Tuy nhiên, Cao Bằng là một trong những tỉnh nghèo của cả nước, đồng thời do địa hình đồi núi có độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt mạnh mẽ nên có thể xem tỉnh Cao Bằng là điểm khá nhạy cảm
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN A: MỞ ĐẦU 6
1 Lời giới thiệu 6
2 Cơ sở pháp lý 8
3 Điều kiện tự nhiên tỉnh Cao Bằng 9
3.1 Vị trí địa lý 9
3.2 Địa hình 10
3.3 Đặc điểm khí hậu 10
3.4 Đặc điểm thủy văn 11
3.5 Tài nguyên thiên nhiên 13
4 Tính cấp thiết của việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH 16
PHẦN B: MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG 19
1 Mục tiêu chung 19
2 Mục tiêu cụ thể 19
PHẦN C: NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG 20
CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, CÁC KỊCH BẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH CAO BẰNG 20 1.1 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Cao Bằng 20
1.1.1 Nhiệt độ, độ ẩm 20
1.1.2 Nắng 22
1.1.3 Lượng mưa 24
1.1.4 Mực nước 26
1.1.5 Nhận định và dự báo xu thế biến đổi khí hậu tỉnh Cao Bằng 28
1.1.6 Các hiện tượng thời tiết dị thường liên quan đến biến đổi khí hậu 28
1.2 Dự báo xu thế biến đổi khí hậu tại tỉnh Cao Bằng 35
1.2.1 Căn cứ lựa chọn kịch bản BĐKH do bộ TN&MT công bố 35
1.2.2 Lựa chọn kịch bản BĐKH của tỉnh Cao Bằng 35
1.3 Những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu nói chung và đối với tỉnh Cao Bằng 38
1.3.1 Tác động chung của sự nóng lên toàn cầu 38
1.3.2 Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai 39
1.3.3 Tác động của BĐKH đã được ghi nhận tại tỉnh Cao Bằng 40
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH CAO BẰNG TRONG THỜI GIAN QUA VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 43
2.1 Phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng giai đoạn trước năm 2010 43
2.1.1 Sản xuất công nghiệp 43
2.1.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp 44
2.1.3 Dịch vụ 44
2.1.4 Du lịch 44
2.1.5 Giao thông 45
2.1.6 Giáo Dục 45
2.1.7 Y tế 45
2.2 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 46
2.2.1 Định hướng phát triển sản xuất hàng hóa nông - lâm nghiệp 47
2.2.2 Định hướng phát triển ngành giao thông vận tải 47
Trang 22.2.3 Định hướng phát triển Thị xã Cao Bằng giai đoạn 2011-2015 48
2.2.4 Định hướng phát triển kinh tế cửa khẩu, trọng tâm là cửa khẩu Trà Lĩnh 48
2.2.5 Định hướng phát triển ngành du lịch 48
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VỀ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA TỈNH CAO BẰNG 49
3.1 Đánh giá tác động của BĐKH đến các khu vực/ ngành/lĩnh vực 49
3.1.1 Đánh giá tác động của BĐKH đến các khu vực 49
3.1.1.1 Khu vực phát triển đô thị, tập trung dân cư 49
3.1.1.2 Vùng núi cao huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm 51
3.1.1.3 Khu vực núi đá vôi 51
3.1.1.4 Khu vực cộng đồng dân tộc dễ bị tổn thương 53
3.1.1.5 Khu vực có độ nhạy cảm cao về môi trường và sinh thái 54
3.1.1.6 Đánh giá tác động của một số tai biến, hiện tượng thời tiết dị thường tới các khu vực trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 54
3.1.2 Tác động của BĐKH đến các ngành/lĩnh vực 60
3.1.2.1 Tác động của BĐKH đến nông, lâm nghiệp 60
3.1.2.2 Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước 64
3.1.2.3 Tác động của BĐKH đến y tế - sức khỏe cộng đồng 67
3.1.2.4 Tác động của BĐKH đến giao thông vận tải 69
*, Đánh giá tác động của BĐKH đến lĩnh vực giao thông vận tải trong tương lai 71
3.1.2.5 Tác động của BĐKH đến lĩnh vực năng lượng 71
3.1.2.6 Tác động của BĐKH và mức độ thiệt hại đến các lĩnh vực xử lý chất thải 72
3.1.2.7 Tác động của BĐKH đến các ngành/lĩnh vực khác 75
3.1.2.8 Tác động của BĐKH xuyên biên giới 76
3.1.3 Đánh giá các cơ hội trong ứng phó với BĐKH (có tính đến các dự án Cơ chế phát triển sạch – CDM) 78
3.1.3.1 Tình hình tham gia CDM trên Thế giới 78
3.1.3.2 Tình hình tham gia CDM của Việt Nam 78
3.1.3.3 Các lĩnh vực tiềm năng tham gia CDM của tỉnh Cao Bằng 78
3.1.4 Đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH tỉnh Cao Bằng 79
3.1.4.1 Đánh giá khả năng tự bảo vệ 79
3.1.4.2 Đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH 80
3.2 Định hướng kế hoạch hành động cho những đối tượng chính 80
3.2.1 Xác định các giải pháp ứng phó và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 80
3.2.1.1 Lĩnh vực nông lâm nghiệp 80
3.2.1.2 Lĩnh vực Tài nguyên nước, Khí tượng thủy văn 82
3.2.1.3 Lĩnh vực y tế, sức khỏe cộng đồng 83
3.2.1.4 Lĩnh vực công nghiệp 84
3.2.1.5 Lĩnh vực xây dựng 85
3.2.1.6 Lĩnh vực giao thông vận tải 85
3.2.1.7 Lĩnh vực năng lượng 86
3.2.1.8 Lĩnh vực quản lý chất thải 86
3.2.1.9 Lĩnh vực quản lý đa dạng sinh học 88
3.2.1.10 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH 88
3.2.2 Đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường của các giải pháp áp dụng 89
3.2.2.1 Hiệu quả về kinh tế 89
3.2.2.2 Hiệu quả về xã hội 89
3.2.2.3 Hiệu quả về môi trường 89
3.3 Khả năng lồng ghép với các kế hoạch phát triển khác 90
3.3.1 Khả năng lồng ghép vào các chương trình, dự án của tỉnh 90
Trang 3CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU 92
4.1 Tiêu chí xác định dự án ưu tiên 92
4.2 Các lĩnh vực và khu vực ưu tiên 92
4.3 Nguồn kinh phí 93
4.4 Danh mục các dự án ưu tiên của tỉnh 93
CHƯƠNG 5: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 98
5.1 Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch hành động của tỉnh Cao Bằng 98
5.2 Trách nhiệm của các ban, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan 98
5.2.1 Sở Tài nguyên và Môi trường 98
5.2.2 Sở Kế hoạch và Đầu tư 99
5.2.3 Sở Tài chính 99
5.2.4 Các Sở, ngành, huyện thị của Tỉnh 99
5.2.5 Các tổ chức xã hội và doanh nghiệp 100
5.3 Các giải pháp hỗ trợ tổ chức thực hiện 100
5.3.1 Giải pháp về khoa học công nghệ 100
5.3.2 Giải pháp về huy động nguồn nhân lực, tài chính 101
5.3.3 Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế 103
5.3.4 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về BĐKH cho cấp quản lý và người dân 103
CHƯƠNG 6 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
6.1 Kết luận 104
6.2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Thống kê tình hình sử dụng đất tỉnh Cao Bằng năm 2010 13
Trang 4Bảng 2 Phân bố nhiệt độ từ năm 1991-2010 ở Cao Bằng 20
Bảng 3: Tổng số giờ nắng hàng năm (1991-2010) tại 4 Trạm khí tượng Cao Bằng (h) 22
Bảng 4: Tổng lượng mưa hàng năm tại 4 Trạm khí tượng Cao Bằng (mm) 24
Bảng 5: Số liệu mực nước TB trạm Bằng Giang từ 1991-2010(cm) 26
Bảng 6: Số liệu mực nước TB năm từ năm 1991-2010 Trạm Bảo Lạc(cm) 27
Bảng 7: Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa ( o C) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cao Bằng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) 36
Bảng 8 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( o C) so với thời kỳ 1980-1999 của Cao Bằng theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 36
Bảng 9 Mức thay đổi lượng mưa (%) mùa qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cao Bằng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) 37
Bảng 10 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 của Cao Bằng theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 38
Bảng 11: Tổng lượng mưa - Trạm khí tượng Cao Bằng (mm) 58
Bảng 12: Tổng lượng mưa - Trạm khí tượng Trùng Khánh (mm) 58
Bảng 13: Tổng lượng mưa - Trạm khí tượng Nguyên Bình (mm) 58
Bảng 14: Tổng lượng mưa - Trạm khí tượng Bảo Lạc (mm) 59
Bảng 15: Thống kê thiệt hại về nông nghiệp trong 6 năm gần đây (ha) 61
Bảng 16: Thống kê thiệt hại về giao thông tỉnh Cao Bằng trong 5 năm gần đây 70
Bảng 17 Các tác động và giải pháp thích ứng trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn 72
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
CTR Chất thải rắn
KH & ĐT Khoa học & Đào tạo
