I Lý do chọn dề tài: Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao. Do vậy, việc đào tạo con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Bởi vì có con người mới phát hiện ra vẽ đẹp của thiên nhiên và cảm thụ vẽ đẹp của nó, chỉ có con người mới tìm ra và biết vận vụng làm phong phú thêm ngôn ngữ mĩ thuật cho cuộc sống hằng ngày càng tươi đẹp hơn. Trong những năm học qua môn Mĩ Thuật là một yếu tố cơ bản của giáo dục thẩm mĩ và nó đã trở thành một môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, dó chính là yếu tố để đạt được mục tiêu giáo duc đầy đủ năm mặt : Đức – Trí – Thể Mĩ – Lao Động cho học sinh. Như vậy việc dạy mĩ thuật ở trường phổ thông không nhằm mục đích đào tạo các em trở thành họa sĩ mà mục tiêu chính của môn mĩ thuật là giúp các em làm quen với cái đẹp, hiểu về cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp. trong cuộc sống hằng ngày mọi việc ăn mặt ở, đi lại…đều cần đến cái đẹp, cái đẹp được thể hiện da dạng và muôn màu, muôn vẽ…có thể xem nó là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống vì nó gắn liền với con người từ khi mới sing cho đến lúc mất đi…có thể khẳng định rằng cái đẹp do mĩ thuật tạo ra đã góp phần đáng kể vào việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ của người giáo viên mĩ thuật là làm thế nào để học sinh được tiếp xúc, tìm hiểu, làm quen và sáng tạo ra cái đẹp theo sự nhận biết của cá nhân, giúp các em nâng cao tính sáng tạo, óc thẩm mĩ và sự hiểu biết về mọi mặt. Hện nay môn thuật ở bậc trung học cơ sở nói chung và học sinh khối lớp 7 nói iêng nằm giúp các em biết quan sát, nhận xét đối tượng, cách sắp xếp bố cục, hình mảng sao cho cân đói thuận mắt,hợp lý trong tờ giấy. Ở môn vẽ tranh các em biết vận dụng mọi hiểu biết để áp dụng cho tranh vẽ thông qua cách sắp xếp bố cục, hình ảnh, màu sắc…nhưng thực tế qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy việc tiếp thu kiến thức môn mĩ thuật nói chung và áp dụng cho phân môn vẽ tranh nói riêng còn nhiều bất cập. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do ảnh hưởng nhiều mặt: là do quan niệm về môn chínhmôn phụ ngoài ra còn do yếu tố tâm lý sợ vẽ sấu, vẽ sai, một phần ở quan niệm đây là môn học phải có hoa tay…những tác động đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy – học ở phân môn vẽ tranh. Từ những nhận thức đó dẫn đến tình trạng các em lam bài qua loa, làm cho xong, làm cho có điểm mà không nhận thức rằng mỏi bài học là một tác phẩm do chính bản thân các em tạo ra bằng khả năng của mình. Trong các phân môn của môn mĩ thuật ở bậc trung học cơ sở thì phân môn vẽ tranh theo đề tài là một phân môn đòi hỏi các em phải kết hợp, đầu tư rất nhiều, phải biết vận dụng kiến thức ở các phân môn khác, đòi hỏi các em phải quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng,sáng tạo…thì sản phẩm làm ra mới phong phú, đa dạng…vậy làm thế nào để các em hiểu về cái đẹp, cảm thụ được cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp. Làm thế nào để phân môn vẽ tranh đến và vào các em? Làm thế nào để môn mĩ thuật khẳng định được vị trí quan trọng không thể thiếu đối với cấp học trung học cơ sở? Đây là những câu hỏi mà tôi luôn trăn trở và vì thế tôi chọn để nghiên cứu:”Tìm hiểu nhừng phương pháp giảng dạy các bài vè tranh ở học sinh lớp 7”, để làm đề tài cho tiểu luận của mình.
