Những nét chính: TPP gồm 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan thương mại: các quy định và cam kết thương mại truyền thống và phi truyền thống, tại đó các nội
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong thời điểm hiện tại, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
là một hiệp định đặc biệt quan trọng thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận trongnước và quốc tế Đây là đàm phán thương mại tự do quan trọng nhất của Việt Namtrong thời điểm hiện tại, với phạm vi đàm phán rộng, mức độ cam kết sâu và dựkiến sẽ có tác động rất lớn đến triển vọng hoạt động kinh doanh của các ngành, cácdoanh nghiệp cũng như đời sống xã hội ở Việt Nam nói chung TPP hứa hẹn là mộthiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mạiViệt Nam và Quốc tế Trong thời buổi kinh tế hội nhập, sự ra đời của TPP là tấtyếu, mang đến rất nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đảm bảo đem lạilợi ích nhiều nhất cho tất cả các nước thành viên đang và sẽ tham gia hiệp định.Đối tượng được nghiên cứu là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP:những vấn đề cơ bản của Hiệp định-khái niệm, nội dung chính, tiến trình đàmphán; triển vọng phát triển, thách thức đặt ra và giải pháp cho nền kinh tế ViệtNam sau khi gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP Phươngpháp nghiên cứu là phân tích, tổng hợp các vấn đề xung quanh Hiệp định đối tácxuyên Thái Bình Dương TPP và những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến nền kinhtế thông qua các nội dung chính của văn kiện đã được kí kết và sử dụng các số liệucung cấp Đây là một hiệp định chất lượng cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng
sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; thúc đẩy việc đổimới, năng suất lao động và tính cạnh tranh; nâng cao mức sống, điều kiện sống;giảm nghèo tại các nước; và nâng cao minh bạch hóa, quản trị tốt cũng như bảo hộlao động và bảo vệ môi trường Việc kết thúc đàm phán hiệp định TPP với các tiêuchuẩn mới và cao về thương mại và đầu tư tại khu vực châu Á Thái Bình Dươngđược đánh giá là một bước quan trọng để tiến tới mục tiêu cao nhất về thương mạitự do và hội nhập trên toàn khu vực Với tiêu chuẩn cao, lĩnh vực điều chỉnh rộng
Trang 2và lộ trình thực thi ngắn, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP đượcđánh giá là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới – FTA của thế kỷ
21 Với 12 nền kinh tế thành viên ven bờ Thái Bình Dương, TPP ra đời sẽ hìnhthành một khu vực thị trường rộng lớn, với 800 triệu dân, chiếm hơn 30% kimngạch thương mại toàn cầu, gần 40% GDP thế giới TPP có thể sẽ mang đến chonền kinh tế Việt Nam rất nhiều cơ hội phát triển mới, tuy nhiên, bên cạnh nhữnglợi thế, cũng sẽ có rất nhiều thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những bước đithận trọng và đúng hướng
Trang 3MỤC LỤC
Chương I: Tổng quan về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP
1 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP là gì ?
1.1 Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa)
1.2 Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư)
1.3 Tầm quan trọng không chỉ trong thương mại, mà còn cả về địa chính trị
2.Thách thức
2.1 Bất lợi từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP
2.2 Bất lợi từ việc mở cửa các thị trường dịch vụ
2.3 Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữutrí tuệ
Trang 42.4 Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao về môi trường, lao động, cạnh tranh…
và các ràng buộc mang tính thủ tục khi ban hành các quy định liên quan đến ràocản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ
2.5 Bất lợi từ việc mở cửa thị trường mua sắm công
Chương III: Giải pháp chiến lược:
1 Định hướng giải pháp trọng tâm nhằm đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
2 Giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp Việt cần gấp rút chuẩn bị những gì để cóthể đứng vững trên thương trường
3 Giải pháp cụ thể cho ngành nông nghiệp Việt Nam
Trang 5NỘI DUNG
Chương I: Tổng quan về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP:
1 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP là gì ?