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CDM Clean Development Mechanism (Cơ chế phát triển sạch)
NGO Non-Governmental Organization (Tổ chức phi chính phủ)
GDP Gross Domestic Product (tổng sản phẩm nội địa)
ODA Official Development Assistance (Viện trợ phát triển
chính thức)
phát triển Liên hợp quốc)
Trang 6PHẦN A: MỞ ĐẦU
1 Lời giới thiệu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với dao động trung bình của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển Bao gồm cả trong khai thác sử dụng đất
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6), các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990 đến 2100, vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người Có thể thấy biểu hiện của biến đổi khí hậu được thể hiện qua các hiện tượng sau:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu thế giới trong thời gian gần đây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn,
do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá mùa đông khốc liệt Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường
Trang 7độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, Tây Nam Thái Bình Dương,
Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên Trận sóng thần ở
Ấn Độ Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225 000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD, và gần đây nhất siêu bão Nargis đánh vào Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số lượng người thiệt mạng Trận bão này giết chết hơn 135.000 người và đẩy hơn một triệu người vào cảnh không nhà cửa Tính ra, thiên tai đã cướp đi mạng sống của hơn 220.000 người trong năm 2008 và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thành một trong những năm đáng sợ nhất trong lịch sử loài người tính theo tổn thất thiên tai về người và của Diễn biến mới nhất của thiên tai là trận cháy rừng khủng khiếp do thời tiết quá khô hạn vừa xẩy ra ở nước Úc (2/2009) đã giết chết ít nhất 210 người và làm
bị thương hơn 500 người cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nhiều nhất vì hiện tượng biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển trải dài 3.260 km (không kể các đảo) Hiện tượng thay đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến một vài hệ thống tự nhiên của Việt Nam, nền kinh tế cũng như toàn thể dân số Bằng chứng của hiện tượng biến đổi khí hậu có thể thấy rõ ở Việt Nam Nhiệt độ trung bình đã tăng 0.5°C và mực nước biển dâng cao 20 cm so với 50 năm trước Những hiện tượng khí hậu tiêu cực như mưa lớn, hạn hán và bão lụt ngày càng xuất hiện với cường độ lớn hơn ở Việt Nam Theo cảnh báo của LHQ, Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao
Cao Bằng là một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc, có vị trí và vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái đầu nguồn Tuy nhiên, Cao Bằng là một trong những tỉnh nghèo của cả nước, đồng thời do địa hình đồi núi có độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt mạnh mẽ nên có thể xem tỉnh Cao Bằng là điểm khá nhạy cảm với những hệ quả gây
ra bởi biến đổi khí hậu như: lũ lụt, lũ quét, khô hạn, cháy rừng, sạt lở, xói mòn, suy thoái kinh tế, dịch bệnh, mất đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái v.v…
Trước thực tế về tình hình thiệt hại kinh tế có thể xảy ra do biến đổi khí hậu gây
ra trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong những năm qua đồng thời thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, UBND Tỉnh Cao Bằng giao các Sở, Ban, Ngành, chủ trì là Sở Tài nguyên và môi
trường xây dựng “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020” nhằm đánh giá tác động của biến
đổi khí hậu đến tỉnh Cao Bằng và đề xuất các giải pháp nhằm thích ứng với biến đổi
Trang 8khí hậu và giảm nhẹ tác động xấu do biến đổi khí hậu gây ra là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Cơ sở pháp lý
- Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã được chính phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994;
- Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002;
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Kỳ họp thứ 8 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006
- Nghị quyết số 41/2004/NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
- Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03/12/2007 của Chính phủ “Giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia đối phó với việc biến đổi khí hậu toàn cầu, kêu gọi sự
hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cho Chương trình này và trình Thủ tướng Chính phủ trong quý II năm 2008”
- Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc
tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Việt Nam
- Quyết định số 256/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)
- Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ nhằm tổ chức thực hiện triển khai Nghị quyết số 41 - NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị
- Quyết định số 1819/QĐ-BTNMT ngày 16/11/2007 của Bộ trưởng Bộ TNMT
“Thực hiện các hoạt động liên quan đến thích ứng với BĐKH”
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
- Quyết định số 447/2010/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành quy chế hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 9- Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 24/9/2010 Về việc bổ xung kinh phí năm
2010 để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
- Thông tư liên tịch 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT hướng dẫn quản lý,
sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2009 - 2015 do Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành;
- Công văn số 1754/VPCP-NN ngày 03/4/2007 của Văn phòng chính phủ thông báo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, cập nhật
và xử lý các thông tin về BĐKH, nước biển dâng; đồng thời tăng cường hợp tác với các tổ chức thế giới về BĐKH để nghiên cứu xây dựng chương trình hành động thích ứng với BĐKH và nước biển dâng tại Việt Nam
- Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
- Thông báo số 192/TB-BTC ngày 29/6/2009 của Bộ Tài chính về việc đề xuất nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình MTQG ứng phó với BĐKH năm 2010 và xây dựng phương án phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình cho các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương
- Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành vào tháng 9 năm 2009
- Quyết định số 189/QĐ-UBND ngày 28 tháng 01 năm 2011 của UBND tỉnh
Cao Bằng về Phê duyệt đề cương “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020”
3 Điều kiện tự nhiên tỉnh Cao Bằng
3.1 Vị trí địa lý
Cao Bằng là tỉnh biên giới ở phía Bắc Việt Nam, nằm trong vùng miền núi và trung du Bắc Bộ, tổng diện tích của tỉnh là 670.785,56 ha, được giới hạn trong tọa độ địa lý từ 22021’21’’ đến 23007’12’’ vĩ độ Bắc và từ 105016’’15’’ đến 106050’25’’ kinh độ Đông
- Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với đường biên giới trải dài 333,025km
- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn
- Phía Tây giáp tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang
Trang 10Tỉnh lỵ là thị xã Cao Bằng, cách thủ đô Hà Nội 286 km theo đường quốc lộ 3, cách thành phố Lạng Sơn 120 km theo đường quốc lộ 4A qua Đông Khê và từ đây có
thể nối liền với tỉnh Quảng Ninh theo đường quốc lộ 4B
100 - 200m
- Vùng núi đất: Địa hình núi đất ở Cao Bằng chạy từ phía Tây Bắc huyện Bảo Lạc, qua Nguyên Bình tới phía Tây Nam huyện Thạch An Là vùng có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 300 - 600m
- Vùng núi đá vôi: Vùng núi đá vôi chạy từ phía Bắc dọc theo biên giới Việt - Trung, vòng xuống phía Đông Nam của tỉnh Tập trung chủ yếu ở các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Thông Nông, Quảng Uyên, Phục Hòa Địa hình núi đá cao, chia cắt phức tạp