Trang 2A / PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn dề tài:
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao Dovậy, việc đào tạo con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quantrọng Bởi vì có con người mới phát hiện ra vẽ đẹp của thiên nhiên và cảm thụ vẽđẹp của nó, chỉ có con người mới tìm ra và biết vận vụng làm phong phú thêmngôn ngữ mĩ thuật cho cuộc sống hằng ngày càng tươi đẹp hơn Trong nhữngnăm học qua môn Mĩ Thuật là một yếu tố cơ bản của giáo dục thẩm mĩ và nó đãtrở thành một môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, dó chính là yếu tố
để đạt được mục tiêu giáo duc đầy đủ năm mặt : Đức – Trí – Thể - Mĩ – LaoĐộng cho học sinh Như vậy việc dạy mĩ thuật ở trường phổ thông không nhằmmục đích đào tạo các em trở thành họa sĩ mà mục tiêu chính của môn mĩ thuật làgiúp các em làm quen với cái đẹp, hiểu về cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp.trong cuộc sống hằng ngày mọi việc ăn mặt ở, đi lại…đều cần đến cái đẹp, cáiđẹp được thể hiện da dạng và muôn màu, muôn vẽ…có thể xem nó là một nhucầu không thể thiếu trong cuộc sống vì nó gắn liền với con người từ khi mới singcho đến lúc mất đi…có thể khẳng định rằng cái đẹp do mĩ thuật tạo ra đã gópphần đáng kể vào việc phát triển nền kinh tế quốc dân Nhiệm vụ của người giáoviên mĩ thuật là làm thế nào để học sinh được tiếp xúc, tìm hiểu, làm quen vàsáng tạo ra cái đẹp theo sự nhận biết của cá nhân, giúp các em nâng cao tính sángtạo, óc thẩm mĩ và sự hiểu biết về mọi mặt Hện nay môn thuật ở bậc trung học
cơ sở nói chung và học sinh khối lớp 7 nói iêng nằm giúp các em biết quan sát,
Trang 3nhận xét đối tượng, cách sắp xếp bố cục, hình mảng sao cho cân đói thuậnmắt,hợp lý trong tờ giấy Ở môn vẽ tranh các em biết vận dụng mọi hiểu biết để
áp dụng cho tranh vẽ thông qua cách sắp xếp bố cục, hình ảnh, màu sắc…nhưngthực tế qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy việc tiếp thu kiến thức môn mĩthuật nói chung và áp dụng cho phân môn vẽ tranh nói riêng còn nhiều bất cập.Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do ảnh hưởng nhiều mặt: là do quanniệm về môn chính-môn phụ ngoài ra còn do yếu tố tâm lý sợ vẽ sấu, vẽ sai, mộtphần ở quan niệm đây là môn học phải có hoa tay…những tác động đó đã ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng dạy – học ở phân môn vẽ tranh Từ những nhậnthức đó dẫn đến tình trạng các em lam bài qua loa, làm cho xong, làm cho cóđiểm mà không nhận thức rằng mỏi bài học là một tác phẩm do chính bản thâncác em tạo ra bằng khả năng của mình
Trong các phân môn của môn mĩ thuật ở bậc trung học cơ sở thìphân môn vẽ tranh theo đề tài là một phân môn đòi hỏi các em phải kết hợp, đầu
tư rất nhiều, phải biết vận dụng kiến thức ở các phân môn khác, đòi hỏi các emphải quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng,sáng tạo…thì sản phẩm làm ra mới phongphú, đa dạng…vậy làm thế nào để các em hiểu về cái đẹp, cảm thụ được cái đẹp
và mong muốn tạo ra cái đẹp Làm thế nào để phân môn vẽ tranh đến và vào cácem? Làm thế nào để môn mĩ thuật khẳng định được vị trí quan trọng không thểthiếu đối với cấp học trung học cơ sở? Đây là những câu hỏi mà tôi luôn trăn trở
và vì thế tôi chọn để nghiên cứu:”Tìm hiểu nhừng phương pháp giảng dạy các
bài vè tranh ở học sinh lớp 7”, để làm đề tài cho tiểu luận của mình.
