Căn cứ vào những ghi chép của thư tịch cổ TrungQuốc, thì vào khoảng thời gian đó ở phía nam của Lâm Ấp Chăm Pa tương ứngvới vùng đất Nam Bộ ngày nay, đã xuất hiện một quốc gia có tên gọ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VẦ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ LỚP LỊCH SỬ VIỆT NAM K32
THỰC TRẠNG VÙNG ĐẤT NAM BỘ TRƯỚC THẾ KỶ XVII VÀ SỰ XUẤT HIỆN
CỦA CÁC CƯ DÂN ĐẦU TIÊN
GVHD: T.S Trần Thị Mai NHÓM 1 thực hiện
TP.HCM, 11-2008
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1 VÀ BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:
STT MSSV Họ Tên Công việc Đánh giá
1 0664006 Nguyễn Thị Kim Ánh Làm chương I Tốt
2 0664007 Phạm Thị Ngọc Bích Làm chương I Tốt
3 0664015 Võ Thị Phương Dung Làm chương I Tốt
4 0664016 Lê Tiến Dũng Làm chương II Khá
5 0664019 Nguyễn Khoa Đăng
(nhóm trưởng)
Làm chương II Làm PowerPoint
Tốt
6 0664022 Nguyễn Văn Đức Làm chương II Tốt
7 0664024 Huỳnh Thị Giang Làm chương III Tốt
8 0664026 Lê Thị Hà Làm chương III Tốt
9 0664033 Nguyễn Thị Hằng Làm chương III Tốt
10 0664034 Phạm Thị Ngọc Hằng Làm chương IV Tốt
11 0664035 Nguyễn Thị Thu Hiền Làm chương IV Tốt
12 0664038 Lê Thị Hoa Làm chương IV Tốt
Trang 3MỤC LỤC
I Thực trạng của vùng đất Nam Bộ trước Thế kỷ XVII 4
II Quá trình di cư và khai phá của những
lưu dân người Việt đầu tiên 11 III Quá trình di cư của người Hoa đến Nam Bộ 15
IV Sự xuất hiện và khai phá của người Khmer 25
Trang 4I THỰC TRẠNG CỦA VÙNG ĐẤT NAM BỘ TRƯỚC THẾ KỶ XVII
1 Điều kiện tự nhiên:
Nam bộ là vùng đất có lịch sử lâu đời, lịch sử Nam Bộ gắn liền với lịch sửbồi tụ của 2 sông chính là sông Đồng Nai và sông Mê Công Là vùng đất phìnhiêu, khí hậu nhiệt đới thuận lợi có nhiều sắc thái độc đáo, thuận lợi nhiều hơnkhó khăn, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Đặc trưng của khí hậu vùngnày là có nhiệt lượng bức xạ cao, ổn định và nóng ẩm quanh năm Đây là vựa lúalớn
Nam Bộ Việt Nam về phương diện địa lý được chia làm 2 miền: Đông Nam
2 Thực trạng Nam Bộ trước thế kỷ XVII
Điều đầu tiên cần khẳng định là vùng đất Nam Bộ từ cách đây hàngchục vạn năm đã có người cổ sinh sống Dựa trên những phát hiện của khảo cổhọc đã chứng minh cho điều đó Bước sang hậu kỳ đá mới sơ kỳ đồ đồ đồng, cưdân vùng đất này đã tạo dựng một nền văn hóa phát triển dựa trên nền tảng nghềtrồng lúa nước Các di chỉ được phát hiện dọc theo lưu vực sông Đồng Nai với
Trang 5( TPHCM); Phước Tân (Đồng Nai); Cù Lao Rùa(Bình Dương); Dốc Chùa( BìnhDương); Cần Giờ ( TPHCM)….cho thấy toàn bộ quá trình lịch sử này đã có cơ sởvững chắc trên nền tảng văn hóa bản địa- Văn hóa Đồng Nai.