Cao Bằng là tỉnh có độ dốc cao, đặc biệt là ở những nơi có nhiều núi đá, có tới 75% diện tích đất đai có độ dốc trên 250
Nhìn chung Cao Bằng có địa hình khá đa dạng, bị chia cắt phức tạp bởi hệ thống sông suối khá dày, núi đồi trùng điệp, thung lũng sâu, sự phức tạp của địa hình tạo ra nhiều vùng sinh thái đặc thù cho phép Cao Bằng phát triển đa dạng cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, địa hình chia cắt gây ra nhiều ảnh hưởng đến giao lưu kinh tế, xã hội và đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sơ đặc biệt là giao thông, đồng thời tạo ra
sự manh mún trong sản xuất nông nghiệp và dễ gây ra rửa trôi, xói mòn đất Đây là một khó khăn lớn trong tổ chức sản xuất
3.3 Đặc điểm khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc, trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu Cao Bằng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và do chi phối của địa hình, nên khí hậu của tỉnh có những nét đặc trưng riêng so với các tỉnh khác thuộc vùng Đông Bắc
- Trong năm có hai mùa rõ rệt:
+ Mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10 + Mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 11- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 19,80C - 21,60C Mùa hè có nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 25 - 280C, mùa đông có nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 14 - 180C
- Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 1.300 - 1.400 giờ, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, số giờ nắng mùa hè nhiều hơn mùa đông
- Tổng lượng mưa trung bình năm 1600 mm
- Lượng nước bốc hơi: Lượng nước bốc hơi hàng năm biến động từ 950 - 1.000mm
3.4 Đặc điểm thủy văn
Lưu lượng các sông ở Cao Bằng thay đổi theo hai mùa rõ rệt, phụ thuộc vào lượng mưa
- Dòng chảy mùa lũ: Thường từ tháng 6 và kết thúc đến tháng 10, tuy nhiên trong từng năm cụ thể, giới hạn này có thể dao động trong phạm vi 1 tháng (nhưng ít xảy ra) Lượng nước trên các sông suối trong mùa lũ chiếm 65 – 80% lượng nước cả năm; Sự phân phối dòng chảy của các tháng không đều, các tháng 6, 7, 8 (đặc biệt là tháng 7, 8) thường là những tháng có dòng chảy lớn nhất
- Dòng chảy mùa cạn: Thường bắt đầu vào tháng 10, có năm vào tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, có năm kết thúc vào tháng 6, 7 năm sau, cạn kiệt nhất kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3) và phụ thuộc vào các yếu tố như: lượng mưa, thảm thực vật, cấu trúc địa tầng, mức độ hang động của đá vôi Những nhân tố này có tác dụng làm quá trình điều tiết dòng chảy mùa cạn nhanh hay chậm
* Nguồn nước sông, suối:
Cao Bằng là vùng thượng nguồn của một số sông thuộc hai hệ thống sông Hồng
và sông Tả Giang (Trung Quốc)
Trên địa bàn tỉnh có khoảng gần 1.200 sông, suối có chiều dài từ 2 km trở lên với tổng chiều dài 3.175 km, mật độ sông suối 0,47 km/km2 Có các sông lớn là sông Gâm, sông Bằng và sông Bắc Vọng và một số lưu vực nhỏ của sông Năng
- Sông Bằng: Là sông chính chảy qua lưu vực Cao Bằng bắt nguồn từ vùng núi
Nà Vài (Trung Quốc) ở độ cao 600m, diện tích lưu vực đến thủy khẩu là 4.560 km2 (kể
cả sông Bắc Vọng) Trong đó diện tích lưu vực phần núi đá vôi là 1.850 km2, diện tích lưu vực sông Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng là 3.104,53 km2 (kể cả sông Bắc Vọng) và có trạm đo thủy văn tại thị xã Cao Bằng với diện tích lưu vực là 2.880 km2 Sông chảy qua địa phận Cao Bằng dài 110 km với 4 chi lưu là sông STê Lao, sông Hiến, sông Trà Lĩnh, sông Bắc Vọng, diện tích lưu vực 4.560 km2 Lưu lượng nước trung bình 72,5
m3/s, độ dốc sông là 20%, mật độ lưới là 0,91 km/ km2, hệ số uốn khúc là 1,29
Trang 12- Sông Bắc Vọng: sông chảy từ Trung Quốc qua các xã Tri Phương, Quang Trung huyện Trà Lĩnh và chảy qua các xã Trung Phúc, Thông Huề, Thân Giáp huyện Trùng Khánh rồi chảy tiếp qua xã An Lạc huyện Hạ Lang, qua hai xã Hồng Đại, Triệu
ẩu huyện Phục Hoà sau đó chảy sang Trung Quốc tại thị trấn Tà Lùng Sông Bắc Vọng
có diện tích lưu vực 815 km2 Mô dun dòng chảy 23,81 l/s/km2, lưu lượng 19,41 m3/s, tổng lượng (W) 612,04*106 m3
- Sông Gâm: Sông này là nhánh lớn của sông Lô, bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua địa phận Cao Bằng ở huyện Bảo Lạc, có hai chi lưu là sông Nheo và sông Nho Quế Diện tích lưu vực 1.641,7 km2 (chưa kể phần sông Năng) Sông Gâm chảy qua tỉnh Cao Bằng bắt đầu ở xã Khánh Xuân huyện Bảo Lạc và kết thúc ở xã Mông
Ân huyện Bảo Lâm
- Sông Quây Sơn: Sông này bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua huyện Trùng Khánh và huyện Hạ Lang với chiều dài là 38 km, diện tích lưu vực sông đến cầu biên phòng là 1.160 km2 (diện tích phần núi đá vôi là 850 km2) Diện tích sông Quây Sơn thuộc Việt Nam là 465,01 km2 (cột mốc 49), tại Bản Giốc có trạm đo dòng chảy với diện tích lưu vực 4.060 km2 Các sông suối thuộc lưu vực lớn của sông Quây Sơn là sông Quây Sơn Tây, sông Quây Sơn Đông, suối Bản Viết, suối Na Vy
Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác, nhiều ghềnh, nhất là sông suối thuộc hệ thống sông Quây Sơn và sông Gâm Đây là tiềm năng to lớn để phát triển thủy điện Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, tập trung vào mùa lũ (chiếm 60 – 80%) nên việc khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn
Với hệ thống sông, suối phong phú đã tạo nên nguồn nước mặt đủ khả năng đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh
* Nguồn nước ngầm:
Theo bản đồ địa chất thuỷ văn và kết quả tìm kiếm thăm dò nước dưới đất của Liên đoàn II Địa chất Thuỷ văn tỉnh Cao Bằng cho thấy tài nguyên nước ngầm ở Cao Bằng như sau:
- Khu vực nước lỗ hổng: tập trung ở tiểu vùng Nước Hai, mức độ chứa nước thuộc loại trung bình
- Khu vực nước khe nứt, cartơ: phân bố rộng khắp và có mức độ trữ nước khác nhau, được chia thành 3 loại sau:
+ Tầng nghèo nước: Phân bố ở các nơi có tuổi địa chất Nid, Trabp, T1sh, D2ld thuộc Bảo Lạc, Nguyên Bình, Hoà An, Thạch An và Nam Trùng Khánh
+ Tầng nước trung bình: phân bố ở các nơi có tuổi địa chất D1st, S1Dipp2, C3st thuộc phía Tây huyện Bảo Lạc, phía Nam huyện Trùng Khánh, Quảng Uyên và huyện Phục Hoà
Trang 13+ Tầng giàu nước: Phân bố ở các nơi có tuổi địa chất P2dd, CP1bs, D3tt, D12nq, S2d1pp thuộc vùng Hà Quảng, Trà Lĩnh, Bắc Trùng Khánh, Hạ Lang và Quảng Yên, Phục Hoà
3.5 Tài nguyên thiên nhiên
3.5.1.Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2010, diện tích đất tự nhiên của Cao Bằng là 670.785,56 ha, bao gồm các loại đất theo bảng 1
Bảng 1 Thống kê tình hình sử dụng đất tỉnh Cao Bằng năm 2010
Mục Tổng diện tích tự nhiên (ha) Ký hiệu 670.785,56
Trang 142.1.1 Đất ở tại nông thôn ONT 4.121,86
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 6.613,5
(Theo QH, KH sử dụng đất của tỉnh Cao Bằng 2011-2015, định hướng đến 2020)
Định hướng quy hoạch sử dụng đất của tỉnh đến năm 2020 là đảm bảo ưu tiên đất đai cho sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời phải ưu tiên đất cho xây dựng các khu công nghiệp, công nghệ cao, khai thác khoáng sản, các khu du lịch, các trạm thuỷ điện nhỏ và việc mở rộng các khu đô thị mới, để nhanh chóng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh, nhóm đất chuyên dùng dự kiến sẽ tăng lên 27.096 ha, chiếm 4,03%
3.5.2 Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 534.540,27 ha, chiếm 79,68% diện tích đất
tự nhiên của tỉnh; Khả năng tái sinh rừng bình quân mỗi năm đều tăng, đến nay tỷ lệ
Trang 15che phủ rừng đã đạt trên 52,0 %, phần lớn là rừng non mới tái sinh, rừng trồng chưa
đến kỳ thu hoạch
Rừng ở Cao Bằng có nhiều loại gỗ quý hiếm như: lim, trai, nghiến, lát hoa,
đinh, …
Động vật tự nhiên của Cao Bằng khá phong phú, đa dạng, như: khỉ, voọc mũi
hếch, sóc, chuột, nhím, v.v , đáng chú ý là một số loài động vật quý hiếm đang tồn tại
với với số lượng ít như: gấu, sói đỏ, khỉ, sơn dương, hươu, nai, vẹt, khiếu, đặc biệt có
