TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHKHOA NGỮ VĂN ********* TIỂU LUẬN ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC DÂN GIAN GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN THEO TÍNH TRUYỀN THỐNG GVHD: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
*********
TIỂU LUẬN ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC DÂN GIAN
GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN THEO TÍNH TRUYỀN THỐNG
GVHD: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Sinh viên thực hiện: LÂM MINH TRÍ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2MỤC LỤC
Qui ước các từ viết tắc
VHDG: Văn học dân gian
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
Trang 3I Khái quát VHDG và chương trình giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông
1 Khái quát VHDG
1.1 Khái niệm
VHDG là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời
từ thời công xã nguyên thủy, trãi qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay (Theo Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh (Chủ biên), tr.7)
VHDG là một hình thái ý thức xã hội Cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác VHDG phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, có ý thức của tập thể những người sống thành xã hội Điều kiện để ra đời VHDG một mặt là lực lượng sản xuất đã đạt được những trình độ nhất định, mặt khác là sự nảy
sinh và phát triển của những cảm xúc thẩm mĩ của con người
1.2 Những đặc trưng của VHDG
a Tính nguyên hợp
Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lãình vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lãnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn cònmang tính nguyên hợp về nội dung Bởi vì đại bộ phận nhân dân , tác giả văn học dân gian , không có điều kiện tham gia vào các lãnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm , tri thức ,tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian , một loại nghệ thuật không chuyên.
Về loại hình nghệ thuật : Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện
ở chỗ: Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự
Trang 4kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành Một baì dân ca trong đời sống thực của nó , không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…- Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn Văn học dân gian có ba dạng tồn taị: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn taị cố định ( tồn taị bằng văn tự ), tồn taị hiện ( tồn taị thông qua diễn xướng) Tồn taị bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn học dân gian Tuy nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn ,các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp Sự kết hợp nầy một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp.
và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể Truyền thốngvăn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác (sáng tácmột cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt quiđịnh khuôn khổ cho việc sáng tác Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn
vị làm giàu cho truyền thống
c Tính truyền miệng
VHDG được truyền miệng qua hàng ngàn năm, từ thời kì dân tộc chưa cóchữ viết Sự truyền miệng các sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân đã trở
Trang 5thành tập quán sinh hoạt, là một nhu cầu văn hóa tự nhieenmaf văn học viếtkhông thể thay thế Trải qua hàng ngàn năm tồn tại song song với văn học viết ,trong các di sản VHDG truyền miệng được ghi lại chắc chắn có không ít nhữngsáng tác VHDG của các nho sĩ yêu nước Đó là kết quả của quá trình dân gianhóa có tính qui luật Đã có nhà nghiên cứu đưa ra ba dạng thức tồn tại củaVHDG Đó là dạng ẩn trong đầu khôn người già, dạng hiện trong quá trình diễnxướng, và dạng cố định sau khi được ghi chép lại bằng văn bản VHDG trongnhà trường là những tác phẩm đã được cố định trên văn bản, nhưng người phântích những tác phẩm đó cần phải hiểu rằng, trong đời sống truyền miệng, vănbản này mới chỉ là một khuôn hình, một lát cắt đồng đại Thế nên có thể nóitruyền miệng là phương thức tồn tại của VHDG.