II/ Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
1/ Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh khắc phục những nhược điểm hay mắc phải khi thể hiện cácbài vẽ tranh ở học sinh lớp 7 Nhằm giúp các em mạnh dạn thể hiện ý tưởngthông qua hiểu biết, ghi nhớ, tưởng tượng, vận dụng hiểu biết cá nhân, góp phần
Trang 4giáo dục toàn diện cho học sinh Qua đó các em biết vận dụng vào thực tiển của
cuộc sống và học tập của học sinh sau này
2/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu đề tài nêu trên nó sẻ giúp các em học sinh cải
thiện tốt hơn tình trạng học tập ở phân môn vẽ tranh, tìm ra những hướng giải
quyết phù hợp
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
1/ Đối tượng nghiên cứu:
Thông qua đề tài tôi chỉ nghiên cứu cách để khắc phụcnhược điểm trong phân môn vẽ tranh của học sinh lớp 7
2/ Phạm vi nghiên cứu
Tôi chỉ nghiên cứu phân môn vẽ tranh đề tài ở lớp 7 củabậc học trung học cơ sở
3/ Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu cho phân môn vẽ tranh lớp 7
Đề tài chỉ nghiên cứu cho phân môn vẽ tranh đề tài lớp 7
IV/ Các phương pháp nghiên cứu:
Thông qua đề tài tôi sẽ nghiên cứu một số phương pháp cụ thểnhư sau :
1/ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
2/ Phương pháp quan sát
3/ Phương pháp thực nghiệm
4/ Phương pháp chuyên gia
Trang 5B/ PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
“ Mục tiêu và cấu trúc phân môn vẽ tranh lớp 7”
1.I/ Mục tiêu của phân môn vẽ tranh lớp 7:
- Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh , tạo điều kiện cho các emtiếp xúc , làm quen và thưởng thức vẽ đẹp của thiên nhiên , của các tác phẩm mĩthuật ; biết cảm nhận và tập tạo ra cái đẹp , qua đó vận dụng những hiểu biết vềcái đẹp vào cuộc sống sinh hoạt và học tập hàng ngày
- Cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức cơ bản nhất định
để các em hiểu được cái đẹp thông qua :đường nét , hình mảng , đậm nhạt , màusắc , bố cục ,…
- Phát triển khả năng quan sát , nhận xét , tư duy , tưởngtượng , óc sáng tạo cho học sinh
- Phát triển các kĩ năng cơ bản : kĩ năng quan sát , kĩ năngcảm thụ thẩm mĩ , kĩ năng tư duy, kĩ năng thực hành , kĩ năng đánh giá , kĩ năngvận dụng kiến thức vào cuộc sống
-Phát hiện HS năng khiếu mĩ thuật , góp phàn bồi dưởng các
em phát triển năng khiếu của mình
1.2/ Cấu trúc chương trình các bài vẽ tranh lớp 7:
Vẽ tranh có những nội dung sau:
- Tranh phong cảnh
Trang 6- Tranh về cuộc sống xung quanh em.
- Đề tài tự chọn
- Giử gìn vệ sinh môi trường
- Trò chơi dân gian
- Cảnh đẹp đất nước
- An toàn giao thông
- Hoạt động những ngày hè
Chương 2
Thực trạng của việc dạy và học phân môn vẽ tranh
2.1/ Thực trạng khi học phân môn vẽ tranh của học sinh.
