1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương chuyên đề về nghị quyết TW 4

26 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 214,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu đề cương chuyên đề có chọn lọc và giá trị. Là nguồn tham khảo không thể thiếu của tất cả các cấp cán bộ. Giúp giải đáp các thắc mắc về chuyên môn của người đọc. KHông tài liệu chuyên môn nào có thể đa dạng và hữu ích như ở đây. Không hay không lấy tiền

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TW4 (KHÓA XI)

“MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY”

Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI): “Một số vấn

đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là một trong các Báo cáo của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khoá XI) trình Đại hội XII của Đảng và cũng là một trong

3 Chuyên đề trong chương trình nghiên cứu học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hộiXII của Đảng

Chuyên đề này gồm 03 nội dung lớn sau:

I Bối cảnh ra đời và nội dung của Nghị quyết;

II Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết;

III Phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện thời gian tới.

-I BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CỦA NGHỊ QUYẾT.

1 Bối cảnh ra đời của Nghị quyết

Thực tiễn của cách mạng thế giới trong mấy thập niên vừa qua đã chỉ ra rằng:Đảng cầm quyền nếu không thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảngtrong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng caonăng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mình thì vai trò cầm quyền của Đảng sẽ bị lu

còn trong sáng nữa, nếu xa vào chủ nghĩa cá nhân”, “Đảng có vững cách mạng mới

thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”

Quán triệt sâu sắc lời di huấn của Bác và trên cơ sở đúc kết các bài học kinhnghiệm quốc tế, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vàxây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã nhiều lầnkhẳng định: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ

Trang 2

then chốt và Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổchức, cán bộ, phương thức lãnh đạo.

Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không có nhiệm kỳ nào Trung ương Đảngkhông có nghị quyết về xây dựng Đảng, về đổi mới chỉnh đốn Đảng, về công tác

cán bộ; điển hình như: Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI”; Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) về “Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”;

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 - khoá VIII) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách

trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khoá IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X): “Tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng,lãng phí, hư hỏng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi

mà thậm chí có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin của nhân dânđối với Đảng

Mặc dù Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã có nhiều nghịquyết, kết luận, chỉ thị và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng,nhưng công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều khuyết điểm, yếu kém Tình trạngsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏngcủa một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi mà thậm chí cóchiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng Hội nghị lần

thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) đã ban hành Nghị quyết “Một

số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, bởi 4 lý do sau:

Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng luôn có ý

nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Đây là bài học kinh nghiệm lớn,

là kết luận sâu sắc được rút ra qua hơn 85 năm hoạt động của Đảng ta; đồng thời, là

lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều đảng, nhiều nước trên thế giới

Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” Đây là vấn đề trước kia đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và

sau này cũng sẽ vẫn như vậy

Có ý kiến: có một số lĩnh vực không cần sự lãnh đạo của Đảng (VD: kinh tếthị trường)

Trang 3

Hai là, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN

và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ rất to lớn, nặng nề và rất khó khăn, trong đó có rất

nhiều vấn đề mới đặt ra, đòi hỏi Đảng ta phải giải đáp và giải quyết cả về lý luận vàthực tiễn Mặt khác, tình hình thế giới lại đang có những diễn biến hết sức mau lẹ,phức tạp và khó dự báo do sự tranh chấp, điều chỉnh chiến lược của các nước lớn.Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa phong trào hòa bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội với các thế lực đế quốc cực đoan, hiếu chiếnđang diễn ra dưới nhiều hình thức, sắc thái mới rất quyết liệt… Trong tình hình đó, đòihỏi Đảng càng phải nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơnnữa mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới

Ba là, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bên cạnh mặt tích cực, bản chất

và truyền thống tốt đẹp được phát huy, bản thân Đảng cũng còn nhiều khuyết điểm, yếu kém, trong đó có những khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chậm

được khắc phục, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Đảng Những khuyếtđiểm, yếu kém đó, nếu không kịp thời đấu tranh, khắc phục sẽ làm giảm sút niềmtin của nhân dân đối với Đảng; làm suy giảm sức chiến đấu và năng lực lãnh đạocủa Đảng; là thách thức đối với uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong củachế độ ta

