1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

11 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 280,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, mặc dù có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao nhưng số người tham gia BHXH bắt buộc chỉ đạt khoảng 80% so với số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định củ

Trang 1

AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

ThS Nguyễn Thị Lê Thu

Theo số liệu của TCTK, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng1 từ năm 2009

và dự báo sẽ kéo dài khoảng 30 năm Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu dân số thì tỷ lệ dân số trẻ (dưới 15 tuổi) ngày càng giảm và tỷ lệ dân số già (trên 65 tuổi) ngày càng tăng2 do kết quả của chính sách kế hoạch hóa gia đình và xu hướng tăng tuổi thọ của con người Điều này đặt ra thách thức đối với hệ thống

an sinh xã hội nói chung và hệ thống BHXH nói riêng trong thời gian tới Mặt khác, mặc dù có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao nhưng số người tham gia BHXH bắt buộc chỉ đạt khoảng 80% so với số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH và 20% so với lực lượng lao động Độ tuổi nghỉ hưu được cho là thấp (55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam) với cơ chế tính lương hưu trong khu vực nhà nước còn nhiều bất cập (chỉ tính tiền lương làm cơ sở đóng BHXH của 10 năm cuối) và chế độ nghỉ hưu sớm (đủ 20 năm đóng BHXH) Các vấn đề về bảo toàn và phát triển Quỹ BHXH như cho vay với lãi suất thấp, các khoản vay khó có khả năng thu hồi, chưa có cơ chế đầu tư hiệu quả… Tất cả những vấn đề nêu trên là những quan ngại đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của Quỹ BHXH

1 Khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Chính sách BHXH hiện hành được thực hiện theo quy định tại Luật BHXH năm 2006, mới được sửa đổi năm 20143 bao gồm các nội dung chính sau:

Đối tượng tham gia BHXH:

Luật BHXH có độ bao phủ rộng đến người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả các đối tượng bắt buộc tham gia BHXH và các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện

Mức đóng góp BHXH:

Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước4

là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động thuộc khu vực ngoài nhà nước là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động Mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tối đa bằng 20 tháng lương tối thiểu chung (hiện nay gọi là mức lương cơ sở)

1 Cơ cấu dân số vàng là tỷ số phụ thuộc (tỷ lệ trẻ em dưới 14 tuổi và người già trên 65 tuổi so với 100 người trong độ tuổi lao động 15 - 65 tuổi) dưới 50%, nghĩa là cứ 2 người trong độ tuổi lao động trở lên gánh 1 người phụ thuộc

2

Theo kết quả điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm ngày 01/4/2013 do TCTK công bố, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi đã giảm từ 39,2% năm 1989 xuống 24,2% năm 2013, trong khi đó, tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên tăng từ 4,7% năm 1989 lên 7,2% năm 2013

3

Luật BHXH năm 2014 mới được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014 và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 4

Bao gồm các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, DNNN

Trang 2

Từ khi thực hiện Luật BHXH năm 2006, mức đóng BHXH được điều chỉnh tăng 2 năm 1 lần với mức tăng 2% chia đều cho người lao động và người sử dụng lao động đến khi mức đóng đạt 8% đối với người lao động và 18% đối với người sử dụng lao động Như vậy, kể từ ngày 01/01/2014, mức đóng BHXH là 26% mức tiền lương, tiền công, trong đó người lao động đóng 8%, người sử dụng lao động đóng 18%

Mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH để tính lương hưu:

Đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước: Mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH để tính lương hưu là bình quân tiền lương tháng của 5 năm, 6 năm, 8 năm, 10 năm, 15 năm hay 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu tùy theo thời điểm tham gia BHXH của người lao động5 Đặc biệt, đối với người lao động tham gia BHXH từ ngày 01/01/2025 trở đi thì thời gian tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH giống như khu vực ngoài nhà nước, đó là tính bình quân của toàn bộ thời gian

Đối với người lao động khu vực ngoài nhà nước thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian tham gia BHXH

Mức hưởng BHXH:

Từ ngày 31/12/2017 trở về trước, mức lương hưu được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75% nhưng thấp nhất bằng mức lương cơ sở Người lao động nghỉ hưu trước tuổi thì mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định giảm đi 1%

Từ ngày 01/01/2018, mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là

16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%, mức thấp nhất bằng mức lương cơ sở Đối với trường hợp nghỉ hưu trước tuổi, cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định giảm đi 2%

