Trong chương trình Toán ở Tiểu học, Giải toán có lời văn là một mảng kiến thức vô cùng quan trọng, mạch kiến thức này chiếm một vị trí quan trọng xuyên suốt trong chương trình Toán học. Việc dạy học Giải toán có lời văn không chỉ giúp học sinh biết cách vận dụng linh hoạt những kiến thức về toán, những hiểu biết thực tế cuộc sống, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận mà nó còn góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, đó là những phẩm chất của con người xã hội mới. Trong Giải toán có lời văn thì toán Chuyển động đều là một dạng toán khó học sinh được học ở lớp 5. Bài toán chuyển động đều là bài toán có chứa 3 đại lượng: quãng đường(s), vận tốc(v), và thời gian(t) mà các em gặp nhiều trong thực tế. Tuy nhiên, khi đề cập dưới dạng bài toán , những vấn đề thực tế trên đã được đặt dưới những điều kiện lí tưởng mà để giải được đòi hỏi học sinh phải tư duy tưởng tượng tốt các tình huống trong thực tế và vận dụng linh hoạt các dạng toán điển hình. Trong quá trình giảng dạy nhiều năm ở tiểu học, qua việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi với các em học sinh, các bạn đồng nghiệp về dạng toán này, tôi nhận thấy nhiều em ngại học dạng toán này, khi giải toán các em làm sai và nhầm lẫn nhiều. Trước thực trạng đó, vấn đề đặt ra cho người giáo viên phải khắc phục như thế nào? Phải làm gì để các em không còn tâm lí “sợ sai”, “ngại” học giải toán Chuyển động đều. Điều đó khiến tôi băn khoăn trăn trở và tôi đã quyết định nghiên cứu, tìm hiểu để giúp các em tháo gỡ những khó khăn vướng mắc đó qua đề tài Giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán chuyển động đều.
Trang 1M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
Trang 2PHẦNI PHẦN MỞ ĐẦU 3
II Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng
toán Chuyển động đều
9
Trang 3các môn học và được giáo dục toàn diện về đức, trí, lao, thể, mĩ Trong các mônhọc ở Tiểu học hiện nay thì môn Toán có vị trí vô cùng quan trọng Các kiến thức,
kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rấtcần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học vàhọc tiếp môn Toán ở Trung học Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rènluyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn
đề , nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sángtạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng củangười lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kếhoạch, có nền nếp và tác phong khoa học
Như vậy, Toán học là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong việc giáodục và hình thành nhân cách cho học sinh Ở Tiểu học, môn toán chiếm mộtkhoảng thời gian khá lớn trong chương trình giáo dục Nội dung toán học đượcxây dựng có hệ thống phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người,
nó là một môn học có khả năng giáo dục rất to lớn về lý trí và đạo đức
Như chúng ta đã biết: Môn Toán ở Tiểu học là một môn thống nhất khôngchia thành các phân môn Hạt nhân của môn Toán Tiểu học là số học (bao gồmcác số tự nhiên, phân số, số thập phân) Những nội dung về đại lượng cơ bản, yếu
tố đại số, yếu tố hình học, giải toán có lời văn được gắn bó chặt chẽ với hạt nhân
số học, tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nội dung đó của môn Toán Để giúp các
em học tốt môn Toán thì giáo viên phải giúp các em nắm vững và khai thác tốtcác mạch kiến thức đó ở từng lớp ngay từ đầu cấp học
Trong chương trình Toán ở Tiểu học, Giải toán có lời văn là một mảngkiến thức vô cùng quan trọng, mạch kiến thức này chiếm một vị trí quan trọng
xuyên suốt trong chương trình Toán học Việc dạy học Giải toán có lời văn không
chỉ giúp học sinh biết cách vận dụng linh hoạt những kiến thức về toán, nhữnghiểu biết thực tế cuộc sống, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương phápsuy luận mà nó còn góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàndiện, năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, đó là những phẩm chất của con người
Trang 4xã hội mới.