Vẽ tranh nhằm phát huy trí tưởng tượng sáng tạo , làm giàu cảm xúcthẩm mĩ cho học sinh trên cơ sở cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cơ bản
về vẽ tranh Từ đó HS có khả năng cảm thụ được vẽ đẹp của thiên nhiên , củacuộc sống xung quanh và các tác phẩm mĩ thuật thông qua ngôn ngữ của hội hoạ
là bố cục, đường nét , màu sắc , hình khối , đậm nhạt , ánh sáng Qua đó học sinh
có được khả năng thể hiện nhận thức của mình về thế giới xung quanh Vẽ tranhcòn giúp cho học sinh phát triển trí nhớ , hình thành kĩ năng quan sát , biết lựachọn những hình tượng tiêu biểu điển hình để thể hiện được nội dung đề tài
Trong chương trình mĩ thuật ở THCS , vẽ tranh có vị trí vô cùngquan trọng HS phải vận dụng kiến thức của các phân môn khác cho phân môn vẽtranh như : lựa chọn nội dung , hình tượng nhân vật , sắp xếp nhân vật , sắp xếp
bố cục , vẽ hình , vẽ màu , thể hiện không gian , thời gian , ánh sáng …Vẽ tranh
HS được tự do sáng tạo theo tâm tư , tình cảm của mình trên cơ sở những biểutượng về thế giới xung quanh đã được ghi nhận và hình thành trong trong thực tếcảm nhận của cá nhân ngay từ bậc học mầm non HS đã dược tiếp xúc và làmquen với ngôn ngữ của hội hoạ , ở tiểu học các em cũng đã biết thể hiện tâm tư ,
Trang 7đầu của lớp 6 HS dần phát triển những kĩ năng đã có ở tiểu học , sang lớp 7những kĩ năng này dần được củng cố và phát triển hơn
Nhưng trên thực tế giảng dạy và qua thăm dò cho thấy thực trạng việchọc mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ tranh của các em HS ở lớp 7 còn rấtnhiều điều bất cập như :
+Về bố cục : mảng chính phụ chưa rỏ ràng , đa số các em khi thực hành
là vẽ ngay , hình vẽ sắp sếp tuỳ ý , hình tượng chính các em thường vẽ ngay và
+Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn
Qua điều tra thực tế cho thấy :
53,1%
,6%
Trang 82.2/ Thực trạng của giáo viên
khi dạy các bài vẽ tranh lớp 7.
+Chủ quan:
-Thói quen với các phương pháp dạy học thụ động
- Phương pháp thuyết trình vẫn là pp được GV sử dụng quá nhiều
- Gán nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn chưa được chútrọng
-Đồ dùng dạy học chưa đa dạng , phong phú
-Quan điểm về môn chính , môn phụ
+Khách quan :-Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn hạn chế
- Chính sách cơ chế quản lí giáo dục không khuyến khích giáo viên
Chương 3:
Đặc điểm tâm sinh lý khi học phân môn vẽ tranh của học sinh lớp 7.
+Học sinh vẽ theo cảm xúc , môi trường thẩm mĩ ,
+ Các em vẽ theo cái mà các em nghĩ chứ không theo cái các em nhìnthấy
+Cấ em vẽ theo cái mà mình thích mà không tuân thủ theo cácnguyên tắc giải phẫu thẩm mĩ ,bố cục , luật xa gần , màu sắc , ánh sáng …
+Khi vẽ màu các em thích vẽ màu nguyên chất , rực rỡ , không phatrộn , và vẽ theo ý thích chứ không tuân thủ theo màu trong thực tế
Trun
g Bình
14
45,1%
,2%
Trang 9Đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở đây là thời kì năng khiếu họcsinh phát triển , các em có thể vẽ gần đúng và giống hơn theo khả năng , các em
có ý thức hơn về bố cục thể hiện ý tưởng dần tốt hơn , các em sử dụng nhiềumàu hơn ,hình ảnh khái quát hóa, điển hình hóa hơn , các em thể hiện lại thế giớixung quanh bằng sự cảm nhận của cá nhân
Chương 4:
Nguyên tắc dạy – học các bài vẽ tranh.
