Để hoàn thành tôt nhiệm vụ của mình ngoài kiến thức đã được trang bị qua các trường lớp người công nhân sửa chữa cần phải nắm và hiểu biết về cấu tạo và nguyên lý làm việc của các thiết
Trang 1Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà máy nhiệt điện 1
TÀI LIỆU SỬA CHỮA TUABIN HƠI NƯỚC
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
Trang 2Chương II - Vật liệu để sửa chữa tuốcbin: 7
Chương III - Các thiết bị nâng chuyển 13
Chương IV - Sửa chữa xi lanh 18
các rãnh lắp vành chèn đầu và cuối
Chương VI - Sửa chữa bánh động: 34
Chương VII - Sửa chữa cánh động: 38
kim loại chế tạo cánh động
Trang 3Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 3
Chương VIII - Sửa chữa bánh tĩnh và vành đỡ bánh tĩnh 45
Chương X - Sửa chữa các gối đỡ (Pa-li-ê): 57
Chương XI - Sửa chữa bộ nối trục: 67
11.1 Kim loại chế tạo nối trục
67
Trang 415.6 Vệ sinh các bình làm mát dầu 130
Chương XVI - Sửa chữa các thiết bị ngưng tụ 132
kiểm tra trạng thái các bộ phận của tuốc bin khi đại tu
một tuốc bin trung áp công suất trung bình (Tuốc bin K-12-35 T)
Trang 5Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 5
ở các nhà máy nhiệt điện, công việc sửa chữa tuốc bin và các thiết bị
phụ, tuỳ theo số lượng tổ máy, công suất đặt của Nhà máy mà có thể có tổ
chức về nhân lực khác nhau Kiểu tổ chức phổ biến hiện nay đối với các nhà
máy nhiệt điện ở nước ta là việc sửa chữa tuốc bin do một tổ (Khoảng 20 công
nhân) đảm nhiệm Tổ sửa chữa này trực thuộc phân xưởng tuốc bin Một số
Nhà máy toàn bộ công việc sửa chữa cơ nhiệt được tập trung vào 1 phân
xưởng sửa chữa Tuy vậy ở phân xưởng sửa chữa tổ sửa chữa tuốc bin vẫn
được thành lập riêng Vậy tổ là cơ cấu tổ chức cơ bản của việc sửa chữa tuốc
bin
a/ Tổ sửa chữa : Một tổ chức có khoảng trên dưới 20 công nhân
- Tổ trưởng: Là 1 thợ bậc cao, có kinh nghiệm về nghề nghiệp có khả
năng tổ chức, chỉ huy mọi công việc mà tổ đó đảm nhiệm
Hàng ngày Tổ trưởng căn cứ vào công việc được giao để chọn những
công nhân ở trong tổ có khả năng hoàn thành công việc đó để giao việc Tổ
trưởng có trách nhiệm phải giải quyết những yêu cầu của các nhóm sửa chữa
nếu khả năng của tổ trưởng giải quyết được, nếu không có khả năng phải báo
cáo quản đốc
- Tổ phó: Về trình độ sấp sỉ tổ trưởng thay tổ trưởng khi tổ trưởng nghỉ
việc
b/ Nhóm sửa chữa:
Các công việc sửa chữa dù nhỏ hay lớn thường được phân cho 1 nhóm
công nhân giải quyết Nhóm này là nhóm việc làm chứ không phải là nhóm
vĩnh viễn
Chỉ huy nhóm tiến hành công việc là 1 công nhân bậc cao am hiểu, có
khả năng tổ chức chỉ huy nhóm hoàn thành công việc được giao
Trang 6nghiệp ( qua các lớp đào tạo tại chức, trường sơ trung cấp kỹ thuật) Để hoàn
thành tôt nhiệm vụ của mình ngoài kiến thức đã được trang bị qua các trường
lớp người công nhân sửa chữa cần phải nắm và hiểu biết về cấu tạo và nguyên
lý làm việc của các thiết bị các sơ đồ mà tổ đó đảm nhiệm sửa chữa (tất nhiên
trình độ hiểu biết phụ thuộc vào bậc thợ)
Người công nhân sửa chữa có trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ do
tổ trưởng hoặc nhóm trưởng giao cho
Ngưòi công nhân sửa chữa phải luôn luôn học tập để tự nâng cao năng
lực chuyên môn của mình và ít nhất cũng đạt được yêu cầu về bậc thợ mà
mình đang đứng Hàng năm những công nhân sửa chữa đều phải kiểm tra trình
độ nghề 1 lần
1.2 Công tác kế hoạch trong sửa chữa:
Khi tiến hành sửa chữa thiết bị cần phải có 2 bước:
1) Bản kế hoạch khối lượng công việc: Là bảng thống kê các công việc
cần làm trong đó có dự trù khối lượng và nhân công thực hiện
2) Bản kế hoạch về nguyên vật liệu: Là bảng thống kê:
- Tên các nguyên vật liệu cần dùng: có số lượng
- Tên số lượng các chi tiết máy cần gia công
- Tên số lượng các máy móc phương tiện phục vụ cho việc thi công
3) Bản tiến độ thi công: Căn cứ vào nội dung, khối lượng công việc đã
vạch sẵn:
- Trình tự các công việc tiến hành (trước, sau, song song, xen kẽ)
- Định số nhóm tiến hành: số người tham gia
- Định ngày kết thúc
Bản tiến độ thi công này có 2 loại:
- Loại tiến độ ngang
- Loại tiến độ mạng
Hai loại tiến độ này sẽ được nói đến ở phần sau
b/ Bước tiến hành:
Trang 7Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 7
Người phục trách công việc sủa chữa dựa vào các bản kế hoạch và tiến
độ (nói ở phần trên) để tổ chức việc tiến hành công việc như:
1) Chia việc và chia nhóm
2) Tiến hành lĩnh các nguyên vật liệu kịp thời
3) Căn cứ vào tiến độ thi công để đôn đốc điều phối công việc hàng
ngày Vẽ tiến trình thực tế của công việc
1.3 Dụng cụ đồ nghề:
a/ Dụng cụ đồ nghề: Mỗi tổ sửa chữa phải có đầy đủ các loại dụng cụ
đồ nghề đã tiến hành mọi công việc mà tổ sửa chữa đó phải đảm nhận Số
lượng các loại dụng cụ đồ nghề được trang bị phụ thuộc vào số lượng và kiểu
(cỡ) tổ này
Các dụng cụ đồ nghề gồm:
1) Dụng cụ thông dụng: như Búa, đục, các loại clê, mỏ lết, dao kéo, cái
lấy dấu, dũa
2) Dụng cụ chuyên dùng: Các bộ gá tháo các bánh tĩnh, các bộ nâng
rôto, xi lanh, các bộ tháo các bán nối trục, các loại clê đặc biệt,
3) Dụng cụ đo lường: Như Nivô, Palme, thước cặp, Dơ đơ can, in đi ca
tơ côm pa đong
4) Các phương tiện: Kích, Pa lăng, máy mài,
5) Các loại dụng cụ cắt gọt: Cưa, đục, mũi cạo, bàn ren ta rô
b/ Nguyên tắc bảo quản, sử dụng dụng cụ:
1) Bản quản:
- Các dụng cụ đồ nghề sau khi làm việc xong phải lau chùi sạch sẽ để
vào đúng nơi quy định
- Các dụng cụ đo lường khi sử dụng và để tại nơi bảo quản phải có biện
pháp chống va chạm (để trong hộp), phải giữ gìn thật sạch sẽ và chống han gỉ
(Bôi đầu mỡ)
- Các nhóm hoặc cá nhân đi làm cần phải có túi, hoặc hộp đựng dụng
cụ, túi hoặc hộp cần đủ ngăn để riêng các dụng cụ đồ nghề khi cần thiết
2) Sử dụng:
- Phải sử dụng dụng cụ đúng việc
- Phải nắm được các quy định về việc sử dụng dụng cụ đồ nghề ví dụ
như cách cho chiều dài tay đòn khi cần nối tay đòn của clê
- Không được sử dụng dụng cụ đã hư hỏng
- Phải nắm được phạm vi, các quy định về việc sử dụng các thiết bị nâng
chuyển
1.4 Nơi làm việc:
a/ Nơi tiến hành công việc sửa chữa: Chỗ tiến hành công việc nhất là
việc sửa chữa các thiết bị lớn cần phải phân chia từng khu vực cho hợp lý và
gọn gàng như:
- Quy định chỗ để các bộ phận các chi tiết máy khi tháo ra
Trang 8b/ Tại chỗ của tổ: Việc bố trí, sắp xếp tại chỗ ở của tổ phải hợp lý gọn
gàng ngăn nắp
- Phải có đầy đủ tủ dựng dụng cụ đồ nghề, các tủ này cần để các loại
dụng cụ cùng loại
Phải có đầy đủ các giá treo, xếp các dụng cụ đồ nghề không cần cho
vào tủ