Tuổi nghỉ hưu:

Theo quy định tại Luật BHXH, người lao động có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, nam đủ 60 tuổi, nữ

đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu6

Quỹ BHXH bắt buộc:

Theo quy định tại Luật BHXH, các nguồn thu của Quỹ BHXH bắt buộc gồm: Nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ, hỗ trợ của Nhà nước

và các nguồn thu hợp pháp khác

5

Với thời điểm tham gia BHXH tương ứng là: Trước ngày 01/01/1995; từ ngày 01/01/1995 - 31/12/2000; từ ngày 01/01/2001 - 31/12/2006; từ ngày 01/01/2007 - 31/12/2015; từ ngày 01/01/2016 - 31/12/2019; từ ngày 01/01/2020 - 31/12/2024

6

Đối với lực lượng vũ trang, người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, tuổi nghỉ hưu đối với nam là 55 tuổi, nữ là 50 tuổi

Trang 3

Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động; đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng; chi phí quản lý; trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động; đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Hoạt động đầu tư từ Quỹ BHXH phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết

Hoạt động đầu tư của Quỹ BHXH:

Các hình thức đầu tư của Quỹ BHXH theo Luật BHXH năm 2006 và Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam bao gồm: (i) Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của NHTM nhà nước; (ii) Cho NSNN, NHTM nhà nước, NHPT Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội vay; (iii) Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia, một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định; (iv) Các hình thức đầu tư khác do Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam quyết định

Theo Luật BHXH năm 2014, các hình thức đầu tư của Quỹ BHXH được thu hẹp lại trong phạm vi sau: (i) Mua TPCP; (ii) Gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các NHTM có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của NHNN Việt Nam; (iii) Cho NSNN vay

2 Đánh giá an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trước tình hình già hóa dân số và những bất cập trong việc thực hiện chính sách BHXH thời gian qua, trong những năm gần đây đã có nhiều nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách từ các tổ chức, các cơ quan quản lý thực hiện nghiên cứu, đánh giá tính an toàn của Quỹ BHXH như nghiên cứu của ILO, WB, BHXH Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… Trong bài viết này, tác giả đánh giá tính bền vững của hệ thống BHXH trên một số khía cạnh sau:

Thiết kế hệ thống BHXH :

Về cơ bản, hệ thống BHXH của Việt Nam là hệ thống bảo hiểm của Nhà nước, hoạt động theo

cơ chế thực thanh thực chi với mức hưởng xác định trước, thu nhập của người hưởng lương hưu chủ yếu là từ tiền lương hưu do hệ thống BHXH này chi trả Hệ thống hưu trí tự nguyện dựa trên tài khoản tích lũy mới được đưa vào áp dụng từ cuối năm 2013 với sự ra đời của Thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện

Tuy hệ thống hưu trí Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống BHXH của Nhà nước nhưng độ bao phủ của hệ thống này còn rất thấp Hiện nay, mức độ bao phủ của hệ thống BHXH mới chiếm khoảng 80% số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và 20% lực lượng lao động7

Nguyên nhân

7

Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, ước tính đến hết ngày 31/12/2014, số người tham gia BHXH bắt buộc khoảng 11,2 triệu người,

số người tham gia BHXH tự nguyện khoảng 188 nghìn người Trong khi đó, theo số liệu do TCTK công bố, ước tính số người thuộc lực lượng lao động tính đến thời điểm ngày 01/10/2014 khoảng 54,3 triệu người

Trang 4

của tình trạng này là lao động làm việc tại khu vực phi chính thức tương đối lớn , hơn nữa một bộ phận doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ thường có xu hướng trốn tránh việc tham gia BHXH Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn thì xu hướng dịch chuyển lao động từ khu vực chính thức sang khu vực phi chính thức cũng đang diễn ra, làm cho việc mở rộng độ bao phủ của hệ thống BHXH càng trở nên khó khăn hơn

Một vấn đề nữa trong thiết kế hệ thống BHXH của Việt Nam là tuổi nghỉ hưu theo quy định tương đối thấp9 Do có những ngoại lệ về độ tuổi nghỉ hưu với một số nhóm đối tượng như lực lượng vũ trang, người lao động trong ngành nghề độc hại, nguy hiểm… bên cạnh đó, tỷ lệ “phạt” do nghỉ hưu trước tuổi thấp nên tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân thấp hơn so với tuổi nghỉ hưu chung theo quy định10 Điều này dẫn đến một nghịch lý là thời gian đóng BHXH ngắn (bình quân nam đóng 28 năm, nữ đóng 23 năm)11, nhưng thời gian hưởng lương hưu lại dài (bình quân nam hưởng 22,6 năm, nữ hưởng 27 năm)12

