1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LA CHÍ Ở HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY

119 610 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 774,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Viết Chức và các tác giả, Nxb Văn hóa thông tin, 2001… Thứ hai, Một số đề tài luận văn Thạc sỹ viết về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa, tiêu biểu là: “Đời sống văn hóa của dân t

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

THÀO THỊ HẰNG

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LA CHÍ

Ở HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Văn hóa học

Mã số : 60 31 06 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Thào Thị Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

1.1 Khái niệm và cấu trúc của đời sống văn hóa 11 1.2 Đặc điểm, vai trò của phát triển đời sống văn hóa các dân tộc

1.3 Tác động của yếu tố địa lý, kinh tế - xã hội và lịch sử đến đời

sống văn hóa dân tộc La Chí 23

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LA CHÍ Ở

2.1 Chủ thể đời sống văn hóa 30 2.2 Đời sống văn hóa trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt 38 2.3 Đời sống văn hóa trong quan hệ xã hội 49 2.4 Đời sống văn hóa trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và nghệ

2.5 Đời sống văn hóa trong một số hoạt động khác 63

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỜI SỐNG

3.1 Sự biến đổi trong đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số và dân

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Những giá trị văn hóa đó góp phần hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng của xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng nền văn hóa mới cũng là quá trình xây dựng nền tảng tinh thần xã hội phù hợp với thời đại mới, xu thế mới; đảm bảo để văn hóa trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo sự cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Mỗi dân tộc sinh sống và phát triển gắn với những lãnh thổ, cảnh quan xác định tạo nên các vùng sinh thái tộc người và những truyền thống văn hóa đa dạng, làm phong phú thêm truyền thống nền văn hóa Việt Nam Theo số liệu thống kê năm 2000, Việt Nam có

54 dân tộc Dân số đông nhất là dân tộc Kinh (Việt) chiếm 87%, cư trú chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển; 53 dân tộc thiểu số còn lại chiếm 13%,

cư trú ở miền núi và vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, hải đảo Đây là vùng

có điều kiện tự nhiên phức tạp, giao thông đi lại khó khăn; kinh tế, văn hóa,

xã hội chậm phát triển; đời sống của các dân tộc thiểu số chưa được ổn định

Trong những năm qua, nhằm đưa miền núi tiến kịp miền xuôi Đảng, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện hàng loạt các quyết sách: Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo (giai đoạn 2001 - 2005 và

2006 - 2010); Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó

Trang 6

khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi - Chương trình 135 giai đoạn 1 (1998

- 2005) và giai đoạn 2 (2006 - 2010) Chương trình hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ nghèo (các Quyết định 134, 167, 74) Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo nhất nước (Nghị quyết 30a) Hệ thống các chính sách, chương trình dự án ưu đãi cho từng lĩnh vực, ngành: trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng, vật tư thiết yếu; cấp không thu tiền cho 20 ấn phẩm báo, tạp chí phát hành tại vùng đặc biệt khó khăn; phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình; chương trình y tế với các mục tiêu phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình cho vùng đặc biệt khó khăn; chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá - thông tin; chương trình mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (1995); phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (2000)

Các chương quyết sách đã làm thay đổi diện mạo đời sống nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội của các địa phương và cả nước Tuy nhiên trong thời kỳ đổi mới, hội nhập sâu sắc với nền kinh tế thế giới hiện nay, các thành tựu bước đầu đó chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đang là vấn đề cấp thiết

Xín Mần là huyện vùng cao biên giới thuộc phía Tây của tỉnh Hà Giang với 18 dân tộc cùng chung sống xen kẽ ở 19 xã, thị trấn; 186 thôn bản Người

La Chí là dân tộc thiểu số đông đứng thứ 4 ở huyện Xín Mần, với số dân 4.840 người (số liệu tháng 12 năm 2013), chiếm 8% số dân của toàn huyện Dân tộc La Chí có truyền thống văn hóa lâu đời, độc đáo, đặc sắc Các thế hệ

Trang 7

người La Chí luôn có ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội các dân tộc thiểu số nói chung, người La Chí nói riêng được nâng lên về mọi mặt; nhu cầu vật chất và tinh thần được đáp ứng ngày càng cao Tuy nhiên về hạn chế, trong Báo cáo số 250, ngày 20/12/2012 của Huyện ủy Xín Mần về Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương

5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc đã chỉ ra: “Thiết chế văn hóa, thể thao ở cấp cơ sở hầu như chưa có và chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn Các chương trình dự án cho việc xây dựng các thiết chế văn hóa còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ các sản phẩm văn hóa của người dân” [35] Bên cạnh đó việc đầu tư, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc La Chí còn chưa thỏa đáng Nhiều di sản văn hóa chưa được khảo sát, đánh giá, mới chỉ chú ý đến lưu giữ

mà chưa có cơ chế khai thác, phát triển; vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế xã hội huyện Xín Mần chưa được phát huy; chưa thực sự góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với huyện Xín Mần nói riêng và các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa nói chung

Vì vậy, nghiên cứu đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh

Hà Giang hiện nay là vấn đề cấp thiết Điều đó không những có ý nghĩa đối với với việc bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc La Chí, mà còn có ý nghĩa phát huy vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 ở huyện Xín Mần hiện nay

Từ những lí do trên tôi đã quyết định chọn vấn đề "Đời sống văn hóa

dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang hiện nay" làm luận văn tốt

nghiệp hệ đào tạo cao học, chuyên ngành Văn hóa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu văn hóa và bảo tồn giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu

số luôn là đề tài hấp dẫn, thu hút các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn, có thể khái quát:

Thứ nhất, Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về văn hóa và phát

triển, văn hóa tộc người, đời sống văn hóa, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam:

- Hoàng Vinh Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 1999

- Phan Hữu Dật Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb CTQG, 2001

- Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới, Ủy

ban Dân tộc, Nxb Nông nghiệp, 2002

- Trần Văn Bính (chủ biên) Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng

và những vấn đề đặt ra, Nxb, CTQG, 2004

- Ngô Đức Thịnh Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam,

Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện nghiên cứu văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, 2006

- Nguyễn Thị Hương - Trần Kim Cúc: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam, Nxb CTQG, 2011

- Phạm Duy Đức Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

xu hướng và giải pháp, Nxb CTQG, 2010

- Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa và Viện văn hóa, 2005

- Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Viện Văn hóa - Bộ văn hóa, Nxb

Văn hóa Hà Nội, 1994

- Bế Viết Đẳng Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb CTQG - Văn hóa dân tộc, 1996

Trang 9

- Ngô Văn Lệ - Nguyễn Văn Tiệp - Nguyễn Văn Diệu Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998

GS Hoàng Vinh trong sách “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng

văn hóa ở nước ta”, xuất bản năm 1999 đã coi việc xây dựng đời sống văn

hóa là tiền đề nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống của nhân dân PGS, TS

Nguyễn Hữu Thức trong công trình “Về văn hóa và xây dựng đời sống văn

hóa” xuất bản năm 2005 đã nêu lên quan niệm về vấn đề xây dựng đời sống

văn hóa ở cơ sở gắn với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng

Bên cạnh đó, có một số cuốn sách và công trình khoa học đề cập đến

vấn đề văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở như: cuốn "Xây dựng đời

sống văn hoá ở cơ sở" của Viện Văn hoá - Bộ Văn hoá, Nxb Văn hoá Hà Nội,

1984; cuốn “Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở

nông thôn hiện nay” của Bộ Văn hóa thông tin, Nxb Văn hóa dân tộc 1998; cuốn

“Hỏi và đáp về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của

Ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH” Trung ương, 2000; cuốn “Xây dựng

tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn hóa ở Thủ đô Hà Nội” của TS

Nguyễn Viết Chức và các tác giả, Nxb Văn hóa thông tin, 2001…

Thứ hai, Một số đề tài luận văn Thạc sỹ viết về vấn đề xây dựng đời

sống văn hóa, tiêu biểu là: “Đời sống văn hóa của dân tộc Mông ở tỉnh Hà

Giang hiện nay” của tác giả Vũ Thị Hòa, Viện Văn hóa và Phát triển - Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2008; Đời sống văn hóa ở nông thôn

huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội hiện nay của tác giả Lê Thị Thanh