loài vượn Cao vít, hiện nay trên thế giới chỉ còn duy nhất ở Trùng Khánh, Cao Bằng
Tuy nhiên nạn phá rừng và tập quán săn bắt thú bừa bãi, nhất là tình trạng buôn
bán động vật quý hiếm đã làm cho hệ động vật ngày một nghèo kiệt, ảnh hưởng nhiều
đến phát triển KT-XH và đảm bảo quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái
Thảm thực vật đa dạng, nhiều chủng loại, có các loài cây nhiệt đới, á nhiệt đới,
ôn đới tồn tại và phát triển Các loại cây trong rừng tự nhiên phổ biến nhất thuộc các
họ: dẻ (fagaceac), xoan đào (betulaceac) và sến (spataceac)
Thực hiện chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước, những năm gần đây,
rừng đã được bảo vệ và phát triển, góp phần tạo nên môi trường sinh thái ngày càng
trong lành, bền vững, phấn đấu đến năm 2020, đưa độ che phủ rừng đạt trên 60%; Xây
dựng hệ thống rừng đặc dụng, hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn, kết hợp trồng mới
và khoanh nuôi tái sinh, phát triển hệ thống rừng theo quy hoạch phát triển lâm nghiệp
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
3.5.3 Tài nguyên khoáng sản
Cao Bằng là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng cả
về khoáng nội sinh và ngoại sinh Theo số liệu của “Sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Cao
Bằng”, hiện tại, tỉnh có 146 mỏ và điểm quặng khoáng sản, trong đó có khoảng 114
mỏ và điểm khoáng sản thuộc nhóm kim loại, 03 mỏ và điểm khoáng sản thuộc nhóm
nguyên liệu, số còn lại thuộc nhóm khác Khoáng sản phong phú, tập trung chủ yếu ở
các huyện Hoà An, Nguyên Bình, Trùng Khánh, Trà Lĩnh
Các khoáng sản kim loại gồm có: thiếc khoảng 20 nghìn tấn, quặng wolfram
3.000 tấn, quặng sắt khoảng 56,6 triệu tấn, quặng boxit khoảng 180 triệu tấn, mangan
khoảng 2,7 triệu tấn… Các khoáng sản khác như đồng, chì, kẽm, niken, antimon, urani,
beri, pyrit, fluorit, photphorit,… Ngoài các loại khoáng sản trên, Cao Bằng còn có các loại
khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, đá vôi, nguyên liệu sản
xuất xi măng, nguyên liệu sét, cát, sỏi … phân bố tập trung ở một số huyện, thị như Hoà
An, thị xã Cao Bằng, Quảng Uyên, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Trùng Khánh,…
Cao Bằng có gần như đầy đủ các loại khoáng sản, từ khoáng sản thường đến
khoáng sản quý hiếm, được phân bố tập trung theo cấu trúc địa tầng Đó là nguồn tài
Trang 16nguyên quý giá, là lợi thế của Cao Bằng trong quá trình phát triển KT-XH, nhất là ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
3.5.4 Tài nguyên nước
Do đặc điểm địa hình, khí hậu nên sông, suối và hồ nước rất phong phú, đa dạng, mật độ sông, suối phân bố không đều, thường tập trung ở các vùng địa hình trũng, thấp, vùng lòng máng, các thung lũng
* Nước mặt: Toàn tỉnh có 47 hồ, chủ yếu là các hồ vừa và nhỏ (hồ lớn nhất là:
hồ Bản Viết với dung tích 4 triệu m3), trữ lượng nguồn nước mặt khoảng 8,6 tỷ m3, chủ yếu do hệ thống sông Bằng, sông Gâm, sông Bắc Vọng, sông Quây Sơn cung cấp
* Nước dưới đất: Trữ lượng khai thác nước dưới đất tiềm năng của tỉnh Cao Bằng vào khoảng 1.840.182 m3 Tuy nhiên phần lớn phân bố ở sâu nên khai thác khó khăn và tốn kém, có một số nơi còn thiếu cả nước ngầm
Cao Bằng là tỉnh có nguồn thuỷ năng khá lớn, thuận lợi cho phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
4 Tính cấp thiết của việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH
Chúng ta đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề môi trường trên phạm vi toàn cầu như: biến đổi khí hậu (BĐKH), suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên nước ngọt, suy thoái tầng ôzôn, suy thoái đất và hoang mạc hóa, ô nhiễm các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy v.v BĐKH, trước hết là sự nóng lên toàn cầu dẫn đến mực nước biển dâng, được cho là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong Thế kỷ 21 BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới: đến 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%, giá sẽ tăng 13 - 45%, tỷ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36-50% Mực nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống KT-XH trong tương lai Các công trình hạ tầng được thiết kế theo các tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó an toàn và cung cấp đầy
đủ các dịch vụ trong tương lai
Ở Việt Nam, theo các kết quả nghiên cứu, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1°C/thập kỷ Mùa đông có xu hướng rút ngắn lại, nhưng lại xuất hiện những đợt rét đậm rét hại kéo dài gây thiệt hại lớn Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè có xu thế tăng rõ rệt, sẽ xuất hiện những đợt nắng nóng kỷ lục
Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khu vực và các thời
kỳ Sự thay đổi về tổng lượng mưa tháng và mưa năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm nhưng cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt Trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11 Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trong một số năm gần đây
Trang 17Trung bình hàng năm có khoảng 4, 7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến nước ta Ba thập kỷ gần đây, số cơn bão ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh hưởng cũng có xu hướng tăng Bão thường xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển xuống
vĩ độ thấp hơn
Trong thời gian gần đây, lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long có xu thế tăng hơn nửa đầu thế kỷ trước
Tần suất và cường độ El-Nino tăng lên rõ rệt trong những năm cuối thế kỷ trước
và những năm đầu thế kỷ này Trong 5 thập kỷ gần đây hiện tượng ENSO ngày càng
có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam
Khu vực ven biển (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ) tập trung đông dân cư và nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế quan trọng nhất cũng là vùng chịu tác động mạnh của BĐKH và nước biển dâng, đồng thời cũng là vùng chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai như bão, hạn hán, ngập lụt trong mùa mưa, xâm nhập mặn trong mùa khô…
Như vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều tác động của BĐKH Hậu quả của BĐKH được đánh giá là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và các mục tiêu thiên niên kỷ cũng như đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Để ứng phó với BĐKH cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội Các hoạt động về thích ứng BĐKH cần được lồng ghép, kết nối trong tất cả các hoạt động, các chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển để các nước phát triển có thể thực hiện đầy đủ cam kết về tăng cường viện trợ thông qua các hình thức trợ giúp phát triển, đồng thời giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực do BĐKH gây ra
Nhận thức được tính cấp bách của các vấn đề liên quan đến BĐKH, Việt Nam
đã có những hoạt động tích cực trong những năm qua Ở cấp độ quốc tế, Việt Nam đã tham gia vào các công ước quốc tế như Công ước Khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) vào tháng 6 năm 1992, phê chuẩn tháng 11 năm 1994 và Nghị định thư Kyoto vào tháng 11 năm 1998 và phê chuẩn tháng 9 năm 2002
Cao Bằng là một tỉnh có địa hình đa dạng, phức tạp với nhiều đồi núi, độ dốc lớn (chiếm 75% diện tích đất tự nhiên) Trong những năm qua, ở Cao Bằng đã có những biểu hiện của BĐKH như nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng lên, lượng mưa năm tại nhiều vùng giảm rõ rệt, hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, quy luật thời tiết có sự thay đổi khó lường Trong bối cảnh BĐKH, các hiện tượng thiên tai, cực đoan có xu hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ
Trong khi đó, các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu được cho là: tài nguyên nước, nông nghiệp và
an ninh lương thực, sức khoẻ, vùng miền núi Như vậy, có thể thấy Cao Bằng có khả