- Các máy khoan, máy mài, bàn thợ nguội, chỗ nghỉ chờ đợi phải hợp
lý
1.5 Phiếu công tác:
a/ ý nghĩa: Bất kỳ một thiết bị dù lớn hay nhỏ trong nhà máy điện ít
nhiều có liên quan đến các thiết bị khác, các hệ thống Vì vậy để đảm bảo an
toàn cho người và thiết bị trước khi đưa thiết bị đó ra sửa chữa cần phải làm
''Phiếu công tác'' để tiến hành các biện pháp an toàn cần thiết
b/ Nội dung: ''Phiếu công tác'' gồm những nội dung chủ yếu sau:
1) Họ tên người chỉ huy công việc và những người tham gia
2) Tên thiết bị cần sửa chữa
3) Nơi làm việc
4) Thời gian cho phép bắt đầu và kết thúc công việc
5) Các biện pháp an toàn cần phải thực hiện
6) Các biện pháp an toàn đã thực hiện, người thực hiện ký tên (Trưởng
kíp)
7) Người cho phép tiến hành công việc ký tên (Trưởng ca)
8) Phần gia hạn: Nếu cần tiến hành công việc ngoài thời gian cho phép
cần xin gia hạn và được trưởng ca cho phép mới được tiến hành tiếp tục công
việc
9) Phân xưởng chủ quản có trách nhiệm cấp phiếu công tác
10) Phần khoá phiếu: Khi kết thúc công việc, người chỉ huy công việc
cần phải đến báo cho trưởng ca biết để tiếp nhận thiêt bị
c/ Cách sử dụng:
- Người chỉ huy công việc sửa chữa (nhóm trưởng) phải nhận '' Phiếu
công tác'' trước khi bắt tay vào việc
- Phân xưởng chủ quản cấp phiếu
- Trưởng kíp vận hành thiết bị thực hiện các biện pháp an toàn Trước
khi tiến hành thực hiện biện pháp an toàn trưởng kíp phải trình trưởng ca nếu
trưởng ca cho phép mới được thực hiện
- Nếu kéo dài thời gian sửa chữa phải xin gia hạn và được trưởng ca cho
phép
Trang 9Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 9
- Kết thúc công việc phải tiến hành thử nghiệm và bàn giao thiết bị cho
kíp vận hành và trưởng kíp vận hành ghi nhận tình trạng thiết bị sau khi sửa
chữa
♣♣♣♣♣♣♣♣♣
Chương II
Vật liệu để sửa chữa tuốc bin
2.1 Những kim loại thường dùng trong việc sửa chữa tuốc bin:
a/ Kim loại đen:
1) Gang: là loại hợp kim sắt với cácbon, lượng cácbon chứa từ 1,7 đến
5% nhờ có tính đục tốt nên gang được sử dụng rộng rãi để chế tạo các bộ
phận, các chi tiết máy của tuốcbin làm việc ở điều kiện áp suất và nhiệt độ
Gang được dùng để chế tạo các bộ phận như: xilanh, bánh tĩnh, vành đỡ
bánh tĩnh, các hộp chèn trục, thân các van hạ áp, thân các paliê, bơm các ống
lót trục,
Nếu sử dụng gang trong môi trường có áp suất và nhiệt độ quá trị số cho
phép dưới tác dụng của nhiệt độ cao, gang sẽ bị thay đổi về kết cấu và làm cho
thể tích của gang tăng lên đáng kể gây ra vênh, nứt Hiện tượng này còn
gọi gang bị "nở'' Sau khi gang nguội bị ròn dễ vỡ, sức bền giảm đi quá mức
Các bộ phận như: Bánh tĩnh, xi lanh bằng gang sau 1 thời gian dài làm
việc với nhiệt độ cao đều bị ''nở''
* Gang đúc có nhiều loại:
- Gang xám ký hiệu là C4 (Liên Xô) kèm theo 2 chỉ số: chỉ số thứ nhất
chỉ giới hạn bền kéo, chỉ số thứ 2 chỉ giới hạn uốn Ví dụ: C412-28 là gang
gang này có cấu trúc hình phiến (grafit hình phiến)
- Gang chất lượng cao: Gang này được chế tạo bằng cách pha các chất
như manhê, fe-rô, si-lic, hợp kim canxi silicô, v.v trước lúc đổ vào khuôn
đúc Các chất này làm thay đổi cấu trúc bên trong của gang làm cho độ bền và
độ dẻo tăng lên Cấu trúc bên trong của gang này là cấu trúc tinh thể hình cầu
Một vài trường hợp cho phép có thể thay thế thép bằng gang đúc hiện đại hoá,
ví dụ: gang C421-40 để đúc các loại bánh tĩnh, gang C428-48 chế tạo xi lanh
2) Thép: Thép là hợp kim giữa sắt và cácbon, lượng cácbon khoảng 0,05
- 1,7% Các chi tiết máy cơ bản của tuốc bin được chế tạo bằng các loại thép
khác nhau nhưng phần lớn các loại thép này có hàm lượng các bon không vượt
quá 0,4%
Trang 10như mănggan, silic có hàm lượng khoảng 0,3-0,9% Các chất phụ gia này sẽ
làm giảm ảnh hưởng xấu của lưu huỳnh và nâng cao độ bền của thép Silic làm
cho thép đồng nhất và nâng cao tính đàn hồi của thép
3) Thép hợp kim: Để tạo cho thép có các tính chất đặc biệt người ta cho
vào thép các chất phụ gia như Niken, Crôm, Vonfram, Vanađi, Môlipđen,
Titan, Bor, Niôni, Đồng, Nhôm v.v Thép này là thép hợp kim hay còn gọi là
thép đặc biệt
ở Liên Xô các thép hợp kim được ký hiệu bằng những chữ cái có kèm
theo các chỉ số Các chữ cái ký hiệu các chất phụ gia như sau:
Các con số ở phía trái các chữ cái (Đứng đầu) chỉ hàm lượng cacbon
(bằng 0%), các con số đứng phía phải từng chữ cái chỉ hàm lượng của chất
phụ gia ấy (bằng%), chữ A ở cuối hàng chữ ký hiệu biểu thị thép có chất lượng
cao nghĩa là hàm lượng lưu huỳnh và phốt pho nhiều Chữ Λ đứng sau cùng
các hàng chữ ký hiệu là thép đúc
Ví dụ: Thép 12XH3Λ là thép hợp kim Crôm Niken chất lượng cao có
hàm lượng Cácbon 0.12%, Crôm : 1%, Niken: 3%
Ngoài ra còn có nhóm thép riêng biệt có tính chất vật lý đặc biệt người
ta cũng dùng những chữ cái để ký hiệu như: Thép có kèm theo chữ E là thép
có từ tính, я : Chịu axít, * : chống gỉ, Ш : Chống mòn (làm viên bi) P : có khả
năng cắt gọt, ЭИ:Thép lò điện
Các loại thép hợp kim thường dùng để chế tạo các loại chi tiết máy như:
* Thép NiKen: Có tính đúc hoàn hảo, có tình hàn, tính chống gỉ bền,
Thép này dùng để chế tạo các chi tiết máy có chất lượng
* Thép Crôm : Thép có độ bền cao như 30X, 35X, 40X và 45X, Để chế
tạo các cánh tuốc bin người ta dùng thép Crôm hàm lượng Các bon nhỏ và
nhiều hàm lượng Crôm đó là các thép không gỉ 1X13 và 2X13 và 3X13 hoặc
như Môlípđen, Vanađi và Vonfram, các thép này có độ bền cao và chịu nhiệt
độ cao tới 5800C
* Thép Crôm-Niken: Loại thép này không gỉ, chịu nhiệt chất phụ gia
Crôm làm cho thép rắn và Niken làm cho thép dẻo, ví dụ: Thép 1X18H9
Crôm: 18%, Niken 9% có tính chống gỉ cao rất bền vững khi làm việc với
nhiệt độ cao
* Thép Crôm-Vanađi: Độ bền cao, rắn và dẻo dùng để chế tạo các lò xo
Trang 11Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 11
* Thép Crôm- Môlipđen: Dùng để chế tạo các chi tiết máy Tuốc bin làm
hơn dùng thép Crôm-Môlipđen-Vanađi
dùng để chế tạo các bộ phận chịu nhiệt và chịu lực như : Thân các van stop,
* Ngoài ra còn có các loại thép như Niken-Môlípđen,
Crôm-Niken-Vonfram, 30XHBA, 40XHBA, 25X2H4BA, 34XHIM, 34XH3M Thép
làm việc được với áp suất và nhiệt độ cao, tải trọng nặng nề có cơ lý tính cao
* Các loại thép không gỉ khác có chất phụ gia như Titan, Nhôm, Niôbi
(XH70BMюT, XH80TBю, v.v ) loại thép này có độ bền cao dùng để chế tạo
đĩa cánh và rôto tuốc bin
b/ Kim loại mầu: Kim loại mầu gồm có: Đồng, Thiếc, Chì, Kẽm, Nhôm,
Niken, v.v
1) Đồng thanh: Là hợp kim của đồng và thiếc chứa khoảng 3-14% Tất