Nhàn, Viện Văn hóa và Phát triển - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011; Đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang

hiện nay của tác giả Nông Thị Bích Huệ, Viện Văn hóa và Phát triển - Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011; Đảng bộ huyện Như Xuân, tỉnh

Trang 10

Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện cuộc vận động TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư (2000-2010) của tác giả Trương Thị Kim Dung, Học viện Báo chí và tuyên

truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011

Thứ ba, một số nghiên cứu khái quát những thành tựu phát triển kinh tế

và văn hoá trong những năm đổi mới của miền núi và tỉnh Hà Giang:

Công trình “Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi

mới” của Uỷ ban Dân tộc, xuất bản năm 2002 đã trình bày những thành tựu phát

triển về kinh tế, văn hóa - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đồng thời, công trình cũng đã đề cập đến các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với phát triển miền núi đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số Các tác giả Hùng Đình Quý - Nguyễn Khắc Sử - Phạm Văn Quang - Lò Giàng Páo -

Nguyễn Khắc Đãi - Cao Xuân Thái với “Văn hóa truyền thống các dân tộc Hà

Giang”, xuất bản năm 1994; các tác giả Lê Duy Đại - Triệu Đức Thanh với

“Các dân tộc ở Hà Giang”, xuất bản năm 2004 đã phản ánh khá toàn diện về

điều kiện cư trú, lịch sử hình thành và phát triển, phong tục tín ngưỡng các dân tộc ở Hà Giang trong đó có người La Chí Các tác giả khái quát truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và những thành tích trong xây dựng cuộc sống mới; vấn đề về bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Hà Giang trong giai đoạn hiện nay

Thứ tư, một số công trình nghiên cứu văn hoá truyền thống của dân tộc

La Chí, tiêu biểu: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc)” của Viện Dân tộc học xuất bản năm 1978 “Văn hóa truyền thống của người La

Chí” của tác giả Nguyễn Văn Huy, Nxb Văn hóa dân tộc, 1989 “Văn hoá truyền thống các dân tộc Hà Giang” của Hùng Đình Quý (chủ biên) xuất bản

năm 1994 “Nghề đan lát truyền thống của người La chí” của Vi Văn An, 1986; Gần đây nhất là cuốn sách “Người La Chí ở Hà Giang” do Vũ Tú

Trang 11

Quyên (chủ biên) Luận văn của Lộc Văn Huy: “Vai trò của người thầy cúng

trong đời sống xã hội người La Chí ở xã Bản Díu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”, Đại học Văn hóa Hà Nội, 2011…đã phản ánh những nét khái quát về

giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc La Chí và sự vận động của những giá trị văn hóa đó trong thời kỳ đổi mới hiện nay Qua đó, các tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc giữ gìn phát huy giá trị văn hóa dân tộc La Chí nói riêng và giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung

Có thể khái quát tình hình nghiên cứu trên đây ở các phương diện: 1/ Nghiên cứu quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phát triển văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa, thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết của các Đại hội từ Đại hội VI đến XI của Đảng cộng sản Việt Nam Văn hóa có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, vì vậy xây dựng đời sống văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa dân tộc La Chí nói riêng đã được quan tâm

2/ Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ quan niệm về văn hóa, đời sống văn hóa, văn hóa tộc người; bảo tồn phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn

3/ Tình hình nghiên cứu về văn hóa tộc người, quá trình hình thành và những đặc điểm chính trong đời sống văn hóa dân tộc La Chí; nghiên cứu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa dân tộc La Chí trong quá trình phát triển

4/ Từ những vấn đề trên cho thấy sự vận động của đời sống văn hóa bao giờ cũng gắn liền với thực tiễn xã hội Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi lĩnh vực đã tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam Vì thế nghiên cứu đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay không chỉ dừng lại ở phương diện văn hóa, mà phải nghiên cứu xem xét

nó gắn với tình hình, nhiệm vụ xây dựng đất nước trong thời kỳ mới; gắn với

Trang 12

chương trình mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay

Luận văn sẽ tiếp thu những kết quả trên đây, vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang hiện nay, giải quyết những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra - vấn đề chưa có

đề tài nào nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đời sống văn hóa,

luận văn khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hóa đồng bào dân tộc La Chí ở Xín Mần tỉnh Hà Giang từ năm 2000 đến 2013; từ đó đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng, phát triển văn hóa dân tộc La Chí trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng

nông thôn mới

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đời sống văn hóa, đặc điểm của đời sống văn hóa đồng bào thiểu số miền núi

- Khảo sát, đánh giá thực trạng đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang từ năm 2000 đến 2013, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân

- Dự báo và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng đời sống văn hóa vùng dân tộc La Chí ở Xín Mần trong quá trình xây dựng nông thôn mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng: Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng đời sống văn hóa

dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang ở các phương diện: Chủ thể văn hóa; đời sống văn hóa thể hiện trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt; quan

hệ xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và nghệ thuật dân gian; và trong một số hoạt động khác (hoạt động thông tin tuyên truyền, hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở )

Trang 13

Về phạm vi: Thời gian khảo sát, phân tích thực trạng đời sống văn hóa

dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang từ năm 2000 đến 2013 Không gian nghiên cứu: Địa bàn có người La Chí sinh sống tại huyện Xín Mần (chủ yếu ở xã Bản Díu huyện Xín Mần)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là: Văn hóa học; dân tộc học; phân tích, tổng hợp; lịch sử lôgic; thống kê, so sánh; khảo sát, điều tra xã hội học; điền dã; các phương pháp của dân tộc học cùng với các phương pháp liên ngành khác

6 Những đóng góp mới của luận văn

Qua kết quả khảo sát, đánh giá thực tế về thực trạng đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang từ năm 2000 đến 2013; luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về diện mạo đời sống văn hóa dân tộc

La Chí Từ đó, đưa ra những dự báo và các giải pháp về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần trong thời gian tới,

có thể phục vụ cho công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thông qua tìm hiểu đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín

Mần, tỉnh Hà Giang hiện nay; luận văn đã bổ sung và làm rõ thêm một số vấn

đề lý luận và thực tiễn về văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam

Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo giúp cho các cơ quan chức năng và cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tham mưu, đề xuất các

Trang 14

chính sách nhằm bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc La Chí nói riêng và văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Xín Mần

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương 12 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC

LA CHÍ HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG

1.1.1 Khái niệm đời sống văn hóa

Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội Đời sống xã hội được cấu thành bởi hai mặt: vật chất và tinh thần Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội Đời sống văn hoá chính là sự phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của văn hoá, từ hoạt động sáng tạo, hưởng thụ đến quan niệm về giá trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo…

Đời sống văn hóa là gì? Từ năm 1947, trong tác phẩm “Đời sống mới”

được viết tại chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã bàn đến những nội dung của đời sống mới, thực chất là những vấn đề về đời sống văn hoá Theo Người,

đời sống mới là sửa đổi cách ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc; xây dựng tư tưởng yêu

nước; đạo đức, tác phong cách mạng; nếp sống văn hoá cho mỗi người và cộng

đồng Như vậy có thể coi “Đời sống mới” là công trình đầu tiên đặt cơ sở lý luận

cho việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở ra đời sau cách mạng tháng Tám năm 1945

Cũng giống như nhiều khái niệm khoa học khác, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “đời sống văn hoá” Thuật ngữ “đời sống văn hóa” hiện nay được sử dụng khá phổ biến trên sách, báo, Văn kiện của Đảng và các phương tiện truyền thông của nước ta Tuy nhiên, cho đến nay trong từ điển Việt Nam

và nước ngoài vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh về thuật ngữ này Thường thì khi cần khảo sát đời sống văn hóa gắn với một không gian, chủ thể cộng đồng văn hóa, vẫn cần phải dựa trên quan niệm và giới hạn nhất định về khái niệm này