Trên cơ sở phát triển kinh tế -xã hội cuối thời kỳ đồng thau sơ kỳ đồ sắt,dưới tác động của văn minh Ấn Độ Khoảng đầu công nguyên , vùng đất Nam Bộbước vào thời kỳ lập quốc Căn cứ vào những ghi chép của thư tịch cổ TrungQuốc, thì vào khoảng thời gian đó ở phía nam của Lâm Ấp ( Chăm Pa) tương ứngvới vùng đất Nam Bộ ngày nay, đã xuất hiện một quốc gia có tên gọi là Phù Nam
Những tư liệu đầu tiên cho biết về sự tồn tại của Phù Nam là các thư tịch cổTrung Quốc Thời Hán còn chưa biết gì nhưng đến thời Tam Quốc(220-280),trong Tam Quốc chí do Trần Thọ biên soạn là tài liệu sớm nhất cho biết : “ Lữ Đại
đã bình định Giao Châu, sai bọn tong sự xuống phía nam giáo hóa” Từ đó “ sứthần các nước Phù Nam, cùng với Lâm Ấp; Đường Minh(?) đều sai sứ sang cống”.Tiếp đó nhà Ngô lại cử viên quan Trung lang là Khang Thái và Tuyên Hóa long sự
là Chu Ứng đi sứ đến Phù Nam…
Về vị trí địa lí của quốc gia này, một số tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc
có ghi chép như sau:
Tấn thư ghi: nước Phù Nam cách Lâm Ấp về phía tây hơn 3nghìn lí, ở trong vùng biển lớn Đất rộng 3 nghìn lí
Nam tề thư chép: nước Phù Nam ở trong vùng dân Man, phíatây của biển lớn, ở miền nam của Nhật Nam, dài rộng hơn 3 nghìn lí, có song lớnchảy về phía đông ra biển
Đến Lương thư cũng chép tiếp và có thêm chi tiết: “ NướcPhù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn, phía tây của biển, cách NhậtNam có đến 7000 lí, cách Lâm Ấp ở phía tây- nam đến hơn 3000 lí Thành cáchbiển 500 lí (khoảng 200km), có sông rộng 10 lí, từ Tây – Bắc chảy sang đông nhậpvào biển Nước rộng hơn 3000 lí, đất trũng ẩm thấp, nhưng bằng phẳng rộng rãi”
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ I-III, đây giai đoạn mới lập nước,
nữ vương Liễu Diệp kết hôn cùng Hỗn Điền, sinh con trai , phân cho làm vua 7 ấp
Trang 6Quốc gia mới thành lập còn phân tán, mới chỉ có 7 ấp thời Hỗn Điền hay nhiềuhơn Từ Hỗn Điền đến Hỗn Bàn Huống tình hình diễn tiến trong khoảng thế kỷ I,Hỗn Bàn Huống đến Phạm Man trong thế kỷ II, Pham Man từ cuối thế kỷ II đếnđầu thế kỷ III là thời kỳ ổn định chính sự, phát triển kinh tế và ổn định đời sốngdân cư
Bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI là khoảng thờigian Phù Nam bắt đầu mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng và phàt triển thế lực ra bênngoài và trở thành đế chế lớn mạnh Theo sử liệu Trung Hoa thì các vua Phù Nambắt đầu từ đời vua thứ năm là Pham Man đã liên tục thôn tính hơn 10 nước , mởrộng lãnh thổ đến 5,6 nghìn dặm bao gồm các nước: Đồ Côn; Cửu Trì; Đốn Tốn;Xích Thổ; Bàn Bàn…v v… Những tiểu quốc này đều nằm trên bán đảo Mã Lai
và một phần hạ lưu song Mê Nam Theo một số thư tịch cổ thì quốc gia Chân Lạpcủa người Khmer cũng trở thành một thuộc quốc của Phù Nam Vì vậy cần có sựphân biệt rõ ràng giữa Chân Lạp và Phù Nam là hai quốc gia khác biệt nhau PhùNam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của ViệtNam Cư dân chủ thể là người Mã Lai – Đa Đảo có truyền thống hàng hài vàthương nghiệp khá phát triển Trong thời kỳ cường thịnh, Phù Nam mở rộng ảnhhưởng và chi phối toàn bộ vùng Vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thônghuyết mạch từ nam Đông Dương sang Ấn Độ Sau một thời kỳ phát triển rực rỡ,