Bốn là, sự chống phá điên cuồng, quyết liệt của các thế lực thù địch, phản

động bằng Chiến lược “Diễn biến hòa bình” rất tinh vi, thâm độc Âm mưu cơ bản,

lâu dài của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xóa bỏ sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đểthực hiện được âm mưu cơ bản đó, các thế lực thù địch đã áp dụng các biện phápmột cách rất kiên trì, quyết liệt và xảo quyệt, nhằm phủ nhận thành quả của cáchmạng; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhànước ta; bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi; kích động, chia rẽ nội bộ…, làm chođội ngũ cán bộ, đảng viên phân tâm, nghi ngờ, mất niềm tin và từng bước phai nhạt

lý tưởng cách mạng, “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”

Trong bối cảnh và tình hình phức tạp như vậy, nếu Đảng không giữ vững được

bản chất cách mạng, không thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thốngnhất cao về ý chí và hành động; không trong sạch về phẩm chất đạo đức và lối sống;không chặt chẽ về tổ chức; không gắn bó mật thiết với nhân dân và không được nhândân ủng hộ, thì Đảng không thể đứng vững và lãnh đạo đưa đất nước đi lên Vì vậy,

Trang 4

Ban Chấp hành Trung ương khoá XI phải ban hành Nghị quyết: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

2 Nội dung Nghị quyết

(Mục tiêu: Sửa chữa khuyết điểm, năng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới.

Phương châm: + nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật, làm thật và hiệu quả thật; + tự soi tự sửa: từng tổ chức, cá nhân phải tự soi lại mình cả ưu và khuyết, tập trung vào khuyết điểm Để tự soi được phải có trí tuệ, lương tâm; bản lĩnh, dũng cảm, quyết tâm; BH: 1 đảng có gan thừa nhận khuyết điểm, vạch rõ vì đâu có khuyết điểm và tìm cách khắc phục khuyết điểm là đảng chân chính.

Việc tự soi của chúng ta đang có vấn đề.

+ phải làm từ trên xuống

Các hạn chế:

+ công tác xây dựng Đảng còn hạn chế )

- Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách nhất là:

(1) Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo

đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý cáccấp

(2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung

ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhậpquốc tế

(3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền

trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng

Trong 03 vấn đề cấp bách nêu trên, thì vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

- Để giải quyết 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, Nghị quyết Trung ương

đề ra 4 nhóm giải pháp toàn diện, đồng bộ để thực hiện là:

(1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong

gương mẫu của cấp trên;

(2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng;

(3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách;

(4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng

Trang 5

Trong 04 nhóm giải pháp nêu trên, thì nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết.

II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

1 Về tổ chức triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết

Xác định tầm quan trọng đặc biệt của Nghị quyết Trung ương 4, Bộ Chính trị

đã ban hành Chỉ thị 15-CT/TW về thực hiện Nghị quyết; tổ chức Hội nghị cán bộchủ chốt toàn quốc (cuối tháng 2/2012), với quy mô lớn nhất từ trước đến nay (hơn1.300 cán bộ chủ chốt của cả nước dự) để học tập, quán triệt Nghị quyết; thảo luận

dự thảo Kế hoạch của Bộ Chính trị về tổ chức thực hiện Nghị quyết do đồng chíTổng Bí thư trực tiếp giới thiệu và giải đáp Tiếp sau đó, Bộ Chính trị mở 2 Hộinghị thông báo nội dung Nghị quyết và cách tiến hành đối với cán bộ cao cấpnguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng và tương đương đã nghỉ hưu ở 2khu vực; các hội nghị cán bộ chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chínhtrị - xã hội ở Trung ương…

Sau Hội nghị cán bộ toàn quốc, Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư được

biên tập thành tài liệu học tập Nghị quyết; đồng thời biên tập hệ thống tài liệu phục

vụ học tập, quán triệt cho các đối tượng khác từ Trung ương đến cơ sở theo Kếhoạch của Bộ Chính trị, tạo được sự thống nhất cao về nhận thức trong toàn Đảng

về thực hiện Nghị quyết Căn cứ Nghị quyết Trung ương, Chỉ thị, Kế hoạch của BộChính trị, các ban xây dựng Đảng Trung ương đã tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bíthư ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn… nhằm cụ thể hóa, thể chế hóa nộidung Nghị quyết để thực hiện