Nguyên tắc dạy và học là hệ thống những luận điểm của lí luận dạy vàhọc , có vai trò chỉ dẫn việc xác định các mục tiêu , nội dung , phương pháp ,phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Chĩ dẫn quá trình dạy học của GV và
HS nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả trong dạy và học
Khi áp dụng các nguyên tắc dạy cho từng phân môn nói chung và
cho phân môn vẽ tranh nói riêng, nó tùy thuộc rất nhiều vào sự lựa chọn của giáo viên để thông qua đó học sinh có thể nắm và vận dụng một cách tốt nhất
4.1/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo
dục trong dạy học:
4.1.1./ Tính khoa học: Phải đảm bảo tính chính xác, tính chính xác
ở đây được thể hiện cụ thể như sau:
Nội dung: chương trình học phù hợp và có sự nâng cao ở từng câp học
Sự lựa chọn phương pháp dạy học phải đúng với mục tiêu bài dạy, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trình độ học sinh…
Kỷ thuật dạy học của giáo viên phải thu hút được học sinh
về lời nói, tác phong, cách đặc câu hỏi, cách dẫn dắt học sinh…
Cách soạn giáo án phải cụ thể, rỏ ràng, đầy đũ nội dung, đảm bảo thời gian cho tiết học…
Trang 104.1.2/ Tính giáo dục:
Tất cả các nội dung của bài học, giáo viên có thể giáo dục cho học sinh
Qua tiết dạy giáo viên giáo dục thẩm mĩ cho học sinh
4.2/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, học đi đôi với hành:
Khi dạy lý thuyết xong giáo viên phải để cho học có một khoảng thời gian thực hành để các em có cơ hội phát huy những kĩ năng , kĩ xảo, việc thực hành sẽ giúp các em củng cố thêm kiến thức đồng thời khắc sâu hơn những điều đã được học
4.3/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
giáo viên và vai trò chủ động của học sinh:
Giáo viên là người điều khiển mọi tình huống và tất cả các hoạt động của học sinh.( yêu cầu học sinh chia nhóm, đưa ra câu hỏi để học sinh thảo luận, yêu cầu học sinh trinh bày, yêu cầu học sinh nhận xét, đánh giá…)
Học sinh tích cực hoat động , phải hoạt động nhiều trên lớp, được làm việc, được đánh giá và giải quyết tất cả các hoạt động mà giáo viên đưara.( cùng nhau thảo luận, được trình bày trước đám đông, tự do nhận xét, đánh giá bài vẽ của bạn…)
4.4/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan và
tính khái quát trong dạy học:
-Dạy bằng lời-Dạy bằng hình ảnh-Dạy bằng hành độngKhi áp dụng nguyên tắc này bắt buộc giáo viên phải sử dụng đồ dùng trực quan,
Trang 114.5/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa học tập tập thể và
học tập cá nhân:
Đối với học tập tập thể thì giáo viên hướng dẫn lý thuyết chung cho
cả lớp, tiếp thu kiến thức chung
Đối với học tập cá nhân thì giáo viên dạy riêng cho từng cá nhân khihọc sinh thực hành, gợi mở nâng cao trình độ cho học sinh khá giỏi Tùy từng đốitượng khác nhau mà giáo viên có cách gợi ý khác nhau
4.6/ Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc
điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt.
Kiến thức phải phù hợp với lứ tuổi, trình độ học sinh của lớp.Mổi lứa tuổi có cách vẽ khác nhau và phải lựa chọn nội dung cho phù hợp với các em
Không áp đặt, không bắt buộc đối với học sinh
4.7/ Nguyên tắc phát huy tính tích cực độc lập sáng tạo học tập
của học sinh:
Giáo viên là người tổ chức các hoạt động cho học sinh
Học sinh là người tự tiếp nhận, nhận thức và chủ động kiến thức
Mổi nguyên tắc nó sẻ nhấn mạnh một khía cạnh, một tiết dạy, giáo viên phải biết vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc thật khéo léo để tiết dạy đạt hiệu quả tốt hơn
Chương 5
Các hình thức dạy học:
5.1/ Sử dụng phương tiện dạy học thích hợp.
Phương tiện dạy học là cái cốt lỗi mà giáo viên dùng để giảng dạy khi lên lớp Đó chính là đồ dùng dạy học
Trang 12Đồ dùng dạy học mà tôi sử dung khi dạy các bài vẽ theo mẫu là:
Phương tiện truyền thông:
o Hình vẽ để minh họa cho các bước
Phương tiện tài liệu in ấn:
o Giáo án, giáo trình, tài liệu tham khảo, sách giáo viên, sách giáo khoa
Tùy từng điều kiện cơ sở vật chất, thói quen, trường lớp để áp dụng
phương tiện dạy học cho phù hợp
Giáo viên có thể tự làm hoặc sưu tầm
5.2/ Vận dụng các phương pháp dạy phù hợp với phân môn vẽ tranh.
Phương pháp dạy học là cách thức , con đường chuyển tải nộidung kiến thức của GVđể HS có thể nắm vững , chiếm lĩnh , phát hiện và hìnhthành những kĩ năng để đạt được mục tiêu bài học Muốn đạt được mục tiêutrong việc dạy và học môn MT , cần phải có những phương pháp daỵ học phùhợp với đặc điểm môn học Các phương pháp đặc thù để hình thành và phát triển
kĩ năng chính cho HS trong phân môn vẽ tranh là:
Trang 13Một số phương pháp đặc trưng của bộ mơn mĩ thuật nĩi chung
và phân mơn vẽ tranh nĩi riêng.