Trang 16

Sau đây là một số quan niệm về đời sống văn hóa

Tác giả Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu "Mấy vấn đề lý luận

và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta" cho rằng:

Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu

tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [79, tr.268]

Có thể thấy định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa, song trong đó vẫn chưa đề cập đến những giá trị văn hóa Đồng thời, cách diễn đạt như thế chưa làm rõ được bản chất của đời sống văn hóa vì chỉ nêu các yếu tố cấu thành ở thể biệt lập

Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong công trình "Một số kinh nghiệm quản

lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa" quan niệm:

Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [59, tr.20]

Đây là một bước cụ thể nhận thức về đời sống văn hóa, tuy nhiên, quan niệm này đề cập tới phạm vi quá rộng, sẽ khó xác định cho việc triển khai về xây dựng đời sống văn hóa gắn với không gian, lĩnh vực cụ thể

Giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” (Khoa

Văn hóa và phát triển - Học viện Chính trị Khu vực I) đưa ra quan niệm:

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác

Trang 17

động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ

có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa [29, tr.269-270]

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa Để đi đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hoá, chúng ta phải tiếp cận thêm đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt, giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp

Trước hết, nói đến đời sống văn hóa là nói đến một bộ phận trong đời

sống của con người Khái niệm "Đời sống" được đưa ra trong Đại từ điển

tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên là “hoạt động của con người về một

lĩnh vực nào đó nói chung” [80, tr.670] Còn theo Từ điển bách khoa mở, thì

ngoài nghĩa nói trên, "đời sống" còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể (đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm…)

Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng

có liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa… Như vậy, đời sống văn hóa là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Khẳng định vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: trong công cuộc kiến thiết nước nhà, bốn vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều phải coi trọng ngang nhau Người còn chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng Từ đó, Người nêu ra luận điểm phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng

và phát triển văn hóa Người lý giải:

Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có

Trang 18

câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta [44, tr.59]

Từ những cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn hóa, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, trên cơ sở quan niệm của tác giả Hoàng Vinh, luận văn bổ sung và đưa ra quan niệm như sau:

Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, là phức thể những hoạt động của con người trong sáng tạo, lưu giữ và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng sống của con người và xã hội Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó)

Văn hoá theo quan điểm biện chứng là kết quả của quá trình biến đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người Văn hoá theo đó xuất hiện từ lao động, hiện ra như một nhiệm vụ thực tiễn biến đổi các quan hệ qua lại giữa con người và thế giới Văn hoá là một quá trình cải biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử, thành một cá nhân toàn vẹn Nguồn gốc của mọi hiện tượng, mọi quan hệ văn hoá đều gắn với các hoạt động sống của con người

Như thế, tiếp cận nghiên cứu văn hoá và đời sống văn hóa phải gắn văn hoá với phương thức sản xuất xã hội, cá nhân với cộng đồng, truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, đặc biệt là coi trọng vai trò của lao động nhất là lao động của lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nhân dân lao động Trên

ý tưởng ấy văn hoá là một hiện tượng xã hội gắn liền với các hoạt động nhiều mặt của con người Văn hoá được biểu thị như phương thức hoạt động người bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người Người ta thường gọi đó là thế giới của con người, do con người và vì con người

Trang 19

Xét cho cùng, sáng tạo văn hóa là sáng tạo các giá trị tinh thần, dù các

sản phẩm văn hóa tồn tại cả dạng vật thể (vật thể chính là kết quả thăng hoa cái tinh thần); khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Chính vì thế quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận cụ thể

Ví dụ, nội dung khảo sát đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa của khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng chưa phát triển, sẽ khác với khu vực, dân cư đô thị Tức là phải giới hạn phạm vi khảo sát trên cơ sở một quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa nhất định Cấu trúc của đời sống văn hóa là cơ sở quan trọng để xác định các phương diện đời sống văn hóa

1.1.2 Cấu trúc của đời sống văn hóa

Quan niệm về cấu trúc của đời sống văn hóa có sự khác nhau, tùy theo cách tiếp cận nhận thức về đời sống văn hóa

Theo tác giả Hoàng Vinh: “muốn cho các sản phẩm văn hóa nảy sinh

và được vận hành trong đời sống xã hội, thì phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa Ba yếu tố đó tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa” [79, tr.266]

Trong Giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, hệ

cử nhân chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, cấu

trúc của đời sống văn hóa được bao gồm: con người văn hóa, hoạt động văn

hóa và sản phẩm văn hóa [77, tr.374]

Giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, tập thể cán bộ khoa Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I quan niệm đời sống văn hóa bao gồm 4 yếu tố cấu thành: Những yếu tố văn

hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở mỗi cộng đồng như: các thiết chế văn hóa,

các tác phẩm, sản phẩm văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa - văn nghệ dân gian, các trường học, các nhóm văn hóa… Những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên hoặc do con

Trang 20

người tạo ra) hiện diện ở mỗi cộng đồng như: di tích lịch sử văn hóa, danh

lam thắng cảnh, công viên, tượng đài… Những yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi

cộng đồng như: trình độ học vấn, nhu cầu sở thích và thị hiếu văn hóa, định

hướng giá trị, phong cách sinh hoạt, cách sử dụng thời gian rỗi, văn hóa ứng

xử, giao tiếp, nếp sống văn hóa….Những yếu tố văn hóa của các “tế bào”

trong mỗi cộng đồng như: gia đình, nhà trường, cơ quan, công sở, tổ nhóm

lao động, học tập [29, tr.268-269]

Dựa trên cơ sở khái niệm về đời sống văn hóa đã trình bày ở trên, cấu trúc của đời sống văn hóa được giới hạn trong luận văn này, bao gồm 4 thành

tố cơ bản sau:

- Chủ thể hoạt động văn hóa;

- Hệ thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật thể

và phi vật thể;

- Các thiết chế và cảnh quan, môi trường văn hóa;

- Các hoạt động văn hóa

Chủ thể hoạt động văn hóa

Chủ thể hoạt động văn hóa chính là con người (hay còn gọi là con người văn hóa, xã hội) Con người chính là nhân tố quan trọng và quyết định nhất cấu thành đời sống văn hóa Văn hóa là sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử

Chủ thể của văn hóa tộc người không phải là một cá nhân đơn lẻ, mà là một cộng đồng người nhất định có chung những đặc điểm: Nguồn gốc, phong tục, tín ngưỡng, mối quan tâm Đề cập đến chủ thể hoạt động văn hóa tộc người, cần chú ý đến các đặc điểm của cộng đồng đó như: Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, quan niệm sống, hành vi ứng xử

Hệ thống các giá trị văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Như Ý, trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” định

nghĩa: “Giá trị - cái được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật

Trang 21

chất và tinh thần” [80, tr.725] Theo định nghĩa này, khi nói đến giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn Giá trị văn hóa chính là hạt nhân của đời sống văn hóa; là nhân tố quan trọng tác

động, thúc đẩy sự phát triển cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội

Hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa

Hệ thống các thiết chế văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển; nó đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân Đó là môi trường để đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội

Vậy, thiết chế văn hóa là gì?