Để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, ở Trung ương thành lập Bộ phận Thườngtrực gồm đồng chí Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí Ủy viên

Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương là Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trungương, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,Trưởng Ban Dân vận Trung ương và có Tổ Giúp việc Bộ phận Thường trực làmviệc theo chế độ kiêm nhiệm Ở các cấp, bộ phận thường trực gồm các đồng chí Bíthư, phó bí thư thường trực, chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra, trưởng ban tổ chức, trưởngban tuyên giáo, trưởng ban dân vận giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và xử lý kịp thờinhững vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết

Nhìn chung, công tác chỉ đạo triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết được

chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, bài bản và trở thành đợt sinh hoạt chính trịsâu rộng trong toàn Đảng Thông qua đó, Nghị quyết Trung ương 4 đã có sức lan

Trang 6

tỏa mạnh mẽ, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng; được cán bộ, đảng viên,nhân dân tin tưởng vào thực hiện Nghị quyết.

2 Tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đã được Ban Chấp hành Trungương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo chặt chẽ, sâusát, cụ thể với quyết tâm chính trị cao; 3 vấn đề cấp bách và 4 nhóm giải pháp nêutrong Nghị quyết đã được triển khai tích cực, đồng bộ và đạt được một số kết quảquan trọng bước đầu Cụ thể là:

2.1 Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (vấn đề cấp bách thứ nhất).

2.1.1 Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở các cấp:

Nghị quyết Trung ương đề ra 4 nhóm giải pháp để thực hiện, trong đó nhấnmạnh phải thực hiện tốt nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tínhtiền phong gương mẫu của cấp trên Quán triệt tinh thần đó, việc chuẩn bị và tổchức kiểm điểm, tự phê bình và phê bình đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư thựchiện nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện chặt chẽ ở các cấp

Trong quá trình chuẩn bị kiểm điểm, cấp ủy các cấp đã lấy ý kiến góp ý củacác cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và cán bộ chủ chốt của ngành, địa phương, cơquan, đơn vị đã nghỉ hưu bằng hình thức phù hợp; cấp trên rà soát, gợi ý kiểm điểmđối với những tập thể, cá nhân có vấn đề nổi cộm cần kiểm điểm sâu và có báo cáogiải trình; trước khi kiểm điểm phải báo cáo xin ý kiến cấp trên, nơi nào chuẩn bịchưa đạt yêu cầu thì chưa được kiểm điểm

Nội dung kiểm điểm không kiểm điểm toàn diện, chỉ tập trung vào 3 vấn đềcấp bách nêu trong Nghị quyết Trung ương 4, gắn với đánh giá việc thực hiện cácquy chế, quy định của Đảng, Nhà nước và giải quyết những vấn đề nổi cộm, bứcxúc của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; liên hệ làm rõ những hạn chế, khuyếtđiểm, yếu kém đã được chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được sửa chữa, khắc phục

Trình tự kiểm điểm được tiến hành từ trên xuống dưới; tập thể kiểm điểmtrước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp trên dự và chỉ đạo chặt chẽ việc kiểm điểm củacấp dưới, nhất là đối với những nơi có vấn đề nổi cộm được gợi ý kiểmđiểmuatrong quá trình kiểm điểm, vấn đề nào đã rõ thì kết luận ngay, vấn đề nàochưa rõ thì giao cơ quan chức năng thẩm tra, làm rõ trước khi kết luận

Trang 7

Bộ Chính trị xác định 12 biểu hiện chủ yếu của việc chuẩn bị và tổ chức kiểmđiểm không đạt yêu cầu, để cấp trên căn cứ đánh giá kết quả kiểm điểm của cấpdưới; nơi nào kiểm điểm chưa đạt yêu cầu thì phải kiểm điểm bổ sung hoặc kiểmđiểm lại