cả hợp kim đồng thanh đều rắn và bền hơn hợp kim đồng thau (vàng) chống
mòn tốt Trong thực tế công dụng hơn là hợp kim thiếc là cơ bản hàm lượng
không vượt quá 10% còn lại là các chất phụ gia: Kẽm, Chì, Phốt pho, v.v
Loại hợp kim này chống gỉ tốt dùng để chế tạo các chi tiết máy của van làm
đồng thanh bằng chữ cái Liên Xô Бp: Đồng thanh, O: Thiếc, ų: Kẽm, C: Chì,
hiệu là các chữ số thứ tự chỉ hàm lượng của các chất phụ gia tương ứng tính
theo % ví dụ: bpOUC H5-7-5-1 Đồng thanh gồm: Thiếc: 5%, Kẽm 7%, Chì
5% và Niken 1%
2) Đồng thau (Đồng vàng) là hợp kim giữa đồng và kẽm ngoài ra còn
một số chất phụ gia khác như Chì, Thiếc, Sắt, Đồng chứa trong hợp kim xác
Đồng thanh thường dùng để chế tạo các ống bình ngưng các ống của
bình làm mát đầu làm việc với nước ngọt Với nước mặn dùng ống hợp kim
đồng Niken (Đồng bạch) MH-70-30 70%đồng, 30% là Niken
ở trạng thái lạnh đồng thau có cơ tính cao và gia công đồng thau bằng
cách trôn thì không nên làm như vậy, có tăng độ cứng nhưng không dẻo
3) Ba-bít: Còn gọi là antifrit song có hệ số ma sát nhỏ là hợp kim nhẹ
gồm có thiếc, antimon, đồng, chì pha thêm các chất phụ gia với tỷ lệ khác
nhau Dùng để đúc bề mặt làm việc của các Cut-xi-nê, các tấm chặn của paliê
chặn Loại tốt nhất là babit Б-83 83% là thiếc Các loại babit rẻ tiền thành
phần cơ bản là chỉ như Б-16, 16% thiếc, còn có loại babít không có thiếc
Trong tất cả các loại babit antimon chứa khoảng 11-17% chất này làm tăng độ
cứng và chịu mòn, đồng vào khoảng 1.5-6% chất phụ gia làm cho hợp kim
Trang 122.2 Vật liệu làm doăng (Đệm):
a/ doăng: doăng là bộ phận để làm kín giữa 2 mặt nối (mặt bích) với nhau ví dụ: Hai mặt bích nối giữa ống với ống, giữa ống với van,
thân van với nắp van v.v
b/ Các loại doăng: Tuỳ theo một chất thông số (về áp suất và nhiệt độ)
mà người ta dùng các loại doăng khác nhau
1) doăng cao su: Có những loại sau:
- Cao su tấm: Dùng cho các ống nước tuần hoàn, các ống nước làm mát,
- Cao su có lớp vải bạt: dùng cho các ống nước ngưng tụ, chịu được áp
suất 6Kg/cm2 và nhiệt độ là 600C
- Cao su có lưới thép : Dùng cho các nắp bình ngưng, chịu nhiệt lực áp
2) Doăng Paranhít: Gồm các loại:
- Paranhít nhãn hiệu yB: dùng cho hơi mới và nước cấp, chịu được áp
nóng và bôi phấn chì
- Paranhít nhãn hiệu y: Dùng cho các ống trích hơi, chịu được áp suất là
3) Doăng bằng đồng đỏ: Để làm kín tốt mặt doăng trên các hàng răng
Doăng này thường dùng cho các loại van xả
Doăng
φ
Hình
5-6
Trang 13Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 13
4) Doăng thép: Cấu tạo cũng tương tự doăng bằng đồng, có các loại sau:
- Doăng bằng thép 1X13 có thể làm việc với áp suất 320 Kg/cm2 và
nhiệt độ là 2750C, dùng cho ống nước cấp
5) Doăng dùng cho đầu gồm:
độ 1200C
800C
Các loại Doăng dùng cho dầu trước khi dùng cần bôi nhựa Pakêlít
- Nhựa Pakêlít: Bôi vào các mặt bích để làm doăng, Trước khi bôi lau
sạch mặt bích và bôi 1 lớp mỏng
6) Mactic: là hỗn hợp keo sệt để bôi vào các mặt bích để làm kín như
mặt bích của xi lanh các hộp hơi, có nhiều loại Máctíc thành phần chủ yếu
gồm các chất sau: Bột oxít chỉ mầu đỏ (minium), Bột oxit chỉ mầu vàng, bột
gang, bột phấn viết bằng, phấn chì dạng vẩy và dầu ôliu
Các chất thành phần được pha theo tỷ lệ quy định và dầu ôliu và quấy
đều Lượng dầu ôliu sao cho hỗn hợp tạo thành 1 chất keo quánh sệt
Trước khi dùng dầu ôliu được đem đun khoảng 3-4 giờ cho bay hết hơi
nước
Ví dụ Các loại máctíc sau:
- Loại: 40% bột oxit chỉ đỏ + 40% phần chì + 20% bột phấn viết có thể
- Loại: phấn chì 30% trộn với 70% dầu ôliu loại này dung cho xi lanh
trung cao áp đều tốt
2.3 Các loại tết:
a/ Tết: Tết dùng để chèn kín không cho các chất lỏng như nước, hơi khí
từ trong thân bơm, thân van theo trục hoặc ty chảy ra ngoài trời
Tết được bện từ các loại sợi như sợi bông gai, amiang, thành ''dây''
có tiết diện vuông, có nhiều loại tết, Tuỳ theo chất lỏng và thông số của nó mà
người ta dùng các loại tết khác nhau
b/ Các loại tết:
phòng trong khoảng 3-4 giờ
tết amiang tẩm phấn chì
Trang 14tẩm phấn chì và phấn chì Mỗi lớp tết amian lại xen kẽ một lớp phấn chì được
nén lại có chiều dày bằng lớp tết
dùng ''hỗn hợp'' sợi bông amian và phấn chì, trong đó phần chì chiếm 60-70%
''Hỗn hợp'' này nhồi vào ổ đựng tết lớp trên và dưới cùng đệm vòng tết amian
2.4 Các vật liệu khác:
a/ Bột rà:
Muốn cho van đóng đựơc kín ''mặt kín'' giữa Clapê và vành làm kín phải
tiếp xúc với nhau tết Muốn vậy giữa clappê và vành làm kín phải rà với nhau
bằng bột rà Nghĩa là bôi bột rà lên mặt kín dùng clappê xoay miết nhẹ đến
mài bóng 2 mặt cùng 1 lúc.Bột rà được làm bằng những bột của các loại đá
cứng như kim cương, các
ôxit cứng như oxit nhôm điện phân, cácbua silíc.Bột rà van dùng thông thường là bột''gôi'' (Γ0И) của Liên xô có 3 loại: Thô, vừa và mịn, Loại bột này mầu xanh xám được đóng thành hộp
b/ Bột kiểm tra: Để kiểm tra sự tiếp xúc (ăn)giữa các mặt với nhau, hoặc để kiểm tra mặt phẳng trên mặt phẳng chuẩn (bàn máp) người ta dùng bột kiểm tra
đó thường dùng là bột oxit nhôm
Ty van Bạc nén Tết chèn Thân van
Clappê
Mặt kín
Vành làm kín
Trang 15Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 15
đỏ (bột minium) Bột này là bột khô trước khi dùng cần trộn với dầu nhờn thành hỗn hợp sền sệt
♣♣♣♣♣♣♣♣♣
Chương III
Các thiết bị nâng chuyển
Mở đầu: Trong công việc sửa chữa các thiết bị cần phải tiến hành nâng
chuyển các thiết bị hoặc một bộ phận nào đó của thiết bị Hiểu biết cặn kẽ và
chu đáo công việc nâng chuyển là điều hết sức cần thiết Vì nếu không hiểu
biết hoặc sơ xuất có thể xảy ra những tai nạn cho người và thiết bị
3.1 Dây buộc để nâng chuyển:
Các loại dây buộc thường dùng trong việc nâng chuyển là dây thừng,
dây xích và dây cáp thép
a/ Dây thừng: Dây thừng thường được dùng trong việc nâng chuyển các
vật nhẹ có trọng lượng dưới 200 kg Dây thừng được bện bằng nhiều nhánh
bện lại Có loại 3 nhánh, loại 4 nhánh, Dây thừng loại tốt nhất là loại dây gai
trắng
Khi nâng những vật nặng cần phải tính toán mức nâng của dây
Tải trọng cho phép đối với dây thừng có thể được tính bằng công thức:
S: Tải trọng tác dụng (Kg) a: Hệ số phụ thuộc vào số nhánh bện với dây bện 3 nhánh thì
a = 0.66 với dây 4 nhánh thì a = 0.75
d: Đường kính của dây (cm)
Với dây cũ Kz = 50 kg/cm2 b/ Dây xích: Dây xích thường chỉ dùng trong các palăng và các bộ nâng
xilanh tuốc bin đặc biệt
z
K
d a S
4
2
π
=
Trang 16Khi xích bị mòn 20-25% tiết diện của nó thì cần phải loại bỏ
Tải trọng cho phép của xích được tính bằng công thức:
c/ Cáp thép: Cáp thép được dùng rất rộng rãi trong việc nâng chuyển
Sởvới dây thừng và xích, cáp thép bền chịu uốn, an toàn và dùng được lâu dài
Cáp thép được chế tạo bằng các dây thép bện thành nhánh rồi lại bện vào nhau
đường kính của dây đến 2mm
Cáp thép có ưu điểm dễ uốn, đàn hồi chịu tải trong động khá tốt Cáp có
thể chống gỉ để giảm sự ăn mòn bằng cách bôi mỡ bảo quản
Khi dùng cáp sao cho cáp không bị gập lại nhiều (đường kính gập cần
lớn) và không bị quá tải thì thời gian sử dụng của cáp sẽ tăng
Khi nâng những vật nặng mà không tính toán sức chịu đựng của cáp hay
lơ là trong việc kiểm tra có thể dẫn tới sự cố lớn
Dưới đây là bảng tính sẵn tải trọng cho phép giới hạn của các cáp thép
4 2
2
π
=
Trang 17Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 17
Palăng là một trong những thiết bị nâng
a/ Cấu tạo: Vít vô tận A ăn khớp với bánh răng B, bánh răng D gắn cùng
trên trục quay với B Trên trục quay của A có gắn Puli C Xích (1) ''treo'' mỏ
(2) và ''ôm'' vào D Toàn bộ các bộ phận kể trên được gắn trên 2 mã (3) và mã
(3) gắn vớ móc (4) để treo
b/ Nguyên lý làm việc: Tải trọng cần nâng được treo vào móc (2) puli E
xích C được quay bằng xích Khi C quay thì vít vô tận A quay làm cho bánh
răng B quay theo D cung trục với B cũng quay làm chuyển động xích ôm vào
nó (1) (lên hoặc xuống)
Hệ thống bánh răng này còn có bộ phận ''các hãm'' có tác dụng khi
ngừng nâng tải trọng lên thì vật vẫn đứng yên nghĩa là toàn bộ hệ bánh răng
A = P*L Muốn nâng 1 vật lên một
độ cao nào đó ta cần một công A:
Theo công thức trên ta thấy rằng muốn giảm lực nâng P thì ta cần phải tăng L, Cấu tạo các bánh răng trong palăng là để thoả mãn
điều đó
Thực vậy đoạn đường của dây xích ta kéo để quay C lớn hơn đoạn
đường L' chuyển động của xích 1 rất nhiều
QL' = P*L Q: Tải trọng cần nâng.Từ trên ta suy ra L >> L' do đó P << Q
Như vậy dùng palăng ta chỉ cần một lực nhỏ nhưng nâng được một tải
Trang 18a/ Palăng điện: Động có điện truyền động cho hệ bánh răng, hệ bánh
răng quay tang cuộn cáp Móc được nối với cáp, cáp được tang cuốn, cuốn và
nhả
Palăng điện có bộ bánh xe lăn (Chuyển động bằng điện) di chuyển trên
cầu hình chữ I Cầu chữ I có thể lại được di chuyển trên 2 đường ray đỡ 2 đầu
b/ Cần trục:
Hệ thống truyền động để nâng tải trọng của cần trục:
(1) Động cơ; (2) Bộ giảm tốc; (3) Tang cuốn cáp;
(4) Dây cáp; (5) Móc; (6) Phanh hãm tự động
Thông thường cần trục có 2 hệ thống nâng tải trọng Một hệ thống nâng
tải trọng lớn (tốc độ nâng nhỏ) Một hệ thống nâng tải trọng nhỏ
Hai hệ thống này được đặt trên xe tời, xe tời chạy dọc trên 2 cầu, 2 cầu
chạy trên 2 trụ đỡ có đặt 2 đường ray
Sự chuyển động của xe tời và cẩu đều được thực hiện bằng hệ thống
truyền động điện qua bộ giảm tốc Các hệ thống này đều có phanh hãm tự
động
Như vậy cần trục có thể hoạt động trên toàn bộ diện tích mà nó chuyền
động tới
3.4 Công tác an toàn trong việc nâng chuyển:
Khi tiến hành công việc nâng chuyển cần phải hết sức chú ý đến công
tác an toàn cụ thể cần phải thực hiện những quy định sau đây:
a/ Xà treo: Khi nâng vật bằng Palăng cần phải treo palăng lên các dầm
xà Nếu các dầm xà không có quy định tải trọng thì cần phải tính toán sức
chịu lực
b/ Dây treo buộc:
3
4 5 2
Trang 19Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 19
1) Các dây treo như dây thừng, xích cáp phải dùng đúng với tải trọng
tính toán
2) Cần tiến hành kiểm tra trạng thái của các dây treo, chỗ buộc Không
được dùng các dây treo đã đứt các dây trong nhánh Với cáp thép số dây thép
đứt 10% trên chiều dài 1 mét thì tải trọng phải giảm đi 20-25% (tải trọng tính
toán) Đối với dây thừng cần chú ý đệm những cạnh sắc của thiết bị ngang có
thể đứt dây
c/ Thiết bị nâng: Trước khi tiến hành công việc nâng chuyển cần kiểm
tra tình trạng của thiết bị nâng như: phanh (cầu trục), cóc hãm (palăng), xích,
cáp
Tuyệt đối không được dùng thiết bị khi phanh và cóc hãm hư hỏng hoặc
làm việc không đảm bảo
Đối với cần trục khi tiến hành nâng các vật lớn như xilanh, rôto của
tuốcbin thì phải tiến hành thử tải trọng của cần trục bằng cách nâng tải trọng
thử vượt quá tải trọng cho phép 25% Nâng cao khoảng 100mm để yên trong
10'
d/ Tín hiệu khi nâng:
1) Không được tiến hành nâng chuyển (với cần trục) khi người lái
không nhìn thấy vật nâng mà không có người đánh tín hiệu
2) Trong nhóm người làm nhiệm vụ nâng chuyển thì chỉ có 1 người làm
nhiệm vụ đánh tín hiệu
3) Đánh tín hiệu không rõ ràng thì người lái thiết bị nâng không được
tiếp tục điều khiển máy mà phải hỏi lại
4) Đánh tín hiệu phải đúng quy định
Sửa chữa xilanh
4.1 Đặc điểm về cấu tạo của xilanh
Trang 20Trong mọi điều kiện vận hành vị trí của xilanh phải đảm bảo cho các
chi tiết máy lắp trên nó như các cụm ống phun, các bộ chèn các bánh tĩnh
đảm bảo được vị trí đứng của chúng Việc bắt giữ xi lanh và các paliê, giữa
xilanh và bệ móng phải đảm bảo cho xi lanh dãn nở nhiệt tự do Theo thông số
hơi ngưòi ta có thể chia xilanh thành các loại: Cao áp, trung áp và hạ áp (với
tuốcbin cao áp công suất lớn)
Kim loại để chế tạo xilanh: căn cứ vào nhiệt độ hơi mà người ta chế tạo
xilanh bằng các kim loại khác nhau: Với nhiệt độ hơi dưới 2500C người ta
4.2 Mở nắp xilanh:
a/ Công việc chuẩn bị:
Tuốc bin đang làm việc sau khi ngừng xilanh còn nóng trong 1 thời gian
mở được xilanh Với phần xilanh hạ áp (của tuốcbin công suất lớn) có thể mở
ngay sau khi dừng máy Đối với các phần xilanh cao áp có thể mở trong
khoảng thời gian sau khi ngừng máy khoảng 24-35 giờ
Công việc chuẩn bị gồm:
- Tháo tất cả các dụng cụ đo lường bắt vào thân máy và các paliê
- Tháo vỏ bọc ngoài và những chỗ bảo ôn cần tháo để có thể tiến hành
mở được các gudông bắt mặt nối của xilanh
- Tháo các đường ống có liên quan đến nắp trên, tháo các van hơi (van
điều chỉnh) nối vào nắp trên
b/ Công việc mở nắp
- Tiến hành tháo các gudông bắt mặt trước tháo vài giờ nếu êcu có lỗ tra
dầu thì nhỏ dầu hoả hoặc madút cho dễ mở Đối với gudông có lỗ để gia nhiệt
thì tiến hành cho gia nhiệt bằng dụng cụ đặc biệt nều không có thì có thể gia
nhiệt bằng cách đưa những cây thép có đường kính xấp xỉ lỗ để gia nhiệt Cây
thép này được nung đỏ từ bếp lò hoặc mỏ hàn axêtilen thời gian gia nhiệt
gudông khoảng 20-30phút Các cây thép dùng để gia nhiệt khi đã bị sám lại
thì thay ngay cây khác
- Tháo chốt định vị việc tháo có thể dùng cần trục nhổ nếu nhổ không
được thì hàn thêm đoạn ren vào công lên
c/ Nhấc nắp ra:
- Trước khi nhấc nắp cần phải dùng bulông tăng để tách mặt bích và