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:

Thuật ngữ thiết chế văn hóa được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế

đó Ví dụ, thiết chế nhà văn hóa bao gồm ngôi nhà, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa [67, tr.230] Một thiết chế văn hóa được coi là hoàn chỉnh phải đảm bảo đủ 3 điều kiện: có cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị ), bộ máy tổ chức (con người), hệ thống biện pháp (thể chế, luật lệ ) và kinh phí để vận hành hệ thống Một số thiết chế văn hóa tiêu biểu như: nhà truyền thống, nhà văn hóa, CLB, thư

viện, bảo tàng, sân vận động, rạp hát, rạp chiếu phim, công viên văn hóa, các

cơ quan thông tin đại chúng…Đây là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh đời sống văn hóa cộng đồng

Bên cạnh các thiết chế văn hóa nêu trên, cảnh quan văn hóa còn là những sản phẩm tồn tại trong quan hệ tương tác giữa con người và môi trường

Trang 22

tự nhiên, môi trường xã hội, bao gồm các thắng cảnh tự nhiên, các kiến trúc, công trình xây dựng, đường phố, tượng đài… Cảnh quan văn hóa là môi trường vật chất - văn hóa mà trong đó con người sinh sống Nó phản ánh trực

tiếp thực trạng của đời sống văn hóa

Các hoạt động văn hóa

Các hoạt động văn hoá là tổng hợp nhiều hình thức sáng tạo, hưởng thụ, lưu giữ, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa Hoạt động văn hóa là hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu văn hóa của nhân dân Có thể khái quát một

số dạng hoạt động văn hóa phổ biến như sau:

- Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động: phổ biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các nhiệm vụ chính trị, các qui định của địa phương

- Hoạt động sáng tác văn chương, nghệ thuật

- Hoạt động biểu diễn trên sân khấu và trong điện ảnh

- Hoạt động khai trí - giáo dục trình độ, tri thức cho mọi người: dạy học, diễn giảng, tọa đàm, thư viện, thông tin

- Hoạt động quảng bá các giá trị văn hóa: báo chí, xuất bản, truyền thông…

- Hoạt động lưu giữ sản phẩm văn hóa: bảo tàng, lưu trữ, triển lãm…

- Hoạt động tiêu dùng các sản phẩm văn hóa: đọc sách, báo, nghe nhạc, xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm…

- Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng

- Hoạt động xây dựng phong tục, nếp sống văn hóa

- Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí

Quan niệm về đời sống văn hóa và cấu trúc của đời sống văn hóa trên đây là cơ sở giúp chúng ta xem xét đời sống văn hóa của một cộng đồng

Từ quan điểm trên đây, luận văn đã khảo sát thực trạng đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang trên các phương diện:

- Chủ thể đời sống văn hóa

Trang 23

- Đời sống văn hóa trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt

- Đời sống văn hóa trong quan hệ xã hội

- Đời sống văn hóa trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và nghệ thuật dân gian

- Đời sống văn hóa trong một số hoạt động khác

1.2 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI

1.2.1 Đặc điểm đời sống văn hóa vùng các dân tộc thiểu số miền núi

Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc Trong 54 dân tộc, có tới 53 dân tộc thiểu số Các dân tộc thiểu số có số dân trên 11 triệu người, chiếm 13% dân số cả nước Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng, phong phú về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Các thành phần dân tộc thiểu số cư trú phân tán, ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước; cư trú xen kẽ Trong một đơn vị hành chính, có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống Địa bàn có đông dân tộc thiểu số cư trú là vùng miền núi, biên giới, với diện tích tự nhiên chiếm 2/3 diện tích cả nước; đây là vùng có vị trí địa lý, kinh tế và quốc phòng an ninh quan trọng

Các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Các dân tộc thiểu số ở vùng đồng bằng Nam bộ với địa hình đất đai khá màu mỡ, khí hậu, thời tiết ổn định, canh tác thuận lợi, đời sống kinh tế xã hội phát triển, ổn định hơn các vùng khác Vùng Tây bắc, Đông Bắc (Việt Bắc), miền Trung, với địa hình chia cắt, phức tạp, đất đai khô cằn, nhiều đồi dốc, núi đá, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, canh tác rất khó khăn, đời sống các dân tộc thiểu số khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, kinh tế chậm phát triển Các dân tộc thiểu số có những sinh hoạt, di sản văn hoá đa dạng, bản sắc riêng do lịch sử di cư, sự phân bố, địa bàn cư trú, điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của các tộc người

Trang 24

Do khó khăn về địa hình, giao thông, đời sống kinh tế, khả năng hạn chế của đồng bào nên đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi thường thấp hơn so với các địa phương vùng đồng bằng và sự chênh lệch này đang có

xu hướng ngày càng gia tăng Ngoài nguồn kinh phí, phải nói đến việc ban hành chính sách, đặc biệt là chính sách về văn hóa còn thiếu thực tế Việc đầu

tư không phù hợp thực tế và khập khiễng đã làm cho đời sống văn hóa vùng cao vẫn nghèo nàn Bên cạnh đó, chưa có chính sách công nhận và tôn vinh một cách xứng đáng các nghệ nhân dân tộc để động viên và nhất là hỗ trợ về vật chất, tạo cơ sở, điều kiện giữ gìn, trao truyền cho các thế hệ sau những tri thức, di sản văn hóa của cộng đồng, của dân tộc

Thực trạng phát triển văn hoá - xã hội ở vùng đồng bào thiểu số miền núi có sự chênh lệch nhiều so với các vùng miền trên cả nước Sự nghiệp giáo dục, văn hoá, xã hội ở miền núi, vùng các dân tộc thiểu số mấy năm gần đây gặp rất nhiều khó khăn Nạn mù chữ và tái mù chữ ngày càng nhiều, số trẻ em

bỏ học ngày càng tăng (có nơi tới 30 - 40%) Một phần do tổ chức hệ thống trường lớp ở miền núi chưa hợp lý, một phần do đi học phải nộp học phí Một số dân tộc ở vùng cao, hẻo lánh và có số dân ít, có tới hơn nửa số dân còn mù chữ (đặc biệt người Dao, Mông, Hà Nhì, Gié Triêng, Cà Tu v.v ) Tình hình văn hoá, thông tin ở miền núi cũng sa sút mạnh Nhiều thôn, xã ở nơi

xa xôi, hẻo lánh không có điều kiện xem phim, văn nghệ, đọc sách báo Một số vấn đề đáng chú ý nữa là một số người đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng

và chính sách tôn giáo, đã và đang đẩy mạnh việc tuyên truyền, mê hoặc quần chúng, gây chia rẽ các dân tộc, quấy rối trật tự an ninh địa phương

1.2.2 Vai trò của phát triển đời sống văn hóa

Văn hóa có vai trò quyết định đối với sự phát triển hay suy vong của một dân tộc, quốc gia hay cả nhân loại Nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa, Đảng ta từ ngày thành lập đến nay, đã không ngừng tư duy và tìm tòi sáng tạo và ngày càng hoàn thiện lý luận về văn hóa Đến nay Đảng ta khẳng

Trang 25

định “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr.55] Trong cương lĩnh bổ sung,

phát triển năm 2011, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Văn hóa trở thành sức

mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Như vậy, có thể nói văn hóa biểu

hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng và vị thế, tầm vóc dân tộc

Trong 4 giải pháp lớn nhằm đưa nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII)

về văn hoá vào cuộc sống thì cuộc vận động: “Toàn dân đoàn kết xây dựng

đời sống văn hoá” là giải pháp được xếp ở vị trí hàng đầu có ý nghĩa quyết

định Phong trào được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện Đặc biệt, được cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong cả nước tham gia hưởng ứng đông đảo, nên đã đạt được những thành tựu quan trọng Phong trào đã làm thay đổi diện mạo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội của các địa phương và cả nước trong giai đoạn năm 2000 đến nay

Như vậy, có thể khẳng định xây dựng đời sống văn hóa đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung và dân tộc La Chí ở Xín Mần, tỉnh Hà Giang nói riêng Tầm quan trọng đó được thể hiện cụ thể:

Xây dựng đời sống văn hóa - sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển Văn hóa được coi là một “nguồn lực mềm” làm động lực, đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển, làm “hài hòa hóa” các mối quan hệ xã hội và “lành mạnh hóa” môi trường xã hội Thực tế đã chứng minh, một quốc gia muốn phát triển bền vững, ngoài dựa vào các “yếu tố cứng” như tài nguyên thiên nhiên, tiền vốn, cơ sở vật chất…thì cần phải biết tận dụng, khai thác “yếu tố mềm”, đó chính là nguồn nhân lực con người với vai trò là nhân cách văn hóa năng động, sáng tạo nhất, đóng góp quyết định nhất đến sự hùng mạnh, phồn vinh của xã hội

Trang 26

Trong những năm qua, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đời sống văn hóa thực chất là tiếp tục coi trọng và đề cao “sức mạnh mềm” của đất nước

Đó là sức mạnh bắt nguồn từ bên trong, được kết tinh từ trí tuệ, ý chí, tâm hồn, cốt cách, truyền thống lịch sử vẻ vang, tinh thần anh dũng, quật cường, mưu trí, sáng tạo của dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn đời nay Đánh thức những “tiềm năng” còn tiềm ẩn trong mỗi con người và kết nối những tiềm năng ấy thành sức mạnh vật chất trong cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu; trong xây dựng xã hội văn minh; đồng thời thể hiện sức mạnh nội sinh của văn hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Vậy, cần phải làm như thế nào

để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng?

Mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành hiểu biết đầy đủ và thấm nhuần sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa trong quá trình phát triển đất nước Quan tâm coi trọng, phát huy đúng mức các giá trị, truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Biết tiếp thu, tiếp biến các giá trị văn hóa nhân văn tiến bộ của nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình thì văn hóa sẽ là đòn bẩy chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội

Qua việc tiếp tục duy trì, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ tạo điều kiện cho mọi người dân được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh, được thưởng thức đời sống văn hóa tinh thần phong phú, sinh động và luôn hướng đến một nhân cách văn hóa tiêu biểu, mẫu mực để từng bước xây dựng, hoàn thiện phẩm chất văn hóa của chính mình Đó cũng chính là môi trường rèn luyện tốt nhất để con người có đủ Đức - Tài (nguồn nhân lực quan trọng nhất) để xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập hiện nay

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, văn hóa không chỉ là sức mạnh nội sinh của một dân tộc, mà còn là phương tiện, công cụ quảng bá hình ảnh

Trang 27

dân tộc, vị thế đất nước ra thế giới hữu hiệu nhất Qua đó tạo niềm tin, cơ hội

để chúng ta mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, chính trị, xã hội và kinh tế Thu hút các nhà đầu tư lớn, giúp chúng ta tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Văn hóa trực tiếp tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước

Tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, hạ tầng cơ sở văn hóa trong cả nước, trong đó đặc biệt quan tâm đến các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng Để mọi người dân được tiếp cận, thưởng thức đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú; sẽ nâng cao dân sinh, dân trí; đồng thời khi văn hóa phát triển toàn diện, lành mạnh vừa góp phần tạo ra “bức tường” ngăn ngừa các loại “vi rút độc hại” thâm nhập vào môi trường xã hội và đời sống văn hóa của nhân dân Đời sống văn hóa càng được nâng cao thì việc bảo vệ, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc càng vững chắc; góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội

Từ những luận điểm trên có thể khẳng định văn hóa là lĩnh vực rất phong phú đa dạng; nó chính là “sức mạnh nội sinh” phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

1.3 TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ LỊCH SỬ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LA CHÍ

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Huyện Xín Mần thuộc tỉnh Hà Giang được thành lập ngày 01/4/1965 trên cơ sở chia tách huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang thành hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì Nằm ở vị trí địa lý 22033’30” - 22048’31” vĩ độ Bắc,

104022’30” -104037’30” kinh Đông, huyện Xín Mần cách thành phố Hà Giang 150 km Phía Bắc giáp huyện Mã Quan (Trung Quốc), phía Nam giáp huyện Quang Bình, phía Đông giáp huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), phía Tây giáp huyện Bắc Hà và Si Ma Cai (Lào Cai) Tổng diện tích tự nhiên toàn

Trang 28

huyện Xín Mần 58.267 ha Xín Mần là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do ảnh hưởng của địa hình nên diễn biến khí hậu khá phức tạp Huyện có địa hình phức tạp, thường xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài trong mùa đông; mưa đá, gió lốc, lũ ống, lũ quét trong mùa mưa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân

Các yếu tố khí hậu đặc trưng như nhiệt độ, lượng mưa cho thấy sự thay đổi của địa hình; độ cao là tác nhân chính hình thành những vùng tiểu khí hậu trên địa bàn huyện Nhiệt độ, theo số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy, huyện Xín Mần thuộc vùng khí hậu khá lạnh, nhiệt độ trung bình năm là 18,90C có những tháng nhiệt độ trung bình xuống dưới 100C Nhiệt độ có sự thay đổi theo các độ cao khá rõ nét Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn điều này được thể hiện rõ nhất vào mùa hè, ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ của người dân, gia súc và sản xuất nông - lâm nghiệp

Tổng dân số toàn huyện năm 2013 là 61.238 người với 12.170 hộ; 18 dân tộc anh em chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Nùng, Mông, Tày,

La Chí, v.v Dân cư phân bố trên địa bàn 18 xã và 1 thị trấn với 186 thôn bản, dân cư phân bố rải rác trên khắp địa bàn; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,74%, tăng cơ học 0,1% Tổng dân số các dân tộc ở huyện Xín Mần những năm qua (xem Phụ lục 1 - Bảng 1.1)

Về kinh tế - xã hội, Xín Mần là huyện 30a nghèo nhất nước, kinh tế chậm phát triển, nguồn thu ngân sách hạn chế, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và sự

nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện, nhất là từ khi có đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi sướng và lãnh đạo, bộ mặt của huyện Xín Mần đã có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực Tốc

độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, bình quân hàng năm 14,35% Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch đúng hướng, nông lâm nghiệp 39,31%, công nghiệp - xây dựng 26,98%, thương mại - dịch vụ 33,71% Tổng sản lượng lương thực

Trang 29

37.985 tấn, lương thực bình quân đầu người 614 kg/người/năm Thu nhập bình quân đầu người 10 triệu đồng/người/năm [70]

Năm 2013 tiếp tục thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2010 - 2015 với tinh thần “đoàn kết - dân chủ - đổi mới - phát huy nội lực - phát triển bền vững” Đảng bộ huyện Xín Mần tiếp tục lãnh, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kính tế - xã hội với kết quả như sau:

Về sản suất nông lâm nghiệp, đã tập trung đẩy mạnh thâm canh, xây dựng cánh đồng có năng xuất, chất lượng cao và thực hiện các giải pháp khắc phục thiên tai, hạn hán, dịch bệnh Tổng sản lượng lương thực có hạt năm

2013 đạt 37.450,60 tấn; về chăn nuôi, tổng đàn gia súc: đàn trâu 15.546 con, đàn bò 8.278 con, đàn lợn 57.815 con, đàn ngựa 1.118 con, đàn dê 16.315 con, đàn gia cầm 368.326 con và đàn ong 1.930 tổ [70]

Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu tập trung ở sản xuất công nghiệp nhỏ như chế biến chè, thảo quả, xay xát, sản xuất nông cụ cầm tay được duy trì thường xuyên, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.125,65 triệu đồng (theo giá trị thực tế), sản xuất điện 1.658.856 Kwh, doanh thu đạt 6.016,68 triệu đồng phục vụ cho 7.390 hộ/19 xã sử dụng điện của địa phương [70] Hoạt động sản xuất công nghiệp nhỏ mang tính thời vụ chưa được đầu

tư thích đáng nên sản phẩm sản xuất ra không nhiều, giá trị không cao

Về giao thông vận tải năm 2013, khối lượng hàng hóa vận chuyển của huyện Xín Mần ước đạt 54.197,5 tấn, khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 37.175 lượt người, khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 7.778.704 người/km, doanh thu ước đạt 11.124,65 triệu đồng Các tuyến đường được duy tu bảo dưỡng, khắc phục hậu quả sạt lở các tuyến đường do mưa lũ với khối lượng 32.000 m3 đất, đá; làm đường đại đoàn kết 42,4 km; đường bê tông 17 km; tiếp tục triển khai thi công đường giao thông của các xã trên địa bàn huyện [70]

Về xây dựng, năm 2013 huyện Xín Mần đã thực hiện được 103 công trình vừa và nhỏ Việc thi công các công trình trên địa bàn huyện tiến độ chậm do

Trang 30

thiếu nguồn vốn, thời tiết không thuận lợi, các tuyến đường giao thông trong huyện sạt lở nhiều ảnh hưởng đến việc vận chuyển vật liệu xây dựng