d Tính dị bản
Nhiều nhà khoa học đã khẳng định cùng với tính truyền miệng và tính tậpthể là tính dị bản của VHDG Dị bản là hệ quả của quá trình tập thể - truyềnmiệng, nhưng việc nhận thức về nguyên nhân và biểu hiện của tính dị bản trướcnay giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều khác biệt
Từ góc nhìn của văn học viết trên các văn bản VHDG đã được giới thiệu,
có quan niệm cho đó chỉ là sự tam sao thất bản Thật ra tính dị bản thường đượcxem ở dangh văn bản cố định Như chúng ta thấy VHDG vừa là văn học vừa làvăn hóa Quy luật vận hành các tác phẩm VHDG nói riêng, của toàn bộ nềnVHDG nói chung nằm trong tiến trình văn hóa của dân tộc Thế nên tính dị bảncủa VHDG nói chung cũng như số phận một tác phẩm VHDG tong quá trình dịbản này nảy sinh dị bản cũng là một sự vận động hợp quy luật Đặc trưng dị bảncủa VHDG biểu hiện ở nhiều cấp độ Có thể đó chỉ là một sự khác biệt trongcách gọi tên một truyện kể Dị bản có thể chỉ là một từ, một mô thức câu mởđầu một bài ca dao, nhưng dị bản còn nhiều khi nằm sâu trong các hình thức cấutrúc tác phẩm giữa các văn bản như là sự thiếu khuyết hoặc khác biệt mtj số chitiết, tình tiết, motip, hình ảnh, biểu tượng, Tất nhiên mọi sự biến đổi và thaythế bao giờ cũng có giới hạn Vượt quá giới hạn dị bản trở thành một tác phẩm
Trang 6mới, thậm chí theo đó còn có cả sự chuyển hóa thể loại Do đó, có thể nói tính
dị bản là một đặc trưng của VHDG
2 Chương trình giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông
2.1 Vị trí của VHDG trong chương trình văn học ở phổ thông
VHDG là một bộ phận quan trọng trong nền văn học Việt Nam, “là cội nguồn là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tân hồn dân tộc Việt Nam” Từ thuở còn nằm trong nôi, chúng ta đã được nghe những lời ru ngọt ngào, êm ái của bà, của mẹ Lớn lên những bài giao duyên đối đáp lại mạng ta đến với nghĩa tình chồng vợ Vì vậy VHDG chính là lời ăn tiếng nói của người lao động, là cái gần gũi và thân thuộc nhất trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người chúng ta.
Việc giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông là vô cùng cần thiết
và đáng được quan tâm chú trọng hàng đầu Khi giảng dạy VHDG chúng ta không chỉ giúp HS khám phá được cái hay, cái đẹp của sáng tác nghệ thuật ngôn từ mà còn thu thập được vốn kiến thức hiểu biết về văn hóa xã hội, phong tục tập quán, nếp sống sinh hoạt của dân gian của dân tộc Ttats cả những vốn liếng, kiến thức, kinh nghiệm sống được ông cha ta đúc kết lại được HS hiểu và cảm nhận từ đó giúp HS hoàn thiện bản thân về cả mặt kiến thức lẫn tinh thần Mặc dù những sáng tác dân gian có khoảng cách khá xa với thực tại, chứa đựng những tư duy, những quan điểm thẩm mỹ của người xưa nhưng nếu HS tiếp nhận theo đúng hướng thì bản thân các em có thể biến đồi vốn kiến thức ấy sao cho phù hợp với bản thân mình
Không chỉ thế, VHDG còn là cuội nguồn cảm hứng thi ca ảnh hưởng đến nền văn học trung đại Chính VHDG là ngọn lửa khơi dậy nền văn học VIệt Nam, giúp nền văn học VIệt Nam ngày càng khởi sắc Từ những hình ảnh gần gũi , thân thuộc nhưng cũng không kém phần đặc sắc, cho đến ngôn từ nghệ thuật, VHDG đã trở thành thành phần không thể nào thiếu được trong nền văn học nước nhà Vì vậy việc đưa tác phẩm VHDG vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông là hết sức cần thiết
