đã có khởi sắc Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: nguồn kinh phí thường xuyên cho CNTT y tế thấp, thiếu kinh phí đầu tư ban đầu cho hạ tầng CNTT tại các cơ sở khám, chữa bệnh …
1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
cứ quan trọng để đánh giá chất lượng của dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện
Chất lượng chức năng chính là cách thức mà chất lượng chuyên môn,
kỹ thuật được mang đến cho khách hàng như thế nào Các yếu tố chất lượng chức năng khó có thể định lượng một cách khách quan mang tính chủ quan
Trang 34Chất lượng chức năng do khách hàng cảm nhận và đánh giá tùy thuộc vào mong đợi và nhu cầu của khách hàng Do đó, cùng một chất lượng dịch vụ như nhau nhưng các khách hàng khác nhau sẽ có những cảm nhận khác nhau, thậm chí cùng một khách hàng nhưng ở các thời điểm khác nhau, người ta cũng có những cảm nhận khác nhau Chất lượng chức năng cũng phụ thuộc nhiều vào người cung cấp dịch vụ và các yếu tố ngoại vi như môi trường, cơ
sở vật chất bệnh viện, thái độ của nhân viên y tế
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của người bệnh Nếu một dịch vụ khám chữa bệnh vì lý do nào đó không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù nó được thực hiện bởi các thiết bị y tế hiện đại, bác sỹ có trình độ chuyên môn cao Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lượng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của mình
1.4.2 Đánh giá kết quả ứng dụng CNTT thông qua chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
1.4.2.1 Thông qua phân tích kết quả dịch vụ khám chữa bệnh [15]
Đánh giá kết quả ứng dụng CNTT thông qua chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh: thông qua kết quả đạt được của hoạt động khám chữa bệnh là một công việc định kỳ Nó giúp cho Bệnh viện nhanh chóng phát hiện ra các sai sót đẻ kịp thời điều chỉnh thay đổi các yếu tố liên quan đến khám chữa bệnh của mình, đồng thời có thể xây dựng các chuẩn hóa các tiêu chuẩn trong việc đánh giá kết quả
1.4.2.2 Thông qua phỏng vấn ý kiến các chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp dự báo sẽ đưa ra những dự đoán khách quan về tương lai phát triển của một lĩnh vực hẹp của khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất dựa trên việc xử lý có hệ thống các đánh giá của chuyên gia
Trang 35Đối với bệnh viện, phương pháp này giúp cho bệnh viện xác định được phương hướng phát triển và cải tiến chất lượng cho tương lai
1.4.2.3 Thông qua thăm dò ý kiến người bệnh
Đối với bệnh viện, đánh giá của bệnh nhân đối với chất lượng dịch vụ KCB là hết sức quan trọng Thông qua việc điều tra khảo sát hoặc nhận đóng góp ý kiến của người bệnh thông qua hòm thư góp ý, đường dây nóng, bệnh viện sẽ nắm được mức độ hài lòng của họ đối với dịch vụ của mình, đồng thời
có thể có cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của mình
Từ đánh giá kết quả thực trạng ứng dụng CNTT thông qua dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện đặt ra vấn đề trong thời gian tới, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cần kịp thời thực hiện các nhiệm vụ:
(1) Nghiên cứu thị trường về ứng dụng công nghệ thông tin ở các Bệnh viện tiên tiến, khu vực phía Bắc và xây dựng điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
(2) Xây dựng lộ trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ năm 2013 – 2015 và giai đoạn tiếp theo (3) Dịch vụ hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Đây là nhiệm vụ có tính thời sự cần được áp dụng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình giai đoạn đến năm 2015 và giai đoạn tiếp theo
1.5 Tóm tắt chương I và nhiệm vụ chương II
Trong chương 1 đã trình bày các vấn đề về cơ sở lý thuyết về CNTT, CNTT trong Y tế, đồng thời trình bày được các ứng dụng và lợi ích của CNTT trong hoạt động Y tế Đặc biệt trong chương này chúng tôi đã trình bày vai trò quan trọng của ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế cùng với lợi ích
mà CNTT đem lại đối với Lãnh đạo Bệnh viện, nhân viên y tế và bệnh nhân
Trang 36Phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế là đòi hỏi bức bách nhằm tăng khả năng đấp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày một cao của người dân Chúng tôi đã dã lựa chọn và vận dụng nghiên cứu thị trường, xây dựng lộ trình và dịch vụ hỗ trợ ứng dụng CNTT để làm cơ sở đánh giá thực trạng từ đó đưa ra những ứng dụng phù hợp
Theo cơ sở lý thuyết của chương 1, nhiệm vụ chương 2 là phân tích thực trạng và đánh giá điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình với các nội dung như sau:
(1) Phân tích đánh giá về nhu cầu công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế
và nhu cầu hoạt động công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
(2) Phân tích đánh giá thực trạng về nghiên cứu thị trường và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ năm 2009 – 2012
(3) Phân tích đánh giá thực trạng quy trình công nghệ thông tin trong hoạt động y tế từ năm 2009 – 2012 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
(4) Phân tích đánh giá thực trạng các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Y tế từ năm 2009 – 2012 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Máy CT – scanner Khoa Chẩn đoán hình ảnh