Về thương mại - vật tư, thương mại dịch vụ cung ứng đầy đủ các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhân dân Tập trung phát triển mạnh các ngành có tiềm năng lợi thế như sản xuất chè, gạo già dui, miến dong, rượu Làng táo, v.v duy trì phát triển chợ nông thôn, chợ cửa khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kinh tế tại khu vực cửa khẩu Các hoạt động xúc tiến thương mại dịch vụ được quan tâm đảm bảo cung ứng các mặt hàng chính sách và các loại hàng hóa vật tư, phân bón phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu đạt 12,4 tỷ đồng

Về y tế - kế hoạch hóa gia đình, công tác khám chữa bệnh cho nhân dân được quan tâm thực hiện tốt Năm 2013 đã khám và chữa cho 66.470 lượt người Công tác tiêm chủng phòng bệnh cho trẻ em trong độ tuổi được 1.186 cháu, vận động nhân dân áp dụng các biện pháp tránh thai được 3.587 cặp, các chương trình y tế quốc gia được thực hiện đầy đủ, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quân dân y kết hợp tại các xã biên giới đươc duy trì thực hiện [70]

Về giáo dục đào tạo, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý không ngừng được củng cố; tăng thêm về số lượng và nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới về giáo dục là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục

Các chính sách của nhà nước, của tỉnh và huyện, đối với học sinh dân tộc, học sinh vùng khó khăn, học sinh nghèo phát huy tác dụng rất lớn trong việc ổn định, duy trì sỹ số học sinh Công tác xã hội hoá giáo dục được các cấp, các ngành và nhân dân quan tâm ủng hộ là điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục giảm bớt khó khăn tập trung giải quyết vấn đề chất lượng giáo dục

Về thông tin – tuyên truyền, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao,

lễ hội truyền thống chào mừng các ngày lễ, tết của dân tộc, của địa phương được tổ chức thường xuyên Các hoạt động tuyên truyền quảng bá các diểm

Trang 31

du lịch của huyện như bãi Đá cổ gắn với rừng nguyên sinh Thác Tiên - Đèo Gió xã Nấm Dẩn; khu du lịch suối khoáng Nậm Choong xã Quảng Nguyên; di tích lịch sử xã Nàn Ma được đẩy mạnh Tổ chức các hoạt động tại lễ hội Đình Mường xã Khuông Lùng, lễ cúng rừng, lễ Gầu tào xã Nàn Ma…Hợp tác và phát triển du lịch liên vùng được mở rộng, kết nối tuyến du lịch giữa 2 huyện Bắc

Hà (Lào Cai) và huyện Xín Mần Trong năm 2013 lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với huyện Xín Mần ước đạt 5.100 lượt người Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện duy trì thường xuyên các chương trình tiếp sóng

Lao động, việc làm, xóa đói giảm nghèo và thực hiện chính sách xã hội: Năm 2013, triển khai dạy nghề cho lao động nông thôn 1.150 người đạt 104,64% kế hoạch Xuất khẩu lao động trong và ngoài tỉnh 132 lao động Thực hiện tốt các chế độ chính sách xã hội; đảm bảo an sinh xã hội cứu đói giáp hạt, hỗ trợ các gia đình gặp thiên tai, hỏa hoạn Huy động các nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân, tập thể: “Mùa xuân hướng về vùng cao Hà Giang”, “Tổng công ty điện lực Miền Bắc”…để hỗ trợ nhân dân xóa đói, giảm nghèo [70]

1.3.2 Về truyền thống lịch sử - văn hóa

Được tách ra từ Đảng bộ Hoàng Su Phì từ năm 1965; giai đoạn từ 1965 đến 1977, Đảng bộ Xín Mần đã không ngừng đấu tranh, xây dựng và trưởng thành Trong suốt thời gian đó Đảng bộ và nhân dân luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, phát huy truyền thống của các thế hệ đi trước, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, vừa đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội và chi viện cho cách mạng miền Nam; tích cực cùng cả nước thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ 1978 đến 1985 Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần tiếp tục chịu sự phá hoại của cuộc chiến tranh biên giới (Việt Nam - Trung Quốc) Đây là thời kỳ huyện Xín Mần đã phải chịu sự tàn phá của hàng vạn quả pháo từ bên kia biên giới; máu xương của nhiều người con ưu tú đã đổ

Trang 32

xuống mảnh đất này Dù khó khăn gian khổ nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa

xã hội để giành các thắng lợi to lớn trong chiến đấu và sản xuất; đã viết nên những trang sử vẻ vang, hào hùng và được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và Huân chương Chiến công hạng Nhất

Từ năm 1986 đến nay, phát huy truyền thống đoàn kết, lao động cần cù sáng tạo, kiên cường trong đấu tranh, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần đã và đang cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới và thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Hiện nay, Xín Mần đã có những thay đổi: kinh tế phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, sự nghiệp y tế, văn hóa, giáo dục, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững Đã góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần

Trong quá trình lao động sáng tạo, nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần đã đoàn kết gắn bó, cần cù, dũng cảm biến những vùng đồi núi cao bạc màu trở thành ruộng nương uốn lượn khắp các triền đồi, sườn núi, để trồng trọt và chăn nuôi Bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi, nhân dân các dân tộc huyện Xín Mần còn thành thạo các công việc như khai thác và chế biến lâm sản, dược liệu; làm các nghề thủ công (rèn, đúc nông cụ, dệt vải, thêu, đan lát ) phù hợp với điều kiện sống; chế tạo súng kíp bảo vệ xóm bản Cùng với tục đánh trống đồng của người La Chí; các lễ hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc trên địa bàn Đã phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc phong phú của Xín Mần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1 luận văn đã làm rõ một số quan niệm cơ bản về đời sống văn hoá, cấu trúc của đời sống văn hoá, vai trò của việc xây dựng đời sống văn hoá đối với sự phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào các dân tộc

Trang 33

thiểu số nói chung Luận văn đã khái quát tác động của yếu tố địa lý, kinh tế

xã hội và lịch sử đến đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần, tỉnh

Hà Giang

Các quan niệm được trình bày ở Chương 1 là cơ sở lý luận để luận văn tiến hành khảo sát thực trạng đời sống văn hoá dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần hiện nay trong chương 2 Luận văn sẽ khảo sát đời sống văn hóa của dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần trong giai đoạn 2000 - 2013 ở các phương diện: chủ thể đời sống văn hóa; đời sống văn hóa trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt; đời sống văn hóa trong quan hệ xã hội; đời sống văn hóa trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và nghệ thuật dân gian; đời sống văn hóa trong một số hoạt động khác Từ đó, chúng ta thấy rõ sự phong phú, đa dạng của văn hóa truyền thống người La Chí và sự biến đổi của nó trong thời gian qua; thấy được vai trò quan trọng của đời sống văn hóa đối với sự nghiệp phát triển của địa phương nói riêng và của đất nước nói chung

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LA CHÍ

Ở HUYỆN XÍN MẦN

Như đã trình bày ở Chương 1, luận văn tiếp cận nhận diện đời sống văn

hóa dân tộc La Chí trên các phương diện: Chủ thể hoạt động văn hóa; Hệ

thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể; Các thiết chế, cảnh quan, môi trường văn hóa; Các hoạt động văn hóa tiêu biểu

Chủ thể văn hóa là cộng đồng người La Chí được xét từ lịch sử (nguồn gốc, ngữ hệ, địa bàn cư trú ) và trình độ dân trí thể hiện qua sự phát triển văn hóa giáo dục hiện nay Các giá trị văn hóa dân tộc La chí được khảo sát ở văn hóa vật chất (kinh tế, sinh hoạt) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, nghệ thuật dân gian ) Các hoạt động văn hóa khác (thông tin tuyên truyền, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở )

2.1 CHỦ THỂ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

2.1.1 Người La Chí ở huyện Xín Mần

Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 1999, dân tộc La Chí ở nước ta có 10.765 người, họ sinh sống chủ yếu ở tỉnh Hà Giang, một số ít ở tỉnh Lào Cai Ở tỉnh Hà Giang, dân tộc La Chí có 10.184 người, cư trú rải rác ở các huyện, thị như: thị xã Hà Giang (60 người), huyện Đồng Văn (2 người), Mèo Vạc (4 người), Vị Xuyên (118 người), Hoàng Su Phì (3.179 người), Xín Mần (3.888 người), Bắc Quang (2.906 người) [23, tr.209] Từ số liệu trên cho thấy sự phân bố dân cư La Chí ở Hà Giang không đồng đều, phần lớn sống tập trung ở ba huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Bắc Quang Điều này gắn liền với nguồn gốc lịch sử tộc người và địa bàn cư trú của người La Chí

Tài liệu sớm nhất hiện nay nói về người La Chí vào khoảng thế kỷ 18,

trong tác phẩm Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn ở mục Phong vực khi nói

Trang 35

về Hà Tuyên có miêu tả các dân tộc khác nhau như: Nùng, người răng vàng, người Hoá Thượng, người Ngô Ngân, người Man Tên gọi người Man chỉ một nhóm các dân tộc khác nhau như: La Quả, Xá Tụ, Cao Lan, Sơn Nam… Người

Xá Tụ chỉ những người ở xã Tụ Long (Châu Vị Xuyên), theo giải thích của các nhà khoa học thì “Xá” không phải chỉ một dân tộc mà là chỉ một nhóm dân tộc người khác nhau, trong thành phần đó có dân tộc La Chí [32, tr.5-8]

Trong cuốn Chủng tộc vùng cao Bắc kỳ từ Phong Thổ tới Lạng Sơn của

M Abadie viết năm 1924 đã viết “Người La Chí là cư dân bản địa, thổ dân vùng Hoàng Su Phì, Xín Mần từ mấy ngàn năm nay” [32, tr.5-8] Khi viết về

“Văn hoá truyền thống của người La Chí ” Nguyễn Văn Huy nêu lại ý kiến

của M Abadie, ngoài ra ông cũng cho biết thêm một giả thuyết về nguồn gốc người La Chí từ Trung Quốc di cư sang

Người La Chí tự gọi mình là Cù Tê, và giải thích Cù Tê có nghĩa là người mình Các dân tộc khác quen gọi họ với nhiều tên gọi khác nhau như: Thổ đen, Mán, Xá… nhưng La Chí là tên gọi phổ biến hơn cả Ở mỗi địa phương, người La Chí còn lấy tên địa phương bằng tiếng dân tộc để tự

gọi mình như người La Chí ở Bản Phùng là Y pí, Bản Díu là Y Tỏ, Bản Máy là Y Mía và Bản Pắng là Y Poóng Theo các nhà khoa học thì ngôn

ngữ của người La Chí thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo; người La Chí có lịch sử

cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai Họ rất có ý thức rõ rệt về tộc người mình, ngay trong ngôn ngữ của mình họ cũng có các tên gọi các dân tộc khác sống quanh họ như Kan Ti (người Việt), Pu Khé (Tày), Ka Dế (Nùng), Mìa Phư (Mông), Nhà Nhí (Dao)…

Năm 2013, huyện Xín Mần có 12.170 hộ; 61.238 nhân khẩu Trong đó dân tộc La Chí có dân số đông đứng thứ tư, với 4.840 dân Cư trú tập trung ở các xã, thị trấn: Nàn Sỉn, Bản Díu, Chí Cà, Nà Chì, thị trấn Cốc Pài Văn hóa dân tộc La Chí có vị trí rất quan trọng trong đời sống cộng đồng các dân tộc

Trang 36

huyện Xín Mần, góp phần tạo nên sự đa dạng cho văn hóa truyền thống của huyện Xín Mần nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung

Theo ông Nông Quang Chằng, 65 tuổi dân tộc La Chí hiện ở thôn Díu Thượng xã Bản Díu và ông Vương Tiến Chi 64 tuổi thôn Díu Hạ xã Bản Díu thì người La Chí ở Xín Mần có tên tự gọi là Ỷ Tỏ, tên các dân tộc khác gọi là

La Chí, hệ ngôn ngữ đang dùng thuộc nhóm Kađai Ông cho rằng người La Chí có nguồn gốc từ Mưng Táo (tức là từ Trung Quốc) Trong ký ức về lịch

sử thiên di và cư trú người La Chí đến Xín Mần Hà Giang định cư vì: Thời kỳ loạn lạc ở Trung Quốc cách đây khoảng 800 năm, người La Chí đã đi tìm nơi sinh sống, dân làng đi và thả một con ong bay đi dẫn đường buộc theo một chiếc lông gà trắng và tâm niệm rằng nếu con ong dừng lại ở đâu thì người La Chí sẽ sinh sống ở đó Con ong đã bay đến đất Khâu Tinh của xã Thèn Phàng (Xín Mần) thì biến mất, nhưng sợi lông gà trắng rơi tại đó và người La Chí đã cùng nhau định cư ở đất Khâu Tinh Sau đó di chuyển sang các xã Bản Díu, Nàn Sỉn, Chí Cà của huyện Xín Mần; một số khác di cư sang xã Bản Phùng huyện Su Phì và định cư từ đó đến nay Ông Chằng khẳng định hiện nay các phong tục tập quán người La Chí vẫn được lưu giữ, song ngôn ngữ bị lai tạp nhiều, hiện nay chủ yếu nói bằng tiếng Nùng Còn nhóm La Chí vẫn giữ được bản ngữ chỉ có ở

xã Nàn Sỉn huyện Xín Mần và xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì

Trong truyền thuyết dân gian La Chí còn lưu truyền câu chuyện kể rằng, Hoàng Dìn Thùng là tổ tiên của người La Chí Người La Chí tự nhận mình là con cháu Hoàng Dìn Thùng, tức Hoàng Văn Đồng, một thổ tù ở xã

Tú Long xưa kia; cuối thế kỷ thứ XVIII (1779) ông đã lãnh đạo dân chúng chống phong kiến vùng này, ngày nay dân địa phương đã lập miếu thờ

Như vậy, căn cứ vào các dẫn liệu trên có thể nhận định người La Chí đến Xín Mần từ lâu đời, họ có bản địa; chỉ có họ Lùng vốn là gốc người Nùng

di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng một trăm năm hoặc người họ Vương gốc Hoa di cư gần đây Người La Chí có bề dày về truyền thống văn

Trang 37

hóa Đó là truyền thống văn hóa được vun đắp, sáng tạo từ nhiều đời Truyền thống văn hóa đó đã góp làm cho bức tranh chung của nền văn hóa Việt Nam thêm đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Hà Giang đã

có nhiều chính sách quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số Đời sống vật chất

và tinh thần của các dân tộc nói chung và cộng đồng dân tộc La Chí nói riêng không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, qua tiến hành khảo sát, nhận thấy cộng đồng dân tộc La Chí ở Xín Mần có một số điểm như sau:

Họ mong muốn Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng tiếp tục

quan tâm, đầu tư phát triển về mọi mặt đời sống vật chất và đời sống tinh thần đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc La Chí nói riêng Đời sống được nâng lên tạo điều kiện để người dân tiếp tục phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững trật tự an toàn xã hội, an ninh vùng dân tộc và vùng biên giới quốc gia

So với các dân tộc thiểu số khác trên địa bàn người La Chí có trình độ

dân trí cao hơn Họ tham gia rất tích cực vào các chương trình phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương; tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa Chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những chính sách về dân số, giáo dục, xây dựng nếp sống văn minh, xóa bỏ các thủ tục lạc hậu

Người La Chí ở Xín Mần có dân số đứng thứ sau người Nùng, Tày, Mông, Dao nhưng là cộng đồng dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương Trong xu thế giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, người La Chí đã tích cực, chủ động tiếp thu những tinh hoa văn hóa hiện đại và ý thức được việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ thì đời sống văn hóa dân tộc La

Chí ở Xín Mần vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế, đó là: trình độ dân trí còn

Trang 38

thấp; đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn dẫn đến mức độ thụ hưởng văn hóa chưa cao; bên cạnh đó những giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một trong đời sống văn hóa hiện nay