Trong Giải toán có lời văn thì toán Chuyển động đều là một dạng toán khó
học sinh được học ở lớp 5 Bài toán chuyển động đều là bài toán có chứa 3 đạilượng: quãng đường(s), vận tốc(v), và thời gian(t) mà các em gặp nhiều trong thực
tế Tuy nhiên, khi đề cập dưới dạng bài toán , những vấn đề thực tế trên đã đượcđặt dưới những điều kiện lí tưởng mà để giải được đòi hỏi học sinh phải tư duytưởng tượng tốt các tình huống trong thực tế và vận dụng linh hoạt các dạng toánđiển hình
Trong quá trình giảng dạy nhiều năm ở tiểu học, qua việc dự giờ, thăm lớp,trao đổi với các em học sinh, các bạn đồng nghiệp về dạng toán này, tôi nhận thấynhiều em ngại học dạng toán này, khi giải toán các em làm sai và nhầm lẫn nhiều
Trước thực trạng đó, vấn đề đặt ra cho người giáo viên phải khắc phục nhưthế nào? Phải làm gì để các em không còn tâm lí “sợ sai”, “ngại” học giải toán
Chuyển động đều Điều đó khiến tôi băn khoăn trăn trở và tôi đã quyết định
nghiên cứu, tìm hiểu để giúp các em tháo gỡ những khó khăn vướng mắc đó qua
đề tài Giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán chuyển động đều.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Toán lớp 5 , tìm hiểu thực trạng
dạy và học toán Chuyển động đều ở lớp 5.
2 Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán Chuyển động đều.
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1 Đối tượng:
- Các bài toán Chuyển động đều lớp 5
- Học sinh lớp 5 trường Tiểu học
2 Phạm vi nghiên cứu: Dạng toán Chuyển động đều.
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 51 Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Nghiên cứu chương trình toán 5, những yêu cầu cơ bản đối với chương
trình toán chuyển động
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan
2 Phương pháp điều tra quan sát.
- Điều tra, phỏng vấn giáo viên, học sinh ngoài giờ lên lớp
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh khối lớp 5trường Tiểu học
3 Phương pháp thực nghiệm kiểm chứng
4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Đánh giá kết quả đạt được sau khi thực hiện đề tài và rút ra một số kinh
nghiệm cho bản thân trong quá trình dạy học
PHẦN II NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
)
Trang 6Nhờ các tình huống chuyển động hết sức đa dạng trong đời sống mà các mốiquan hệ đơn giản trên lúc ẩn, lúc hiện; biến hoá khôn lường trong rất nhiều các đềtoán khác nhau Khi một đại lượng thay đổi sẽ làm cho các đại lượng khác thayđổi Như :
- Vận tốc( v) như nhau nếu thời gian (t) tăng lên (giảm đi) bao nhiêu lần thìquãng đường (s) cũng tăng lên (giảm đi) bấy nhiêu lần và ngược lại
- Thời gian như nhau, nếu quãng đường(s) tăng lên (giảm đi) bao nhiêu lầnthì vận tốc(v) cũng tăng lên (giảm đi) bấy nhiêu lần và ngược lại
- Quãng đường bằng nhau, nếu vận tốc (v) tăng lên (giảm đi) bao nhiêu lầnthì thời gian (t) sẽ giảm đi (tăng lên) bấy nhiêu lần và ngược lại
Do đó ta có thể nói toán Chuyển động đều là loại toán phong phú bậc nhất ở
Tiểu học Cũng chính vì thế mà việc giải các bài toán chuyển động đều có tácdụng rất tốt trong việc phát triển tư duy, rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo chocác em học sinh
Mặt khác, học sinh lớp 5 ở cuối giai đoạn Tiểu học nên tâm lí có nhữngchuyển biến rất phức tạp Tuy vậy về cơ bản vẫn có những đặc điểm về tâm lí lứatuổi Tiểu học là: Sự chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế, thiếu khả năng phântích, tổng hợp Trí nhớ trực quan hình tượng, trí nhớ máy móc phát triển hơn trínhớ lôgic Chính những đặc điểm tâm lí trên đã ảnh hưởng tới quá trình học tập vàkết quả học tập của học sinh Vì thế trong quá trình giảng dạy, người giáo viêncần nắm chắc, khéo léo gây hứng thú cho học sinh thì kết quả dạy học sẽ khả quanhơn
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Nội dung toán Chuyển động đều trong chương trình sách giáo khoa Toán lớp 5.