Trang 7VHDG là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, tồn tại và phát triển qua các thời kì lịch sử cho tớingày nay VHDG nằm trong tổng thể văn hóa dân gian, là một
bộ phận của sáng tác dân gian Tồn tại dưới ngàn năm lịch sử, VHDG đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn học dân tộc Đó là kết tinh những tình cảm, thẩm mĩ, trí tuệ, ngôn ngữ, địa lí, của ông cha ta Chính điều này đã giúp VHDG tạo nên một vị trí không nhỏ trong đời sống văn học dân tộc và trong văn học dùng trong nhà trường Việc đưa VHDG vào giảng dạy trong nhà trường đã được thực hiện từ lâu và ở nhiều bậc học Trong chương trình từ cấp Tiểu học đến bậc THPT đều có một bộ phận của VHDG, mỗi cấp tương ứng với một trình độ nhất định Ở cấp Tiểu học, HS được biết đến VHDG thông qua phân môn kể chuyện và tập đọc Đến cấp THCS thì VHDG được HS tiếp nhận ở phân môn giảng văn và hướng dẫn đọc thêm Thế nhưng, việc tiếp thu của HS còn thấp nên VHDG chỉ được biết đến thông qua một số thể loại ngắn gọn, dễ hiểu như ca dao, tục ngữ, câu đố, Bước sang bậc THPT thì VHDG được xếp thành một chương, được bắt đầu bằng một bài khái quát, tiếp theo đó là các thể loại của VHDG được HS tiếp nhận thông qua các bài đọc văn chọn lọc từ kho VHDG Có thể nói rằng, VHDG trong nhà trường THPT đã đảm bảo đầy đủ các thể loại của VHDG Trong các phân môn của SGK Ngữ Văn THPT thì giảng văn chiếm một vị trí quan trọng với hơn 50% là các bài giảng về các thể loại văn học ở nhiều giai đoạn Bởi thế, VHDG cũng chiếm một số lượng đáng kể trong nhà trường THPT
2.2 Chương trình giảng dạy
VHDG được giảng dạy ở cả 3 cấp học, từ tiểu học, THCS, THPT Nhưng trong phạp vi tiểu luận này chỉ đề cập đến việc vận dụng giảng dạy VHDG theo tính truyền thống vào các tác phẩm dân gian ở cấp THCS và cấp THPT.
cao)
Trang 8Con rồng cháu tiên Những câu hát về tình
Bánh chưng bánh giầy
(Đọc thêm) Những câu hát về tình yêu quê hương, đất
nước, con người
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
Thánh Gióng Những câu hát than
Sơn Tinh, Thủy Tinh Những câu hát châm
mầy
thương, tình nghĩa
Ông lão đánh cá và con
thêm)
tháng ba, tháng bốn (đọc thêm)
Chân, Tay, Tai, Mắt,
sống Lợn cưới áo mới
2.3 Mục đích, yêu cầu của việc giảng dạy tác phẩm VHDG
Chương trình VHDG được giảng dạy xuyên suốt ở các cấp học Mỗi cấp học đều có sự kế thừa, nâng cao Các thể loại trong chương trình khá phong phú Các tác phẩm Trích đoạn đặc sắc, tiêu biểu cho đặc trưng từng thể loại Chương trình đã giúp HS có cái nhìn gần về một bộ phận văn học của người lao động Vì vậy trong quá trình giảng dạy cần truyền đạt những kiến thức trọng tâm đến HS và có cái truyền thụ và tiếp nhận phù hợp.
Mục đích của việc giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông là giúp
HS hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm dân gian Thấy
Trang 9được sự gắn bó mật thiết giữa tác phẩm với đời sống nhân dân qua quá trình diễn xướng dân gian, biến đổi, phục vụ những sinh hoạt , hoạt động thiết thực trong đời sống hằng ngày Ngoài ra còn giúp HS nắm được giá trị của một tác phẩm, một đoạn trính vad hiểu rõ đăc trưng của từng thể laoij VHDG qua một hoặc một vài tác phẩm Có kĩ năng cảm thụ và phân tích tác phẩm VHDG theo đặc trưng chung và đặc trưng từng thể loại Quan trọng hơn cả là bồi dưỡng tình yêu đối với quê hương , đất nước, với con người và với nền VHDG Giúp
HS phan biệt rõ văn học viết và VHDG, từ đó nhận thấy được sự tương đồng vad khác biệt của hai dòng văn học này.