nâng nắp lên 1 khoảng 2-3mm (nâng đều) Lắp 4 cột hướng
Trang 21Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 21
- Mắc bộ cáp chuyên dùng để nâng nắp xilanh dùng móc lớn của cần
trục nâng nhích nắp lên và chỉnh cáp cho thăng bằng (khe hở giữa 2 mặt trên
và dưới đồng đều) Khi cáp đã cân nắp thăng bằng từ từ đưa nắp lên
d/ Lật nắp xilanh: Đối với các nửa trên của xilanh mà bánh tĩnh được
lắp trực tiếp vào nó thì cần phải tiến hành lật nắp để tháo bánh tĩnh hoặc sửa
chữa
- Trước khi lật nắp phải kiểm tra tất cả các bộ phận chi tiết máy lắp vào
nắp có thể bị long và rơi ra được không
- Bật nắp có nhiều phương pháp dưới đây giới thiệu một phương pháp vẽ
ở hình 4-1: dùng 2 móc của cần trục để tiến hành lật Móc lớn nâng phần đầu,
dùng 2 vòng cáp (1) trong vào 2 vấu (2) ở hai bên, vòng cáp (1) có thể xoay tự
do quanh (2) dùng 1 sợi cáp dài luồn qua 2 lỗ của thân sau 2 đầu sợi cáp được
nối bằng bộ nối cáp (3) Lần lượt nâng 2 móc đưa nắp đến độ cao thích hợp
(lớn hơn chiều dài của nắp 1 chút) (H.4-1a) Hạ móc nhỏ (H.4-1b) cho tới khi
nắp được treo trên 1 móc lớn rồi tháo dây treo ở móc nhỏ (H.4-1c) kéo dây
cáp treo sang phía kia và móc vào móc nhỏ (H.4-1d) Nâng dần móc nhỏ và có
thể hạ dần móc lớn rồi hạ nắp xuống chỗ đặt (H.4-1e)
4
(b) (a)
(e) (d)
(c)
Trang 22có số liệu so sánh với lần đại tu trước đó mà xác định sự thay đổi vị trí của
xilanh theo mặt phẳng ngang Số liệu đầu tiên được đo khi tiến hành lắp
tuốcbin thường khi lắp người ta đánh dấu chỗ đặt nivô để đo (H.4-2)
Hình 4-2
Đo độ thăng bằng của xilanh bằng ''Nivô'' khi đo ở mỗi chỗ đo cần quay
đầu nivô đo 2 lần rồi lấy kết quả trung bình (tránh sai số)
4.4 Sửa chữa mặt bích của xilanh:
Mặt bích của xilanh sau 1 thời gian vận hành có thể bị vênh hở làm cho
hơi trong thân xì ra ngoài (ở phần cao áp) và không khí bị lọt vào trong
a/ Nguyên nhân vênh hở của xilanh:
Đại đa số các trường hợp gây vênh hở mặt bích của xilanh là do biến
dạng nhiệt do khi dừng tuốc bin hơi ngưng lại thành nước ở nửa dưới của
xilanh (ống xả tắc) Nước này bị bay hơi (thu nhiệt) làm nửa dưới của xilanh
bị nguội nhanh Trong khi đó nắp trên nhiệt độ vẫn cao
b/ Công việc sửa chữa:
1) Vệ sinh mặt bích: cần tiến hành vệ sinh bằng cách dùng mũi cạo, cạo
sạch lớp mác tre và cán bơm Nếu có gờ nước thì dũa cho phẳng sau đó đánh
bằng giấy nháp và lau sạch bằng giẻ Khi vệ sinh tránh tạo thành các vết sước
mới
2) Kiểm tra xác định độ vênh hở: Trước khi tiến hành kiểm tra cần tháo
rôto, các bánh tĩnh, các vành chèn ra khỏi xilanh Đậy nắp trên đo khe hở giữa
2 mặt nối trên và dưới Khi không xiết bulông khe hở trong khoảng 0.8-1.0
mm, khi xiết 1bulông bắt 2 mặt bích mà khe nhỏ hơn 0.05mm thì xilanh được
coi như kín không vênh hở
3) Những trường hợp sửa chữa cụ thể:
* Xì hở cục bộ: Với xilanh bằng thép có thể hàn đắp toàn bộ hoặc hàn 2, 3 đường sau gia công cho phẳng
Chỗ đặt nivô
Đường hàn
Vùng xilanh bị xì hở
Trang 23Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 23
* Mặt bích bị vênh hở đáng kể:
phải tiến hành dũa hoặc mài bằng máy mài sau đó cạo rà
H:4-3
* Để làm việc này cần tháo nhổ toàn bộ gudông cấy trên mặt bích
Dùng thước thẳng dài hơn đường chéo của xilanh để xác định chỗ lồi lõm để
mài, dũa
Hình 4-4 Bôi bột đỏ trên mặt bích dùng thước thẳng để rà
Trường hợp chỉ vênh mặt xilanh dưới thì dung mặt bích của nắp để rà;
Mặt dưới bôi bột đỏ đậy nửa xilanh lên trên, đậy nửa trên trượt dịch một
khoảng 20-30mm cho mặt dưới bị mất mầu tức là chỗ cao cần phải mài dũa
Việc cạo rà mặt bích xilanh cao áp cần được tiến hành đến mức toàn bộ
bề mặt ''ăn'' tốt
Sau khi kết thúc công việc mài dũa và rà mặt bích cần chú ý đến chiều
dầy bị mài đi Nếu chiều dầy này lớn cần phải xét lại việc lắp đặt các bộ phận
như các bộ chèn, các bánh tĩnh, các vành đỡ các bánh tĩnh vào xilanh đó
* Uốn nửa xilanh bị vênh: Có thể xử lý nửa nắp xilanh dưới bị vênh
bằng cách uốn ''bằng nhiệt'' Đậy nắp xiết lại và đốt nóng chỗ vênh Việc đốt
nóng được tiến hành bằng đèn khí hoặc mỏ hàn axêtilen đến nhiệt độ
300-3300C
* Với xilanh hạ áp cấu tạo bằng phương pháp hàn Loại xilanh này kích thước lớn thành mỏng mặt bích có thể biến dạng đàn hồi nên mặt bích bị hở
có thể khắc phục băng cách xiết các bulông bắt nó hoặc có thể đặt trên lớp máctíc các sợi dây amian tạo thành hình chữ chi có chiều dầy 0.5-2.0mm
để làm kín Nếu trên mặt bích hạ áp có các ''hố sâu'' có thể chộn mactic với bột sắt đắp vào đó
4) Đối với các gudông bắt mặt bích: Êcu ''mũ'' của các gudông để bắt
mặt bích xilanh mặt tỳ lên mặt bích cần được rà cẩn thận theo bột đỏ, để khi
xiết mặt của êcu tỳ đều trên xilanh (không có khe hở) nếu vênh làm cho
Trang 24Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 24
a/ Công việc chung: Phần lớn các trường hợp xilanh bị nứt được ''giải
trừ'' bằng phương pháp hàn Những công việc chung cần phải làm khi tiến
hành hàn gồm:
1) Cần phải có quy trình công nghệ và việc hàn cụ thể như chọn que
hàn, phương pháp hàn v.v
2) Cần xem xét kiểm tra vết nứt (chiều dài, rộng, sâu của vết nứt)
Kiểm tra có thể tiến hành như sau:
- Thăm dò bằng máy đo khuyết tật của kim loại
- Dũa và đánh bóng chỗ nứt
khoảng 5-6 phút hoặc dung dịch ba phần muối axit với một phần axit Nitric
- Dùng kính lúp soi
- Bôi dầu hoả trộn với một ít phấn chì vào bề mặt cần kiểm tra Dung
dịch này sẽ thấm theo chiều dài vết nứt Sau khoảng 8-10 phút dùng giẻ lau
khô bề mặt kim loại và rắc lên 1 lớp bột phấn trắng pha với cồn, sau khi cồn
bốc hơi trên lớp bột phấn sẽ xuất hiện vết nhuộm của phấn chì và dầu hoả thể
hiện hình dáng và chiều dài của vết nứt
b/ Những biện pháp ''xử lý'' viết nứt bằng phương pháp hàn:
1) Ngăn chặn sự phát triển của vết nứt: Trước khi tiến hành hàn cần khoan lỗ để chặn vết nứt (đối với vết nứt xuyên thành xilanh)
2) Việc chuẩn bị mối hàn:
Dọc theo vết nứt cần phải vạt, kích thước và góc vạt cho trong hình vẽ (H.4-6)
3) Việc hàn: Cần tiến hành hàn thứ tự từng lớp như đã đánh số chỉ đến thứ tự lớp hàn trong hình
vẽ (H.4-6)
- Để tránh gây ứng suất dư trong mối hàn cần dùng que hàn có đường
kính nhỏ và hàn các đoạn ngắn, những đoạn hàn tiếp chỉ được tiến hành sau
- Để tăng cường độ bền cho mối hàn khi tiến hành hàn lạnh trên phần kim loại của xilanh cần cấy các gudông Xem hình (H.4-7) Các gudông này
bằng thép cácbon có đường kính bằng 1/3-1/4 chiều dầy của thành xilanh, cấy sâu 1.1-1.5 đường kính và nhô cao 0.5-
70-80
1 2 3
4
3 11
12 5 7 9 12
6 8 10
Hình 4-6.