đế chế Phù Nam bắt đầu bước vào quá trình tan rã vào khoảng cuối thế kỷ VI.Chân Lạp của người Khmer dù là một tiểu quốc của Phù Nam, nhưng đã nhanhchóng phát triển thành một vương quốc độc lập và đến thế kỷ thư VI nhân sự suyyếu của Phù Nam, Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy một phần lãnh thổ của đếchế này vào đầu thế kỷ VI- phần lãnh thổ đó tương đương với vùng đất Nam Bộngày nay
Về nguyên nhân sự sụp đổ của vương quốc Phù Nam còn là mộtđiều bí ẩn Nhưng có thể phỏng đoán đó là do nguyên nhân của chiến tranh.Nhưng một đế chế rộng lớn như Phù Nam liệu có thể dễ dàng bị tàn phá và dẫn tới
Trang 7sụp chính từ bên trong của nó đã Từ cuối thế kỷ VI, nhất đầu thế kỷ VII, nhữngkiinh nghiệm đi biển tích lũy được nhiều hơn, có them sự tham gia của nền mậudịch hàng hải của những người Aráp táo bạo, các thuyền buôn ngày càng gia tăngcác chuyến đi vòng phía nam bán đảo Malaya, qua eo Sunda đến biển Đông, rútngắn hành trình Việc giảm thiểu đường trung chuyển qua eo đất Malaya, ít cậpbến cảng Óc Eo và do đó hoạt động thương mại của Phù Nam nói chung bị sụtgiảm Sự suy thoái kinh tế đã làm cho vương quốc này gặp nhiều khó khăn, sựphồn vinh giảm sút đã dẫn tới những cuộc khủng hoảng trong triều chính Đó làthời cơ thuận lợi để một quốc gia đang lớn mạnh dần lên như Chân Lạp có cơ hộiphản công lại và dẫn tới sự sụp đổ suy vong của vương triều Phù Nam Từ chổmột là một vùng đất thuộc Phù Nam – một quốc gia độc lập và hung mạnh, saunăm 627 vùng đất Nam Bộ đã bị phụ thuộc vào Chân Lạp
Sau khi chân Lạp đánh bại Phù Nam, trong một số sách Trung Quốc đãxuất hiện tên gọi “Thủy Chân Lạp” để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đấtNam Bộ và phân biệt với vùng đất “Lục Chân Lạp”, tức là vùng đất gốc của ChânLạp
Từ đây vùng đất Nam Bộ tren danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát củaChân Lạp, nhưng trên thức tế việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với ChânLạp gặp nhiều khó khăn Trước hết, với truyền thống quen khai thác trên các vùngđất cao, dân số còn ít ỏi, người Khmer khi đó có khả năng tổ chức khai thác trênqui mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy Hơn nữa,việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòi hỏi rất nhiều thời gian
và sức lực Việc cai trị xứ Thủy Chân Lạp vì vậy phải giao cho những người thuộcdòng dõi Phù Nam
Trong quá trình cai quản vùng đất Nam Bộ sở dĩ người Chân Lạp không thểkhai thác được vùng đất này là có 2 lý do:
+ Số lượng dân cư Chân Lạp còn quá ít ỏi, trong khi diện tích qua lớn Vàothập niên của thế kỷ XX, dân số trên dưới 7 triệu , lãnh thổ thì rộng lớn Nam Bộ
Trang 8là vùng đất trùng ngập nước và đặc tính biển Vì vậy mà không thể tiến hành khaithác trên vùng đất rộng lớn này.
