Trong thời gian 2 tháng 26/03 –18/05/2012, em đã được tiếp cận, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.Qua đónhận được sự chỉ đạo tận tình, sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ để tìm hiể
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập cuối khóa là giai đoạn quan trọng đối với sinh viên nói chung vàsinh viên Học viện Hành chính nói riêng Thông qua quá trình này giúp sinh viênhiểu được tổ chức và hoạt động của Bộ máy và thể chế hành chính Nhà nước; nắmvững chức năng và nhiệm vụ của một số vị trí công việc của cán bộ công chứctrong bộ máy hành chính nhà nước; tiếp cận và làm quen với công việc thực tiễn,
có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn để rèn luyện kĩ năng vànghiệp vụ quản lý hành chính, tích lũy thêm kinh nghiệm cho bản thân.Từ đó tiếntới rút ngắn và xóa bỏ khoảng cách giữa lý thuyết được đào tạo và hoạt động thựctiễn
Với vai trò quan trọng của đợt thực tập cuối khóa Học viện Hành chính đã
tổ chức cho các sinh viên thực tập tại các cơ quan hành chính các đơn vị sự nghiệptrên địa bàn Hà Nội và ở các địa phương.Vừa qua em đã vinh dự được Học viện bốtrí về thực tập tại Uỷ ban Biên giới quốc gia Trong thời gian 2 tháng ( 26/03 –18/05/2012), em đã được tiếp cận, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.Qua đónhận được sự chỉ đạo tận tình, sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ để tìm hiểu,nghiên cứu của các cô chú, anh chị trong trong cơ quan, sự hướng dẫn chu đáo của
các thầy cô trong đoàn thực tập số 37, em đã chọn đề tài: “Công tác quản lý Nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc của Uỷ ban Biên giới quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao’’ làm thực tập cuối khóa của mình Tronh bài
báo cáo này em sẽ làm rõ về công tác quản lý Nhà nước về biên giới trên đất liềngiữa Việt Nam- Trung Quốc của Uỷ ban Biên giới quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao
Qua đây em muốn gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo các phòng ban, các vụ và các
cô chú, anh chị công tác tại Uỷ ban Biên giới quốc gia, chị Lê Minh Trang là nguờiphụ trách trực tiếp Đặc biệt là thầy Nguyễn Minh Đức, thầy Nguyễn Huy Hoàng,
cô Nguyễn Hải Vân- Khoa Lý luận cở sở, Ban đào tạo Học viện Hành chính đãgiúp em hoàn thành chương trình thực tập tốt nghiệp và có được thời gian thực tậpthật ý nghĩa
Do thời gian thực tập có hạn nên báo cáo thực tập cũng không thể tránh khỏinhững thiếu sót và khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp nhận
xét đánh giá của quý thầy cô và các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày… tháng… năm.
Sinh viên
ĐỊNH HỮU ÍCH
Trang 2LỊCH THỰC TẬP TẠI UỶ BAN BIÊN GIỚI QUỐC GIA –
- Gặp gỡ cán bộ Uỷ ban Biên giới quốc gia;
- Nghe quy chế và tìm hiểu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Biên giới quốc gia
Tuần 2
(02/04 – 08/04)
- Tìm đọc tài liệu về Uỷ ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao;
- Được phân công về Vụ Tuyên truyền, Thông tin và Tư liệu;
- Tìm hiểu tài liệu và lựa chọn đề tài báo cáo
Tuần 3
(09/04 – 15/04)
- Nghiên cứu tài liệu tại thư viện của Vụ Tuyên truyền, Thông tin và Tư liệu;
- Thu thập tài liệu;
- Nộp đề cương chi tiết
Tuần 4
(16/04 – 22/04)
- Sửa đề cương;
- Nộp bản hoàn thiện để cán bộ Vụ Tuyên truyền, Thông tin và
Tư liệu sửa
Tuần 5
(23/04 – 29/04)
- Tiếp tục nghiên cứu, thu thập tài liệu về công tác quản lý nhà nước về biên giới biển của Uỷ ban Biên giới quốc gia