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific PartnershipAgreement - viết tắt TPP) là một thỏa thuận đa phương nhằm thúc đẩy tự do hóakinh tế, đầu tư và thương mại giữa các nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương và hỗtrợ tiến trình tự do hóa rộng rãi hơn trong Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – TháiBình Dương (APEC)
2 Lịch sử hình thành:
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình được ký kết giữa 12 nước vào ngày 4 tháng 2 năm 2016 tại Auckland, New Zealand sau 5 năm đàm phán với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương Thỏa thuận ban đầu đượccác nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký vào ngày 3 tháng 06, 2005
và có hiệu lực ngày 28 tháng 05, 2006 Sau đó, thêm 5 nước đàm phán để gia nhập,
đó là các nước Australia, Malaysia, Peru, Hoa Kỳ, và Việt Nam Ngày 14 tháng 11 năm 2010, ngày cuối cùng của Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Nhật Bản, lãnh đạo của 9 nước (8 nước trên và Nhật Bản) đã tán thành lời đề nghị của tổng thống Obama về việc thiết lập mục tiêu của các cuộc đàm phán thuộc Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2011 diễn ra tại Hoa Kỳ
Trước đây, TPP được biết đến với tên tiếng Anh là Pacific Three Closer Economic Partnership (P3-CEP) và được tổng thống Chile Ricardo Lagos, thủ tướng
Singapore Goh Chok Tong và thủ tướng New Zealand Helen Clark đưa ra thảo luận tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo của APEC diễn ra tại Los Cabos, Mexico
Trang 6Brunei nhanh chóng tham gia đàm phán ở vòng 5 vào tháng 04 năm 2005 Sau vòng đàm phán này, hiệp định lấy tên là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPSEP hoặc P4).
* Tháng 10-2010: Ma-lai-xi-a tham gia TPP;
* Tháng 11-2010: Việt Nam chính thức tham gia TPP;
* Tháng 6-2012: Mê-hi-cô, Ca-na-đa tham gia TPP;
* Tháng 3-2013: Nhật Bản tham gia TPP;
* Tháng 10-2013: Cuộc gặp lãnh đạo các nước TPP, tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a);
* Tháng 12-2013: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Xin-ga-po;
* Tháng 2-2014: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Xin-ga-po;
Trang 7* Tháng 5-2014: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Xin-ga-po;
* Tháng 7-2014: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Xít-ni (Ô-xtrây-li-a);
* Tháng 7-2015: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Ha-oai (Mỹ);
* Tháng 10-2015: Hội nghị Bộ trưởng TPP, tại Át-lan-ta (Mỹ);
* Ngày 5-10-2015: Công bố kết thúc đàm phán TPP
4 Những nét chính:
TPP gồm 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan thương mại: các quy định và cam kết thương mại truyền thống và phi truyền thống, tại đó các nội dung về thương mại truyền thống như mở cửa thị trường hàng hóa, xuất nhập khẩu, thuế quan, phi thuế quan và các biện pháp tại biên giới vẫn tiếp tục duy trì vàthực hiện tự do hóa ở cấp độ sâu rộng hơn; Hiệp định sẽ điều chỉnh các nội dung thương mại phi truyền thống, trực tiếp gắn với hoạt động kinh doanh đầu tư, cũng như hình thành thị trường trao đổi các yếu tố của quá trình sản xuất như lao động, đất đai, môi trường, vốn, khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ…Ngoài việc nâng cấpcách tiếp cận truyền thống như trong các FTA trước đó, TPP còn đưa vào những vấn đề thương mại mới nổi lên, vì thế TPP được đánh giá là một FTA mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21 Ngoài phần đầu về các điều khoản và định nghĩa chung
và phần cuối về các ngoại lệ, các chương quy định cụ thể trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định
- Về thương mại hàng hóa: Xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi
thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp (được thực hiện ngay khi hiệp định có hiệu lực); xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách mang tính hạn chế đối