Sau kiểm điểm, cấp ủy có kết luận bằng văn bản về những ưu, khuyết điểmchính của tập thể, cá nhân; mỗi tập thể, cá nhân đều phải xây dựng kế hoạch sửachữa, khắc phục khuyết điểm đã được kết luận qua tự phê bình và phê bình Kết quảkiểm điểm tập thể và cá nhân phải báo cáo trước hội nghị cấp ủy hoặc hội nghị cán

bộ chủ chốt cùng cấp thảo luận, tham gia ý kiến và phải được cấp ủy cấp trên trựctiếp đánh giá; cấp ủy thông báo kết quả việc tiếp thu ý kiến đối với những tập thể,

cá nhân đã đóng góp ý kiến trước kiểm điểm cho tập thể và cá nhân bằng các hìnhthức phù hợp

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên

kiểm tra, giám sát việc thực hiện (Năm 2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lập 5 đoàn kiểm tra tại 20 cấp ủy địa phương và cơ quan Trung ương; Năm 2013, Bộ Chính trị,

Ban Bí thư lập 18 đoàn kiểm tra tại 31 cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương

Năm 2014, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lập 9 đoàn kiểm tra tại 18 cấp ủy địa phương

và cơ quan Trung ương)

Với sự chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, cụ thể và quyết tâm chính trị cao của BanChấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp,việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 đã trở thànhđợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhândân đặc biệt quan tâm theo dõi, cơ bản đạt yêu cầu đề ra

Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bíthư đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn ưu điểm, khuyết điểm và những hạn chế của tập thể,

cá nhân trên một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng Nhiều vấn đề nổi cộm, bứcxúc hoặc dư luận liên quan đến các đồng chí lãnh đạo của các cơ quan Trung ương

đã được xem xét và kết luận, góp phần đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ, bảo vệ

tổ chức, bảo vệ cán bộ và thông tin lại cho các tập thể, cá nhân đã góp ý kiến, phảnảnh trước kiểm điểm Qua kiểm điểm ở cấp tỉnh và tương đương, từng tập thể và cánhân đã nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn ưu, khuyết điểm của mình; đồng thời, phântích làm rõ nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm và nhận diện rõhơn, sâu sắc hơn những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạođức lối sống của tập thể và cá nhân Bộ Chính trị và một số ban thường vụ tỉnh ủy,thành ủy đã nghiêm túc tự nhận hình thức kỷ luật và nhận khuyết điểm với Trung

Trang 8

ương, với đảng bộ và nhân dân địa phương; đồng thời, xem xét trách nhiệm, xử lýhoặc đề nghị xử lý kỷ luật đối với một số đồng chí có khuyết điểm.

Kết quả kiểm điểm ở các cấp được đánh giá là: Việc kiểm điểm tập thể và cá

nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư được Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu Việc kiểm điểm tập thể và cá nhân của cấp tỉnh và tương đương (130 đơn vị) được Bộ Chính trị đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu, trong đó có 02 tập thể

và một số cá nhân phải kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại Việc kiểm điểm đối

với cấp huyện và cơ sở được Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu, trong đó có một số tập thể, cá nhân phải kiểm điểm bổ sung hoặc

kiểm điểm lại

Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 ở cáccấp đã tăng cường kỷ luật, kỷ cương và công tác quản lý cán bộ, đảng viên trong

từng địa phương, cơ quan, đơn vị Trong 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4

(từ năm 2012 đến 2014), toàn Đảng đã xử lý kỷ luật hơn 54.000 đảng viên và xóatên, cho ra khỏi Đảng hàng nghìn trường hợp khác, trong đó có một số cán bộ, đảngviên phải xử lý bằng pháp luật; đã góp phần cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, ngăn chặn

và đẩy lùi một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trongĐảng và trong xã hội

Hạn chế, khuyết điểm: (1) Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy

đủ, toàn diện, sâu sắc và chưa gương mẫu, tự giác thực hiện; tình trạng nể nang, né

tránh, xuôi chiều, ngại va chạm còn xảy ra khá phổ biến ở các cấp (2) Không ít cán

bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp chưa chỉ rõ đượctình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở

địa phương, cơ quan, đơn vị mình (3) Một số nơi nhận thấy có các biểu hiện tiêu cực

như chạy chức, chạy quyền, chạy tội, cục bộ, lợi ích nhóm…, nhưng chưa làm rõđược thực chất, nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của tình hình; chưa chỉ ra được

địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của các cá nhân (4) Một số cấp ủy, tổ chức đảng, nhất

là người đứng đầu chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt; còn biểuhiện chủ quan, làm lướt, nhất là khi đưa việc kiểm điểm đi vào thường xuyên, gắn vớikiểm điểm đánh giá chất lượng tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cuối năm

2.1.2 Việc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm sau kiểm điểm:

Sau kiểm điểm, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp ủy, tổ chức đảng và

cán bộ, đảng viên đều xây dựng kế hoạch sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểmvới phương châm: Những khuyết điểm nào cần khắc phục và có thể khắc phục đượcngay thì chỉ đạo khắc phục ngay; những khuyết điểm nào phải khắc phục, nhưng

Trang 9

cần có thời gian để chuẩn bị thì xây dựng kế hoạch, xác định thời gian, lộ trình vàbước đi cụ thể để sửa chữa, khắc phục khuyết điểm.

Việc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình ở các cấp

được tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu sau: (1) Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy

chế, quy định, hướng dẫn và các cơ chế, chính sách đã có cho phù hợp với thực tiễn;đồng thời xây dựng, ban hành các quy chế, quy định, hướng dẫn… mới để thực

hiện (2) Tập trung giải quyết, xử lý dứt điểm những vụ việc nổi cộm, bức xúc ở địa

phương, cơ quan, đơn vị như: Thu hồi quyết định giao đất hoặc chuyển đổi chủ đầu

tư đối với các dự án chậm triển khai thực hiện; xử lý những vi phạm trong quản lý,

sử dụng đất đai, khoáng sản và trong quản lý trật tự xây dựng đô thị; giải quyết các

vụ tranh chấp đất đai, khiếu kiện phức tạp đông người và những đơn thư tố cáo,

khiếu nại của cán bộ, đảng viên và nhân dân tồn đọng (3) Rà soát, bổ sung, điều

chỉnh quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đẩy mạnh công tác đàotạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (cả đương chức và

dự nguồn), phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hộiXII của Đảng

Hạn chế, khuyết điểm: (1) Một số cấp ủy, tổ chức đảng chậm đề ra kế hoạch

sửa chữa, khắc phục khuyết điểm hoặc xây dựng kế hoạch còn chung chung, chưa

gắn việc khắc phục khuyết điểm của tập thể với các cá nhân (2) Việc chỉ đạo sửa

chữa, khắc phục khuyết điểm ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu kiên quyết; việc xem

xét, xử lý đối với một số trường hợp vi phạm chưa kịp thời, nghiêm minh (3) Một

số vụ việc nổi cộm, phức tạp, gây bức xúc trong Đảng, trong xã hội giải quyết cònchậm so với yêu cầu

2.1.3 Về lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí:

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, chính quyềncác cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng,lãng phí đạt một số kết quả tích cực bước đầu Cụ thể là:

(1) Ban Chấp hành Trung ương quyết định tái lập lại Ban Nội chính Trung

ương để tham mưu Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác Nội chính,đồng thời là cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chốngtham nhũng

(2) Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng,

chống tham nhũng do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, với thành phần phù

hợp hơn và lựa chọn khâu đột phá là: đẩy mạnh tiến độ, xử lý nghiêm minh các vụ

Trang 10

án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; ban hành Chỉ thị 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc

kê khai tài sản, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị 50-CT/TW về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ ántham nhũng; ban hành Quy định về xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên

vi phạm; về công tác kiểm tra, giám sát và giải quyết tố cáo đối với cán bộ, đảngviên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; v.v

(3) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tăng cường chỉ

đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, phát hiện nhiều vụ việc, vụ ántham nhũng; chuyển nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cho cơ quanchức năng điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh theo pháp luật, được dư luận

đồng tình và đánh giá cao (Năm 2012, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống

tham nhũng lập 7 đoàn kiểm tra ở 11 tỉnh, thành phố và 7 cơ quan Trung ương; bổsung 43 vụ án, 25 vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung

ương theo dõi Năm 2013, lập 4 đoàn kiểm tra, giám sát việc khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử các vụ án tham nhũng lớn ở 8 tỉnh, thành phố Năm 2014, kiểm tra, đôn