Từ đó, có thể nhận định chủ thể hoạt động văn hóa trong đời sống văn hóa dân tộc La Chí ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang là cộng đồng dân cư sống trên địa bàn có nhiều khó khăn, nhưng có văn hóa đậm bản sắc Họ là chủ nhân của những sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần được sáng tạo trong quá khứ, được kế thừa cho đến ngày hôm nay Những sản phẩm văn hóa được vận hành trong đời sống văn hóa thể hiện qua các dạng hoạt động văn hóa cụ thể

2.1.2 Phát triển văn hóa giáo dục của dân tộc La Chí hiện nay

Hệ thống giáo dục ở huyện Xín Mần là cơ sở hạ tầng phục vụ công tác

giáo dục chung cho cộng đồng các dân tộc, trong đó có dân tộc La Chí Xín

Mần là huyện vùng cao, biên giới có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn Nhưng trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sát sao của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, đặc biệt là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ

sở, huyện Xín Mần đã đạt được những thành tựu to lớn về công tác giáo dục đào tạo Đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2002; năm 2008 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang tiến hành phổ cập trung học phổ thông Mạng lưới trường học ở tất cả các bậc học phát triển rộng khắp trên địa bàn toàn huyện Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên trong các trường ngày càng được củng cố về chất lượng và phát triển về số lượng theo hướng chuẩn hóa Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục đào tạo luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi ngân sách huyện những năm qua và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước thể hiện sự quan tâm của Đảng, Chính quyền địa phương, ví dụ năm

2001 chi 34.987.489 (đơn vị tính 1.000 đồng), chiếm 19,52% tổng ngân sách huyện; đến năm 2013 chi 87.140.620 (đơn vị tính 1.000 đồng), chiếm 27,31%

tổng ngân sách huyện [8]

Trang 39

Đến nay toàn Huyện đã có 6 trường học được công nhận là trường đạt chuẩn Quốc gia (THCS 03, Tiểu học 01, Mầm non 02) Vì vậy, chất lượng giáo dục cũng từng bước được nâng cao; tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp cao so với các huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Hà Giang Đặc biệt, những năm gần đây Xín Mần đã có học sinh là con em người dân tộc thiểu số (tiêu biểu là người La Chí) thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Đi liền với các thành tích trên, công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát triển bằng các hoạt động thiết thực thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, các hội khuyến học từ huyện đến các xã, thôn bản, dòng họ đã góp phần đáng

kể vào sự phát triển giáo dục huyện nhà

Mạng lưới trường lớp được duy trì và mở rộng đáp ứng yêu cầu các cấp học đặc biệt là cấp học Mầm non, Tiểu học Duy trì lớp học tận thôn bản của người La Chí và các dân tộc thiểu số khác, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường; chú trọng giáo dục đạo đức, kĩ năng sống; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc La Chí và các dân tộc thiểu số nói chung Tỷ lệ huy động học sinh đến trường trên 95%, số học sinh bỏ học ngày càng giảm

Giáo dục THPT: được sự quan tâm của các cấp, các ngành và nhân dân, nên giáo dục THPT huyện Xín Mần trong thời gian từ năm học 2000-2001 đến năm học 2012 - 2013 không chỉ tăng về quy mô trường lớp mà tỷ lệ học sinh đến trường không ngừng tăng lên; giáo viên đứng lớp đảm bảo chuyên môn nghiệp vụ, đủ về số lượng Vì vậy, những năm qua tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm; tỷ lệ tốt nghiệp năm học 2012 - 2013 đạt 99,58%

Giáo dục thường xuyên: củng cố, duy trì và phát triển trung tâm học tập cộng đồng và trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện Nhằm phát huy hiệu quả công tác liên kết đào tạo từ xa, tại chức; tổ chức các kỳ thi, cấp phát văn bằng chứng chỉ theo quy định của Nhà nước

Về đào tạo nghề: đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động có năng lực và trình độ đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hoá, hiện

Trang 40

đại hoá, hội nhập quốc tế của huyện Xín Mần nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung; từ năm 2008 huyện đã thành lập trung tâm dạy nghề huyện Xín Mần

và tổ chức hoạt động hiệu quả Trong 5 năm từ 2009 đến 2013 đã đào tạo được 144 lớp với 4.826 người tham gia học tập; đã góp phần đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn, giải quyết việc làm tại chỗ, phục

vụ xuất khẩu lao động, chuyển đổi nghề, tạo thêm nghề mới, phát triển kinh tế

gia đình, ổn định an ninh chính trị của địa phương

Hoạt động khuyến học, khuyến tài được đẩy mạnh, với nhiều hình thức, nội dung phong phú, đa dạng Đến nay, 100% các xã, thị trấn có tổ chức Hội khuyến học, 100% các thôn làng có chi hội khuyến học, 100% các nhà trường

có tổ chức chi hội khuyến học, nhiều cơ quan, đơn vị, các dòng họ trên địa bàn huyện thành lập chi hội khuyến học

Có trên 455 đầu sách; 4 loại báo, tạp chí trong thư viện trường học (trong đó có 04 thư viện trường đạt chuẩn trở lên) phục vụ cho học sinh Thường xuyên thực hiện luân chuyển sách giữa các xã Với các đầu sách được đầu tư từ nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức chính trị xã hội, các tập thể đã phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu và học tập của người dân và học sinh

Thực hiện các chương trình, đề án của huyện về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, các cơ sở giáo dục đã bước đầu đưa các bài hát, điệu múa truyền thống dân tộc vào nhà trường một cách hiệu quả; thường xuyên thực hiện việc chăm sóc các công trình di tích lịch sử, văn hoá phong trào thi đua “dạy tốt - học tốt” luôn được phát huy, giáo viên, học sinh vượt khó, vượt khổ, tận tâm, tận lực đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của huyện

Những thành tích trong giáo dục đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu ở huyện Xín Mần Tạo cơ hội cho nhân dân tham gia vào phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, xóa đói giảm

Ngày đăng: 18/09/2016, 02:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vi Văn An (1986), Nghề đan lát truyền thống của người La Chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề đan lát truyền thống của người La Chí
Tác giả: Vi Văn An
Năm: 1986
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Những giải pháp thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đưa kết luận Hội nghị Trung ương khóa IX về văn hóa đi nhanh vào cuộc sống, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đưa kết luận Hội nghị Trung ương khóa IX về văn hóa đi nhanh vào cuộc sống
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2008
3. Bệnh viện đa khoa Xín Mần (2013), Báo cáo thống kê năm 2013, Xín Mần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê năm 2013
Tác giả: Bệnh viện đa khoa Xín Mần
Năm: 2013
4. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Trần Văn Bính (Chủ biên) (2006), Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Trần Văn Bính (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
6. Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008
7. Bộ Văn hóa (1984), Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Tác giả: Bộ Văn hóa
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1984
8. Chi cục Thống kê huyện Xín Mần (2013), Niên giám thống kê năm 2013, Xín Mần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2013
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Xín Mần
Năm: 2013
9. Chi cục Thống kê huyện Xín Mần (2013), Biểu tổng hợp thống kê tình hình cơ bản đời sống hộ dân cư năm 2013, Xín Mần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tổng hợp thống kê tình hình cơ bản đời sống hộ dân cư năm 2013
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Xín Mần
Năm: 2013
10. Cục Thống kê Hà Giang (2009), Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang năm 2008, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang năm 2008
Tác giả: Cục Thống kê Hà Giang
Năm: 2009
11. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2004), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 - 2010, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 - 2010
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Giang
Năm: 2004
13. Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2010), Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Giang
Năm: 2010
14. Đảng bộ huyện Xín Mần (2011), Lịch sử Đảng bộ huyện Xín Mần, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Xín Mần
Tác giả: Đảng bộ huyện Xín Mần
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Một số văn kiện về chính sách dân tộc miền núi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về chính sách dân tộc miền núi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết Đại hội lần thứ V, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Kết luận Hội nghị lần thứ X của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận Hội nghị lần thứ X của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w