2.4 Thực tế về việc giảng dạy VHDG hiện nay
Văn học dân gian được coi là cội nguồn của văn hóa, văn học dân tộc Nhưng thời lượng dành cho bộ phận văn học này cũng không nhiều ( khoảng trên dưới 15 tiết) Mặt khác, nhiều giáo viên cũng ít chú trọng đến bộ phận văn học này Vì thế, đa phần là giảng dạy có tính chất qua loa đại khái, không bám sát đặc trưng của văn học dân gian, chưa truyền lửa đến cho học sinh yêu thích những tác phẩm này.
Nói đến thực trạng của việc giảng dạy là nói đến những khuynh hướng và cách dạy văn học dân gian phổ biến hiện nay Có những khuynh hướng sau đây:
Một là: Đồng nhất giữa văn học dân gian và văn học viết , dạy văn học dân gian như dạy văn học viết, nên đã hiện đại hóa tác phẩm văn học dân gian, tước bỏ đi những sắc thái vẻ đẹp độc đáo, ý vị vốn có của nó Biểu hiện như sau:
+ Tiếp cận cận văn học dân gian bằng thi pháp của văn học viết, phân tích các yếu tố nghệ thuật của văn học dân gian như phân tích các yếu tố đó của văn học viết: Ví dụ: tiếp cận tác phẩm An Dương Vương- Mị Châu và Trọng Thủy nhiều người đi phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Mị Châu rồi chỉ ra là cô khờ dại
Trang 10+ Chỉ phân tích một cách cô lập trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm văn học dân gian vào trong môi trường dân gian, thời điểm phát sinh
và sự lưu truyền trong đời sống nhân gian để khai thác tức là chỉ chú ý đến yếu tố văn chương mà chưa quan tâm đến những yếu tố phi văn chương của
nó Đây là cách dạy văn học dân gian khá phổ biến ở trong nhà trường THPT Phân tích ca dao giáo viên mới chú ý ở phần lời chứ chưa chú ý ở phần nhạc, phần điệu lý Phân tích sử thi mới chỉ bám vào phần văn bản chứ chưa đặt tác phẩm trong môi trường diễn xướng của nó
Hai là: Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng xóa nhòa ranh giới giữa khoa nghiên cứu văn học dân gian với các khoa học liên quan như dân tộc học, lịch sử, xã hội học, văn hóa học, phong tục học… làm cho bài dạy mất đi những thông tin thẩm mĩ mà chỉ còn lại bức tranh xã hội khô cứng Biểu hiện như sau:
+ Coi tác phẩm văn học dân gian chỉ là điểm xuất phát, cái cớ để giải thích các vấn đề xã hội, lịch sử, dân tộc, tục lệ…phân tích Đăm Săn lại nghiêng
về tục nối dây, phân tích An Dương Vương- Mị Châu và Trọng Thủy để giải thích lễ hội Cổ Loa
+ Từ tác phẩm văn học dân gian liên tưởng mở rộng, dẫn dắt học sinh đến những vấn đề khác ngoài tác phẩm Ví dụ: Phân tích chiến thắng Mơ Tao
Mơ Xay giáo viên lại dẵn dắt đi từ tục cướp vợ đến những lễ hội cồng chiêng, con số ba trong quan niệm của người Tây Nguyên
+ Lấy cái bên ngoài để lôi cuốn, hấp dẫn học sinh chứ không phải bản thân tác phẩm văn học dân gian nhiều người khi giảng dạy Tấm Cám thì lại dẫn dắt học sinh đến thuyết luân hồi trong đạo Phật, thuyết vạn vật hữu linh
để lôi cuốn học sinh.
Ba là: Nhưng phổ biến nhất là các dậy học đơn giản hóa tác phẩm văn học dân gian mà biểu hiện thường thấy là diễn xuôi một các khô khan, nhạt nhẽo bài ca dao; hoặc chia các nhân vật cổ tích thành hai tuyến chính nghĩa
Trang 11và gian tà rồi phân tích một các sơ lược theo lối kể tóm lại sự việc Tôi lấy ví
dụ như khi phân tích câu ca dao " Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai" Giáo viên giảng: Thân em được so sánh như tấm lụa đào, lụa đào đẹp nhưng lại được đem ra trao đổi mua bán ở chợ từ đó đi đến khẳng định thân phận phụ thuộc của người con gái trong xã hội cũ.