Khi nói đến phương pháp dạy học thì không có phương pháp nào gọi làtoàn năng, phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học, mỗi phương pháp vàhình thức dạy học đều có ưu điểm, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng Dovậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức trong toàn bộ quátrình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực độc lập vànâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi vàdạy học cá thể cần kết hợp chặt chẽ với nhau, mỗi hình thức có một chứcnăng riêng Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp là sự lạm dụng phươngpháp thuyết trình cần được khắc phục thông qua làm việc nhóm
6.1/ Nhĩm phương pháp thơng tin tiếp nhận:
6.1.1/ Phương pháp thuyết trình:
Đây là nhĩm phương pháp dùng lời nĩi để truyền đạt kiếnthức cho học sinh Cách thuyết trình phải chặt chẽ, logic, lời nĩi của giáo viênphải chính xác
+ Trình bày thơng tin cho học sinh trong một khoảng thời gian ngắn, giáoviên chủ động
+ Đơn điệu buồn tẻ và dễ gây mất trật tự
+ Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động.it hưng thú ,
+ Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động , khơng trính bày được ý kiến cánhân , khơng được thực hành các kĩ năng , kĩ xảo
Trang 14
6.1.2/ Phương pháp vấn đáp:
Đây là phương pháp mà giáo viên nêu câu hỏi và học sinh trả lời nhằm để rút rakinh nghiệm
+ Phát huy được tính tích cực, tự giác của học sinh
+ Khuyến khích học sinh suy nghĩ và phát triển tư duy, rèn luyện cách giao
tiếp
+ Lớp học tạo được không khí sôi nổi
+ Đưa ra quá nhiều câu hỏi, kiến thức bị chia nhỏ làm học sinh không ghi
kịp bài và mất thời gian cho bài giảng của giáo viên
+ Một bộ phận học sinh không tham gia phát biểu.nhất là đối với các em
nhút nhát m
+Mất nhiều thời gian
+ Câu hỏi phải chứa đựng thông tin cần hỏi
+ Câu hỏi phải liên quan đến nội dung bài học
+ Diển đạt phải ngắn gọn, dể hiểu, phù hợp với trình độ của học sinh
+ Câu hỏi phải khuyến khích học sinh trả lời
+ Phải huy động kiến thức và kinh nghiệm, kích thích học sinh tư duy và
sáng tạo
+ Hạn chế câu hỏi yêu cầu học sinh thuộc lòng
6.1.3/ Phương pháp thảo luận:
Trang 15Là phương pháp mà giáo viên đặt ra những vấn đề, những tình huống và tổ chứccho học sinh trao đổi, tìm tòi, giải đáp.
o Ưu điểm: Tạo được không khí học tập trong lớp, tìm tòi
nắm vững bài học, hình thành kỷ năng hợp tác trong tư duy hành động để cùng
nhau giải quyết vấn đề
+ Thảo luận chung cả lớp Giáo viên nêu vấn đề, khích lệ học sinh trao đổi,
tranh luận, giáo viên làm cố vấn cho từng bên, giáo viên là người đưa ra kết luận
cuối cùng
+ Chia nhóm thảo luận: Giáo viên đưa ra nội dung thảo luận và chia cho
từng nhóm một, học sinh ghi chép vào giấy để trình bày( trong một khoảng thời
gian nhất định) từng nhóm một trình bày nhóm khác nhận xét và bổ sung thêm ý
kiến, giáo viên tổng kết lại những vấn đề học sinh đã thảo luận
6.1.4/ Phương pháp sử dụng sách giáo khoa:
o Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu để nắm vững
nội dung bài học
o Giới thiệu sách cần đọc và phù hợp với nội dung cần nghiên cứu;
hướng dẫn đọc sách, ghi chép, tra cứu trên mạng…
o Giao nhiệm vụ và yêu cầu học sinh thực hiện
6.1.5/ Phương pháp nêu vấn đề:
o Giáo viên tạo ra các tình huống mâu thuẫn đưa học sinh tìm tòi
khám phá từ đó giúp học sinh giải quyết và nắm được kiến thức
o Giáo viên tìm ra các tình huống mâu thuẩn thực tế ( phù hợp với
trình độ học sinh.)