Trang 25Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 25
1 đường kính Tổng diện tích gudông cấy cần nhỏ hơn 25% tổng diện tích mối hàn
- Việc nhiệt luyện: Việc hàn xilanh chế tạo băng thép cácbon đúc có hàm lượng cácbon đến 0.3% thì không phải gia nhiệt
Đối với các loại thép đúc bằng hợp kim như:(12MX, 15MX, 18MX,
8 Rà giữa miếng vá vào chỗ lắp cho 2 mặt tiếp xúc tốt
- Miếng vá bắt với chỗ vá bằng những bulông
- Giữa miếng vá và chỗ vá được làm kín bằng mactic và sợi amian
- Êcu bắt bulông có rông đen bằng đồng đỏ có chiều dầy là 1mm
2) Vá nẹp: Để ''xử lý'' các lỗ thủng chân kim có đường kính 20-25mm,
người ta dùng cách vá nẹp (H.4-9)
4.6 Đậy nắp xilanh:
a/ Công việc kiểm tra trước khi đậy nắp
1) Tiến hành đo khe hở giữa phần tĩnh và phần động Các vị trí số khe ở
này phải nằm trong giới hạn cho phép
2) Kiểm tra để phát hiện các tạp vật còn lưu lại trong 2 nửa xilanh dưới
và trên
Hình 4-8
Hình 4-9 Bulông làm kín
Trang 261) Nâng nắp trên lên bằng giá nâng đặc biệt của nó bằng mỏ cần trục
lớn.Nâng nắp đến độ cao 1-1.5m Kiểm tra độ sạch của mặt nối ngang của
xilanh
2) Chỉnh độ thăng bằng của nắp
3) Lắp các cột hướng vào nửa xilanh phía dưới và dùng dầu bôi cho
trơn
5) Nâng nắp xilanh trên và từ từ đậy vào nửa xilanh dưới Khi 2 mặt nối
trên và dưới cách nhau khoảng 8-10 mm thì dừng lại để bôi máctic Để đảm
bảo an toàn kê giữa 2 mặt nối những tấm gờ
Với tuốcbin trung áp thì toàn bộ mặt nối dưới được bôi một lớp mactic
khoảng 0.3-0.5mm đồng đều Đối với tuốcbin cao áp thì phần hạ áp và trung
áp được bôi mactic còn phần cao áp được bôi phấn chì
Sau khi hạ nắp xong tiến hành lắp các bulông định vị, sau đó tiến hành
xiết các bulông bặt bích theo sơ đồ chỉ dẫn của mỗi loại tuốcbin
4.7 Xiết các bulông bắt xilanh:
a/ Xiết nguội: Đối với các tuôcbin trung áp hoặc các bulông bắt các
phần xilanh hạ áp của tuốcbin cao áp được tiến hành xiết nguội nghĩa là khi
tiến hành xiết các bulông không phải gia nhiệt
Việc xiết nguội có nhược điểm là không đồng đều, gây ra quá tải một số
bulông Việc quá tải có thể gẫy bulông Để khắc phục nhược điểm này ở tuốc
bin cao áp đối với các bulông bắt các mặt bích khu cao và trung áp người ta
tiến hành xiết nóng
b/ Xiết nóng:
1) Nguyên tắc: Khi xiết làm nóng gudông, loại gudông này có lỗ xuyên
tâm để đưa dụng cụ đốt nóng Kim loại nóng thì dãn nở dài ra Khi nguội
gudông co lại tạo ra ứng suất kéo 2 mặt nối lại đảm bảo đọ kín giữa 2 mặt nối
2) Cách tiến hành xiết:
* Tiến hành xiết toàn bộ bulông với một lực đồng đều (theo kinh
nghiệm) cho các bulông phần hạ áp
* Đánh dấu (bằng phấn) điểm mốc M trên xilanh và cung K cần xiết
vào ở trạng thái nóng Cung này phụ thuộc vào đường kính của gudông và
chiều dài tự do L của nó (xem hình vẽ H.4-10) và (H.4-11)
L
Trang 27Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 27
Dưới đây là ''Bảng cho trị số cung xiết nóng K'' của một vài tuốc bin của
* Cách đơn giản nhất là dùng những cây thép tròn có đường kính nhỏ
hơn đường kính lỗ xuyên tâm của gudông khoảng 2-3mm, đốt nóng đỏ bằng
bếp lò rèn hoặc bằng mỏ hàn hơi liên tục đút vào lỗ xuyên tâm của gudông
Thời gian đốt nóng khoảng 15-20phút
Hình 4-11.
Hình 4-11.
Trang 28hở giữa trục và lỗ cho đồng đều, không để cho trục đốt chạm vào kim loại gây
ra ngắn mạch làm hỏng trục kim cương
- Bộ đốt nóng bằng khí nóng: Không khí nén được dẫn qua các vòng
ống xoắn (3) đặt trong buồng sấy cả bọc cách điện (1) các ống xoắn được đốt
nóng bằng mỏ hàn hơi (2) Không khí nóng được đưa tới ống 4 có khoan lỗ để
toả không khí nóng ra 2 phía thành lỗ tâm của gudông Không khí để sấy
♣♣♣♣♣♣♣♣♣
Chương V: Sửa chữa rôto
5.1 Đặc điểm về cấu tạo của rôto:
a/ Đặc điểm: Rô to của tuốc bin là một bộ phận quan trọng của tuốc
bin
Rô to làm việc với vòng quay lớn nên các chi tiết máy gắn đặt trên nó
chịu lực ly tâm lớn như các cánh động, vành đai, dây xuyên giữ cánh động
Rô to là bộ phận truyền lực cho máy phát, nó chịu lực xoắn (mômen
xoắn) lớn
Nó làm việc lâu dài với nhiệt độ cao, nhiệt độ phân bố không đồng đều
theo chiều dài nên cần được tính toán để đảm bảo sự dãn nở nhiệt
Khe hở giữa rôto với phần tĩnh nhỏ (nhất là phần cao áp) nên cần phải
đảm bảo khe hở này đúng quy định
Rôto có nhiều loại như đã nói ở phần ''thiết bị tuốcbin hơi''
b/ Kim loại để chế tạo rôto:
1
Trang 29Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 29
Tuỳ thuộc vào thông số môi trường làm việc của nó rôto (chủ yếu là
nhiệt độ) rô to được chế tạo bằng các loại thép khác nhau
Trục của nó được chế tạo bằng thép cácbon có chất lượng cao hay thép
5.2 Đưa rôto ra khỏi xilanh:
a/ Công việc chuẩn bị: Trước khi tiến hành nâng rô to cần phải theo các
bộ phận cản giữ rô to lại như: Các cụm bánh tĩnh trên và vành đỡ, các nửa bộ
chèn phía trên, các nửa cutxinê phía trên, các bulông bắt nối trục
b/ Điều chỉnh giá nâng rô to: Đưa rô to ra khỏi xilanh bằng bộ ''giá
nâng” chuyên dùng cho việc nâng chuyển rôto
Trước khi nâng cần tiến hành đo độ ''Nivô'' của cổ trục trước hoặc sau
Việc nâng rô to lên cần tiến hành bằng móc lớn Thận trọng nâng rôto lên đến
mức hai cổ trục không tỳ trên 2 cutxinê trước và sau Dùng Nivô đo ''Độ Nivô''
của cổ trục trước và căn cứ vào số đo đó để chỉnh bộ phận điều chỉnh của ''giá
nâng A'' (H.5-1)
Khi rô to đã ''thăng bằng'' từ từ đánh tín hiệu nâng rôto lên, trong khi
nâng rôto lên phải quan sát và nghe ngóng kỹ càng nếu có hiện tượng và, kẹt
phải ngừng việc nâng để tìm và giải trừ nguyên nhân
Việc nâng rôto lên thường được tiến hành bằng móc lớn của cần trục
Trang 30nếu trục lớn)
Đặt đồng hồ đo (inđicatơ) như
hình vẽ (H.5-2) sao cho mũi đo của đồng hồ thẳng góc với tiếp tuyến bất kỳ của cổ trục.Quay rôto và ghi các chỉ số của đồng
hồ đo tương ứng với các điểm chia Đã có kết quả chính xác cần tiến hành đo 2,3 lần trên
đo trên 2 điểm đối diện qua
đường kính của mặt đo Chia mặt
đo thành 8 phần bằng nhau theo vòng tròn Quay rôto và ghi các chỉ số của các đồng hồ và ghi vào bảng dưới đây
* ý nghĩa của việc dùng 2 đồng
hồ đo:
- Nếu khi quay, rôto không bị di dịch theo chiều trục thì độ vênh
