Cá Chạch bùn còn gọi là Chạch đồng, là một loài cá kinh tế cỡ nhỏ, sống chủ yếu ở lớp bùn trong ao, hồ, ruộng lúa, kênh mương… Ở nước ta, Chạch bùn thường gặp ở các tỉnh miền Bắc và Bắc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA THỦY SẢN
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG
anguillicaudatus Cantor, 1842) tại Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn: Nhóm thực hiện đề tài:
Võ Đức Nghĩa
1 Nguyễn Thị Hoài Thu
2 Nguyễn Thị Hoài Trang
3 Nguyễn Thị Thơm
4 Nguyễn Văn Điển
5 Nguyễn Quốc Huy
Năm 2015
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) phân bố tự nhiên
ở các nước châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam Cá Chạch bùn còn gọi là Chạch đồng, là một loài cá kinh tế cỡ nhỏ, sống chủ yếu ở lớp bùn trong ao, hồ, ruộng lúa, kênh mương… Ở nước ta, Chạch bùn thường gặp ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Miền Trung Cá Chạch bùn cũng phân bố rộng rãi ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc Do thịt thơm ngon, hàm lượng đạm cao tới 18,43%, chất béo ít chỉ có 2,69%, là động vật thủy sản nhiều đạm và ít mỡ, cá Chạch bùn đang là đối tượng được nhiều người ưa thích
Tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ thống sông suối, ao hồ khá phong phú, diện tích trồng lúa nước rộng lớn phân bố ở nhiều xã trên các địa bàn của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi cá nước ngọt Với các đối tượng nuôi thủy sản hiện nay chủ yếu là những đối tượng cá truyền thống (cá Trắm, cá Trôi, cá Chép, cá Mè,
cá Rô phi,…) có giá trị kinh tế không cao, thì cá Chạch bùn là loài thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao Thịt cá béo, có mùi vị thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao
Cá Chạch bùn là một loại thực phẩm có giá trị thương mại và có vai trò trong y học, có tác dụng bổ khí huyết, chống lão suy, tráng dương, trợ lực, thanh nhiệt
Tuy nhiên, nguồn cung cấp thực phẩm cá Chạch bùn cho thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay chủ yếu là từ khai thác tự nhiên, sức ép khai thác ngày một lớn, do đó nguồn lợi ngày càng suy giảm
Lợi ích của cá Chạch bùn với cộng đồng về mặt kinh tế, dinh dưỡng là rất lớn, song đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đối tượng này Chính vì vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh sản và sản xuất giống cá Chạch bùn là rất cần thiết, nghiên cứu này nhằm đa dạng đối tượng nuôi và hướng việc sinh sản tự nhiên vào sinh sản nhân tạo để chủ động con giống cung cấp cho nhu cầu nuôi của người dân Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự định hướng của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ương nuôi cá Chạch bùn
(Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) tại Thừa Thiên Huế”
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
- Bảo tồn, phát triển nguồn giống và chủ động tạo ra con giống cá Chạch bùn cung cấp cho người nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 32 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁ CHẠCH BÙN