Trang 18năng chịu tác động lớn về nhiều mặt bởi BĐKH đòi hỏi phải có kế hoạch, chủ động lựa chọn các giải pháp thích hợp, ứng phó với BĐKH, đặc biệt đối với những lĩnh vực, khu vực dễ bị tổn thương
Có thể thấy, ứng phó với BĐKH vừa mang tính ngắn hạn và cả tính dài hạn, khá phức tạp, liên quan đến tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn của tỉnh Cao Bằng Vì thế, để thực hiện được mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH, việc xây dựng các giải pháp, kế hoạch, phối hợp giữa các đơn vị hành chính, các ngành phải được xây dựng ở các cấp, các khu vực và các lĩnh vực Bên cạnh việc đánh giá các tác động của BĐKH phải nhanh chóng xây dựng và ban hành các chương trình, giải pháp, kế hoạch ứng phó với BĐKH, lồng ghép vào quá trình quản lý, ra quyết định, kế hoạch hóa trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội để đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Cao Bằng
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, việc
xây dựng và triển khai kế hoạch hành động “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 – 2015 tầm nhìn 2020” là một việc làm
cấp thiết, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của tỉnh Cao Bằng Đồng thời, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có cách nhìn bao quát hơn về nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu, từ đó đưa
ra các quyết sách hợp lý nhằm đối phó, thích ứng và tiến tới giảm thiểu tối đa các tác động xấu của biến đổi khí hậu đối với tỉnh Cao Bằng
Trang 19PHẦN B: MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
1 Mục tiêu chung
Nâng cao khả năng ứng phó với BĐKH của tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn 2020, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo vệ cuộc sống của nhân dân, phòng, tránh và giảm thiểu những hiểm họa của BĐKH và qua đó đóng góp tích cực vào thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, khu vực địa bàn tỉnh trên cơ sở các kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố;
- Xây dựng và lựa chọn các giải pháp cụ thể ứng phó với BĐKH
- Nghiên cứu lồng ghép các hoạt động của Kế hoạch hành động vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như quy hoạch của từng ngành, lĩnh vực;
- Củng cố và tăng cường được năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BĐKH;
- Nâng cao được nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực
Trang 20PHẦN C: NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, CÁC KỊCH BẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI CỦA TỈNH CAO BẰNG
1.1 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Cao Bằng
Do chịu tác động của BĐKH toàn cầu nên tình hình diễn biến của các yếu tố thời tiết và thiên tai ở Việt Nam nói chung và Cao Bằng nói riêng trong những năm gần đây có nhiều biến đổi
Để đánh giá xu thế BĐKH ở Cao Bằng, báo cáo đã sử dụng chuỗi số liệu 20 năm (1991 - 2010) của Trung tâm khí tượng, thủy văn Cao Bằng Kết quả về thực trạng BĐKH ở tỉnh Cao Bằng trong 20 năm qua như sau:
Trang 21(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Cao Bằng)
* Nhận xét chuỗi nhiệt độ trung bình (Ttb) từ năm 1991 đến năm 2010:
Từ chuỗi số liệu quan trắc nhiệt độ trung bình tại tỉnh Cao Bằng trong 20 năm
từ năm 1991 đến năm 2010 ta nhận thấy một số đặc điểm như sau:
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 1995 là: 21.7 oC
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1996 đến năm 2000 là: 21.9 oC tăng 0.2 oC so với giai đoạn năm 1991 đến năm 1995
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2001 đến năm 2005 là: 22.1 oC tăng 0.2 oC so với giai đoạn năm 1996 đến năm 2000
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2006 đến năm 2010 là: 22.36 oC tăng 0.28 oC so với giai đoạn năm 2001 đến năm 2005
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 21.8 oC
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 22.22 oC, tăng 0.42 oC so với giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000
Từ phân tích chuỗi số liệu nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 2010 ta nhận thấy nền nhiệt độ tại tỉnh Cao Bằng có su hướng tăng, cứ 5 năm nhiệt độ tại tỉnh Cao Bằng tăng từ 0.2 oC đến 0.28 oC, và trong 10 năm thì tăng 0.42 oC
* Nhận xét chuỗi số liệu nhiệt độ tối cao tuyệt đối (Tx) từ năm 1991 đến năm 2010:
+ Nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 37.3 oC + Nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 38.7 oC, tăng 1.4 oC so với giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000
Trang 22Từ phân tích chuỗi số liệu nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình trong 10 năm tăng 1.4oC Từ đó ta có thể nhận thấy những ngày nắng nóng cực điểm tăng rõ rệt, thậm chí xuất hiệt những ngày có nhiệt độ lên đến 39.5 oC (năm 2006, 2010) đặc biệt
có ngày nhiệt độ lến đến 39.8 oC (năm 2003) và trong năm 2010 có đợt năm nóng kéo dài lịch sử gây hạn hán ở diện rộng, thiệt hại về cây trồng và vật nuôi
* Nhận xét về chuỗi số liệu nhiệt độ tối thấp tuyệt đối (Tm) từ năm 1991 đến năm 2010:
+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 3.31 oC + Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 2.8 oC, giảm 0.51 oC so với nhiệt độ giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000 Từ phân tích các chuỗi số liệu trên ta có thể nhận thấy tuy nên nhiệt độ trung bình năm tăng lên nhưng những ngày nhiệt độ xuống thấp gây rét đậm rét hại lại kéo dài gây thiệt hại lớn về mùa màng và vật nuôi, đặc biệt suất hiện hai đợt rét đậm rét hại lịch sử kéo dài 38 ngày (năm 2008) và 36 ngày (năm 2011) gây thiệt hại rất lớn về mùa màng, cây lâm nghiệp, đặc biệt là cho đàn gia súc theo thống kê qua 2 đợt rét đậm, rét hại này làm chết hơn 30.000 con trâu, bò
1.1.2 Nắng
Kết quả quan trắc số giờ nắng tại 4 trạm quan trắc thuộc Trung tâm khí tượng thủy văn Cao Bằng như sau:
Bảng 3: Tổng số giờ nắng hàng năm (1991-2010) tại 4 Trạm khí tượng Cao Bằng (h)
Năm Cao Bằng Trùng Khánh Nguyên Bình Bảo Lạc Trên toàn tỉnh
Trang 23- Tại trạm khí tượng Cao Bằng: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến năm
2000 là 1472.8 giờ Số giời nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1472.5, giảm 0.3 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Trùng Khánh: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 1292.7 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1414.2 giờ, tăng 121.5 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Nguyên Bình: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 1455.6 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1381.5 giờ giảm 74.1 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Bảo Lạc: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến năm
2000 là 1377.1 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1456.2 giờ, tăng 79.1 giờ so với 10 năm trước
- Số liệu giờ nắng trung bình cả 4 trạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng từ năm 1991 đến năm 2000 là 1410.8 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến 2010 là 1445.2, tăng 34.4 giờ so với 10 năm trước
Từ số liệu giờ nắng riêng từ 4 trạm và tính trung bình cho cả toàn tỉnh Cao Bằng ta thấy, ở riêng mỗi trạm có số giờ nắng trong năm rất khác nhau, và so sánh số
Trang 24liệu giờ nắng trung bình 10 năm sau (2001 - 2010) so với 10 năm trước (1991 - 2000)
ở mỗi trạm cũng biến đổi rất khác nhau tại trạm Nguyên Bình giảm 74.1 giờ, trong khi
đó tại trạm Trùng Khánh lại tăng 121.5 giờ, điều đó cho thấy khí hậu tại tỉnh Cao Bằng phân vùng và có sự khác nhau giữa các vùng là khá rõ rệt đó là do ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên của mỗi khu vực
1.1.3 Lượng mưa
- Kết quả quan trắc lượng mưa tại các trạm Khí tượng thủy văn của Cao Bằng như sau:
Bảng 4: Tổng lượng mưa hàng năm tại 4 Trạm khí tượng Cao Bằng (mm)