được tính bằng A1 - A5 = B1 - B5 = K (ở đường kính 1-5)
- Thực tế khi quay, rôto bị di dịch theo hướng trục Giả thiết khi quay,
rôto di dịch làm cho mặt đo dịch lại:
Trang 31Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà máy nhiệt điện 31
( ) 5 1
K N
K N
K
=
− +
+
2
) (
) (
Trang 323) Xác định độ cong của trục:
Trang 33Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 33
Muốn xác định dạng cong của một trục ta cần đo độ ''ngoáy'' tại nhiều
điểm trên trục căn cứ vào các trị số độ “ngoáy” ta lập đồ thị dạng cong của
trục
Nếu trục bị cong thì trị số độ ngoáy lớn nhất của các điểm đo trên trục
được nằm trên cùng một điểm chia nào đó ( hoặc có cung nào đó)
b/ Sửa chữa cổ trục:
Trong quá trình làm việc
cổ trục tuốcbin có thể bị hư hỏng như bị sước do dầu bôi trơn có tạp chất cơ khí, bị sước lớn, tại thành rãnh lớn, mòn không đều vì cutxinê bị chảy mất dầu bôi trơn những hư hỏng trên, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà tiến hành các biện pháp sửa chữa sau:
1) Đánh bóng: Nếu cổ trục
bị sước mà độ tròn vẫn đảm bảo (không bị méo) thì tiến hành
Trang 34Dùng 1 sợi dây thừng có đường kính khoảng 10mm cuốn 3-4 vòng quanh tấm
nỉ rồi kéo 2 đầu dây lui tới
Chú ý: - Đánh bóng khoảng 20-30 phút cần mở giấy ráp để cho thêm
dầu bôi trơn
- Không nên dùng bột rà để đánh cổ trục vì nếu cổ trục có vết sước
những hạt bột sẽ rơi vào vết sước làm cho nó bị ''khoét'' sâu thêm
Sau khi kết thúc việc đánh bóng bằng giấy nháp dùng tấm nỉ tẩm dầu
tuốcbin để đánh bóng
2) Tiện hoặc mài cổ trục: Khi cổ trục bị hư hỏng nặng (méo, sước lớn
thì cần phải tiến hành tiện hoặc mài cổ trục)
+ Công việc tiến hành tại máy:Bàn dao tiện (2) được bắt trên giá đỡ (1)
có mặt nghiêng để sao cho mũi dao cắt gọt (3) thẳng góc với tiếp tuyến của cổ
trục tại tiếp điểm
Rô to quay để tiện cổ trục được quay bằng thiết bị quay trục.(nếu thiết
bị quay bằng động cơ điện qua bộ giảm tốc) và có thể tăng số vòng quay bằng
cách thay động cơ có tôc độ cao hơn Ngoài ra có thể quay rôto bằng động cơ
điện qua bộ giảm tốc Việc bôi trơn các ổ trục khi tiện được thực hiện bằng hệ
thống cung cấp phụ (thùng chứa)
Để đạt độ bóng yêu cầu sau khi tiến hành đánh bóng băng giấy nháp
+ Công việc tiến hành trên máy tiện:
Nếu rôto nhỏ mà có máy tiện phù hợp thì công việc có thể thực hiện trên máy tiện
+ Công việc mài cổ trục
được tiến hành bằng cách ''bắt'' máy mài trên bàn dao tiện Tốc
độ của máy mài khoảng 3000v/p
đá có đường kính khoảng 75-150 mm
Khi tiến hành mài cần phác hoạ dạng ''méo'' của cổ trục tương ứng với
những múi chia trên cổ trục để so sánh với việc ''ăn'' đá vào cổ trục có phù hợp
không Bước tiến và độ ''ăn'' của đá cần chọn cho thích hợp và cổ trục cứ quay
tròn 1 vòng thì lại chỉnh tiến 1 bước
+ Chú ý: Việc tiện cũng như mài cổ trục trước khi tiến hành cần được
chỉnh bàn dao sao cho song song với đường tim của cổ trục và việc bắt giữ bàn
giao và máy mài phải chắc chắn
5.4 Đưa rôto vào xilanh:
1
2
3
Hình 5-6
Trang 35Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 35
a/ Chỉnh ''thăng bằng'': Dùng giá nâng rôto mắc vào rôto rồi dùng móc
lớn của cẩu trục để nâng rôto khỏi giá đỡ khoảng 4-5mm, đặt nivô trên cổ trục
phía trước để xác định vị trí nằm ngang của rôto rồi hạ rôto xuống giá đỡ để
chỉnh giá sao cho trị số của ''nivô'' sấp xỉ trị số ''nivô'' của cổ trục phía trước
khi nó nằm trên xilanh
b/ Đưa rôto vào xilanh: Khi rôto ''thăng bằng'' tiến hành chuyển rôto đến
xilanh Chỉnh cho rôto tương ứng với xilanh rồi từ từ hạ rôto Khi hạ rôto cần
bố trí người bám rôto để chỉnh , lựa cho rôto hạ xuống xilanh
5.5 Định tâm của rôto trong xilanh theo các rãnh lắp vành chèn đầu
và cuối:
a/ Mục đích: Để định vị trí của rôto trong xilanh người ta căn cứ vào các
rãnh lắp của các bộ chèn đầu và cuối của tuốcbin để chỉnh định
b/ Công việc chỉnh định: Căn cứ vào vị trí của trục rôto với các rãnh để
lắp các bộ chèn trước và cuối của tuốc bin và trị số độ dốc (trị số nivô) của 2
cổ trục đầu và cuối của rôto để chỉnh định vị trí của các cutxinê trước và sau
sao cho vị trí của rôto thoả mãn các điều kiện quy định về độ dốc và vị trí
tương đối của nó với rãnh lắp các bộ chèn
Việc chỉnh định theo 2 hướng:
1) Hướng ngang: Phải chỉnh định sao cho tim của trục cách đều rãnh lắp
của các bộ chèn theo hướng ngang
4
3
2 1
b c
a
Hình 5-8: 1) Vòng đo, 2)
Chốt đo, 3) Rãnh lắp bộ chèn
Trang 36(Nếu nhà chế tạo không cho tiêu chuẩn này)
+ Theo độ dốc cổ trục: vị trí của rôto cần được căn chỉnh sao cho phù hợp với độ dốc của các cổ trục khi lắp máy (hoặc nhà chế tạo quy định)
Thường thì độ dốc này phù hợp với công thức:
Thực tế 2 điều kiện trên không thể thoả mãn một cách mĩ mãn vì nó phụ
thuộc vào nhiều điều kiện khác, nên cần phải có sự ''dung hoà'' giữa 2 điều
kiện này
c/ Biện pháp tiến hành căn chỉnh:
Khi căn tâm theo 2 vành chèn ta phải tiến hành chuyển dịch rôto Đối
với cútxinê có đỡ ta thực hiện bằng cách thay đổi chiều dầy của các lá căn
đệm trong các vú
1) Căn chỉnh theo hướng đứng:
Khi cần nâng cutxinê lên hoặc hạ xuống một trị số là a thì cần phải:
- Thêm vào hoặc bơt đi ổ vú A các lá đệm có chiều dầy là a
2) Căn chỉnh theo hướng ngang:
Khi cần chuyển cutxinê B sang C hoặc ngược lại một đại lượng là b thì:
-Vú A không thay đổi
Thực tế khi căn chỉnh cần tính toán việc căn chỉnh kết hợp cả 2 hướng
cùng 1lúc
3) chú ý: Để cho cutxinê được lắp chặt trên rãnh lắp của nó khi kết thúc
công việc căn chỉnh người ta rút là căn 0.05mm (đối với cutxinê có đường
l f
74max = δ 1 + δ 2
Trang 37Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 37
kính máng đỡ < 200mm) và 0.10mm (đối với cutxinê có đường kính máng đỡ
>300mm) ở vú đỡ giữa của cutxinê
♣♣♣♣♣♣♣♣♣
Chương VI
Sửa chữa bánh động
6.1 Điều kiện làm việc của bánh động:
Bánh động với các cánh cấy trên nó, phải làm việc với tốc độ vòng lớn
nên bánh động chịu những ứng suất lớn Những ứng suất này gây ra do:
1) Lực ly tâm của trọng lượng bản thân bánh động các cánh trồng trên
nó