So sánh với các nước OECD, tuổi nghỉ hưu theo quy định của Việt Nam vốn đã thấp, tuổi nghỉ hưu thực tế còn thấp hơn đối với cả nam và nữ Ở hầu hết các nước, không có sự phân biệt về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ và đa số ở mức 65 tuổi13, nhiều nước có độ tuổi nghỉ hưu thực tế cao hơn độ tuổi nghỉ hưu do luật định14

(Hình 1, 2)

Hình 1 Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nam ở

một số nước giai đoạn 2007 - 201215

Đơn vị: Năm

8

Theo báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2013 của TCTK, trong toàn bộ nền kinh tế, tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đình chiếm tới 62,6% (32,7 triệu người), cao gần gấp đôi so với tỷ trọng người làm công ăn lương Theo kết quả khảo sát lực lượng lao động năm 2009, khu vực phi chính thức (không bao gồm khu vực nông nghiệp) chiếm 23,7% tổng số việc làm Nếu tính cả khu vực phi chính thức và khu vực nông nghiệp, việc làm trong 2 khu vực này chiếm tới 70% tổng số việc làm ở Việt Nam

9

60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ

10 Theo Tờ trình số 28/TTr-CP ngày 07/02/2014 về Dự án Luật BHXH (sửa đổi), tuổi nghỉ hưu bình quân năm 2012 là 54,2 tuổi, trong đó nam là 55,6 tuổi (thấp hơn 4,4 tuổi so với quy định), nữ là 52,6 tuổi (thấp hơn 2,4 tuổi so với quy định)

11 Nguồn: Tờ trình số 28/TTr-CP ngày 07/02/2014 về Dự án Luật BHXH (sửa đổi)

12

Theo kết quả điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm ngày 01/4/2013 do TCTK công bố, kỳ vọng sống của nam ở tuổi 60 là 18,2 năm và nữ ở tuổi 55 là 24,6 năm Trong khi đó, tuổi nghỉ hưu thực tế lại thấp hơn quy định nên dẫn đến thời gian hưởng lương hưu dài

13

Trừ Hàn Quốc (60 tuổi), Hoa Kỳ, Ai-len (66 tuổi), Ai-xơ-len, I-xra-en, Na Uy (67 tuổi)

14

Mê-hi-cô, Hàn Quốc, Chi-lê, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Niu Di-lân, Thụy Sỹ, Thụy Điển

15

Số liệu của Việt Nam là số bình quân năm 2012

Trang 5

Nguồn: OECD (2012) và Chính phủ Việt Nam

Hình 2 Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nữ ở một

số nước giai đoạn 2007 - 2012 16

Đơn vị: Năm

Nguồn: OECD (2012) và Chính phủ Việt Nam

Tỷ lệ chi lương hưu/GDP:

Tỷ lệ chi cho lương hưu so với GDP của Việt Nam tương đối thấp, dưới 2,5% GDP Theo số liệu của BHXH Việt Nam, số chi cho lương hưu năm 2010 khoảng 52.000 tỷ đồng, tương đương 2,4% GDP, trong đó chi từ NSNN chiếm 1,26% GDP, chi từ Quỹ BHXH chiếm 1,15% GDP Năm 2011, tổng chi cho lương hưu khoảng 62.000 tỷ đồng, chiếm 2,2% GDP, chi từ NSNN chiếm 1,1% GDP, chi từ Quỹ BHXH chiếm 1,13% GDP Năm 2012, chi cho lương hưu khoảng 77.500 tỷ đồng, chiếm 2,4% GDP, trong đó chi từ NSNN chiếm 1,1% GDP, chi từ Quỹ BHXH chiếm 1,28% GDP

Nếu so với một số quốc gia trên thế giới, tỷ lệ chi lương hưu trên GDP của Việt Nam tương đối thấp Những quốc gia có nền phúc lợi xã hội cao như Áo, Bỉ, Pháp, Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản đều có tỷ

lệ chi lương hưu trên GDP lớn hơn 10%, đa số các quốc gia còn lại thuộc khối OECD có tỷ lệ chi lương hưu trên GDP trong khoảng từ 5 - 7% (Hình 3)