Trang 4CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ỦY BAN BIÊN GIỚI QUỐC GIA – BỘ
sử, hàng trăm cuộc kháng chiến chống quân xâm lược thời kì phong kiến khẳngđịnh chủ quyền, đến thế kỉ XX đã đánh dấu một thời kì vĩ đại nhất của dân tộctrong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc và tạodựng một đường biên giới hoàn chỉnh nhất cho đến ngày hôm nay Chính vì vậy,vấn đề biên giới luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm một cách đúng đắn vàkịp thời
Tháng 2 năm 1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Đảngcộng sản Việt Nam hiện nay) đã ra Nghị quyết thành lập Ban Biên giới Trungương để “giúp Trung ương Đảng và Chính phủ theo dõi chỉ đạo công tác biêngiới,nghiên cứu và đề nghị với Trung ương và Chính phủ những chính sách và biệnpháp cụ thể nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến công tác biên giới, tổchức việc phối hợp giữa các ngành có liên quan trong phạm vi hoạt động ở biêngiới
Tháng 10/1975 Chính phủ đã ban hành Nghị định 188/CP- NĐ thành lậpBan Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng Ban này đã trở thành cơ quan chuyên tráchgiúp Hội đồng Bộ trưởng “Tăng cường chỉ đạo việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ,biên giới trên đất liền và trên biển, các hải đảo, thềm lục địa, tài nguyên biển…nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và ngày 06/10/1978 đã trở thành ngàytruyền thống của Ban Biên giới
Trang 5Trước sự phát triển và tầm quan trọng của công tác quản lý biên giới lãnhthổ, ngày 08/05/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị quyết 21/CP quy đinh
“Ban Biên giới là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng quản lý và chỉ đạo côngtác biên giới, lãnh thổ Việt Nam” Ban Biên giới đã trở thành một cơ quan độc lậptrực thuộc Chính phủ
Từ năm 2011 đến nay, Ban Biên giới trực thuộc Bộ Ngoại giao.Thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ quốc gia, ban này thực hiện cácnhiệm vụ nắm bắt tình hình diễn biết các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ rồinghiên cứu chính sách quy định để giúp Chính phủ về vấn đề biên giới lãnh thổ
Ngày 01/06/2007 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 126/QĐ – TTg
về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Biêngiới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Ngoạigiao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ quốc gia”, nhằmquản lý và giải quyết các vấn đề tranh chấp và giúp Chính phủ quản lý thống nhấtcác vấn đề biên giới quốc gia
Ngày 08/08/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 108/2008/QĐ-TTg
về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Biêngiới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao
Đã trải qua hơn 40 năm là một cơ quan độc lập, Uỷ Ban Biên giới quốc gia
đã hoàn thành nhiệm vụ của mình giúp Chính phủ quản lý hiệu quả các vấn đề biêngiới,lãnh thổ quốc gia tạo nên một tiền đề vững mạnh cho các bước theo sự nghiệpcủa mình
Từ năm 1975- 1993 được gọi là Ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng đây
là cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ tăng cường chỉ đạo về việc bảo vệ chủquyền quốc gia về lãnh thổ biên giới
Từ năm 1993- 2001 được gọi là Ban Biên giới Chính phủ là cơ quan chuyênmôn đặc trách vấn đề biên giới của Chính phủ
Trang 6Từ 2001 đến 2007 Ban Biên giới được chuyển và chịu sự lãnh đạo quản lýcủa Bộ Ngoại giao là một ban đặc trách các vấn đề quản lý biên giới, lãnh thổ.