2) Lực tác dụng trên vành bánh động tạo ra do áp lực hơi tác động trên
cánh động
3) làm việc với vùng nhiệt độ cao (ứng suất nhiệt)
Bánh động được lắp trên trục với nhiều kiểu khác nhau Việc lắp này rất
quan trọng, nếu không đảm bảo bị lỏng có thể gây rung trầm trọng hơn có thể
gây ra sự cố Các bánh động được lắp trên trục với độ găng Độ găng này phụ
thuộc vào số vòng quay của tuốc bin Đối với tuốc bin có vòng quay là 3000
vòng/phút thường độ găng chia thành 3 cấp
có khiếm khuyết hoặc bị hỏng, cần tháo bánh ra để nắn trục hay
để thay cánh động
Việc tháo bánh động (đĩa)
ra khỏi trục trình tự như sau:
1) Đặt rôto nằm trên giá đỡ, tháo các chi tiết máy nằm trên phía đầu
trục cần phải rút đĩa ra phía đó
2) Lắp bộ '' Cảo'' đĩa (như hình vẽ H.6-1)
3) Đốt nóng đồng đều bằng 2 mỏ hàn hơi nhiệt độ cần thiết phải đốt
nóng đĩa tính theo công thức:
Hình 6-1
Trang 38t0 : Là nhiệt độ trong chỗ làm việc
H: Độ găng lớn nhất (mm)
D: Đường kính lỗ của đĩa (mm)
c : Khe hở hướng kính giữa lỗ của đĩa
khi lắp vào trục để đảm bảo cho đĩa trượt tự do trên trục lúc lắp ở trạng thái
nóng lấy bằng 0.15-0.20 mm
phải đốt nóng đến nhiệt độ:
4) Khi đĩa đã được đốt nóng tới nhiệt độ tính toán thì tiến hành xiết đều
các bulông của các thanh giằng để kéo đĩa ra Hoặc dùng kích để kích đĩa ra
5) Khi tháo hoặc lắp đĩa cần đảm bảo điều kiện cho đĩa được nguội đều
Để tránh trục bị nóng có thể dùng vòi nước tưới trên trục quấn giẻ
6) Công việc tháo đĩa là công việc không phức tạp nhưng yêu cầu việc
gia nhiệt phải đồng đều, phải lường và tránh mọi điều kiện dẫn đến cong trục
vênh đĩa
6.3 Lắp đĩa vào trục:
- Nếu tháo đĩa ra để thay cánh thì trước khi lắp vào trục đĩa cần được
cân bằng tĩnh cẩn thận để khử trừ những yếu tố gây mất cân bằng
- Nếu tháo đĩa ra để phục vụ cho công việc sửa chữa khác thì trước khi
lắp vào trục cần kiểm tra và vệ sinh sạch chỗ lắp đĩa vào trục, ca vét rãnh lắp
ca vét, lỗ của đĩa lắp vào trục Nếu thay ca vét mới thì cần phải rà cẩn thận
khe hở phía trên của cavét với đĩa khoảng 0.2-0.4mm
Khe hở bên cạnh khoảng 0.02- 0.05mm Chiều dài của ca vét cần ngắn
hơn chiều của rãnh lắp trên đĩa không nhỏ quá 0.5mm
- Trước khi lắp đĩa vào trục trên mặt lắp cần phải vệ sinh sạch sẽ bằng
dầu hoả, đánh nhẵn những vết sước, xoa mỡ thuỷ ngân hoặc phấn chì vào bề
mặt lắp
b/ Công việc lắp đĩa vào trục:
Lắp đĩa vào trục có thể tiến hành ở vị trí trục nằm ngang hoặc đứng
1) Trục nằm ngang: Trục được đặt cho thăng bằng nivô Dùng cần trục
treo đĩa cứng và tiến hành gia nhiệt Khi đĩa đã đạt tới nhiệt độ yêu cầu lắp đĩa
* 400
15 0
* 2 3 0
= +
ư
Trang 39Tài liệu sửa chữa Tuabin hơi nước –nhà mỏy nhiệt điện 39
vào trục trong trường hợp cần thiết dùng búa chì đánh đồng đều cho tới khi đĩa
nằm đúng vào chỗ lắp
2) Trục đứng: Việc lắp đĩa ở vị trí trục đứng có nhiều thuận lợi và đạt
kết quả hoàn hảo trong việc lật rôto đứng và ngược lại cần tiến hành thận trọng
cần có sự giám sát của người chỉ huy sửa chữa và trực tiếp chỉ đạo của người
thợ có kinh nghiệm H.6-2 minh hoan một cách lật rôto
H.6-2: Lật rôto: (1) móc cần trục; (2) palăng;
(3) cái khuyên bắt vào đầu trục (có ren); (4) khung đỡ; (5) Bu lông bắt giữ
Đĩa được đặt và bắt chặt vào giá, dùng mỏ cần trục nâng hạ để lắp và
trục Nếu đĩa lắp vào trục qua ống lót thì ống lót được lắp trước, ca vét cũng
được lắp vào trước nó là cái định hướng cho đĩa lắp vào trục
Đĩa được đốt nóng từ vành vào ''moay
ơ'' đĩa, đến nhiệt độ tính toán thì lắp vào trục Nếu đĩa không tự trượt vào trục thì
gõ đều bằng búa chì để đẩy đĩa vào chỗ lắp Khi đĩa bị vướng mắc gõ không vào thì nên rút đĩa ra tìm nguyên nhân và giải trừ những nguyên nhân đó
Cần nhớ rằng khi đốt nóng ''moay ơ'' của đĩa cũng bị nở dài Khi lắp đĩa vào cần gõ hoặc ép chặt đĩa đến gờ tỳ của
nó cho tới khi đĩa nguội
b/ Công việc kiểm tra sau khi lắp:
Sau khi đĩa để nguội hoàn toàn thì tiến hành kiểm tra độ vênh của đĩa khe hở giữa ''moay ơ'' của đĩa với gờ chắn hoặc giữa moay ơ của 2 đĩa với nhau
3 2
Trang 40thuộc vào đường kính của đĩa Vành đĩa có đường kính đến 1200mm độ đảo
cho phép là 0.15-0.20mm Khi đường kính 1200-1600mm độ đảo cho phép
0.20-0.30mm Khi đường kính trên 1600mm thì độ đảo cho phép là 0.5mm
Khi hở giữa các moay ơ của các đĩa, khe hở giữa êcu hãm đĩa và đĩa cho
phép trong khoảng 0.10-0.30mm Hiệu giữa 2 khe hở đối diện qua đường kính
giữa các moay ơ cho phép trong khoảng 0.10-0.15mm (Độ không song song
của các moay ơ)
Với đĩa lắp trực tiếp vào trục (không có ống lót) khe hở giữa các đĩa
theo chiều trục và cách khoảng 0.2-0.3mm để giãn nở khi làm việc
6.4 Sửa chữa đĩa:
a/ Vệ sinh đĩa: Khi tiến hành đại tu tuốcbin cần tiến hành vệ sinh đĩa
thật sạch để kiểm tra phát hiện sự hư hỏng
b/ Kiểm tra: Cần tiến hành kiểm tra phát hiện các vết nứt ở các lỗ và các
khiếm khuyết khác đặc biệt chú ý ở các tiết diện yếu vídụ: ở chỗ chuyển cấp,
góc lượn, lỗ
Khi kiểm tra đĩa cần kiểm tra cả 2 phía Trước khi kiểm tra cần đánh
sạch bằng giấy nháp đặc biệt là vùng lỗ giảm tải của tầng đầu và các tầng
giữa Có thể đánh sạch mặt kim loại bằng dung dịch axit nitric 10% rửa nước
ngưng và soi kính lúp có độ phóng đại 10 lần Đặc biệt phát hiện vết nứt gần
vùng rãnh ca vét
c/ Việc sửa chữa:
1) Nắn đĩa: Đĩa có độ vênh lớn quá khoảng 0.30 - 0.50 mm cần phải
tiến hành nắn đĩa Có nhiều phương pháp nắn:
* Nắn bằng nhiệt: Bằng cách đốt nóng nhanh cục bộ chỗ đốt tạo thành
ứng suất ở trạng thái giới hạn chảy do vậy ở phía lõi của đĩa dây thớ kim loại
bị nén lại phía kia nở ra, sau khi nguội đĩa được nắn phẳng
* Nắn bằng cơ học: Đĩa cần được tháo ra khỏi trục, tiến hành ''trạm
sảm'' bằng búa nhỏ (200-300g) trên đoạn vành đĩa cong ''trạm sảm'' tiến hành
bắt đầu từ moay ơ sau đó theo hướng kính đi ra đĩa
* Nắn bằng cách vừa dùng nhiệt kết hợp với ''giằng kéo''
* Sau khi nắn (dù áp dụng phương pháp nào) cần phải tiến hành nhiệt
luyện bằng cách gia nhiệt chậm và đồng đều đĩa đến nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ
2) Xử lý đĩa bị lỏng:
+ Với đĩa lắp gián tiếp trên trục qua ống lót mà lỏng thì cần phải thay
ống lót