16

Số liệu của Việt Nam là số bình quân năm 2012

Trang 6

Hình 3 Tỷ lệ chi lương hưu trên GDP ở một số quốc gia giai đoạn 2007 - 2009

Đơn vị: %

Nguồn: OECD (2013) và tính toán của tác giả từ số liệu của BHXH Việt Nam, TCTK

Tỷ lệ số người đóng/hưởng BHXH:

Theo báo cáo của Chính phủ, trong thời gian qua, số người nghỉ hưu ngày càng tăng lên dẫn đến tỷ lệ số người đóng/hưởng BHXH ngày càng giảm đi Nếu như năm 1996 có 217 người đóng BHXH cho một người hưởng lương hưu thì năm 2007 chỉ còn 14 người và năm 2012 chỉ còn 9,3 người đóng BHXH cho một người hưởng lương hưu Kết quả là, tỷ trọng giữa số tiền chi trả chế độ so với số thu từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động hàng năm có xu hướng tăng nhanh, dẫn đến những thách thức trong việc cân đối Quỹ BHXH trong tương lai gần

Cân bằng thu - chi Quỹ BHXH:

Số liệu thu - chi Quỹ BHXH giai đoạn 2007 - 2013 cho thấy, tính đến thời điểm hiện tại và dự báo trong tương lai gần, Quỹ BHXH Việt Nam vẫn tiếp tục cân bằng thu - chi và có thặng dư Tuy nhiên, việc thặng dư Quỹ BHXH trong hiện tại là không bền vững do việc tăng thu trong thời gian qua chủ yếu nhờ yếu tố chính sách Kể từ khi ban hành Luật BHXH năm 2006, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được mở rộng và mang tính pháp lý cao, đồng thời với đó là sự ra đời của hệ thống BHXH tự nguyện đã góp phần không nhỏ trong việc tăng nhanh số đối tượng tham gia BHXH và số thu BHXH Ngoài ra, trong giai đoạn 2007 - 2014, Luật BHXH đã quy định cụ thể lộ trình tăng mức đóng BHXH góp phần làm tăng nguồn thu của Quỹ BHXH Trong khi đó, số người hưởng chế độ BHXH chưa có sự thay đổi nhiều

vì chu kỳ của chính sách BHXH tương đối dài Mặt khác, tỷ trọng giữa số tiền chi trả chế độ so với số thu

từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động có xu hướng tăng nhanh, từ 57,2% năm

2007 lên khoảng 76,6% năm 2013 Theo dự báo của BHXH Việt Nam năm 2014, nếu không có chính sách, biện pháp tăng thu hoặc giảm chi thì Quỹ Hưu trí và tử tuất có số thu bằng số chi vào năm 2023

17

Riêng số liệu của Việt Nam là số của giai đoạn 2010 - 2012

Trang 7

Từ năm 2024 trở đi, để bảo đảm chi chế độ hưu trí, tử tuất cho người lao động, ngoài số thu trong năm phải trích thêm từ số dư của quỹ và đến năm 2037 thì Quỹ BHXH sẽ hoàn toàn mất cân đối, thu không

đủ chi Hiện nay, không gian chính sách không còn nhiều, do đó, nếu không có những giải pháp đột phá thì việc tăng nguồn thu và giữ tình trạng cân bằng Quỹ BHXH trong tương lai sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Hình 4 Tổng thu - chi và cân đối Quỹ BHXH giai đoạn 2007 - 2013

Đơn vị: Tỷ đồng

Nguồn: BHXH Việt Nam

Tỷ lệ lãi đầu tư Quỹ BHXH:

Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư của Quỹ BHXH đã được thực hiện theo Luật BHXH nhưng chưa đạt được mục tiêu bảo toàn và tăng trưởng quỹ Giai đoạn 2007 - 2012, Quỹ BHXH đã thực hiện đầu tư vào TPCP, cho các NHTM nhà nước vay, cho vay đối với các dự án đầu tư có tầm quan trọng quốc gia và cho NSNN vay Mặc dù tỷ lệ lãi đầu tư bình quân năm có xu hướng tăng nhưng nhìn chung vẫn tương đối thấp nếu tính theo giá trị thực, thậm chí Quỹ BHXH còn bị mất tài sản do tỷ lệ lãi đầu tư thấp hơn chỉ số lạm phát18 Hình 5 cho thấy, trong các năm 2007, 2008, 2010, 2011, Quỹ BHXH