Cũng như các loài cá được gọi là loach, Chạch bùn có thân hình ống, thuôn dài giống như thân lươn Màu sắc của thân thay đổi từ vàng đến xanh lục - oliu, nâu nhạt hay xám với phần bụng nhạt hơn Miệng Chạch bùn có 5 đôi râu Râu được dùng để đào sâu vào bùn tìm thức ăn và tìm nơi ẩn nấp Cá Chạch bùn có thể dài đến 30 cm, thuộc loài cá săn mồi nơi tầng đáy, ăn tạp gồm các sinh vật nhỏ và các thực phẩm hữu cơ như rong, vi tảo Cá không săn mồi bằng mắt nhưng bằng các phản ứng sinh hóa do râu nhận biết Nhờ cơ thể có khả năng sản xuất một lớp chất nhờn, giúp thân luôn trơn và nhớt nên chúng có thể sống một thời gian ngắn trên cạn, và có thể sống tại những vùng nước thiếu dưỡng khí (Fengyu và Bingxian, 1990) [7]
Cá Chạch bùn thường sống trong hang, hốc bùn dưới đáy, chỉ nhô đầu ra ngoài Cá trưởng thành thích những vùng nước tĩnh, hay chảy chậm Cá ăn động vật thủy sinh nhỏ ở tầng đáy, chịu được nhiệt độ thay đổi từ 2 - 30oC (Wang et al., 2008) [48] Một số yếu tố môi trường nước thích hợp cho cá sinh sống là: pH từ 6 – 7,5; nhiệt độ từ 18 - 24oC và độ cứng từ 5 - 12oH (Fengyu và Bingxian, 1990) [7]
Theo Fujimoto và CTV (2006), cá Chạch bùn là loài ăn tạp và không phải
là loài kén ăn Nó có thể ăn được nhiều loại thức ăn như: thức ăn cắt thành miếng
và chìm, thức ăn viên, thức ăn xay nhỏ, và tảo Có thể cho cá ăn ấu trùng muỗi, tôm, trùn chỉ, daphnia, và thức ăn có nguồn gốc thực vật như tảo Chạch bùn còn
có thể ăn ốc và kiểm soát sự phát triển của ốc Chạch bùn thích hợp với bể có thể
Trang 4tích bằng hoặc lớn hơn 30 gallons (tương đương khoảng bằng hoặc lớn hơn 114 lít), với nền đáy là đá, sỏi, hay rễ cây Chúng thích hợp với ánh sáng dịu Nó sống tốt trong môi trường chỉ cần thay nước 10% trong vòng 1 tuần Cá Chạch hầu hết
cư trú ở đáy bể, nhưng thỉnh thoảng vẫn bơi ở tầng giữa và tầng mặt Con đực trưởng thành có thể phân biệt với con cái nhờ vây ngực thứ hai dài và dày hơn, và giống hình tam giác hơn là hình cung tròn [6] Theo Department of Primary Industries thì những cá thể có chiều dài >8 cm có thể phân biệt đực cái bằng vây ngực [14]
Fujimoto và CTV (2006) đã mô tả sự phát triển của phôi cá Chạch bùn, trải qua nhiều giai đoạn và nở ra thành cá bột vào khoảng 48 giờ sau khi thụ tinh Sau
đó, cá bột trải qua 4 giai đoạn (khoảng 120 giờ sau khi thụ tinh), và bắt đầu sử dụng thức ăn từ 132 - 144 giờ sau khi thụ tinh [6]
Theo Waterwatch Victoria (2011), cá Chạch bùn thành thục sinh dục ở chiều dài 100 mm Chúng là loài đẻ nhiều lần trong năm, và đẻ trứng dính Mỗi lần đẻ có thể từ 4.000 - 16.000 trứng/cá thể tùy thuộc vào tuổi và kích thước thành thục của
cá Chạch bùn Cá Chạch là loài ăn tạp, phổ thức ăn rộng, bao gồm ấu trùng côn trùng, giáp xác, tảo và mùn bã hữu cơ [11]
2.1.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo
Theo Fengyu và Bingxian (1990), tuổi thành thục lần đầu của cá Chạch bùn cái là từ 1+ - 2 năm và cá đực là 1 năm Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục và các giai đoạn thành thục của tế bào trứng giống như cá Chép Cá Chạch có thể đẻ nhiều lần trong năm Sức sinh sản của cá Chạch tỷ lệ thuận với kích thước của cơ thể cá Mùa sinh sản kéo dài từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 10 hàng năm Cá Chạch đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất về chiều dài trong năm thứ nhất và thứ hai nhưng tăng trưởng cao nhất về khối lượng thì xảy ra trong năm thứ hai Đối với hình thức nuôi thâm canh, cá Chạch đạt kích thước thương phẩm vào tuổi thứ 2, khi chiều dài
cá >11 cm [7]
Wang và CTV (2009) đã sử dụng GnRHa (liều đơn) và kết hợp với DOM
để kích thích sự rụng trứng cá Chạch bùn cái được thu thập từ tự nhiên Liều lượng các chất kích thích rụng trứng như sau: 2 mg/kg cá đối với não thùy thể khi tiêm liều sơ bộ GnRHa tiêm liều đơn với liều lượng 10 µg (G10), 20 µg (G20), 40 µg (G40) và 60 µg (G60) /kg cá và phối hợp giữa GnRHa và DOM với liều
Trang 55 µg + 2,5 mg (GD5), 10 µg + 5 mg (GD10), 20 µg + 10 mg (GD20) và
40 µg + 20 mg (GD40)/kg cá Sự kết hợp giữa GnRHa và DOM với liều
20 µg + 10 mg (GD20) and 40 µg + 20 mg (GD40)/kg cá cái cho kết quả là tỷ lệ rụng trứng cao và có giai đoạn từ liều sơ bộ đến liều quyết định ngắn nhất so với các thí nghiệm khác Cũng như các loài khác trong họ cá Chép, nên kết hợp giữa DOM và GnRHa để kích thích sự rụng trứng của cá Chạch bùn [9]
Zhimin và Xiaozhu (2009) đã cho sinh sản nhân tạo cá Chạch bùn ở tỉnh Henan, Trung Quốc Kết quả cho thấy khi dùng kết hợp LRH - A2 và (DOM) thì cho kết quả tốt hơn là dùng HCG và LRH - A2 Nếu với môi trường nước chảy và nhiệt độ từ 21 - 24oC, độ mặn khoảng 5 ‰ thì thu được số lượng lớn cá bột Chạch bùn có chiều dài từ 3,5 - 4,8 mm, với thời gian nở sau 25 giờ [12]
Suzuki (1983), chỉ ra rằng cá cái sau khi đẻ lần thứ nhất có thể đẻ tiếp trong vòng 20 ngày Thí nghiệm cho sinh sản nhân tạo cá Chạch bùn được sử dụng chất kích thích rụng trứng là HCG (thí nghiệm tiến hành từng tháng) được tiến hành trong 28 tháng Có tối thiểu 70% cá cái tham gia sinh sản cho đến tháng thứ 13 Phần trăm cá tham gia sinh sản dao động từ tháng thứ 12 đến tháng thứ 20, và giảm sút nhanh chóng vào những tháng sau đó Không có cá cái đẻ vào tháng thứ
27 và 28 Số lượng trứng trung bình mỗi lần đẻ của cá cái giảm nhẹ hay không đổi cho đến tháng thứ 15, sau đó thay đổi mạnh [8]
Wang và CTV (2008) đã nghiên cứu nhịp độ bắt mồi của cá bột Chạch bùn
từ khi mới nở cho đến 40 ngày tuổi tính từ khi nở Thức ăn sử dụng là Daphnia còn
sống (Moina micrura) Cá bột có thể bắt mồi từ 3 - 4 ngày sau khi nở ở nhiệt độ
23 ± 0,5 oC Cá bột ngày thứ 4 tăng cường bắt mồi vào lúc 10:00 và 16:00 Cường