Từ 2007 đến nay được gọi là Uỷ ban Biên giới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoạigiao có trách nhiệm giúp Bộ Ngoại giao thực hiện chức năng quản lý về biên giớilãnh thổ quốc gia
Mặc dù trải qua 5 thời kỳ thay đổi khác nhau nhưng Uỷ Ban biên giới vốnvẫn là cơ quan tham mưu cho Chính phủ về vấn đề biên giới lãnh thổ
Uỷ ban Biên giới quốc gia có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy,được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy địh của pháp luật,trụ sở đặt tạithành phố Hà Nội
Nghiên cứu, đề xuất để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trình Chính phủ, Thủtướng Chính phủ xác định và tổng hợp, đánh giá, kiểm tra tình hình quản lý biêngiới, lãnh thổ quốc gia, vùng trời, các vùng biển, các hải đảo và thềm lục địa ViệtNam; dự báo và đề xuất các chủ trương, chính sách, và các biên pháp quản lý thíchhợp và tham gia tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến biên giớilãnh thổ
Chủ trì, đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới, soạn thảo các phương ánhoạch định biên giới quốc gia, xác định ranh giới vùng trời, các vùng biển và thềmlục địa của Việt Nam
Chủ trì, phối hợp hoặc yêu cầu với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương liên
Trang 7quan thực hiện tham mưu cho Chính phủ, kiểm tra, theo dõi, tổng hợp tình hình và
xử lý tranh chấp ở các khu biên giới trên đất liền, vùng trời, các vùng biển, các hảiđảo và thềm lục địa của Việt Nam
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng,lãng phí và xử lý các vi phạm về công tác biên giới, lãnh thổ quốc gia theo quyđịnh của pháp luật
Xử lý hoặc hướng dẫn xử lý theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đốivới các vấn đề phát sinh trong các hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương liênquan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên đất liền, vùng trời,các vùng biển, các hải đảo, thềm lục địa và đáy đại dương Thực hiện hợp tác quốc
tế liên quan đến biên giới, lãnh thổ quốc gia theo quy định của pháp luật
Thẩm định các bản đồ và ấn phẩm có liên quan đến đường biên giới quốcgia, các vùng biển, các hải đảo và thềm lục địa của Việt Nam trước khi xuất bản,phát hành tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về quản lý biên giới, lãnh thổquốc gia, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công tác biên giớitại các Bộ, ngành, địa phương
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế tài chính và tài sản được giao theo quyđịnh của pháp luật và phân cấp của Bộ Ngoại giao
1.4 Cơ cấu tổ chức
Uỷ ban Biên giới quốc gia có Chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm Chủ nhiệm
Uỷ ban biên giới quốc gia là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao do Thủ tướng Chính phủ
bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và chịu tráchnhiệm trước Bộ trưởng Bộ Ngoại giao về toàn bộ hoạt động của Uỷ ban Phó Chủnhiệm Uỷ ban do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghịcủa Chủ nhiệm Uỷ ban và chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm Uỷ ban về lĩnh vựccông tác được phân công
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của đơn vị nêu tại khoản 2Điểu này thực theo quy định của Chính phủ và phân cấp quản lý của Bộ trưởng BộNgoại giao
Biên chế cán bộ công chức, viên chức của Uỷ ban Biên giới quốc gia
do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quyết định trong tổng số biên chế của Bộ Ngoại giao
Uỷ ban Biên giới quốc gia có các đơn vị chức năng sau:
Trang 8Vụ Biên giới Việt- Trung;
Vụ Biên giới phía Tây;
Vụ Biển;
Vụ Tuyên truyền, Thông tin và Tư liệu;
Văn phòng;
Ban Nghiên cứu chính sách biển
Cơ cấu nhân sự của Uỷ ban Biên giới quốc gia:
Lãnh đạo Uỷ ban:… người
Chủ nhiệm Uỷ ban:… người
Tuyên truyền, Thông tin và Tư
Văn phòng
Uỷ ban
Ban nghiên cứu chính sách
Trang 9II Nội dung công tác quản lý nhà nước về biên giới quốc gia trên đất liền
2.1 Những Khái Niệm Cơ Bản
2.1.1 Biên giới quốc gia
Biên giới quốc gia là đề cập tổng hợp các bộ phận để xác định phạm vi lãnhthổ một quốc gia, bao gồm: Biên giới trên đất liền, biên giới trên không, trên biển
và trong lòng đất Theo Luật Biên giới quốc gia của nước ta năm 2003 trong Điều
1 có quy định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền,các vùng biển, các hải đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
2.1.2 Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia
Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia có thể hiểu là sự tác động có tổ chức
và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình kinh tế xã hội
và các hành vi hoạt động để duy trì đường biên giới, duy trì và phát triển các mốiquan hệ kinh tế xã hội và trật tự pháp luật,nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước trong công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế ở khu vực biên giới,các vùng biển, bảo vệ và thực thi chủ quyền, các quyền chủ quyền, quyền tài phán
và các lợi ích quốc gia trên các tuyến biên giới và vùng biển
Đây là một dạng quản lý mang tính đặc thù trong hoạt động quản lý nhànước Bởi đối tượng quản lý là biên giới quốc gia ranh giới xác định phạm vi lãnhthổ quốc gia, phạm vi thực hiện chủ quyền quốc gia và liên quan đến lãnh thổ củaquốc gia khác, chủ quyền quốc gia khác do các nước có liên quan cùng xác lập.Hơn nữa, quản lý nhà nước về biên giới quốc gia là do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện trên cơ sở pháp luật quốc gia đó và điều ước quốc tế do cácquốc gia hữu quan xây dựng nên nhằm đảm bảo sự ổn định và bất khả xâm phạmbiên giới quốc gia, lãnh thổ quốc gia, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các cá nhân, các cơ quan tổ chức và quốc gia mình Ở mỗiquốc gia đều thành lập các cơ quan chuyên trách để đảm nhận công tác này Ở ViệtNam, “Uỷ ban Biên giới quốc gia là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước và chỉđạo công tác biên giới, lãnh thổ quốc gia, xác định chủ quyền và quyền của Nhà
Trang 10nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên đất liền, trên không, trên biển, cáchải đảo và thềm lục địa của Việt Nam”.