Năm Cao Bằng Trùng Khánh Nguyên Bình Bảo Lạc Trên toàn tỉnh
Trang 252007 1636.1 1603.4 1769.6 1264 1568.3
2008 1648.9 1917.8 2362.1 1448.8 1844.4
2009 1224.8 1612.6 1208.6 957.8 1251.0
2010 1453.9 1772.5 1901.2 969.9 1524.4
(Nguồn số liệu: Do TT Khí tượng thủy văn tỉnh Cao Bằng cung cấp)
Kết quả quan trắc số liệu tổng lượng mưa tại 4 trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cho ta thấy:
- Tại trạm khí tượng Cao Bằng: số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 1428 mm Số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 2001 đến năm
2010 là 1436.5 mm, tăng 8.2 mm so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Trùng Khánh: số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm
1991 đến năm 2000 là 1645.3 mm Số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1656.1 mm, tăng 10.8 mm so với 10 năm trước
- Tại Trạm khí tượng Nguyên Bình: số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm
1991 đến năm 2000 là 1775.6 mm Số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1761.5 mm, giảm 14.1 mm so với 10 năm trước
- Tại Trạm khí tượng Bảo Lạc: số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 1251.2 mm Số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 2001 đến năm
2010 là 1209.1 mm,giảm 42.1 mm so với 10 năm trước
- Số liệu tổng lượng mưa trung bình trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng từ năm
1991 đến năm 2000 là 1531.3 mm Số liệu tổng lượng mưa trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 1515.8, giảm 15.5 mm so với 10 năm trước
Qua phân tích chuỗi số liệu tổng lượng mưa trung bình 4 trạm khí tượng và xét trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng từ nam 1991 đến năm 2010 ta nhận thấy như sau: + Lượng mưa tại 4 trạm rất khác nhau cao nhất là trạm Nguyên Bình và thấp nhất là trạm Bảo Lạc
+ Sự biến thiên tổng lượng mưa trung bình giai đoạn từ năm 1991 đến năm
2000 so với giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010 cũng rất khác nhau, tại trạm Trùng Khánh tăng 10.8 mm trong khi đó tại trạm Bảo Lạc lại giảm 42.1 mm Tuy nhiên xét trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng thì lượng mưa có xu hưởng giảm, cụ thể giảm 15.5
mm trong 10 năm
Tương tư như nhận định về chuỗi số liệu giờ nắng thì chuối sỗ liệu lượng mưa cung diễn biến khá thất thường và không theo quy luật và rất khác nhau tại các trạm
Trang 26điều đó càng khẳng định khí hậu tại tỉnh Cao Bằng chịu ảnh hưởng lớn về điều kiện địa lý tự nhiên giữa các vùng khác nhau
1.1.4 Mực nước
Bảng 5: Số liệu mực nước TB trạm Bằng Giang từ 1991-2010(cm)
TT Năm Htb Hmax
Ngày xuất hiện Hmin
Ngày xuất hiện
Trang 2720 2010 17721 18020 24/VII 17642 28/III
Chuỗi số liệu quan trắc mực nước trong 20 năm của trạm Thủy văn Bằng Giang cho thấy số liệu mức nước trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 17737 cm Mực nước trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 17726 cm, giảm 11 cm so với 10 năm trước
Bảng 6: Số liệu mực nước TB năm từ năm 1991-2010 Trạm Bảo Lạc(cm)
TT Năm Htb Hmax
Ngày xuất hiện Hmin
Ngày xuất hiện
Trang 2818 2008 19350 19705 10/VIII 19268 31/III, 1/IV
19 2009 19315 19898 4/VII 19272 28/IV
20 2010 19318 19690 24/VII 19260 9/V
Chuỗi số liệu quan trắc mực nước trong 20 năm của trạm Thủy văn Bảo Lạc cho thấy số liệu mức nước trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 19333 cm Mực nước trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 19328 cm, giảm 5 cm so với 10 năm trước
Trước thực trạng lấn chiếm lòng sông, gây cản trở dòng chảy hiện nay thì số liệu suy giảm mực nước tại 2 trạm thủy văn chưa phản ánh đúng hiện trạng suy giảm nước tại các sông, suối trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, tuy nhiên điều đó cũng phần nào nói lên được nguồn nước mặt tại tỉnh Cao Bằng ngày một bị suy giảm
1.1.5 Nhận định và dự báo xu thế biến đổi khí hậu tỉnh Cao Bằng
- Về Nhiệt độ tỉnh Cao Bằng đang có xu hướng tăng, cứ 10 năm thì tăng khoảng 0.42oC
- Về mùa: mùa hè có xu hướng kéo dài kèm theo nắng nóng sẽ có những ngày nắng nóng cực điểm có thể lên đến hơn 40oC Mùa đông đang có xu hướng rút ngắn và đến muộn, tuy nhiên lại có những đợt rét đậm rét hại kéo dài
- Về lượng mưa: mưa có diễn biến thất thường và sẽ xuất hiện những trận mưa với lưu lượng lớn
- Về thủy văn: nước tập trung chủ yếu vào mùa mưa gây lũ quét và sạt lở đất Nguồn nước tại các sông, suối, ao hồ có xu hướng suy giảm
1.1.6 Các hiện tượng thời tiết dị thường liên quan đến biến đổi khí hậu
Các hiện tượng lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa to, rét đậm kéo dài; lốc xoáy, mưa đá; hạn hán do nắng nóng kéo dài… diễn ra trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong những năm gần đây tương đối phức tạp, cụ thể như sau:
Năm 2005
Ngày 21/3/2005 đã xảy ra mưa to kèm theo lốc lớn trên diện rộng do hạn kéo dài và hội tụ gió trên cao gây thiệt hại tại các huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm
Đêm 24/4/2005 xảy ra mưa đá kèm theo lốc mạnh tại các huyện Thạch An, Hòa
An, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm và Thông Nông
Từ ngày 10/6/2005 đến 20/6/2005 đã xảy ra mưa lớn kéo dài tại các huyện Trà Lĩnh, Hà Quảng, Thông Nông, Bảo Lạc, Hòa An, Hạ Lang, thị xã Cao Bằng
Trang 29Ngày 21/7/2005, mưa to kèm theo lốc mạnh tại các huyện Quảng Uyên, Hạ Lang và Nguyên Bình Tại các xã Đức Hồng thuộc huyện Trùng Khánh có mưa to và giông, sét đã gây thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt sét đã đánh chết 01 người trên đường
đi ruộng về nhà
Tối 23/8/2005, mưa to kéo dài đến rạng sáng ngày 24/8/2005 xảy ra tại các huyện Phục Hòa, Nguyên Bình gây ngập úng nghiêm trọng
Cụ thể thiệt hại toàn tỉnh năm 2005:
- Thiệt hại về người: Chết 04 người;
- Phòng học bị hư hỏng: 164 phòng;
- Lúa và hoa màu bị ảnh hưởng: 774 ha;
- Lúa và hoa màu bị ngập úng: 140,7 ha;
- Hư hỏng nhiều công trình hạ tầng khác
Ước tính giá trị thiệt hại khoảng: 20,641 tỷ đồng
Ngày 17/7/2006 lốc, mưa to gây ngập úng tại các huyện Thạch An, Quảng Uyên, Phục Hòa, Hà Quảng, Hạ Lang
Ngày 05 - 07/8/2006 có mưa vừa đến mưa rất to gây ra lũ ở nhiều nơi (các huyện Hòa An, Hà Quảng, Thông Nông, Bảo Lạc, Trà Lĩnh và thị xã Cao Bằng)
Ngày 16 - 18/8/2006 mưa to kéo dài trên địa bàn tỉnh, khoảng rạng sáng ngày 18/8/2006 tại tổ 6 phường Sông Bằng xảy ra 01 vụ trượt lở đất ta luy dương đường quốc lộ 3 vùi lấp 01 dãy nhà, tài sản và người (chết 09 người, bị thương 10 người)
Cụ thể thiệt hại toàn tỉnh năm 2006:
- Người chết: 09 người;
Trang 30- Tổng diện tích đất nông nghiệp bị thiệt hại do hạn hán: 3.715,3 ha;
Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng: 76,8 tỷ đồng
- Rạng sáng ngày 12/5/2007 mưa to gây ngập úng tại huyện Thạch An
- Ngày 30/6/2007 mưa lớn kéo dài tại các huyện Hòa An, Nguyên Bình
- Ngày 24/7/2007 gió lốc công mưa đá tại huyện các huyện Hạ Lang, Trùng Khánh
- Ngày 26/8/2007 mưa lớn kéo dài gây ngập úng thiệt hại tại các huyện Hòa An, Nguyên Bình và thị xã Cao Bằng
Rạng sáng ngày 03/9/2007 mưa lớn kéo dài gây lũ lớn tại thị xã Cao Bằng và các huyện Hòa An, Hạ Lang (tại Hạ Lang 02 người chết do sập nhà)
Mưa to kéo dài từ tối ngày 08/9/2007 - 10/9/2007 tại các huyện Hà Quảng, Hòa
An, thị xã Cao Bằng
Tổng thiệt hại toàn tỉnh năm 2007:
- Số người bị thương: 05 người;
- Gia súc chết: 40 con; gia cầm chết: 4.960 con;
Trang 31- Ngập nước: 807 cái
- Lúa bị thiệt hại 1.321 ha
- Ngô bị thiệt hại 347,8 ha
- Hỏng trường học: 13 trường
- Hỏng trạm xá điểm: 02
- Về thủy lợi: bị hư hỏng 470 m3 đá xây và bê tông, bồi lấp 3.420 m3 đất
đá, 36 cái guồng cọn sắt bị trôi và hư hỏng nhiều công trình khác;
- Về giao thông: 69.300 m3 đất sạt lở; 12 cầu tạm bị cuốn trôi và nhiều công trình thoát nước bị hư hỏng
Tổng giá trị thiệt hại năm 2007: 14,1 tỷ đồng
Năm 2008