Trang 8với hàng hóa nông nghiệp; xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp; nâng cao tính minh bạch trong vận hành doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu và trong các hoạt động công nghệ sinh học nông nghiệp…;
- Về dệt may: Xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may (hầu hết thực hiện ngay lập
tức); quy định cụ thể về việc sử dụng sợi và vải từ khu vực TPP, cũng như từ bên ngoài theo cơ chế “nguồn cung thiếu hụt”;
- Về quy tắc xuất xứ: Thống nhất một bộ quy tắc xuất xứ chung để xác định một
hàng hóa cụ thể được hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP; bảo đảm doanh nghiệp hoạt động dễ dàng xuyên khu vực thông qua một hệ thống chung về chứng minh
và kiểm tra xuất xứ hàng hóa TPP;
- Về quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại: Thúc đẩy tạo thuận lợi cho
thương mại; nâng cao tính minh bạch trong thủ tục hải quan, xử phạt; cung cấp thông tin nhằm hỗ trợ thực thi Luật Hải quan;
- Về các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật (SPS); hàng rào kỹ thuật
thương mại (TBT); và phòng vệ thương mại: Bảo đảm các quy định về SPS, các
tiêu chuẩn kỹ thuật được đưa ra dựa trên căn cứ khoa học, mang tính minh bạch, không phân biệt đối xử, không tạo ra các rào cản đối với thương mại;
- Về đầu tư: Các cam kết nghĩa vụ dựa trên cơ sở một “danh mục chọn - bỏ”, nghĩa
là thị trường các nước mở hoàn toàn đối với nhà đầu tư nước ngoài, trừ khi có ngoại lệ (biện pháp bảo lưu không tương thích) theo các phụ lục đính kèm;
- Về thương mại dịch vụ qua biên giới; dịch vụ tài chính: Không áp dụng hạn chế
định lượng đối với việc cung cấp dịch vụ; mở cửa thị trường đầu tư qua biên giới, bảo đảm duy trì quyền quản lý đầy đủ đối với các tổ chức và thị trường tài chính,
Trang 9thực hiện các biện pháp khẩn cấp khi xảy ra khủng hoảng…;
- Về viễn thông; thương mại điện tử: Bảo đảm mạng viễn thông hiệu quả và đáng
tin cậy; ngăn chặn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ trong nước đối với các sản phẩm kỹ thuật số;
- Về mua sắm của Chính phủ: Mở cửa thị trường mua sắm chính phủ thông qua
các quy định công bằng, minh bạch, có thể dự đoán và không phân biệt đối xử;
- Về chính sách cạnh tranh: Bảo đảm khung khổ cạnh tranh bình đẳng thông qua
yêu cầu duy trì hệ thống luật pháp; cấm những hành vi kinh doanh phi cạnh tranh, gian lận thương mại và lừa đảo, gây thiệt hại cho người tiêu dùng…; hợp tác thực thi Luật Cạnh tranh thông qua thông báo, tham vấn hoặc trao đổi thông tin;
- Về doanh nghiệp nhà nước (SOE): Bảo đảm các SOE hoạt động thương mại trên
cơ sở tính toán thương mại, trừ nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công; các SOE hoặc đơn vị độc quyền không có hoạt động phân biệt đối xử với các doanh nghiệp, hànghóa, dịch vụ của thành viên khác…;
- Về sở hữu trí tuệ: Quy định cụ thể về tiêu chuẩn, các cam kết liên quan bằng sáng
chế, nhãn hiệu, bản quyền, bí mật thương mại, các hình thức khác của quyền sở hữu trí tuệ; quy định việc thực thi các quyền về sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực đồng
ý hợp tác;
- Về lao động; môi trường: Thừa nhận mối liên hệ giữa quyền của người lao động
với thương mai, duy trì trong luật và thông lệ các quyền cơ bản của người lao động, xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử về việclàm và nghề nghiệp Cam kết mạnh mẽ bảo vệ và bảo tồn môi trường, hợp tác giải
Trang 10quyết các thách thức về môi trường…;
- Về doanh nghiệp vừa và nhỏ: Quy định thành lập Ủy ban Doanh nghiệp vừa và
nhỏ để rà soát mức độ hỗ trợ của TPP cho các doanh nghiệp; cân nhắc các cách thức để nâng cao hơn nữa những lợi ích của Hiệp định và giám sát các hoạt động hợp tác hoặc nâng cao năng lực; chia sẻ thông tin;
Hiệp định còn có các quy định cụ thể liên quan các vấn đề nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh; hợp tác và nâng cao năng lực; gắn kết môi trường chính sách; minh bạch hóa và chống tham nhũng; các điều khoản về hành chính và thể chế; giải quyết tranh chấp…