đã mất đi tài sản nếu tính theo giá trị thực Thêm vào đó, việc đầu tư của quỹ cũng không đảm bảo tính

an toàn khi hiện nay quỹ đang có khoản nợ quá hạn lên tới hơn 1.000 tỷ đồng19 Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn vừa qua, hoạt động đầu tư của Quỹ BHXH đã không đảm bảo được các nguyên tắc an

toàn và bảo toàn vốn

18 Lãi suất đầu tư bình quân giai đoạn 2007 - 2012 chỉ khoảng 9,3%/năm, trong khi đó, chỉ số lạm phát bình quân khoảng 11,7%/năm và tỷ lệ điều chỉnh lương hưu bình quân là 15,2%/năm

19

Theo Báo cáo số 193/BC-KTNN ngày 09/7/2013 về kết quả kiểm toán Quỹ BHYT tại BHXH năm 2010 và năm 2012 của Kiểm toán Nhà nước, BHXH Việt Nam cho Công ty Cho thuê tài chính II - Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam (ALC II) vay sai đối tượng, vượt hạn mức bảo lãnh của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam, không đúng quy định về thời hạn cho vay, dẫn đến BHXH Việt Nam khó có khả năng thu hồi, nguy cơ làm tổn thất Quỹ BHXH Đến ngày 31/12/2011, ALC II còn nợ gốc là 787,5

tỷ đồng và nợ lãi là 264,6 tỷ đồng, tổng cộng là 1.052,1 tỷ đồng cả nợ gốc và lãi phát sinh

Trang 8

Hình 5 Tỷ lệ lãi đầu tư bình quân năm của Quỹ BHXH và chỉ số lạm phát

Đơn vị: %

Nguồn: Chính phủ Việt Nam và TCTK Tình hình nợ đóng BHXH:

Bảng 1 Tình hình chậm đóng, nợ đóng BHXH giai đoạn 2007 - 2011

Đơn vị: Tỷ đồng

Số tiền chậm đóng, nợ

Tỷ lệ so với số phải thu 6,8% 6,91% 5,31% 4,43% 7,1% 4,76%

Nguồn: BHXH Việt Nam

Mặc dù tỷ lệ số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng vẫn còn ở mức tương đối cao, khoảng 5% số nợ phải thu Trong đó, nợ BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn (trên 70% tổng số nợ)20 Một trong những nguyên nhân của tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH là do Luật BHXH năm 2006 quy định lãi chậm đóng bằng mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ BHXH trong năm (mức lãi suất này thường thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay của các ngân hàng) Mặt khác, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm pháp luật

về BHXH theo quy định còn thấp Vì vậy, nhiều doanh nghiệp cố tình nợ, chậm đóng BHXH và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền đóng BHXH Bên cạnh đó, việc tuân thủ quy định BHXH còn thấp thể hiện ở việc mức lương đóng BHXH của người lao động thuộc khu vực ngoài nhà nước thường thấp hơn nhiều

so với mức lương thực tế21 và hiện nay cũng chưa có chế tài đối với vi phạm này

20

Nguồn: Chính phủ Việt Nam (2014), Tờ trình số 28/TTr-CP ngày 07/02/2014 về Dự án Luật BHXH (sửa đổi)

21

Theo số liệu của BHXH Việt Nam, mức lương bình quân tháng đóng BHXH giai đoạn 2007 - 2011 của người lao động khu vực DNNN khoảng 1,79 triệu đồng/người; doanh nghiệp FDI khoảng 1,83 triệu đồng/người; doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 9

Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng chậm đóng, nợ đóng BHXH như sự bất bình đẳng trong công thức tính lương hưu giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân đã dẫn đến sự trốn đóng BHXH của người lao động ở khu vực tư nhân Mặt khác, mô hình BHXH hiện nay khiến doanh nghiệp/người lao động không được tham gia vào quá trình quản lý, giám sát hoạt động của quỹ, không biết đồng tiền mình đóng góp được sử dụng như thế nào dẫn đến việc thiếu lòng tin vào hoạt động của quỹ, từ đó e ngại trong việc đóng BHXH Cũng có ý kiến cho rằng, TTHC phức tạp của hệ thống BHXH

đã gây ra sự phiền hà cho các doanh nghiệp, khiến họ thụ động hơn trong việc chấp hành pháp luật về BHXH