6.2/ Nhóm phương pháp trực quan:
Trang 166.2.1/ Phương pháp quan sát
trong phân môn vẽ tranh) Giúp cho HS biết quan sát mọi sự vật hiện tượng ở
xung quanh , quan sát tranh minh họa của GV để tìm ý tưởng và học tập rút kinh
nghiệm cho bài vẽ của mình được tốt hơn Quan sát còn giúp cho
học sinh trực tiếp nhìn thấy các đối tượng đang diển ra trong môi trường
thực tế
Nguyên tắc của phương pháp quan sát là:
- Quan sát từ bao quát đến chi tiết, so sánh , phân tích , tổng hợp , khái quát để nắm được nội dung, hình thức thể hiện ( bố cục , hình mảng đậm
nhạt , màu sắc , không gian , ánh sáng và cảm thụ được vẽ đẹp của tranh từ đó áp
dụng cho bài vẽ của mình )
- Không nên nặng về kỷ thuật, về tính chính xác mà chỉ cần
quan tâm đến tính thẩm mĩ của đối tượng (bố cục , tỉ lệ , sáng tối…)
- không nên cho học sinh quan sát chung chung mà cần nêu lên đượcđặc điểm của bài vẽ tranh (lựa chọn nội dung phù hợp với đề tài)
*Vd: Quan sát về bố cục , vẽ hình , vẽ màu …(vẽ gì ? vẽ như
thế nào ? mảng chính đặt ở đâu? Mảng phụ đặt như thế nào ? )
6.2.2/ Phương pháp minh họa:
Sử dụng phương pháp trực quan để dẫn chứng , để minh họa, thí dụ :làm rỏ nội dung giúp học sinh hiểu rỏ lý thuyết một cách trừu tượng
Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý :
- Đúng lúc, đúng nơi và đúng chổ
- Treo đồ dùng giáo viên phải biết phân tích, nhận xét, đánh giá, phải chỉ ra được trọng tâm yêu cầu của bài học
- Kết hợp phương pháp quan sát và phương pháp vấn đáp
- Nên đa dạng hóa các loại đồ dùng
Trang 17Khi áp dụng GV cần lưu ý :Sử dụng khi nào? Thời gian bao nhiêu? Nội dung gì ? Nhất là không nên lạm dụng làm mất nhiều thời gian mà không
hiệu quả Đặc biệt là khong treo tranh minh họa trong lúc Hs thưc hành tránh tình
trạng HS sao chép
6.2.3/ Phương pháp thực hành ôn luyện:
- Phương pháp ra bài tập cho học sinh (HS vẽ tiếp ở nhà nếu ở lớp chưa xong )
- Phương pháp luyện tập
6.2.4/ Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:
- Phương pháp kiểm tra:
Không nên áp đặt học sinh , đánh giá bài vẽ của các em theo tiêu
chuẩn của người lớn
Công bằng khách quan
o Có 2 cách đánh giá: ngay trong giờ học hoặc nhận xét ở tiết
sau Khi đánh giá cần nhận xét về :
Trang 18 Đậm nhạt.