Chương II: Nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP:
1 Cơ hội:
Lợi ích ở thị trường các nước đối tác TPP mà Việt Nam có thể tận dụng từ TPP thểhiện ở 2 hình thức chủ yếu:
1.1 Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa):
Lợi ích này được suy đoán là sẽ có được khi hàng hóa Việt Nam được tiếp cận cácthị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0 Như vậy lợi ích này chỉ thực tếnếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuế quan cao ở các thị trường này và thuế quan là vấn đề duy nhất cản trở sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường này
Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp như vậy sẽ mang lại
Trang 11một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…), nó còn là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa
có kim ngạch đáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh Nói một cách khác, lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năngtrong tương lai
Tuy nhiên, lợi ích này cần được đánh giá một cách chừng mực hơn, đặc biệt khi quyết định đánh đổi quyền tiếp cận thị trường Việt Nam của hàng hóa nước ngoài
để có được những lợi ích này Cụ thể:
+ Thực tế, cơ hội tăng mạnh xuất khẩu không phải cho tất cả khi mà ví dụ đối với Hoa Kỳ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đã đang được hưởng mức thuế suất gần bằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng không quan trọng Cũng như vậy, dù rằng tương lai không hẳn chắc chắn nhưng một số mặt hàng có thể được Hoa Kỳ xem xét cho hưởng GSP “miễn phí” nếu chúng ta có nỗ lực vận động tốt mà không cần TPP với những cái giá phải trả có thể lớn (bằng việc mở cửa thị trường nội địa cũng như những ràng buộc khác) Đối với các ngành thuộc nhóm này, lợi ích thuế quan là không đáng kể (hoặc không có) Tình trạng tương tự với một số thị trường khác (ví dụ Úc, New Zealand, Peru hiện đã áp dụng mức thuế 0% cho các sản phẩm thủy sản như cá, tôm, cua… của Việt Nam);
+ Đối với những mặt hàng khác, trong khi cơ hội tăng xuất khẩu với giá cạnh tranh là có thật và rất lớn (ví dụ dệt may, da giầy), những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay kiện phòng vệ thương mại với quy chế nền kinh
Trang 12tế phi thị trường mà Hoa Kỳ thực hiện rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảmthuế quan Cũng như vậy những điều kiện ngặt nghèo về lao động, về xuất xứ nguyên liệu cũng có thể khiến hàng hóa Việt Nam không tận dụng được lợi ích từ việc giảm thuế trong TPP.
Nói một cách khác, những lợi ích về thuế quan trên thị trường nước đối tác TPP (đặc biệt là Hoa Kỳ) chỉ thực sự đầy đủ khi xem xét tất cả các yếu tố Và nếu bất
kỳ yếu tố nào trong số những rào cản đối với hàng xuất khẩu không được cải thiện thì lợi ích thuế quan từ TPP sẽ bị giảm sút, thậm chí nếu những rào cản này bị lạm dụng, lợi ích từ thuế quan có thể bị vô hiệu hóa hoàn toàn Phương án đàm phán vềthuế quan vì vậy cần phải lưu ý đến tất cả những yếu tố này
1.2 Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư):
Về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn Tuy vậy trên thực tế dịch vụ của Việt Nam hầu như chưa có đầu tư đáng kể ở nước ngoài do năng lực cung cấp dịchvụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém Trong tương lai, tình hình này có thể thay đổi đôi chút (với những nỗ lực trong việc xuất khẩu phần mềm, đầu tư viễn thông hay một số lĩnh vực dịch vụ khác) tuy nhiên khả năng này tương đối nhỏ
Ngoài ra, với hiện trạng mở cửa tương đối rộng về dịch vụ của các đối tác quan trọng trong TPP như hiện nay, lợi ích này có thể không có ý nghĩa (bởi có hay không có TPP thì thị trường dịch vụ của họ cũng đã mở sẵn rồi) Đây cũng chính là