Bốn là: Một cực khác đó là dạy theo lối tầm chương trích cú, nhấm nháp hình ảnh ngôn ngữ, làm cho học sinh “thấy cây mà không thấy rừng”; hoặc viện dẫn quá xa, lam man ra ngoài tác phẩm
Thực trạng trên đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo tâm huyết chỉ ra nhưng đến nay sau nhiều năm đổi mới phương pháp giảng dạy văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng nhưng tình hình vẫn không thay đổi Xét về mặt bản chất thì tất cả những phương pháp giảng dạy văn học dân gian trên đây mỗi phương pháp đều có những hạn chế của nó Hoặc
là chưa đúng bàn chất của tác phẩm văn học dân gian, hoặc là quá sa đà với những yếu tố phi văn chương
Tuy nhiên cũng có nhiều thầy cô tâm huyết, họ đã dạy văn học dân gian như nó vốn có trong đời sống thực của dân gian, tức là tiếp cận văn học dân theo tinh thần Folklore học.Nhưng thời lượng tiết dạy quá ít nên không chuyển tải hết được vẻ đẹp về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Một thực trạng hiện nay là học sinh ngày càng xa rời với môn văn, đặc biệt là với văn học dân gian và văn học trung đại Phải chăng do hai bộ phận này không nằm trong chương trình thi đại học hay do xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa trên toàn cầu đã và đang in rất đậm dấu ấn của nó trong tâm lý và tính cách của học sinh Tầm vóc văn hóa cũng như năng lực tư duy của học sinh càng ngày càng hiện đại, và chịu ảnh hưởng rất lớn của nền công nghiệp Lối tư duy cũ của nền văn minh cây lúa nước, lũy tre làng phải nhường bước cho lối tư duy điện tử, điện toán … Đó là thực trạng đau lòng Thế hệ học sinh có khoảng cách khá xa về nhiều mặt với cái thế giới của văn học dân gian Các em chưa hiểu được đặc trưng, vai trò của văn học dân
Trang 12gian vì thế các em học văn học dân gian với tâm thế của việc học văn học viết Dẫn đến việc các em có nhiều suy diễn không hợp lý về tác phẩm văn học dân gian Nhiều em có thái độ xem nhẹ bộ phận văn học dân gian, học theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa
Mặt khác do chưa có nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn học dân gian ở cả hai phía người dạy và người học, nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương pháp giảng dạy đặc thù của văn học dân gian dẫn đến việc học tập văn học dân gian chưa được như mong muốn.
II Giảng dạy VHDG theo tính truyền thống
1 Những cách thức giảng dạy VHDG chưa phù hợp
Hiện nay đa số GV giảng dạy VHDG một cách qua loa, không đi sâu phân tích và ít chú trọng đến đặc trưng chung và đặc trưng từng thể laoij của VHDG Giảng dạy tác phẩm VHDG như tác phẩm văn học viết Từ đó dẫn đến cách giảng dạy bị sai lệch, nội dung không được truyền tải hết đến HS, làm cho HS lẫn lộn giũa VHDG và văn học viết Khi giảng dạy GV chỉ chú ý dựa trên ngôn từ trên văn bản sách giáo khoa mà chưa quan tâm đến các yếu tố bên ngoài văn bản chỉ làm việc trên một văn bản duy nhất chưa quan tâm nhiều đến dị bản Đơn giản hóa tác phẩm, chủ yếu là diễn xuôi lan man Chưa vận dụng được các đặc trưng của VHDG vào quá trình giảng dạy như chưa đặt tác phẩm vào trong môi trường diễn xướng, chưa phân biệt được sân khấu hóa và diễn xướng Chưa chú trọng nhiều đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm chỉ quan tâm đến giá trị đạo đức, giá trị phản ánh hiện thực , kinh nghiệm đời sống và lao động sản xuất Chỉ chú ý đến chi tiết bỏ quên chủ thể
hệ thống Vì vậy cần phải khắc phục các cách thức giảng dạy chưa phù hợp trên và có một phương hướng, phương pháp giảng dạy tác phẩm VHDG một cách hợp lý và tiến bộ hơn.