Mục đích của quản lý nhà nước về biên giới quốc gia:
Duy trì ổn định và bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia;
Bảo vệ chủ quyền quốc gia;
Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm lãnh thổ quốc gia;
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia
Quản lý dân cư sống trong lãnh thổ quốc gia và sự đi lại của dân cư trongnước ra ngoài và ngược lại
Tạo ra biên giới quốc gia hòa bình, ổn định và hợp tác
2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về Biên giới quốc gia
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách về biên giới quốcgia;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về biêngiới quốc gia, chính sách, chế độ về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;
3 Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế về biên giới quốcgia;
4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia;
5 Quyết định xây dựng công trình biên giới, công trình kinh tế - xã hội ởkhu vực biên giới;
6 Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ việc xây dựng,quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;
7 Xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách; đào tạo, bồi dưỡng nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;
8 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về biên giới quốc gia;
9 Hợp tác quốc tế trong việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
Trang 112.1.4 Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc
Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia trên đất liền Việt- Trung là sự tácđộng có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trìnhkinh tế xã hội và các hành vi hoạt động để duy trì đường biên giới trên đất liềnViệt- Trung, duy trì và phát triển các mối quan hệ kinh tế xã hội và trật tự phápluật nhằm thực hiện những chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc bảo
vệ và phát triển kinh tế ở biên giới phía Bắc, bảo vệ và thực thi chủ quyền, cácquyền chủ quyền, quyền tài phán cà các lợi ích quốc gia trên tuyến biên giới ViệtNam- Trung Quốc
2.2.Tổng quan về Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc
Đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài 1449,566 km,trong đó có 383,914 km đường biên giới đi theo sông suối, tiếp giáp giữa 7 tỉnhĐiện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh củaViệt Nam với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của TrungQuốc Khu vực biên giới hai nước có cấu trúc địa hình tương đối phức tạp, độ chiacắt lớn, thấp dần từ Tây sang Đông dẫn đến hệ thống sông suối nơi đây phần lớn
có xu hướng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, ít có giá trị đối với giao thôngđường thủy Tùy theo mùa, theo từng đoạn, khi thì nước xuống thấp khi thì dângcao, chảy mạnh gây bồi lở và đổi dòng dẫn đến việc biến đổi địa hình lòng sông.Khu vực này cũng có một số tài nguyên khoáng sản đã và đang được nghiên cứunhưng nhìn chung các mỏ có trữ lượng thấp, ít có giá trị khai thác thươngmại Ngoài ra, đây cũng là khu vực có triển vọng về tài nguyên rừng Do sự khaithác không có kế hoạch và tình trạng đốt rừng làm nương rẫy nên diện tích che phủcủa rừng bị giảm sút nghiêm trọng khiến chế độ dòng chảy của các con sông bịbiến đổi, hiện tượng xói lở, lũ ống, lũ quét trở nên thường xuyên hơn ảnh hưởngtrực tiếp đến vùng dân cư cả khu vực miền núi và đồng bằng
Hiện nay, Việt Nam – Trung Quốc đã mở 9 cặp cửa khẩu, đó là:
Tên cửa khẩu Việt Nam Tên cửa khẩu Trung Quốc
Ma Lù Thàng Kim Thủy Hà
Lào Cai (đường bộ) Hà Khẩu (đường bộ)
Lào Cai (đường sắt) Hà Khẩu (đường sắt)
Thanh Thủy Thiên Bảo
Trang 12Trà Lĩnh Long Bang
Tà Lùng Thủy Khẩu
Đồng Đăng (đường sắt) Bằng Tường (đường sắt)
Hữu Nghị Hữu Nghị Quan
Móng Cái Đông Hưng
Hai bên cũng thống nhất sẽ mở các cặp cửa khẩu dưới đây khi đủ điều kiện
Tên cửa khẩu Việt Nam Tên cửa khẩu Trung Quốc
Hạ Lang Khoa Giáp
Bình Nghi Bình Nhi Quan
Chi Ma Ái Điểm
Hoành Mô Động Trung