+ Tập quán sinh hoạt và canh tác sống chủ yếu ở vùng cao, không thíchnghi với kinh tế nước và biển Vì vậy hoàn toàn bở ngỡ và không phù hợp vớikinh tế Phù Nam trước đây
Một trở ngại trong việc cai quản và phát triển vùng Thủy Chân Lạp là tìnhtrạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân Lạp và Chămpa Trong khi đó,chính quyền Chân Lạp dồn sức phát triển các vùng trung tâm truyền thống củamình ở khu vực Biển Hồ, trung lưu song Mê Kông và hướng nổ lực mở rộng raphía Tây, vùng lưu vực sông Chao Phây Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đếncuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nềnvăn hóa Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm lên
cả lưu vực sông Chao Phaya
Bắt đầu từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của cácvương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là sau khi vương triều Ayuthaya hình thànhvào giữa thế kỷ XIV Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431), Ayuthaya và ChânLạp lien tiếp có chiến tranh
Sang thế kỷ XVI và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp cảu Xiêm, triềuđình Chân Lap bị chia rẽ sâu sắc Vương quốc này dần dần bước vào thời kì suyvong
Nguyên nhân suy yếu là do công cuộc xây dựng nhanh của đế chế đã làmcho nguồn nhân lực của Angkor giảm, suy kiệt và dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc giữachính quyền với nhân dân Với sự lớn mạnh của vương triều Xiêm đã làm choChân Lạp dần dần đi vào con đường suy vong
Vì vậy khi nhười Việt tiến vào đây là một vùng hoang hóa nhưng khôngphải là vô chủ, vì vậy mà phải có những biện pháp phù hợp để khai hoang vùngđất mới này
Trang 9Trong lịch sử phát triển của Nam Bộ trải qua sự đứt gãy, sự biến mất củanền văn hoá Óc Eo vào cuối thế kỷ VI, Nam Bộ rơi vào tình trạng hoang vu, cây
cỏ mọc thành rừng rậm là nơi cư trú chân của chim chóc, muôn thú
Khởi thủy vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay là một vùng đất thấp trũnghoang phế, nằm về phía nam, thuộc hạ lưu sông Mê Kông gọi là thủy Chân Lạp(hay gọ là Đằng Thổ)
Đây là một vùng đồng hoang cỏ rậm, gần như vô chủ, đất đai úng trũngsình lầy, sông rạch chằng chịt, khí hậu âm u Dưới nước đen ngòm là nơi sinhtrưởng của các loại ác ngư như cá kình, cá sấu Trên cạn với rừng rú ngút ngàn gaigốc hiểm trở là nơi trú ngụ của muôn loài ác thú như thỏ, báo, gấu hoành hành
Cả vùng đất rộng lớn và hoang vắng này, từ 3 thể kỷ trước đó, ngoài cái têngọi là thủy Chân Lạp hay Đằng Thổ ra thì chưa có một dấu vết nào của làng, ấp xãcủa một quốc gia nào, duy nhất có dăm ba cư dân bản thổ thưa thớt hiếm hoi Khi
ấy vùng đất hoang dại này về sau thành xứ Đồng Nai, Gia Định và đồng bằng songCửu Long của nước Việt
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt Chu ĐạtQuan, một người Trung Quốc có dịp đến Chân Lạp vào năm 1296- 1297, đã miêu
tả vùng đất Nam Bộ như sau: “ Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng thấycây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ rậm rạp, mây leo umtùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộngđồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn màthôi Trâu rừng hộp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đây Lại có giồngđất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng”
Từ đầu thế kỷ XVII, vùng đất hoang dã này là vùng lam sơn chướng khí, taquen gọi là Đằng Thổ, gồm các địa danh sau này mang tên Đồng Nai, Bà Rịa, SàiGòn, Bến Nghé, cũng có vài sắc tộc như Khmer, chăm, người Man, Hoa, Việtđược coi là dân tứ chiếng