Trang 132 Phương pháp giảng dạy VHDG theo tính truyền thống
2.1 Tính truyền thống trong VHDG
Tính truyền thống trong VHDG biểu hiện ở các phương diện như thể loại (thể thơ lục bát truyền thống), kiểu truyện ( người mồ côi, người em út, người xấu xí, ), ngôn từ hình ảnh (sự lặp lại của các hình ảnh trong ca dao như trầu cau, bến nước, trúc mai, ), đề tài ( như các mẫu đề quen thuộc của
ca dao: mười thương, chiều chiều, thân em như, ) Ngoài ra tính truyền thống còn thể hiện ở nội dung nghệ thuật, trong sáng tác và diễn xướng Nó phản ánh quy luật sáng tạo và dặc trưng của VHDG Mỗi tác phẩm dân gian đều xây dựng trên một loạt các yếu tố truyền thống nên khi tìm hiểu phân tích, ta phải dựa vào hệ thống và khai thác các yếu tố trong các hệ thống này Đồng thời công thức truyền thống cũng có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề hiện thực được phản ánh trong Folklore Đây là một hiện thực đã được truyền thống chọn lọc, khái quát Chẳng hạn để nói về một vùng quê giàu đẹp, con người thanh lịch, giỏi giang, ca dao dân ca đã có sẵn một hiện thực trong truyền thống thể hiện qua các công thức địa danh , phong cảnh như “ đường
vô quanh quanh”, “ phong cảnh hữu tình”, “như tranh họa đồ”, về con người như “gái đảm trai tài”, “trai hiền gái lịch” Công thức truyền thống có nền tảng văn hóa, dân tộc sâu sắc Công thức trầu – cau gắn bó mật thiết với tục ăn trầu, mời trầu của nhân dân Từ đó hình thành một loạt các hình ảnh trầu cau như trầu gặp gỡ làm quen, trầu thề nguyền chung thủy, trầu gả bán thách cưới, Hay công thức “cây đa” có nguồn gốc từ tục thờ Thành hoàng lâu đời ở các làng xã Công thức “bến nước – con đò” xuất hiện và bắt rễ từ văn hóa sông nước của Việt Nam Từ tầng nền văn hóa, dân tộc đến ý nghĩa của công thức truyền thống là quá trình biến đổi tái tạo sinh động Việc tìm ra cái cốt, cái lõi văn hóa khi phân tích là cần thiết bởi đó lad cuộc sống bền lâu của các công thức thể hiện qua từng tác phẩm
Nghiên cứu về các mẫu đề truyền thống ta thấy mỗi mẫu đề là một chỉnh thể thống nhất nó là văn cảnh cụ thể trực tiếp của một tác phẩm dân
Trang 14gian Cấu trúc của mỗi tác phẩm là sự vận động từ công thức truyền thống này đến công thức truyền thống khác trên cơ sở qui định chặt chẽ của mẫu
đề Đặc điểm này là một trong những nguyên nhân khiến các thể loại trong VHDG giữ được tính truyền thống, mặc khác vẫn sáng tạo không ngừng VHDG được ưa thích vì đã gia nhập được vào tính truyền thống tập thể, vào
sự vận động chung của tác phẩm dân gian đó là cơ sở để làm nảy nở tác phẩm mới theo quỹ đạo của nó
2.2 Giảng dạy theo tính truyền thống