độ và tỷ lệ bắt mồi cao nhất của cá bột ngày thứ 12 là vào lúc 8:00, 12:00 và 18:00 Vào ngày 20, khi cá bột biến thái, cường độ và tỷ lệ bắt mồi cao nhất của cá bột vào lúc 6:00; 18:00 và 24:00 Cường độ bắt mồi cao nhất của cá con 30 ngày tuổi vào lúc 5:00 và 20:00, sau từ 1 - 2 giờ khi cá đạt tỷ lệ bắt mồi cao nhất Nhịp độ bắt mồi của cá con ngày 40 giống như ngày 30 Dự đoán tỷ lệ thức ăn tối đa trên khối lượng đàn cá là 43,1%, 33,4%, 19,0%, 12,8%, và 5,8% vào các ngày tuổi tương ứng là 4, 12, 20, 30 và 40 Nhịp độ bắt mồi của cá con cũng khác nhau ở giai đoạn trước và sau khi biến thái Hoạt động bắt mồi của cá bột cá Chạch bùn trước khi biến thái tập trung vào ban ngày (khi này cá bột ở trạng thái sống nổi), và tập
Trang 6trung vào ban đêm sau khi trải qua giai đoạn biến thái (khi này cá con ở trạng thái sống đáy) Kích thước và hình dạng của cá bột và cá con ở các ngày 4, 12, 20, 30
và 40 cũng được mô tả trong báo cáo này [10]
2.2 Ở Việt Nam
Cá Chạch bùn là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế, giàu dinh dưỡng, được nhân dân ta ưa thích, loài cá này hứa hẹn sẽ mang lại một nguồn lợi to lớn cho sự phát triển nghề cá của nước nhà Tuy nhiên, sự hiểu biết về loài cá này còn rất ít nên đến nay cá Chạch bùn chưa được nuôi phổ biến và số lượng của loài này đang khan hiếm dần do khai thác không hợp lý Hiện nay, trong nước chưa
có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng cá Chạch bùn, chủ yếu là nghiên cứu
về phân loại còn nghiên cứu về sinh học, sinh sản và nuôi thương phẩm cá Chạch bùn rất hạn chế
Vì vậy, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo và nuôi thử nghiệm thương phẩm
cá Chạch bùn trở nên cấp thiết và quan trọng, góp phần bảo vệ nguồn lợi cá Chạch bùn tự nhiên, đa dạng hóa đối tượng nuôi, thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững
2.2.1 Một số đặc điểm sinh học
Tác giả Võ Văn Chi (1999) có mô tả loài Chạch bùn như sau: cá Chạch bùn
có phần thân trước hình trụ tròn, phần đuôi dẹp một bên, dài 5 - 18 cm Đầu cá nhọn, hơi tròn Mắt nhỏ nằm ở hai bên đầu, khoảng cách giữa hai mắt rất ngắn Có
5 đôi râu miệng trong đó 2 đôi ở đầu mõm, 2 đôi ở dưới mõm và 1 đôi ở góc miệng Da mỏng và dưới da có nhiều tuyến tiết chất nhờn nên rất trơn Màu sắc của
cá thay đổi theo màu nước nơi chúng sinh sống: toàn thân màu nâu, lưng màu nâu đen xậm hơn bụng, bụng màu vàng nhạt Trên thân có nhiều chấm nhỏ, đôi khi tụ thành những chấm lớn Ở gốc vây đuôi có một chấm to màu đen Cá sinh sản vào các tháng 4 - 7 Cá cái có thể đẻ mỗi đợt khoảng 2.000 trứng Mức sinh sản trung bình, mật độ cá có thể tăng gấp đôi sau từ 1 đến 4 năm Cá ăn động vật thủy sinh nhỏ ở tầng đáy, chịu được nhiệt độ thay đổi từ 2oC đến 30oC Cá Chạch bùn thường sống trong hang, hốc bùn dưới đáy, chỉ nhô phần đầu ra ngoài Cá trưởng thành thích những vùng nước tĩnh hay chảy chậm [13]
Trang 7Tác giả Kim Văn Vạn (2012) có viết về Chạch bùn như sau: Chạch bùn là một loài cá sống đáy, sống ở khu vực nông của sông, hồ, ao, ruộng, kênh mương