3 Kiến nghị chính sách

Một là, tăng thời gian đóng BHXH (kéo dài tuổi nghỉ hưu)

Theo Karam và cộng sự (2010), sử dụng mô hình tích hợp tiền tệ và tài khóa toàn cầu của IMF

để tính tác động của việc nâng tuổi nghỉ hưu ở Hoa Kỳ cho thấy, việc nâng tuổi nghỉ hưu có thể làm tăng GDP của Hoa Kỳ lên mức 3% trong dài hạn nhờ khuyến khích người lao động làm việc dài hơn và do đó tiêu dùng sẽ tăng lên do thu nhập cao hơn Như đã phân tích, tuổi nghỉ hưu của Việt Nam hiện nay tương đối thấp với nhiều ngoại lệ cho việc nghỉ hưu sớm, dẫn đến tuổi nghỉ hưu thực tế càng thấp hơn nữa Kinh nghiệm cải cách hệ thống hưu trí của các nước cũng cho thấy, việc nâng tuổi nghỉ hưu là một giải pháp mang lại tác dụng trong dài hạn, khả thi và dễ thực hiện Thậm chí, ở một số quốc gia như Mê-hi-cô, Hàn Quốc,

Chi-lê, Nhật Bản, Niu Di-lân, Thụy Sỹ, Thụy Điển tuổi nghỉ hưu thực tế còn cao hơn tuổi nghỉ hưu theo quy định

do tuổi thọ tăng cao, sức khỏe của người lao động được cải thiện và do nhu cầu cải thiện tình trạng tài chính sau khi nghỉ hưu Năm 2014, khi trình dự án sửa đổi Luật BHXH, Chính phủ cũng đã đề xuất phương án nâng tuổi nghỉ hưu đối với từng nhóm đối tượng, tuy nhiên chưa được Quốc hội chấp thuận Tuy nhiên, về lâu dài, việc nghiên cứu nâng tuổi nghỉ hưu lên mức phù hợp với điều kiện của Việt Nam là giải pháp cần thiết để đảm bảo tính bền vững của Quỹ BHXH trong tương lai

Hai là, cân nhắc giảm tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng lương hưu)

Trong dài hạn, cần nghiên cứu giảm tỷ lệ thay thế do tỷ lệ thay thế hiện nay của Việt Nam tương đối cao Theo Đỗ Thị Xuân Phương (2012), tỷ lệ hưởng sau khi nghỉ hưu của Việt Nam khá cao so với các nước khác trên thế giới Cụ thể, tỷ lệ hưởng lương hưu theo quy định là tối đa 75%, thực tế tỷ lệ phần trăm bình quân hưởng khi nghỉ hưu theo thời gian đóng góp BHXH là 70%, trong đó nam là 68,5%, nữ là 71,4% Trong khi đó, tỷ lệ hưởng lương hưu trung bình trên thế giới là khoảng 50%; các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc là 46%; các nước Tây Âu là 41%; các nước Nam Á là 55% Theo mô hình tính toán của OECD, để đảm bảo mức chi trả cao như hiện nay, người lao động Việt Nam phải đóng góp tới trên 40% thu nhập của họ

khoảng 1,39 triệu đồng/người Trong khi đó, theo kết quả điều tra về sự phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước giai đoạn

2006 - 2011 do TCTK công bố, mức thu nhập bình quân tháng trong cùng giai đoạn của các nhóm lao động trên lần lượt là 5,26 triệu đồng/người, 2,75 triệu đồng/người và 2,87 triệu đồng/người

Trang 10

Các nghiên cứu định lượng cũng cho thấy, việc giảm tỷ lệ thay thế cũng có những tác động tích cực tới tăng trưởng như việc nâng tuổi nghỉ hưu Kết quả nghiên cứu của Karam và cộng sự (2010) cho thấy, giảm tỷ lệ thay thế cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn Kinh nghiệm thực tiễn của nhiều nước trên thế giới chỉ ra rằng, sự tham gia vào lực lượng lao động có mối quan hệ mật thiết và tỷ lệ nghịch với mức độ rộng rãi của quyền lợi hưu trí được xác định bởi tỷ lệ thay thế và độ tuổi nghỉ hưu Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ thay thế cũng cần đi kèm với việc cải cách chế độ tiền lương do hiện nay mức lương, đặc biệt là mức lương của khu vực nhà nước, tương đối thấp