Ngày 18/11/2009, hai nước đã ký Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệpđịnh về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửakhẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc đánh dấu việc hai nước kếtthúc trọn vẹn quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Ba văn kiện nàychính thức có hiệu lực từ ngày 14/7/2010
Trang 13Quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốctrải qua 3 mốc lớn là: đàm phán ký kết Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam -Trung Quốc; triển khai và hoàn thành phân giới cắm mốc trên thực địa; đàm phán
ký kết 3 văn kiện liên quan đến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc
2.2.1 Đàm phán ký kết Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc
Từ cuối thế kỷ XIX đường biên giới Việt – Trung được hoạch định trongCông ước hoạch định biên giới ngày 26/06/1887 và Công ước bổ sung ngày20/06/1895 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc) Tuy nhiên trải qua hơn
100 năm, do tác động của thời tiết và biến động về chính trị - xã hội ở mỗi nướccũng như trong quan hệ hai nước, đường biên giới Việt – Trung đã có sự biến đổi
Tháng 10/1993, hai bên đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giảiquyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam – Trung Quốc Theo đó, hai bênthỏa thuận trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiệp thươnghữu nghị để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc; lấyCông ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 và các văn kiện, bản đồ hoạch định, cắmmốc biên giới kèm theo làm căn cứ để xác định lại đường biên giới Việt – Trung
Sau 8 năm kiên trì đàm phán, ngày 30/12/1999, tại Hà Nội, thay mặt hai Nhànước, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Bộtrưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền đã ký Hiệp ước về biên giới đấtliền Việt Nam – Trung Quốc, đặt nền tảng cho việc xây dựng đường biên giới hòabình, ổn định lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước 1999 có ý nghĩa to lớn, là sự kiện quan trọng trong lịch sử quan hệViệt – Trung Đặc biệt, Hiệp ước 1999 ghi nhận toàn bộ hướng đi của đường biêngiới Việt – Trung từ Tây sang Đông và đã trở thành cơ sở pháp lý cho việc phângiới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc
2.2.2 Quá trình phân giới cắm mốc
Tháng 12/2001, hai bên tiến hành cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu MóngCái (Quảng Ninh – Việt Nam) – Đông Hưng (Quảng Tây – Trung Quốc) Từ tháng10/2002, hai bên đồng loạt triển khai phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giớiViệt – Trung
Riêng trong năm 2008, hai bên đã tiến hành 11 vòng đàm phán cấp Chủtịch Ủy ban liên hợp, vòng ngắn nhất kéo dài 9 ngày, vòng dài nhất kéo dài 23ngày, phiên họp dài nhất tiến hành liên tục suốt hơn 30 giờ liền
Trang 14Ngày 31/12/2008, hai bên đã giải quyết dứt điểm toàn bộ các vấn đề còn tồntại, hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền ViệtNam – Trung Quốc.
- Kết quả: Hai bên đã phân giới xong toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt –
Trung dài 1449,566 km; cắm tổng số 1971 cột mốc (trong đó có 01 mốc ba ViệtNam – Trung Quốc – Lào; 1548 cột mốc chính; 422 cột mốc phụ) Hệ thống mốcgiới này đã được đánh dấu, ghi nhận và mô tả phù hợp với địa hình thực tế mộtcách khách quan, khoa học, chi tiết Nếu so sánh với đường biên giới của các nướctrên thế giới, đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được đánh giá
là có mức độ cột mốc dầy đặc và rõ ràng nhất, được xác định theo phương pháphiện đại đảm bảo tính trung thực và bền vững lâu dài
Ngày 23/2/2009, ta và Trung Quốc đã long trọng tổ chức Lễ chào mừnghoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - TrungQuốc tại cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị quan Đây là một sự kiện quan trọngkhông chỉ đối với nước ta và quan hệ Việt - Trung mà còn đối với cả khu vực