- Từ tháng 4 đến hết tháng 7/2008 xảy ra gió lốc, mưa đá trong phạm vi hẹp, có vài đợt mưa dài ngày gây lũ, ngập úng về lúa và hoa màu, sạt lở đất làm thiệt hại về nhà cửa và gây ách tắc giao thông
- Tháng 8/2008 có đợt mưa lớn trên diệưn rộng gây thiệt hại về người, tài sản, hoa màu và cơ sở hạ tầng
- Ảnh hưởng cơn bão số 4 và áp thấp nhiệt đới từ 06/8/2008 đến hết 18/8/2008
có mưa trên diện rộng gây ra lũ quét và sạt lở ở nhiều nơi
- Gió lốc ngày 23/8/2008 tại huyện Bảo Lâm và sét đánh gây thiệt hại tại huyện Trùng Khánh làm chết 7 con trâu
- Mưa lớn trên diện rộng đêm 30/8/2008 đến 31/8/2008 gây ngập lụt, lũ quét và trượt lở đất ở nhiều nơi
- Do ảnh hưởng cơn bão số 6 từ ngày 24/9/2008 đến 28/9/2008 có mưa kéo dài trong vài ngày gây thiệt hại nhiều tại các huyện Nguyên Bình, Phục Hòa, Thạch An, Hòa An về nhà cửa, tài sản và hoa màu
- Từ 31/10/2008 đến 5/11/2008 có mưa kéo dài liên tục trong vài ngày trên phạm vi toàn tỉnh đã gây thiệt hại tại nhiều nơi, đặc biệt làm ngập úng nhiều diện tích lúa mùa muộn chưa thu hoạch
Thiệt hại toàn tỉnh năm 2008:
Trang 32+ Diện tích lúa, ngô bị thiệt hại 873,5 ha (trong đó mất trắng 41,67 ha);
- 12 điểm trường học bị thiệt hại;
- Về thủy lợi: bị hư hỏng 21 công trình, 3 guồng cọn sắt bị trôi và hư hỏng nhiều công trình khác;
- Về giao thông: đường quốc lộ, tỉnh lộ: 147.660,0m3 đất sạt lở, đường giao thông nông thôn: 23.300m3 đất sạt lở, 12 cầu tạm bị cuốn trôi và nhiều cống thoát nước bị hư hỏng
Tổng thịêt hại do thiên tai gây ra năm 2008 là: 19.556 triệu đồng
- Đợt mưa do ảnh hưởng cơn bão số 4 từ ngày 11/7/2009 đến 13/7/2009
- Đợt mưa do ảnh hưởng cơn bão số 5 từ ngày 18/7/2009 đến 20/7/2009
- Đợt mưa lũ gây lũ quét cục bộ tại xã Chu Trinh, xã Lê Chung (huyện Hòa An)
và xã Duyệt Chung (thị xã Cao Bằng) ngày 25/7/2009 và 26/7/2009
- Đầu tháng 8/2009 có cơn bão số 6, Cao Bằng không chịu ảnh hưởng
- Sét đánh chết 02 người (ngày 5/8/2009 tại Nguyên Bình và ngày 13/8/2009 tại Trà Lĩnh),
- Đầu tháng 9/2009 vẫn khô hạn không ảnh hưởng đến vụ lúa mùa
- Cơn bão số 7 không ảnh hưởng đến tỉnh Cao Bằng, ngày 11-12/9/2009 có mưa nhỏ nhưng không cải thiện được tình hình hạn hán
- Cơn bão số 8 ngày 15-16/9/2009 không gây thiệt tại tỉnh Cao Bằng Do ảnh hưởng của cơn bão số 8, tại tỉnh đã có mưa trên diện rộng, lượng mưa tuy nhỏ nhưng
đã giải thoát cho đợt hạn hán do nắng nóng không mưa kéo dài gần 1 tháng
Trang 33Từ cuối tháng 9 đến hết năm 2009 ít mưa, lượng mưa không đáng kể và nắng hạn liên tục các hồ chứa nước không tích được nước và mức nước các khe lạch, sông suối cạn kiệt so với mực nước trung bình nhiều năm
Thiệt hại toàn tỉnh năm 2009
+ 362 nhà dân cần di dời khẩn cấp do lũ quét và sạt lở đất
+ Tổng cộng 1.498 nhà dân bị tốc mái và ảnh hưởng (trong đó 172 nhà
bị thiệt hại nặng do gió lốc và mưa đá)
- Trường học:
+ Có 9 phân trường bị ảnh hưởng (2 gian nhà giáo viên, 18 phòng học bị vùi lấp hoặc hư hỏng nặng)
- Có 01 trụ sở xã, 03 trạm xá, 02 nhà văn hóa thôn bị hỏng do gió lốc, mưa đá
- Hoa màu thiệt hại 1860 ha trong đó:
+ Diện tích bị ngập hỏng 666 ha + Diện tích bị ảnh hưởng 1.090 ha + Diện tích bị vùi lấp không khắc phục được 104 ha
- Giao thông:
+ Sạt lở: 233.000 m3 đất đá
+ Mặt đường bị hư hỏng: 4.000 m2 + 60 m cống tiêu nước bị hỏng
+ Có 9 cầu tạm bị nước lũ cuốn trôi + 123m kè đường quốc lộ 34 bị sạt lở + 1000 rọ đá bị hỏng
- Thủy lợi: 272 công trình bị hư hỏng trong đó:
+ 22.300 m3 đất, đá bị sạt lở, vùi lấp
+ 19.000 m chiều dài mương bị hư hỏng
Trang 34+ 3.700m kè đập đầu nguồn bị hỏng
- Nhiều công trình phúc lợi khác bị ảnh hưởng và hư hại
Tổng giá trị thiệt hại năm 2009 là 95 tỷ đồng
Năm 2010
- Ngày 01/4/2010 mưa đá nhẹ kèm theo gió lốc gây ra tại Hà Quảng
- Đêm 09 rạng sáng ngày 10/5/2010 xảy ra gió lốc kèm mưa vừa tại tất cả các huyện, thị trong tỉnh (13/13 huyện, thị) gây thiệt hại lớn về tài sản, hoa màu
- Đêm 08 rạng sáng ngày 09/6/2010 mưa to tại các huyện Trùng Khánh, Trà Lĩnh
- Từ ngày 17 đến 19/7 do ảnh hưởng của cơn bão số 1 (Con Son) trên địa bàn tỉnh có mưa tại nhiều nơi
- Từ ngày 23 đến 27/7/2010 do ảnh hưởng của cơn bão số 2 (Chan Chu) trên địa bàn tỉnh có mưa
Thiệt hại toàn tỉnh năm 2010:
- Về người:
+ Chết 01 người ở xã Vị Quang, huyện Thông Nông + Bị thương: 11 người
- Hoa màu thiệt hại 329,62 ha
+ Ngô bị thiệt hại 203,62 ha + Lúa bị ngập 101 ha + Đỗ tương: bị thiệt hại khoảng 10 ha
+ Mạ mùa: thiệt hại khoảng 15 ha
- Nhà cửa: số nhà dân bị hư hỏng và ảnh hưởng gió lốc: 4.375 nhà
+ 4 cây cầu bị ngập nước sâu
+ 1 cây cầu tạm bị nước cuốn trôi
Trang 35+ Mố cầu: 2 cái bị xói, thiệt hại khoảng 200 triệu đồng
- Trường học bị thiệt hại 48 phòng học
- Y tế: 01 trạm
- Trụ sở UBND xã: 01
- Nhà văn hóa cộng đồng 6 nhà
- Các công trình phúc lợi:
+ Đập dâng công trình thủy lợi: 1 cái thiệt hại khoảng 1 tỷ đồng
+ Các công trình thủy lợi nhỏ: thiệt hại khoảng 200 triệu đồng
+ Cầu máng: 1 cái (dài 36 m), thiệt hại khoảng 300 triệu đồng
+ Ngầm tràn: 1 cái (80m), thiệt hại khoảng 80 triệu đồng
Tổng giá trị thiệt hại trong 8 tháng đầu năm 2010 là 28,6 tỷ đồng
1.2 Dự báo xu thế biến đổi khí hậu tại tỉnh Cao Bằng
1.2.1 Căn cứ lựa chọn kịch bản BĐKH do bộ TN&MT công bố
Tháng 9 năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường chính thức công bố các kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam Các kịch bản BĐKH, nước biển dâng được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính khác nhau là:
- Kịch bản phát thải thấp - B1(kịch bản B1 căn cứ vào các tiêu chí: Kinh tế phát triển nhanh theo hướng kinh tế dịch vụ và thông tin; dân số tăng đạt đỉnh vào năm
2050 và sau đó giảm dần; giảm cường độ tiêu hao nguyên vật liệu, sử dụng công nghệ sạch và sử dụng hiệu quả tài nguyên; chú trọng đến các giải pháp toàn cầu về ổn định kinh tế - xã hội – môi trường);
- Kịch bản phát thải trung bình - B2 (kịch bản B2 căn cứ vào các tiêu chí: dân số tăng liên tục nhưng với tốc độ thấp; chú trọng đến các giải pháp địa phương thay vì toàn cầu về ổn định kinh tế, xã hội và môi trường; mức độ phát triển kinh tế trung bình; thay đổi công nghệ mức trung bình);
- Kịch bản phát thải cao - A2 (kịch bản A2 căn cứ vào các tiêu chí: Thế giới không đồng nhất, các quốc gia hoạt động độc lập, tự cung tự cấp; dân số tiếp tục tăng trong thế kỷ 21; kinh tế phát triển theo định hướng khu vực; thay đổi về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người chậm)
1.2.2 Lựa chọn kịch bản BĐKH của tỉnh Cao Bằng
- Xét vào xu hướng tăng nhiệt độ là 0.42oC trong 10 năm
- Cao Bằng là tỉnh có 75% diện tích đất có độ dốc trên 25o, các sông, suối có độ dốc lớn, lòng sông hẹp… sẽ dẫn đến khả năng xuất hiện lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt cục bộ tăng cao, đặc biệt là trong những đột mưa với cường độ lớn
Trang 36- Cao Bằng là một trong những tỉnh nghèo của cả nước, trong tổng số 13 huyện, thị thì có đến 5 huyện đặc biệt khó khăn, có các dân tộc thiểu số, vùng sâu,vùng xa điều kiện tự nhiên, kinh tế khó khăn, dân trí thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu
- Mức tăng dân số còn cao và các công nghệ sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh
tế còn chậm so với cả nước
Căn cứ từ những nhận định trên ta lựa chọn kịch bản biến đổi nhiệt độ và lượng mưa của tỉnh Cao Bằng như sau:
a) Lựa chọn kịch bản biến đổi nhiệt độ:
Lựa chọn kịch bản biến đổi nhiệt độ tỉnh Cao Bằng là mức phát trung bình (B2)
Bảng 7: Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa (oC) qua các thập kỷ của thế kỷ 21
so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cao Bằng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các thời kỳ trong năm (tháng)
Các mốc thời gian của TK21
XII - II III - V VI - VIII IX - XI
Bảng 8 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 của Cao
Bằng theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các mốc thời gian của thế kỷ 21 Vùng