Ở nước ta, Chạch bùn thường gặp ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Miền Trung Chạch bùn cũng phân bố rộng rãi ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc Do thịt thơm ngon, hàm lượng đạm cao tới 18,43%, chất béo ít chỉ có 2,69%, là động vật thủy sản nhiều đạm và ít mỡ, Chạch bùn cũng đang là mặt hàng xuất khẩu Bởi vậy Chạch bùn sớm trở thành một đối tượng nuôi (Kim Văn Vạn, 2012) [15]
Cá mình dài, đoạn trước vây bụng hình ống tròn, đoạn sau dẹt dần, cuống đuôi dẹt mỏng Đầu tương đối nhọn, mắt nhỏ có da che phủ Độ xiên của mõm lớn Miệng ở phía dưới hình móng ngựa Có 5 đôi râu, khe mang nằm ở chân vây ngực Hậu môn ở gần vây hậu môn Vây đuôi hình tròn, tuyến bên hoàn chỉnh Hai bên lưng màu tro đậm, có con có đốm đen xen kẽ (Kim Văn Vạn, 2012) [15]
Cá Chạch là một loài cá sống đáy, sống ở khu vực nông của sông, hồ, ao, ruộng, kênh mương Cá Chạch có sức thích nghi nhanh ở môi trường xấu Khi nhiệt độ nước quá cao, hoặc quá thấp cá Chạch rúc xuống bùn Khi thời tiết thay đổi bất thường hay khi có triệu chứng bệnh, cá Chạch nổi lên mặt nước Ngoài hô hấp bằng da, mang, cá Chạch còn có thể thở bằng ruột, khi nước thiếu ôxy cá Chạch ngoi lên trực tiếp mặt nước để đớp không khí, thực hiện trao đổi khí ở trong ruột sau đó khí được thải qua hậu môn ra ngoài (Kim Văn Vạn, 2012) [15]
Cá Chạch ăn tạp, lúc nhỏ ăn động vật là chính, về sau chuyển dần sang ăn tạp Giai đoạn trưởng thành cá Chạch ăn thực vật là chủ yếu Cá Chạch cỡ dưới 5cm chủ yếu ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo và các động vật phù du khác Cỡ 5 - 8cm ngoài thức ăn động vật phù du, cá Chạch còn ăn giun nhỏ và ấu trùng muỗi lắc Cỡ 8 - 9 cm cá Chạch còn ăn tảo khuê, thân lá cây cỏ non và hạt ngũ cốc, cỡ trên 9 cm cá Chạch chuyển sang ăn thức ăn là thực vật là chính Nuôi trong ao cá Chạch còn ăn các thức ăn tinh
Nhiệt độ phù hợp cho cá Chạch sinh trưởng từ 15 - 30oC, thích hợp nhất
từ 25 - 27oC Ở nhiệt độ này cá Chạch ăn khỏe và mau lớn Cá Chạch mới nở chỉ
to bằng đầu kim khâu, sau 1 tháng có chiều dài 2 - 3 cm, sau nửa năm được 4 - 6
cm, cá Chạch trưởng thành nặng 30 - 60 g, con to nhất nặng 100 g dài 20 cm
Trang 82.2.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo
Bùi Huy Cộng và nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu NTTS I đã tiến hành nghiên cứu thăm dò sinh sản nhân tạo cá Chạch bùn trong 2 năm từ tháng 7/2009 đến tháng 9/2010 đã tạo ra được 3000 con cá Chạch bùn giống cỡ 2 - 3 g/con Nghiên cứu này đã sử dụng cá Chạch bùn bố mẹ cỡ 8 - 15 g/con, nuôi vỗ ở mật độ 20 con/m3, trong điều kiện bể xi măng có diện tích 30 m2, độ sâu 1,5 m, cho
ăn bằng thức ăn viên 28 - 35% protein của hãng CP, có kích thích nước chảy 1 - 2 giờ/tuần Não thùy, HCG (Human Chrionic Gonadotropin), LHRH-A (Luteinising Hormone - Releasing Hormone Analogue), DOM (Domperidon) đã được sử dụng
để gây kích thích sinh sản cho cá Kết quả thăm dò sinh sản cá Chạch bùn qua 2 đợt năm 2009 cho thấy sử dụng não thùy cho tỷ lệ cá đẻ 47 - 100%, tỷ lệ thụ tinh đạt 80% và tỷ lệ nở đạt 70% và ra được 3000 cá bột, còn sử dụng DOM + LHRH-