Ba là, có chế tài xử lý nghiêm đối với các trường hợp trốn đóng BHXH và nợ BHXH

Mức xử phạt đối với việc trốn đóng, chậm đóng BHXH hiện nay tương đối thấp nên không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đúng pháp luật về BHXH Nâng cao tính tuân thủ pháp luật về BHXH không chỉ giúp hạn chế tình trạng nợ đóng BHXH mà còn giúp mở rộng diện bao phủ của hệ thống BHXH vốn đang rất hẹp do các doanh nghiệp trốn đóng BHXH Đồng thời, có biện pháp để các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp FDI đóng BHXH cho người lao động theo mức lương thực

tế, thay vì mức lương tối thiểu như hiện nay, nhằm một mặt nâng nguồn thu của Quỹ BHXH, nâng cao tính bền vững của Quỹ BHXH, mặt khác đảm bảo mức sống cho người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu, góp phần củng cố hệ thống an sinh xã hội

Bốn là, phát triển chương trình hưu trí tự nguyện bổ sung

Cũng giống như tiến trình cải cách hệ thống BHXH của các nước trên thế giới, việc cải cách hệ thống BHXH của Việt Nam theo các đề xuất trên đây sẽ làm giảm tỷ lệ hưởng của chế độ hưu trí Điều này sẽ tạo ra một khoảng trống về tài chính đối với những người nghỉ hưu, vì vậy, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ xây dựng thêm các chương trình hưu trí tự nguyện để bổ sung vào

hệ thống hưu trí công hiện nay Các chương trình này một mặt giúp bù đắp khoảng trống tài chính cho người hưởng lương hưu, mặt khác cho phép những người có điều kiện, có thu nhập cao có thể nâng cao mức tiết kiệm cho tuổi già Việc hình thành và phát triển các chương trình hưu trí tự nguyện bổ sung cũng hỗ trợ cho sự phát triển của TTTC và tăng trưởng kinh tế, đồng thời sự phát triển của TTTC và tăng trưởng kinh tế sẽ có tác động tích cực ngược trở lại đối với hoạt động đầu tư của Quỹ BHXH, từ đó giúp tăng thu nhập từ lương hưu của người tham gia BHXH

Năm là, có chính sách đầu tư hợp lý Quỹ BHXH

Như đã phân tích, hoạt động đầu tư của Quỹ BHXH trong thời gian qua ít hiệu quả, thậm chí có giai đoạn tỷ suất lợi nhuận còn thấp hơn tốc độ lạm phát Việc đầu tư Quỹ BHXH Việt Nam, cần tôn trọng nguyên tắc bảo toàn vốn, có chiến lược đầu tư vào các sản phẩm tài chính dài hạn, có tính thanh khoản cao, đồng thời cần có đầu tư về nhân sự chuyên nghiệp để Quỹ BHXH đóng vai trò là một nhà đầu tư lớn, quan trọng trên TTTC

Sáu là, trong dài hạn, cần nghiên cứu để thay đổi, hoặc cải thiện hệ thống thực thanh thực chi với mức hưởng xác định trước hiện nay để hệ thống BHXH tăng tính độc lập về tài chính giữa các thế hệ

Ngày đăng: 18/09/2016, 08:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nam ở - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Hình 1. Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nam ở (Trang 4)
Hình 2. Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nữ ở một - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Hình 2. Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân và tuổi nghỉ hưu theo quy định đối với nữ ở một (Trang 5)
Hình 3. Tỷ lệ chi lương hưu trên GDP ở một số quốc gia giai đoạn 2007 - 2009 17 - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Hình 3. Tỷ lệ chi lương hưu trên GDP ở một số quốc gia giai đoạn 2007 - 2009 17 (Trang 6)
Hình 4. Tổng thu - chi và cân đối Quỹ BHXH giai đoạn 2007 - 2013 - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Hình 4. Tổng thu - chi và cân đối Quỹ BHXH giai đoạn 2007 - 2013 (Trang 7)
Hình 5. Tỷ lệ lãi đầu tư bình quân năm của Quỹ BHXH và chỉ số lạm phát - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Hình 5. Tỷ lệ lãi đầu tư bình quân năm của Quỹ BHXH và chỉ số lạm phát (Trang 8)
Bảng 1. Tình hình chậm đóng, nợ đóng BHXH giai đoạn 2007 - 2011 - AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Bảng 1. Tình hình chậm đóng, nợ đóng BHXH giai đoạn 2007 - 2011 (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w