Người Việt đã đến lập nghiệp ở đây sớm hơn nhưng đông nhất là thời TrịnhNguyễn phân tranh, đất nước loạn li, dân tình thống khổ Cách di chuyển của
Trang 10người Việt là ghe thuyền hành trình theo dường biển Bến dừng lại đầu tiên củangười Việt là Mơ Xoài ( Bà Rịa), sau dó vào Đồng Nai, Bến Nghé rồi lấn dần vềphía đồng bằng sông Cửu Long Họ tìm đến những vùng đất đai màu mỡ hơn quêmình để canh tác và sinh sống Tuy nhiên trên vùng đất hoang dã, lam sơn chướngkhí với bao nhiêu hiểm họa luôn rình rập đổ xuống đầu người, cuộc vật lộn vớithiên nhiên không dễ dàng chút nào Niềm khắc khoải lo âu ấy còn dấu ấn trong cadao và dân ca thời đó:
“ Đến đây xứ sở lạ lùng
Tiếng chim kêu cũng sợ, tiếng cá vùng cũng kinh”
Đầu thế kỉ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai- Gia Định, vùng đất ngàynay là Long An cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá,khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy Mãi đến thập niên cuối thế kỉ XVII, Lê Quý Đôncòn nhận xét rằng “ ở phủ Gia Đinh, đất Đồng Nai từ các cử biển Cần Giờ, LôiLạp, cửa đại,cửa tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”
Theo sách Đại Nam Nhất thống trí, tỉnh Vĩnh Long ngày xưa là đất TằmĐôn-Xoài Rạp Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lí miền biên viễn lập phủGia Định Nhưng vùng hoang địa phía Nam dinh phiên trấn còn để cho dân đếnlập trang trại man mậu một cách tự do
Tháng 2 -1698 chúa Nguyễn Phúc Chu cử lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnhlàm kinh lược sứ Ông thực hiện khai phá đất hoang chia đất, định vùng với mongmuốn sớm đưa dân chúng vào an cư lạc nghiệp Về hành chính, ông chia đất ĐồngPhố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng Dinh Trấn Biên ( Biên Hòa),lập sứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên Trấn ( Sài Gòn ngày nay).Mỗi trấn có một lưu thủ đứng đầu quản trị, dưới có cai bạ coi về ngân khố, kí lụccoi về hành án Đồng thời ông cũng lập thêm một đơn vị hành chính tại Sa Hà( sau đó nơi đây là Hạnh Thông tây Gò Vấp), tất cả đều trực thuộc phủ Gia Định
Tuy người Khmer có mặt sớm hơn nhưng không làm thay đổi thức trạngcủa đồng bằng sông Cửu Long, vẫn là một vùng đất hoang sơ, chưa được khai phá
Trang 11Vì vây, trong giai đoạn này thực trạng vùng đất Nam Bộ rất phức tạp, làmột vùng đất mới chưa được khai phá Mặc dù đã trải qua sự thống trị của vươngquốc Phù Nam và Chân Lạp, nhưng do đây là một vùng đất mới với những đặctính riêng nên chưa thể khai phá được Vì vậy, khi người Việt vào khai phá thì đòihỏi phải có những biện pháp và chính sách phù hợp với vùng đất hoang sơ này.
II QUÁ TRÌNH DI CƯ VÀ KHAI THÁC VÙNG ĐẤT MỚI CỦA
NHỮNG LƯU DÂN NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN
Chúng ta biết rằng, một trong những hiện tượng nổi bật trong lịch sử dân tộc ta thời Trung đại mà mọi người đều biết là sự khai thách những vùng đất mới ởphía Nam Công cuộc ấy được bắt đầu thế kỷ XIV, vào đời vua Trần Anh Tông
Tuy nhiên giai đoạn cực thịnh của công trình khai thác vùng đất mới chính là từ hậu bán thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVIII Đặc biệt là vào thế kỷ XVII công cuộc khai thác vùng đất mới diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn này nhân dân
ta làm chủ và mở mang các xứ Thuận Hóa, Quảng Nam và Đồng Nai – Gia Định, tức Nam Bộ ngày nay
Trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây về việc di chuyến dân
cư và khai thác những vùng đất mới ở phía Nam, dưới tiêu đề “ lịch sử cuộc Nam
tiến”, hầu hết các tác giá đều trình bày dưới hình thức dựng lên một bức tranh về
mỗi quan hệ ngoại giao và hoạt động quân sự của các chúa Nguyễn dẫn tới việc lần lượt mở mang và khai thác vùng đất mới ở phía Nam nước ta
Nhưng qua một số tư liệu lịch sử mặc dù còn rất hiếm hoi, chúng ta cũng thấy được việc thiết lập chính quyền ở những vùng đất mới khai thác là việc của tập đoàn phong kiến thống trị họ Nguyễn việc này thường xảy ra sau khi một
bộ phận người Việt đã di cư đến ở, khai khẩn đất đai và sinh cơ lập nghiệp từ trước
Nguyễn Hoàng sau khi xin vào trấn phủ Thuận Hóa thoạt tiên là tìm nơi hiểm cố đế giữ mình, tránh sự mưu hại của Trịnh Kiếm, nhưng dần dần đã chứng tỏ ý đồ xây dựng cơ nghiệp riêng để đối chọi với họ Trịnh
Trang 12Để thực hiện ý đồ đó, cùng với những việc khai thác vùng đất mới, các chúa Nguyễn hoặc trực tiếp tố chức việc di chuyến một bộ phận dân chúng, hoặc chiêu mộ lưu dân, đưa vào những nới đó để tiến hành khai khẩn nhằm tăng thêm tiềm lực kinh tế và quân sự của mình
Qua các tài liệu lịch sử còn lại, ta thấy có mấy lần di chuyến lớn củamột bộ phân dân cư người Việt ở các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong vào các tỉnh phía Nam trong thế kỷ XVII
Lần thứ nhất, sau khi mở đất Phủ Yên, Nguyễn Hoàng đã sai Lương Văn Chính chiêu tập lưu dân khai khẩn đất hoang ở Cù Mông, Xuân Đài, dời dân đến ở, lại mộ dân vỡ đất làm ruộng ở sông Đà Diễm, chia lập thôn, ấp
Lần thứ hai, sau khi đại thắng quân Trịnh ở Quảng Bình năm 1648, bắt sống được nhiều tưởng Trịnh và ba vạn quân sĩ Nguyễn Phước Lan đã chia số
ba vạn binh lính đó ra cho ở các nơi, từ Thăng Hoa, Điện Bàn đến Phú Yên, cứ 50 người làm một ấp, cấp cho lương ăn nửa năm, lại cho họ khia thác những mỗi lợi ởnúi đầm
Lần thứ ba, trong cuộc giao tranh giữa họ Nguyễn và họ Trịnh, đầu tiên họ Nguyễn đánh chiếm được bảy huyện xứ Nghệ An, về sau do yếu thế phải
bỏ Trong khi rút về ranh giới cũ, họ đã bắt đi không ít người dân địa phương đem
về an sáp ở các miền Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Quy Nhơn và Phủ Yên để tăng thêm dân số
Lần thứ tư, vào năm 1698, Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) vào kinh dinh đất Nông Nại lập xứ Lộc Dã ( tức Đồng Nai) làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên ( tức Biên Hòa ngày nay), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn ( tức Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặtcác chức quan để cai trị và lập làng, ấn định thuế khóa Trong dịp này Kính đã chiêu mộ thêm lưu dân từ Bồ Chính trở vào Nam đến ở, thiết lập xã, thôn, phường,
ấp, chia rtanh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung làm bộ đinh, bộ điền
Trang 13Về lần mở đất di dân này, Gia Định thành cơng chí của Trịnh Hồi
Đức ghi lại cụ thế như sau:
“ Mùa xuân năm Mậu Dần ( 1698 đời vua Hiển tơng Hiến minh hồng đế sai Thống suất chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Kính sang kinh lược…lấy đất Nơng Nại đặt làm Gia Định phủ
Đất đai mở rộng 1.000 dặm, dân số hơn 40.000 hộ, chiêu mộ những lưu dân từ Bồ Chính châu trở vơ Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xã, thơn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh, điên”
Vậy thì những người dân di cư vào váng đất Nam Bộ này họ là những hạng người nào?