Trong thực tế tác phẩm VHDG được GV truyền thụ một cách một chiều đến với HS, có nhiều phương pháp giảng dạy chưa hợp lý và bỏ quên đi tính chất đặc trưng của VHDG Cũng như đã nêu bên trên, những cách dạy VHDG chưa hợp lý này một phần làm mất đi bản chất thật sự của VHDG, một phần làm cho HS hiểu lan man, sai lệch về bộ phận văn học truyền thống của dân tộc này Đã có nhiều GV đưa ra những cách dạy học mới mẽ để áp dụng vào việc giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông như dạy VHDG theo tổ chức dạy học hợp tác, dạy học kiểu tích hợp, dạy học ứng dụng công nghệ thông tin và nhiều cách dạy khác Nhưng đa phần GV chưa chú trọng đến việc giảng dạy VHDG theo đặc trưng chung của VHDG và đặc trưng riêng từng thể loại VHDG nhiều đặc trưng mà khác hẳn với các dòng văn học khác vì vậy việc giảng dạy theo đặc trưng chung của VHDG sẽ giúp học sinh phân biệt được các dòng văn học hiện hành mà không bị nhầm lẫn Có thể dạy theo tính nguyên hợp, tính dị bản, tính truyền miệng, tính tập thể hoặc dạy theo phương pháp diễn xướng tác phẩm, Ngoài ra trong VHDG có nhiều thể loại, mỗi thể loại đề có đặc trưng riêng Nên việc dạy các tác phẩm theo từng thể loại và theo đặc trưng thể loại đó giúp học sinh tiếp thu nhanh và nhớ kiến thức lâu hơn Ở đây tôi xin giới thiệu về phương pháp giảng dạy tác phẩm VHDG theo tính truyền thống Các tác phẩm dân gian hầu hết mang tính truyền thống Tính truyền thống thể hiện ở nhiều phương diện như thể thơ,
Trang 15cốt truyện, các motip, các công thức dân gian, vì vậy khi giảng dạy tác phẩm theo tính truyền thống HS sẽ dễ hiểu và hình dung rõ hơn về nền văn học lâu đời của dân tộc
2.2.1 Mục tiêu cần đạt
Việc vận dụng tính truyền thống vào việc giảng dạy một tác phẩm VHDG thực sự không đơn giản Nhưng việc vận dụng thành công phương pháp này sẽ giúp bài giảng đến với HS một cách dễ dàng và giúp tiết dạy có thêm phần sinh động Như đã biết, tính truyền thống xuất hiện hầu hết ở các tác phẩm dân gian Từ cốt truyện, kiểu truyện như người mồ côi, người em
út, người xấu xí, đến các công thức quen thuộc như công thức thơ lục bát trong ca dao, công thức mở đầu bằng các cụm từ như “ thân em như”, “chiều chiều”, Chính tính truyền thống đã tạo ra một khuôn mẫu có sẵn cho VHDG,
mà từ đó các tác giả dân gian có thể sáng tác các tác phẩm mới dựa trên các công thức này Mặc khác, đa phần các sáng tác dân gian là của người dân lao động, họ sáng tác ngay trên đồng ruộng, ngay cả lúc cấy lúa giăng câu, lúc dốt đồng cày xới, hay cả lúc tâm tình của những đôi trai gái, vì vậy cần có một khuôn mẫu sẵn để tác phẩm mới hình thành một cách nhanh gọn, nên mới có tính truyền thống này
Trong nhà trường, các tác phẩm dân gian đa phầm khá quen thuộc với
HS Nên việc tiếp cận và tìm hiểu phân tích cũn khá dễ dàng Nhưng nếu chỉ chú trong phân tích mà không hiểu được bản chất của tác phẩm thì cũng chỉ
là con số không Để vận dụng đưa tính truyền thống vào việc giảng dạy tác phẩm dân gian, GV cần có những chuẩn bị, sáng kiến hay, độc đáo, để làm thế nào HS vừa học đúng theo thời lượng chương trình mà còn biết thêm nhiều đặc điểm, nhiều đặc sắc của VHDG GV cần bám sát vào tính truyền thống trong các tác phẩm để tổ chức mở rộng cho HS hiểu rõ hơn
Ví dụ để giảng dạy các tác phẩm truyện cổ tích, GV cho học sinh tìm hiểu về các kiểu truyện tương tự như kiểu truyện về người con gái bất hạnh