2.2.3 Quá trình đàm phán, ký kết và phê chuẩn các văn kiện sau phân giới cắm mốc
Ngày 18/11/2009, tại Bắc Kinh, hai bên chính thức ký 3 văn kiện nêu trênđánh dấu hai nước đã hoàn thành trọn vẹn việc giải quyết vấn đề biên giới trên đấtliền
Tiếp đó, hai bên khẩn trương hoàn thiện các thủ tục phê chuẩn Ngày14/7/2010, tại khu vực cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang – Việt Nam) – Thiên Bảo(Vân Nam – Trung Quốc) hai bên tổ chức lễ công bố các văn kiện trên chính thức
có hiệu lực Ba văn kiện Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chếquản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giớitrên đất liền Việt Nam - Trung Quốc cùng với Hiệp ước biên giới trên đất liền ViệtNam – Trung Quốc năm 1999 tạo thành bộ hồ sơ hoàn chỉnh nhất về đường biêngiới trên đất liền Việt – Trung Các văn kiện này sẽ thay thế Công ước Pháp –Thanh 1887 và 1895 cũng như Hiệp định tạm thời về giải quyết các công việc trênvùng biên giới Việt – Trung ký giữa Chính phủ hai nước năm 1991
Đặc biệt 03 văn kiện biên giới trên đất liền mới giữa Việt Nam và TrungQuốc cho phép hai bên có thể áp dụng những phương thức quản lý hiện đại, kể cả
áp dụng kỹ thuật số trong công tác quản lý biên giới, tạo điều kiện cho các cơ quanhữu quan hai nước triển khai công tác quản lý biên giới một cách hiệu quả, khoahọc, cùng nhau xây dựng đường biên giới trên đất liền Việt - Trung thực sự hòa
Trang 15bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác Với đường biên giới mới này, quan hệ hợp táchữu nghị Việt Nam - Trung Quốc sẽ có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, đáp ứngnguyện vọng và mong muốn của nhân dân hai nước
2.2.4 Những thuận lợi, khó khăn trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc
Quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền với Trung Quốc là một quátrình kéo dài, phức tạp và nhạy cảm Trong quá trình triển khai vừa có những thuậnlợi, vừa có những khó khăn
Thuận lợi:
- Công tác đàm phán giải quyết những vấn đề tồn tại cũng như việc triểnkhai phân giới cắm mốc trên thực địa luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát saocủa Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ tướngChính phủ đã triệu tập nhiều cuộc họp để nghe báo cáo tình hình và cho ý kiến chỉđạo các cuộc đàm phán Nhiều đồng chí Lãnh đạo cấp cao đã trực tiếp lên khảo sátthực địa để nắm tình hình và động viên các lực lượng phân giới cắm mốc
- Các Bộ, ngành và địa phương liên quan của ta đều nhận thức rõ và có ýthức trách nhiệm rất cao đối với công việc được giao; luôn phối hợp nhịp nhàng đểcùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Đặc biệt, trong quá trình công tác tạithực địa, các Nhóm phân giới cắm mốc đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các đồn Biên phòng đóng trên địa bàn công tác và của nhân dân, Chính quyềnđịa phương các khu vực biên giới Công tác phân giới cắm mốc còn nhận được sựquan tâm, động viên của đồng bào trong và ngoài nước Đây là chỗ dựa, là sự độngviên tinh thần vô cùng quan trọng giúp cho các Đoàn đàm phán về biên giới lãnhthổ và những Nhóm phân giới cắm mốc vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để hoànthành nhiệm vụ lịch sử trọng đại mà Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó
Khó khăn
Quá trình đàm phán và triển khai phân giới cắm mốc trên biên giới đất liềnViệt Nam – Trung Quốc đã gặp không ít khó khăn:
Một là, sự không rõ ràng giữa lời văn trong Hiệp ước với thực địa Hiệp ước
1999 mới chỉ mô tả đường biên giới bằng lời văn vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ1/50.000 Đường biên giới trên bản đồ là một nét bút mực, khi chuyển ra thực địa
có thể sai lệch hàng chục, thậm chí hàng trăm mét Sự không thống nhất giữa lờivăn Hiệp ước và bản đồ đính kèm với thực địa dẫn đến việc không thống nhất được
Trang 16hướng đi của đường biên giới, tạo ra các khu vực tồn đọng mà hai bên phải đàmphán để giải quyết.