lý do nhiều ý kiến cho rằng các nước phát triển sẽ được lợi về dịch vụ trong TPP trong khi những nước như Việt Nam hầu như không hưởng lợi gì từ việc này
Trang 13Nhóm các lợi ích khai thác được tại thị trường nội địa Trong thực thi các FTA, thịtrường nội địa thường được hiểu là nơi chịu thiệt hại Tuy nhiên, đối với trường hợp của Việt Nam, nhiều chuyên gia nhấn mạnh rằng chúng ta có thể “có lời” từ TPP ngay cả ở thị trường nội địa, nơi vốn được xem là “chỉ chịu thiệt” từ các FTA nói chung Về kinh tế, theo tính toán của các chuyên gia độc lập, TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm
2030, còn xuất khẩu có thể tăng 68 tỷ USD vào năm 2025 so với trường hợp không
có TPP
“Khoản lời” này nằm ở những khía cạnh sau đây:
- Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP: Người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này;
- Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP:
Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻ hơn chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, những công nghệ và phương thức quản lý mới cho đối tác Việt Nam và một sức ép để cải tổ và để tiến bộ hơn cho các đơn vị dịchvụ nội địa Những nội dung cam kết hội nhập trong cả WTO và TPP nói trên đã và
sẽ tiếp tục tạo điều kiện tự do hóa từng bước thị trường, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; đồng thời, tiếp tục bảo hộ các hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ của các doanh nghiệp trong nước và giúp cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với nguồn hàng hóa dịch vụ đa dạng từ nước ngoài, học hỏi trình độ kỹ thuật cao của các nước có trình độ công nghệ, kỹ thuật phát triển;
Trang 14- Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung của TPP: TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề xuyênsuốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ pháttriển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài và xuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt
có ý nghĩa đối với nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (doanh nghiệp nhỏ
là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệt trong đầu
tư từ các nước đối tác TPP) và bảo vệ người lao động nội địa
Trang 15(Theo tính toán của các chuyên gia độc lập, TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2030, còn xuất khẩu có
thể tăng 68 tỷ USD vào năm 2025 so với trường hợp không có TPP.)
1.3 Tầm quan trọng không chỉ trong thương mại, mà còn cả về địa chính trị:
Thường được coi là “xương sống kinh tế” trong kế hoạch chiến lược của Tổngthống Mỹ Barack Obama tại châu Á, mục tiêu đối với Mỹ và Nhật Bản là phảivượt mặt Trung Quốc, nước không thuộc TPP, và lập nên một vùng kinh tế ở Vànhđai Thái Bình Dương nhằm cân bằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khuvực Điều này cũng nhằm lập ra những nguyên tắc cho nền kinh tế thế giới trongthế kỷ 21, quy định từ chuyển giao dữ liệu giữa các nước cho đến thủ tục để cáccông ty do chính phủ quản lý được phép cạnh tranh trên trường quốc tế
“Chúng ta có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các hoạt động thương mại hiệuquả”, ông Obama phát biểu trưởng Đại hội đồng Liên Hợp Quốc “Và đó là mụctiêu chính của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, một thỏa thuận thươngmại trong một khối chiếm 40% nền kinh tế thế giới, một hiệp định sẽ mở ra nhữngthị trường mới, đồng thời bảo vệ quyền của người lao động và môi trường cạnhtranh nhằm đảm bảo phát triển lâu dài”
2.Thách thức:
Tuy nhiên, tham gia TPP, bên cạnh mặt thuận lợi và lợi ích mang lại, thì rủi ro và thách thức luôn đi kèm và không nhỏ đối với Việt Nam, trong điều kiện là nước thu nhập trung bình trình độ nền kinh tế phát triển ở mức thấp nhất trong 12 nước thành viên TPP, hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chất lượng nguồn nhân lực thấp; thể chế kinh tế và thực thi pháp luật còn nhiều bất cập; năng lực cạnh tranh