đốc công tác phòng chống tham nhũng ở 7 bộ, ngành, cơ quan Trung ương Năm

2015, lập 7 đoàn kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác đấu tranh phòng, chống tham

nhũng tại 4 bộ và 10 tỉnh, thành phố Ngoài ra, các địa phương đã tiến hành gần2.800 cuộc kiểm tra, giám sát và xử lý hơn 600 vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêmtrọng)

(4) Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng và ban hành

nhiều dự án luật quan trọng khác để kiểm soát chặt chẽ vốn, tài sản của Nhà nướcnhằm phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra tham nhũng Đồng thời, ban hành Nghị quyết35/2012 về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ doQuốc hội và hội đồng nhân dân bầu, phê chuẩn;

(5) Ban Cán sự đảng Chính phủ xây dựng Đề án “Tăng cường thực hiện và

kiểm soát việc kê khai tài sản”; Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một

số điều của Luật phòng, chống tham nhũng và minh bạch tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức; Nghị định về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chứckhi để xảy ra tham nhũng…

(6) Các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương đã bổ sung, sửa đổi, ban

hành mới một số quy định, quy chế, cơ chế, chính sách về quản lý tài chính; chitiêu, mua sắm tài sản công; quản lý và sử dụng xe công; thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí; về sử dụng ngân sách nhà nước trong việc đi công tác, học tập, nghiên cứu

Trang 11

ở nước ngoài; quản lý vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; về thực hiện nếp sốngmới trong tổ chức việc cưới, việc tang; v.v.

Hạn chế, khuyết điểm:

(1) Việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu

cầu Nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện các biện pháp phòng ngừa thamnhũng chưa mạnh mẽ, toàn diện, quyết liệt, hiệu quả chưa cao Việc tự phát hiệntham nhũng, lãng phí của địa phương, cơ quan, đơn vị còn rất hạn chế; cá biệt cótrường hợp còn bao che cho đối tượng sai phạm, làm hư hỏng, tha hóa cán bộ; một sốtrường hợp xử lý chưa nghiêm, thiếu tính giáo dục, răn đe

(2) Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn phức tạp, nghiêm trọng và xảy ra

ở nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều loại đối tượng, với nhiều hình thứcmới tinh vi, làm gia tăng chi tiêu công, tăng gánh nợ cho ngân sách; làm cản trở sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước; gây bức xúc trong dư luận, là thách thứcnghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước

(3) Chất lượng công tác điều tra còn hạn chế, tiến độ điều tra một số vụ án

tham nhũng còn chậm (kể cả một số vụ án tham nhũng phức tạp do Ban Chỉ đạotheo dõi, chỉ đạo), phải gia hạn nhiều lần, điều tra bổ sung, điều tra lại, thay đổi tộidanh hoặc đình chỉ điều tra Chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểmsát hoạt động điều tra, xét xử án tham nhũng chưa cao; một số trường hợp đình chỉ

vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự có dấu hiệu tiêu cực Việc thu hồi,

xử lý tài sản tham nhũng còn rất hạn chế, chưa đạt yêu cầu Công tác phối hợp giữaviện kiểm sát và cơ quan điều tra với các cơ quan liên quan trong việc phát hiện,khởi tố, điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng chưa chặt chẽ, dẫn đến một số vụ ánnghiêm trọng, phức tạp bị kéo dài

(4) Việc kê khai tài sản, công khai tài sản thu nhập còn hình thức và không

thực chất Kết quả kiểm soát, xác minh việc kê khai và công khai còn hạn chế, chưa

phát hiện và xử lý được nhiều trường hợp vi phạm trong việc kê khai tài sản (năm

2012 có 113.436 người kê khai tài sản chỉ phát hiện 3 người kê khai không trung thực; năm 2013, trong 958.178 người kê khai tài sản, chỉ phát hiện có 5 người kê khai không trung thực).