Hai là, biên giới Việt – Trung có đặc điểm rất ít thấy trong những đường
biên giới giữa các nước Đó là cư dân khu vực biên giới hai nước sinh sống, canhtác đan xen qua nhiều thế hệ Ở một số nơi, cư dân biên giới lại có quan hệ dòngtộc lâu đời, việc qua lại thăm thân, làm ăn diễn ra tương đối thường xuyên; cónhững khu vực bên này quản lý quá sang bên kia Trong những trường hợp này,hai bên phải thương lượng giải quyết sao cho hạn chế đến mức thấp nhất tác độngđến cuộc sống và sản xuất của cư dân biên giới
Ba là, công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung
Quốc chủ yếu được thực hiện ở những nơi có điều kiện địa hình hết sức phức tạp,
độ chia cắt lớn (núi cao, đèo dốc hiểm trở), điều kiện khí hậu, thời tiết hết sức khắcnghiệt (rừng thiêng nước độc; lũ quét; lũ ống vv), cơ sở hạ tầng yếu kém (nhiềunơi không có đường giao thông; xa khu dân cư), vật liệu xây dựng, lương thực,máy móc thiết bị phần lớn đều phải vận chuyển bằng sức người đến vị trí mốcgiới Hơn thế nữa, tại nhiều khu vực biên giới vẫn còn bom mìn, vật cản từ thờichiến tranh để lại
Nhìn lại 35 năm qua kể từ khi hai nước chính thức tiến hành đàm phán giảiquyết vấn đề biên giới trên đất liền, hai bên đã tiến hành trên 3000 cuộc đàm phánlớn nhỏ với tổng cộng trên 1 triệu giờ công lao động để có được thành quả tạodựng đường biên giới trên đất liền Việt – Trung hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dàigiữa hai nước
2.2.5 Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc:
Việc giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam - TrungQuốc là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ hai nước Lần đầu tiêntrong lịch sử, hai nước xác định được một đường biên giới rõ ràng trên đất liền vớimột hệ thống mốc giới hiện đại, đặt nền tảng vững chắc cho việc xây dựng đườngbiên giới Việt - Trung thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, lâu dài,hợp tác và phát triển, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam - TrungQuốc Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền thể hiện trên một
số điểm sau đây:
Thứ nhất, ta đã giải quyết hai trong ba vấn đề lớn do lịch sử để lại trong
quan hệ Việt – Trung Đó là giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới trên đất liền vàvấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ, chỉ còn lại vấn đề Biển Đông Những kinh nghiệm
Trang 17giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền sẽ tạo cơ sở cho việc đàm phán giải quyếtvấn đề trên biển giữa hai nước.
Hai là, việc xác định một đường biên giới rõ ràng trên đất liền Việt Nam
-Trung Quốc tạo cơ sở để các ngành chức năng tiến hành quản lý biên giới mộtcách hiệu quả, ngăn ngừa hiện tượng xâm canh, xâm cư do thiếu hiểu biết vềđường biên giới; mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, đặc biệt
là tạo điều kiện cho các địa phương biên giới hai bên mở rộng hợp tác, phát triểnkinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị
Ba là, việc hoàn thành giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền là biểu hiện sinh động của mối quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” Việt Nam -
Trung Quốc, góp phần gia tăng sự tin cậy giữa hai bên, tạo động lực mới thúc đẩyquan hệ Việt - Trung phát triển mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn
Bốn là, trên bình diện quốc tế và khu vực, việc giải quyết dứt điểm vấn đề
biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là sự đóng góp thiết thực đối với hòabình, ổn định và phát triển ở khu vực, góp phần khẳng định các nguyên tắc chungcủa luật pháp quốc tế: giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ bằng thương lượnghòa bình; không sử dụng vũ lực, hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranhchấp quốc tế
Trang 18CHƯƠNG II CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM- TRUNG QUỐC CỦA ỦY BAN BIÊN GIỚI QUỐC
GIA HIỆN NAY.
I Công tác quản lý nhà nước đối với biên giới trên đất liền Việt- Trung.
1.1.Quản lý việc qua lại biên giới
Tại hầu hết các quốc gia có nhiều cơ quan tham gia vào quản lý các vấn đề
có liên quan đến biên giới như: Hải quan, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, Bộquốc phòng, dịch vụ vận chuyển, Cảnh sát Mức độ “mở” và mức độ hoạt độngkéo theo các sản phẩm trực tiếp là việc ban hành chính sách của quốc gia Trongnhững trường hợp đặc biệt quản lý việc đi đến các vùng biên giới có thể cho cácbiên giới gần trục đường giao thông Những khía cạnh của quản lý thực tiễn nàybao gồm những quy định về bảo dưỡng những tuyến đường xuyên biên giới, cáccủa khẩu và các điểm vượt giao thông thích hợp, tiện lợi cho người và phương tiện
đi lại Hai Nhà nước cho phép nhân dân hai bên vùng biên giới được thăm viếng vàgiao lưu hợp tác với nhau và phải mang theo giấy xuất nhập cảnh do cơ quan chủquản nước đó cấp Nếu như có các vấn đề qua lại xảy ra những việc phứ tạp ở vùngbiên giới thì cơ quan địa phương cấp tỉnh hai vùng biên có thể hiệp thương tạmthời với nhau sau khi đã nhất trí thì báo cáo với Chính phủ nước mình để phêduyệt
Ở nước ta, lực lượng trực tiếp đóng vai trò chủ chốt trong việc quản lý việc
đi đến và qua lại biên giới nói chung và biên giới Việt- Trung nói riêng được giaocho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng
1.2 Quản lý vấn đề an ninh.
Hai bên sẽ hợp tác giữ gìn trật tự trị an xã hội vùng biên giới hai nước Nộidung chủ yếu bao gồm thông báo tình hình ở vung biên giới có liên quan đến trị an
xã hội của phía kia, xử lý các vấn đề người xuất nhập cảnh trái phép; hiệp thương
tổ chức điều tra sử lý các vụ án có liên quan với nước ngoài.Phối hợp thẩm tra,truy lùng, bắt giữ, chuyển giao các tội phạm vượt biên Phối hợp ngăn ngừa vàtrừng trị các hoạt động phạm tội vượt biên buôn lậu, buôn ma tuý, vũ khí, làm bạcgiả, dụ dỗ buôn bán phụ nữ, trẻ em
Hai bên cần căn cứ pháp luật nước mình để có biện pháp thích đáng đối vớinhững vi phạm về quy định quản lý biên giới thuộc về bên nào thì giao cho bên đó
Trang 19xử lý Trước khi chuyển giao cần cung cấp họ tên, ảnh, địa chỉ của đương sự vàsau khi được phía bên kia đồng ý mới thoả thuận thời gian chuyển giao cần chuyểngiao cùng một lúc cho phía bên kia những chứng cứ có liên quan để xử lý.Nhữngngười nước thứ 3 không bao gồm trong quy định chuyển giao này.
Cơ quan chủ quản hai bên có thể liên hệ với nhau về vấn đề giữ gìn vấn đềtrật tự trị an xã hội ở vùng biên giới hai nước
1.3 Quản lý tài nguyên xuyên biên giới
Dân số ngày càng tăng và nguồn tài nguyên ngày càng có nguy cơ cạn kiệtthì nhu cầu về các nguồn tài nguyên xuyên biên giới ngày càng cao Các tài nguyênnày gồm khoáng chất, nước ngầm, các bồn dầu, khí đốt ở giữa các biên giới, cácbồn trũng ở châu thổ, khu bảo tồn, rừng và các đồng cỏ, các địa danh lịch sử vănhóa ở các vùng biên giới cũng là tài nguyên xuyên biên giới đặc biệt
Biên giới Việt- Trung khá phong phú về nguồn tài nguyên khoáng sản, khắptuyến có khoảng 13 loại khoáng sản Tuy nhiên, trữ lượng ở các mỏ này không lớn
và ít triển vọng Tài nguyên khai thác ở các vùng biên giới này chủ yếu là là cácloại động thực vật quý hiếm
Vấn đề quản lý tài nguyên xuyên biên giới đã đạt được những thành tựuđáng kể Để thực hiện được những công việc này cần có một số điều kiện sau:
- Kiến thức chung về các loại tài nguyên thiên nhiên
- Một số Hiệp định chính thức giữa hai nước về quản lý tài nguyên thiênnhiên xuyên biên giới
- Một Uỷ ban thường trực hoặc một Hội đồng quản lý việc thực hiện cácHiệp định về sử dụng các nguồn tài nguyên
Việc phối hợp quản lý các nguồn tài nguyên xuyên biên giới được coi là khảnăng tiềm ẩn trong việc xây dựng lòng tin giữa hai quốc gia, tạo điều kiện tăngcường hợp tác, hữu nghị hợp tác giữa hai nước
1.4 Quản lý môi trường
Trong thời đại ngày nay không thể có được việc quản lý môi trường tốt nếuthiếu sự hợp tác qua biên giới Cùng với các hoạt động khác việc quản lý trêntuyến biên giới Việt Nam- Trung Quốc căn bản nhằm các mục đích:
Bảo vệ các loại động vật và thực vật đang bị đe doạ diệt chủng;
Các công trình nghiên cứu môi trường;