Giáo viên nhận xét và đánh giá bài vẽ ở tiết học sau
Chương 7
Phát triển kỷ năng vẽ tranh cho học sinh
Vẽ tranh nhằm phát huy trí tưởng tượng sáng tạo, làm giàu cảm xúcthẩm mỹ cho học sinh trên cơ sở cung cấp kiến thức và rèn luyện kỷ năng cơ bản
về vẽ tranh Từ những kiến thức, kỷ năng cơ bản đó, người học mỹ thuật nóichung học sinh trung học cơ sở nói riêng có khả năng crm thụ vẽ đẹp của thiênnhiên, cuộc sống xung quanh và tác phẩm mỹ thuật thông qua ngôn ngữ của hộihoa là bố cục, đường nét, hình khối, đậm nhạt, ánh sáng và màu sắc Học sinh cókhả năng thể hiện nhận thức và cảm xúc cuả mình về thế giới xung quanh Vẽtranh còn phát triển trí nhớ, hình thành ở học sinh kỷ năng qan sát, lựa chọn hìnhtượng tiêu biểu điển hình thể hiện nội dung đề tài
Trong chương trình mỹ thuật ở trung học cơ sở, vẽ tranh có vị trí quantrọng Học sinh vận dụng tổng hòa các kiến thức và kỷ năng của nghệ thuật tạohình như lựa chọn nội dung, hình tượng nân vật, sắp xếp bố cục,vẽ hình, vẽ màuthể hiện không gian, thời gian, ánh sáng…Như vậy, vẽ tranh có mối quan hệ chặtchẽ với các phân môn khác, vận dụng kiến thức về xa gần, vẽ theo mẫu, trangtrí…Tuy nhiên có điểm giống và khác nhau cơ bản:
+ Giống nhau: Điều sử dụng ngôn ngữ của hội họa là đường nét,hình mảng, đậm nhạt, màu sắc, bố cục
+ Khác nhau:
-Vẽ theo mẫu, người vẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đặc điểm củamẫu để diển tả bằng đường nét, hình khối sao cho đúng, giống mẫu về tỉ lệ hìnhdáng và màu sắc
- Vẽ trang trí, thường thể hiện bằng mảng bẹt, sử dụng cách bố
Trang 19sử dụng trong trang trí thường trau chuốt, gọn gàng, chỉnh chu Màu sắc thường
là những mảng màu bẹt đặt cạnh nhau, có thể tươi vui, rực rở hay trầm sâu, tùythuộc vào mục đích và sở thích của người sử dụng
- Vẽ tranh, người vẽ được tự do sáng tao theo tâm tư, tìnhcảm của mình trên cơ sở những biểu tượng về thế giới xung quanh đã được ghinhận và hình thành trong quá trình quan sát thực tế Vẽ tranh cũng phụ thuộc vàomột só nguyên tắc bố cục như: bố cục hình tam giác hay cò gọi là bố cục hìnhtháp, bố cục hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật Mỗi dạng bố cục có ý nghĩakhác nhau
- Bố cục hình tháp tạo cảm giác vững chắc, khỏe khoắn
- Bố cục hình tròn tạo cảm giác tuần hoàn, chuyển động, mềm mại
- Bố cục hình vuông, chữ nhật tạo cảm giác vững vàng, chặt chẽ
Đường nét trong tranh bố cục thường thoáng đạt, thể hiện cảm xúc củangười vẽ, có khi thô ráp thể hiện sự chắc khỏe, có khi thanh mảnh thể hiện sựmềm mại, nhưng cũng có khi chỉ là sự chấm phá thể hiện sự chuyển động, haynhững xúc cảm mạnh mẻ của tác giả…Màu sắc trong tranh bố cục cũng được thểhiện tùy thuộc nội dung và tình cảm, cảm xúc của người vẽ trước hiện tượng sựviệc của thực tại khách quan thể hiện được không gian, thời gian và ánh sáng Hình trong tranh bố cục cũng không gò theo khuôn mẫu nào, người vẽ hoàn toànchủ động theo ý tưởng sáng tạo của riêng mình, có khi mang tính chất tả thựcnhưng cũng có khi diển tả một trạng thái tình cảm hay một khía cạnh của cuộcsống…
Đối với phân môn vẽ tranh học sinh dần được hình thành và pháttriển các kĩ năng như:
-Kĩ năng quan sát : biết quan sát mọi sự vật hiện tượng xung quanh ,
biết so sánh, phân tích , tổng hợp, … Từ đó HS có thể khái quát đẻ nắm được nộidung và hình thức thể hiện Thông qua việc quan sát và nhận xét bài vẽ của bạn
Trang 20góp phần hình thành thị hiếu thẩm mĩ cho HS , qua đó HS thích sáng tạo và biếttrân trọng cái đẹp
-Kĩ năng xác định bố cục :HS biết cách sắp xếp các hình tượng để thể
hiện nội dung chủ dề Trong mỗi bức tranh cần có mảng chính , mảng phụ Mảng chính thường đặt ở vị trí trọng tâm của bức tranh , và lớn hơn mảng phụ đểtạo được sự cân đối và thuận mắt
Hình minh họa :