2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (vấn đề cấp bách thứ hai)

2.2.1 Về công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp

Trang 12

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, công tác cán bộ, nhất là ở cấp Trungương đã có nhiều chuyển biến mới tích cực, nổi bật là:

(1) Đã triển khai xây dựng và thực hiện có hiệu quả Đề án: “Quy hoạch Ban

Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo” Đây là lần

đầu tiên Đảng ta quy hoạch cán bộ cấp chiến lược theo một quy trình chặt chẽ, bàibản, khoa học, dân chủ, tạo được sự thống nhất cao Đã quy hoạch được 290 đồng chínguồn Ban chấp hành Trung ương và 28 đồng chí nguồn Bộ Chính trị, Ban Bí thư

nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo

(2) Hoàn thành việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch ban chấp hành,

ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và lãnh đạocác ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương giai đoạn 2014-2016 và giai đoạn 2016 -

2021, phục vụ cho công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ

2015 - 2020 và Đại hội XII của Đảng

(3) Trên cơ sở quy hoạch, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức 2 lớp bồi

dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho 154 đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương khóa XI; 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp cho 511 đồng chí (cấp tỉnh

có 231 đồng chí, các cơ quan Trung ương có 280 đồng chí; có 45 đồng chí nữ, 31 cán bộ người dân tộc thiểu số, 93 đồng chí trong lực lượng vũ trang); tổ chức các

lớp các bồi dưỡng nghiệp vụ theo chức danh cho hơn 170 đồng chí là bí thư cấp ủy

cấp huyện Các cấp ủy địa phương cũng tổ chức hàng trăm lớp bồi dưỡng, cập nhậtkiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức và dự nguồn trong quyhoạch Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất làcấp Trung ương được đẩy mạnh hơn và tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, dânchủ, bài bản, khoa học, tạo được sự thống nhất cao giữa các cơ quan có liên quan ởTrung ương và địa phương; giữa nơi đưa cán bộ đi và nơi tiếp nhận cán bộ đến.Thông qua luân chuyển, đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán

bộ trong thực tiễn, giúp cho cán bộ phát triển toàn diện và trưởng thành

Qua đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng cho thấy: Hầu hết các

đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII

và ban chấp hành, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trungương nhiệm kỳ 2015 - 2020 đều nằm trong quy hoạch và được đào tạo, bồi dưỡngqua các lớp dự nguồn do Trung ương và các cấp ủy địa phương tổ chức, đã khắcphục đáng kể tình trạng hẫng hụt về cán bộ cấp chiến lược (100% số học viên các

Trang 13

lớp dự nguồn cao cấp công tác ở các địa phương được bầu vào ban thường vụ, phó

bí thư tỉnh ủy và 45/61 đồng chí đắc cử bí thư tỉnh ủy, thành ủy)

(4) Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều

nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn, kết luận,… về công tác xây dựng

Đảng để thực hiện như: Quy chế bầu cử trong Đảng; Quy định về việc chất vấn và

trả lời chất vấn trong Đảng; Quy định về lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnhđạo, quản lý; Nghị quyết về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức; Nghị quyết về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ; Quyđịnh về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản

lý chủ chốt các cấp; v.v

Hạn chế, khuyết điểm: Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung một số quy định, quy

chế về công tác tổ chức, cán bộ còn chậm so với yêu cầu Chất lượng công tác quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý còn bất cập, chưa kết hợp chặtchẽ, đồng bộ giữa nguồn cán bộ được quy hoạch của các bộ, ngành Trung ương vớicác địa phương Công tác đánh giá cán bộ còn nhiều hạn chế, yếu kém Một sốtrường hợp đánh giá cán bộ chưa đúng thực chất, còn hình thức, cảm tính và nểnang, né tránh trách nhiệm; chưa làm rõ được tình trạng chạy chức, chạy quyền…

2.2.2 Thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy

và cán bộ lãnh trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

(1) Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định

về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạotrong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xãhội Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tínnhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặcphê chuẩn;

(2) Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh;

tại kỳ họp thứ 8 đã lấy phiếu tín nhiệm đối với 50 chức danh do Quốc hội bầu và

phê chuẩn Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được cử tri cả nước đánh giá cao, khẳngđịnh chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta Qua lấy phiếu tín nhiệm lần thứnhất, Bộ Chính trị đã chỉ đạo rút kinh nghiệm và bổ sung, sửa đổi một số nội dungtrong Quy định 165-QĐ/TW bằng Quy định số 262-QĐ/TW cho phù hợp, bảo đảmdân chủ và phản ánh khách quan, chính xác hơn

(3) Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung chỉ đạo việc lấy phiếu tín nhiệm đối

với các đồng chí là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp

Ngày đăng: 17/09/2016, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w