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG Y TẾVÀ ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA BỆNH VIỆN ĐA
Năm 1959, Bệnh viện được thành lập với tên gọi là “Bệnh Viện đa khoa khu vực Hòa Bình” Năm 1991, sau khi tái lập tỉnh Hòa Bình, Bệnh viện được đổi tên thành “Bệnh viện tỉnh Hòa Bình” Sau hơn 10 năm hoạt động, đến năm 2007, Bệnh viện được đổi tên thành “Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình” như hiện nay
Được sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương và Trung ương, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình đã có những phát triển vượt bậc cả
về quy mô lẫn chất lượng góp phần tích cực vào nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng
Năm 2005, tổng cán bộ viên chức của bệnh viện là 264 người trong đó
có 03 bác sĩ chuyên khoa II, 21 bác sĩ chuyên khoa I, 07 thạc sĩ, 39 bác sĩ, 05 dược sĩ đại học, 05 kế toán đại học, 01 chuyên viên, 46 y sĩ, 63 y tá, 17 nữ hộ sinh, 11 dược sĩ trung học, 03 kỹ thuật viên dược, 05 kỹ thuật viên y, 39 người có bằng cấp khác
Năm 2010, số cán bộ viên chức và nhân viên hợp đồng của Bệnh viện nhiều hơn gần hai lần so với năm 2005 với tổng số người là 550 người
Trang 38trong đó có 02 bác sĩ chyên khoa II, 29 bác sĩ chuyên khoa I, 10 thạc
sĩ, 58 bác sĩ, 01 dược sĩ đại học, 08 điều dưỡng đại học, 14 điều dưỡng cao đẳng, 239 điều dưỡng trung học, 36 y sĩ, 27 nữ hộ sinh, 24 dược sĩ trung học,
06 kỹ thuật viên y cao đẳng, 14 kỹ thuật viên y, 03 kỹ thuật viên y cụ, 70 người có bằng cấp khác
Tháng 05/2010, Bệnh viện đã khánh thành Bệnh viện đa khoa mới có vốn đầu tư 425 tỷ đồng thay thế cho Bệnh viện cũ có cơ sở vật chất và điều kiện khám chữa bệnh hạn chế Với việc tích cực ứng dụng công nghệ cao, Bệnh viện đa khoa mới của tỉnh Hòa Bình có khả năng xử lý được những ca khó như mổ sọ não, vết thương tim, vết thương lồng ngực, cắt khối tá tụy, chiết tách được các thành phẩm máu, chấn thương gãy xương phức tạp… Sắp tới, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình sẽ thành lập trung tâm ung bướu với quy mô 130 giường Khi đó, Bệnh viện sẽ là Bệnh viện miền núi phía Bắc đầu tiên thành lập Trung tâm này
Ngoài ra, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình còn là cơ sở thực hành của trường Trung học Y tế Hòa Bình và trường đại học Y Dược Thái Nguyên Bệnh viện thường xuyên mở các lớp đào tạo về giáo dục y đức cho CBVC trong đơn vị và các BV huyện, thành phố trong tỉnh; các lớp chống nhiễm khuẩn, lớp tập huấn an toàn truyền máu lâm sàng, siêu âm, nội soi, phẫu thuật nội soi cho tuyến dưới… Đối với hoạt động hợp tác quốc tế, Bệnh viện luôn tăng cường tiến hành để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, hằng năm Bệnh viện đã cử đoàn bác sỹ, kỹ thuật viên, điều dương viễn,
nữ hộ sinh… đi học tập, tham quan tại Nhật bản, Singapo Thái Lan…
Bệnh viện hợp tác với các tổ chức phi chính phủ để thực hiện các dự án như : Khu khám chữa bệnh kỹ thuật cao quy mô 100 giường của tỉnh, được xây dựng bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Nhật
Trang 39Bản trị giá 136 tỷ đồng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 05/2007, Bệnh viện cũng thực hiện nhiều các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình Life Gap, chương trình chăm sóc nha học đường, đề án 1816 - làm công tác đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới về các kỹ thuật như Phaco, laser điều trị Gloucom, khúc xạ… tại 11 Bệnh viện đa khoa huyện và thành phố
Có thể nói Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình đang có những bước phát triển tích cực, ngày càng khẳng định uy tín và vai trò của mình trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, xứng đáng là Bệnh viện hạng I của tỉnh Hòa Bình
Khu nhà Kỹ thuật cao của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Trang 402.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Là một bệnh viện hạng I, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình có các chức năng và nhiệm vụ chính sau:
a) Chuyên khám và điều trị bệnh
- Tiếp nhận mọi trường hợp người bệnh thuộc phạm vi chuyên khoa của Bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú
- Giải quyết các bệnh thuộc chuyên khoa bằng các phương tiện hiện có
- Tham gia khám giám định sức khỏe và giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
b) Đào tạo cán bộ y tế cho các bệnh viện tuyến huyện, thành phố trong tỉnh
- Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở cấp đại học và trung học, đồng thời có trách nhiệm tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc đại học và trung học
- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong Bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên khoa
c) Nghiên cứu khoa học
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học về các chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
- Nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng thuộc các lĩnh vực chuyên khoa
để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu
d) Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo tuyến dưới phát triển
kĩ thuật chuyên môn để nâng cao chất lượng cấp cứu – chẩn đoán và điều trị chuyên môn trong địa phương