A không có hiệu quả Kết quả năm 2010 thăm dò sinh sản cá Chạch bùn cho thấy
sử dụng HCG + não thùy mặc dù có tỷ lệ cá đẻ 13%, tỷ lệ thụ tinh 40% và tỷ lệ
nở 50% nhưng cá bột bị chết Chỉ sử dụng não thùy để tiêm cho sinh sản nhân tạo
cá Chạch bùn cho kết quả tốt, có tỷ lệ đẻ đạt 47 - 100%, tỷ lệ thụ tinh 70 - 75%, tỷ
lệ nở 60 - 70%, ra được 14400 cá bột (Bùi Huy Cộng, 2011)
Sau khi nở, cá bột được đưa vào ương trong bể xi măng có diện tích 2 m2/bể,
độ sâu 1,2 m ở các mật độ 100 con/m2, 150 con/m2,200 con/m2 mỗi mật độ được lặp lại 3 lần, thức ăn là lòng đỏ trứng gà luộc chín nghiền mịn và động vật phù du đã được lọc sạch, rửa bằng nước muối loãng 2% Kết quả ương cá Chạch bùn từ cá bột
cỡ 0,6 cm, sau 21 ngày tuổi cho thấy ương ở mật độ 100 con/m2 có kết quả tốt nhất, chiều dài trung bình 2,5 cm và tỷ lệ sống 60%
Kết quả ương cá Chạch bùn trong 3 bể xi măng (lập lại 3 lần) từ giai đoạn cá hương lên cá giống ở mật độ 100 con/m2 Cá thả có khối lượng trung bình 0,146 g/con, sau 43 ngày nuôi bằng thức ăn viên 35% protein cá đạt khối lượng trung bình 2,6 g/con Kết quả tốc độ sinh trưởng trung bình của cá chạch bùn đạt 0,057 g/con/ngày; tỷ lệ sống dao động ở các bể 60 - 68%; hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình là 1,5
Kết quả nghiên cứu của Võ Ngọc Thám (2012) thuộc khoa Nuôi trồng thủy sản trường đại học Nha Trang về công nghệ sinh sản nhân tạo cá Chạch bùn ở Khánh Hòa cho thấy khi kích thích cá đẻ bằng kích dục tố LHRH_A + DOM với
Trang 9liều lượng: 120µg LRH-A3 + 10mg Dom thì tỷ lệ cá đẻ đạt 100 %, tỷ lệ thụ tinh đạt
88,55%, tỷ lệ nở đạt 62,67 %, tổng số cá bột thu được 94.700 con Kết quả ương cá giống từ cá bột lên cá hương đạt tỷ lệ sống thấp, dao động từ 5,3 – 10,1 % Ương
từ cá hương lên cá giống tỷ lệ sống đạt cao hơn 26,3 – 37,7 % (Võ Ngọc Thám, 2012)
Nghiên cứu của Đặng Thị Thắng (2013) thuộc trường Đại học Tây Nguyên cho kết quả: Cá Chạch bùn bố mẹ có thể thành thục sinh dục trong điều kiện nuôi nhốt trong bể lót bạt Kích thích sinh sản nhân tạo cá Chạch bùn thành công với LHRH-A + DOM với tỷ lệ đẻ của cá cái từ 66 - 72% Ương cá bột từ giai đoạn bột lên hương với thức ăn gồm: trứng, bột đậu, kết hợp với vitamin và men vi sinh tổng hợp trong thời gian 21 - 22 ngày đạt kích cỡ bình quân 1,25 - 1,7 cm, tỷ lệ sống khoảng 50% Ương cá hương lên giống với thức ăn gồm cám tổng hợp, trứng, bột đậu, kết hợp với vitamin và men vi sinh tổng hợp trong thời gian 35 - 40 ngày đạt kích thước từ 2,2 - 3,7 cm, tỷ lệ sống đạt khoảng 60% (Đặng Thị Thắng, 2013)
Trang 103 ĐỐI TƯỢNG – THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)
Loài: Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842
Tên tiếng việt: Chạch bùn, Chạch đồng
Tên địa phương: cá zét
Tên tiếng anh: Pond loach, weather loach,
Hình 1 Cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2015 đến 07/2015
- Địa điểm nghiên cứu:
+Tiến hành tại phòng thí nghiệm khoa Thủy Sản trường Đại học Nông Lâm Huế +Trại cá Hương Chữ_Hương Trà_Thừa Thiên Huế