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Cao Bằng 0,5 0,7 1,0 1,2 1,6 1,8 2,1 2,3 2,5
Trang 37b, Lựa chọn kịch bản biến đổi lượng mưa:
Lựa chọn kịch bản biến đổi lượng mưa là kịch bản phát thải trung bình (B2) Bảng 9 Mức thay đổi lượng mưa (%) mùa qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 của Cao Bằng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các thời kỳ trong năm (tháng)
- Lượng mưa qua các thập kỷ trong hầu hết các mùa đều có xu hướng tăng, trong
đó mùa tháng VI - VIII có mức tăng nhanh hơn (6,6% vào giữa thế kỷ và 12,7% vào cuối thế kỷ)
- Vào mùa tháng III – V, lượng mưa lại có xu hướng giảm: Giảm 2,3 % vào giữa thế kỷ, và giảm đạt mức cao nhất vào cuối thế kỷ là 4,4%
Trang 38Bảng 10 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 của Cao Bằng theo
kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các mốc thời gian của thế kỷ 21 Vùng
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Cao Bằng 1,4 2,1 3,0 3,8 4,7 5,4 6,1 6,8 7,3 Tính trung bình cho cả năm thì lượng mưa năm có xu hướng tăng với mức tăng khoảng 3,8% vào giữa thế kỷ và tăng 7,3% vào cuối thế kỷ 21
1.3 Những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu nói chung và đối với tỉnh Cao Bằng
1.3.1 Tác động chung của sự nóng lên toàn cầu
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người
Biến đổi khí hậu toàn cầu bao gồm bốn yếu tố cơ bản đó là: sự thay đổi nhiệt
độ, sự dâng cao mực nước biển, thay đổi lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan Trong đó yếu tố sự thay đổi nhiệt độ trung bình toàn cầu theo xu thế ngày một tăng đã trở thành thước đo phổ biến về thực trạng khí hậu toàn cầu
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể bị thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụ đông; vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch hại dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật chủ mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm
Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như: Tăng tiêu hao năng lượng trong giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại,…
Trang 39liên quan đến gia tăng chi phí cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết
bị, phương tiện, sức bền vật liệu
1.3.2 Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai
Tổng hợp các nghiên cứu về biến đổi khí hậu toàn cầu, “Báo cáo phát triển con người 2007/2008” đã nhận định một số tổn thất có thể xảy ra trên toàn cầu như sau:
- Suy thoái các hệ sinh thái, giảm năng suất sinh học:
+ Qua ngưỡng 2°C, tốc độ tuyệt chủng của tất cả các loài theo dự báo trước đây
sẽ tăng nhanh hơn nữa Ở ngưỡng 3°C, 20 - 30% các loài sẽ ở mức có “nguy cơ tuyệt chủng cao” Hệ thống các rạn san hô vốn đã suy giảm có nguy cơ sẽ bị “xóa sổ” trên diện rộng, dẫn đến những biến đổi của các hệ sinh thái biển, với những mất mát to lớn
về đa dạng sinh học và những gì các hệ sinh thái đem lại Điều này sẽ tác động tiêu cực đến hàng trăm triệu người hiện đang phụ thuộc vào nguồn cá làm sinh kế và nguồn thực phẩm
+ Năng suất nông nghiệp suy giảm: Khoảng ba phần tư dân số thế giới, những người có mức sống dưới 1 đô-la Mỹ một ngày, phụ thuộc trực tiếp vào nông nghiệp Các viễn cảnh biến đổi khí hậu chỉ ra rằng sự sụt giảm đáng kể năng suất các loại lương thực chủ lực có liên quan đến việc biến đổi lượng mưa và những đợt hạn hán bất thường tại một số nơi thuộc châu Phi cận Sahara, miền Đông và Nam Á Theo dự kiến, sản lượng nông nghiệp của khu vực châu Phi cận Sahara khô cằn đến năm 2060 sẽ sụt giảm khoảng 25%, với tổng thiệt hại về doanh thu là 26 tỉ đô-la Mỹ (với mức giá năm 2003) - tức là lớn hơn nguồn viện trợ song phương hiện thời cho khu vực Qua tác động đến nông nghiệp và an ninh lương thực, đến những năm 2080, biến đổi khí hậu
có thể sẽ buộc thêm 600 triệu người nữa phải đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng cấp, nếu so với kịch bản không có biến đổi khí hậu
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước và các chu trình sinh địa hóa khác Một trong những hệ lụy kéo theo là làm suy giảm an ninh về nước Vượt qua ngưỡng 20C đồng nghĩa với việc thay đổi một cách căn bản sự phân phối các nguồn nước toàn cầu Hiện tượng băng tan ngày một nhiều trên đỉnh núi Himalaya, cộng với những vấn đề sinh thái vốn đã rất nghiêm trọng khắp khu vực miền bắc Trung Quốc, Ấn Độ và Pa-kit-xtan, ban đầu sẽ làm gia tăng lũ lụt; sau đó sẽ làm giảm dòng chảy của các hệ thống sông chính tối quan trọng cho tưới tiêu, thủy lợi Tại khu vực Mỹ La-tinh, các sông băng nhiệt đới tan chảy nhanh chóng sẽ đe dọa nguồn nước cung cấp cho các cộng đồng dân cư đô thị, nông nghiệp và thủy điện, đặc biệt ở vùng Andean Tới năm 2080, biến đổi khí hậu có thể khiến thêm 1,8 tỉ người nữa phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sinh hoạt
- Nguy cơ đối mặt với ngập lụt vùng duyên hải và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt gia tăng Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu IPCC dự báo các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt sẽ diễn ra thường xuyên hơn Hạn hán và lũ lụt hiện đã là tác nhân
Trang 40chính gây ra các thảm hoạ liên quan đến khí hậu hiện đang liên tục gia tăng Từ năm
2000 đến 2004, trung bình mỗi năm khoảng 262 triệu người bị ảnh hưởng, trong đó hơn 98% là người người dân các nước đang phát triển Với việc nhiệt độ trái đất tăng thêm hơn 20C, các vùng biển nóng lên sẽ gây ra những xoáy thuận nhiệt đới có sức tàn phá dữ dội Diện tích các khu vực phải hứng chịu hạn hán sẽ tăng lên, dẫn đến hủy hoại môi trường sống và làm triệt tiêu những tiến bộ đạt được trong y tế và dinh dưỡng Mực nước biển trên thế giới trong thế kỷ 21 chắc chắn sẽ dâng cao do lượng phát thải trong quá khứ Nhiệt độ tăng quá 20C sẽ đẩy nhanh quá trình dâng lên này, dẫn đến việc mất phần lớn nơi cư trú của người dân các nước như Băng-lađét, Ai Cập
và Việt Nam, và nhấn chìm một số quốc đảo nhỏ Mực nước biển tăng và hoạt động ngày càng dữ dội của các cơn bão nhiệt đới sẽ khiến từ 180 triệu đến 230 triệu người nữa phải hứng chịu nạn ngập lụt ở vùng ven biển
- Nguy cơ về sức khoẻ ngày một tăng Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người theo nhiều cấp khác nhau Ở cấp độ toàn cầu, sẽ có thêm 220 - 400 triệu người tăng thêm nguy cơ mắc bệnh sốt rét Tỉ lệ mắc bệnh sốt rét tại châu Phi cận Sahara, nơi chiếm khoảng 90% ca tử vong, được dự kiến sẽ tăng thêm 16 - 28%
1.3.3 Tác động của BĐKH đã được ghi nhận tại tỉnh Cao Bằng
Có thể làm gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai đối với tỉnh Cao Bằng:
- Những đợt nắng nóng kéo dài gây ra hạn hán, gia tăng nguy cơ cháy rừng.+
- Những đợt rét đậm rét hại kéo dài vào các năm 2008, 2011 gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường trên phạm vi toàn Tỉnh
- Phân bố lượng mưa không đồng đều, gia tăng tần suất các đợt mưa với lưu lượng lớn trong nhiều giờ, thậm chí trong nhiều ngày một đợt hạn hán kéo dài làm gia tăng tấn suất lũ, lũ quét, sạt lở Đặc biệt nguy hiểm đối với các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và Cao Bằng nói riêng do phần lớn diện tích (khoảng 75%) có độ dốc > 250
- Gia tăng tần suất các đợt áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, giông, lốc, sét
- Có thể dẫn đến bệnh dịch đối với động vật, bệnh dịch đối với thực vật
- Tai biến liên quan đến khí tượng, thủy văn và địa chất
Ở đây chúng tôi tập trung đánh giá, phân tích một số nguyên nhân được coi là đặc trưng của tỉnh Cao Bằng, qua đó chúng giúp chúng ta tường minh hơn với kết luận Cao Bằng là tỉnh nhạy cảm với những hệ quả gây ra do biến đổi khí hậu (đã đề cập ở phần đầu báo cáo):
1 Nền địa chất tỉnh Cao Bằng:
* Trên cơ sở các kết quả khảo sát thực địa, phân tích bản đồ địa hình, ảnh vệ tinh và các tài liệu liên quan cho thấy địa hình Cao Bằng bị phân dị, chia cắt mạnh mẽ