Trước hết cĩ lẽ là những ngừơi tù tội bị lưu đày, nhừng người trốn tránh sưu thuế binh dịch, họ cũng chiếm một tỷ lệ khơng nhỏ trong số người di cư
Các chúa Nguyễn trong thời kỳ xây dựng vương quốc riêng, nĩi chung về mọi mặt từ nghi lễ triều đình, thuế khĩa cho đến thi cử, hình luật…, nhất nhất đều mơ phỏng nhà Lê, cho nên cĩ thể nghĩ rằng chắc chắn họ cũng noi theo cách thức của nhà Lê mà đem những tù nhân bị án lưu đày án trí vào những vùng đất mới vả chăng điều đĩ cũng mang lại lợi ích thiết thực cho họ là vừa đẩy ra xa những phần tử theo họ là nguy hiểm, vừa cĩ lực lượng để khai khẩn đất đai, tăng thêm vật lưc cho nhà nước
Và những di dân vốn là những phần tử trốn tránh binh dịch thì điều này khỏi cịn phải nghi ngờ gì nữa Cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn kéo dài hàng hai thế kỷ, nhất là bảy trận đánh lớn trong khoảng thời gian 45 năm trời ( 1627- 1672) đã làm cho hầu hết dân chúng phải gánh chịu bao nhiêu tai họa: chết chĩc, tàn phá, đĩi khổ
Nhưng cĩ lẽ lớp người khống khổ nhất vì chiến họa trước hết phải làbinh lính Cho nên hiện tượng đảo ngũ, bỏ trốn tất yếu xảy ra thường xuyên và saukhi bỏ trốn thì nơi dung thân yên ốn nhất của họ khơng đâu bằng vùng đất xa xơi
và hoang vắng ở Nam Bộ
Trang 14Một số người giàu có ở miền Trung vì đất đai ở đây eo hẹp, muốn tìm nơi có điều kiên mở mang canh tác để phát tài hơn nữa, đã chuyến vào vùng đất mới khai thác ở Đồng Nai – Gia Định, cũng là một thành phần đáng kể trong
số người Việt di cư Sách phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép: ở phủ Gia Định,
đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Đại, cửa tiểu trở vào, toàn
là rừng rậm hàng nghìn dặm, họ Nuyễn… chiêu mộ những dân có vật lực ở các phủ Điện Bàn, Quảng Nghĩa, Quy Nhơn, xứ Quảng Nam di cư đến, chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm, khai phá tở thành bằng phẳng, đất đai mau mỡ, cho họ tự chiếm lấy, lập vườn trồng cau, làm nhà ở Dân có vật lực ở đây chủ yếu là những người giàu có Những người này đến ở đây sau một thời gian khai khẩn càng trở nên giàu
có hơn Phủ tạp lục chép: “ ở các địa phương mỗi nơi có 40, 50, hoặc 20,30 nhà
giàu, mỗi nhà có đến 50,60 điền nô, 300,400 trâu bò, cày cấy, gặt hái rộn ràng không rỗi”
Một thành phần khác trong số những người Việt đến ở và khai khẩn vùng đất Đông Nam Bộ đầu tiên là một bộ phận binh sĩ hoặc đào ngũ, hoặc giải ngũ vì bị bệnh, hoặc tình nguyện ở lại khai khẩn, của các đạo quân do các chúa Nguyễn phái từ Quảng Nam – Phủ Yên vào Trường hợp vùng Cái Sao thuộc Hậu Giang được khai thác là một ví dụ vùng này nguyên là vùng đất hoang vu, không
có người ở Năm 1700, một đạo quân do Nguyễn Hữu Kính chỉ huy trên đường hành quân đã trú đóng tại đậy một thời gian Tuy thời gian trú đóng không klâu ( từ tháng Tư năm 1700 đến tháng Năm năm đó), nhưng sau đó vùng Cái Sao đã được khai thác Vậy những người khai thác chắc hẳn là một số binh sĩ đào ngũ, hoặc giải ngũ vì bị bệnh hoặc tình nguyện ở lại
Như vậy, qua những điều trình bày trên, chúng ta thấy trong số những người việt di cư đầu tiên có mặt rất nhiều thành phần: những người tù tội bịlưu đày, những người trốn tránh sưu thuế binh dịch, những ngừơi giàu có ở các tỉnh miền Trung, những binh lĩnh đào ngũ hoặc giải ngũ Nhưng thành phần chủ yếu nhất chiếm đa số trong đám dân di cư đầu tiên cũng như lần lượt sau này