Trong chương trình toán lớp 5, phần toán Chuyển động đều được dạy trong 9
tiết bắt đầu từ tuần 26 đến tuần 28
Bao gồm:
- 3 tiết cung cấp kiến thức mới: Vận tốc, Quãng đường, Thời gian;
- 3 tiết luyện tập về Vận tốc, Quãng đường, Thời gian
Trang 7- 3 tiết luyện tập chung củng cố về tìm Quãng đường, Vận tốc, Thời gian và
bổ sung thêm dạng toán chuyển động có hai động tử chuyển động cùng chiều,chuyển động ngược chiều
- Ngoài ra, rải rác một số bài toán chuyển động đều trong các tiết ôn tập cuốinăm củng cố các kiến thức trên và bổ sung dạng toán về chuyển động trên dòngnước
Bài tập về toán chuyển động trong SGK ít, có nội dung học sinh chỉ đượclàm quen qua một số bài rải rác ở các tiết ôn tập, mỗi bài tập lại chứa đựng mộtnội dung kiến thức cơ bản cần phải cung cấp cho các em Bởi vậy có nhiều họcsinh chưa kịp làm quen thì đã phải chuyển sang phần khác rồi
2.2 Yêu cầu cần đạt của học sinh lớp 5 khi học toán Chuyển động đều
+ Nắm được mối quan hệ giữa Quãng đường, Vận tốc, Thời gian
S = v t ; v = s t ; t = v s + Biết giải các bài toán Chuyển động đều đơn giản có 1 động tử chuyển động
về tính Quãng đường, Vận tốc, Thời gian và chuyển động trên dòng nước
+ Biết giải một số bài toán có hai động tử chuyển động cùng chiều, ngược chiều
2.3 Thực trạng dạy và học toán Chuyển động đều ở lớp 5 trường Tiểu học :
a) Đối với giáo viên:
- Đa số giáo viên khi dạy học sinh dạng toán này chỉ cung cấp những kiếnthức cơ bản trong sách giáo khoa theo một trình tự có sẵn chứ chưa có sự tổnghợp, phân dạng kiến thức, chưa chú trọng làm rõ bản chất toán học, chưa có sựsáng tạo trong từng bài toán với tình huống chuyển động cụ thể có trong cuộcsống dẫn đến hiệu quả chưa cao
- Một số đồng chí chưa hướng dẫn chi tiết cho học sinh, cụ thể cáchtóm tắt đặc trưng của toán chuyển động đều, giáo viên chưa yêu cầu học sinhtóm tắt thường xuyên khi giải toán chuyển động đều và chưa đặc biệt lưutâm đến tính trực quan trong giờ học
b) Đối với học sinh:
Trang 8Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu, trao đổi với đồng nghiệp, phỏngvấn học sinh, tôi thấy chất lượng dạy và học toán Chuyển động đều ở lớp 5chưa cao Các bài tập, các bài kiểm tra thường xuyên hay định kì của toánchuyển động đều thường là các em làm chưa tốt, số ít em còn tỏ ra lúng túngchưa giải được hoặc giải được nhưng còn nhiều thiếu sót.
Cụ thể:
- Còn nhiều em mắc lỗi trong việc tóm tắt đề toán, có học sinh tóm tắt
đề toán bằng cách ghi lại gần như đầy đủ đề toán, cũng có học sinh tóm tắt
đề toán mà chưa thể hiện đầy đủ các dữ kiện; có học sinh tóm tắt mà ghi sai
kí hiệu toán học của các đại lượng hoặc chưa thể hiện được nội dung câu hỏicủa bài toán
- Khi trình bày bài giải, một số em chưa chọn được câu trả lời đúngtrọng tâm, còn trả lời dài dòng, ít thể hiện rõ tính mục đích
- Không ít học sinh thực hiện phân tích, ghi tên đơn vị của các đạilượng còn thiếu chính xác, chuyển đổi các đơn vị sai
Từ thực tế đó, tôi đã dành thời gian tập trung nghiên cứu, đúc rút kinhnghiệm và áp dụng kinh nghiệm đó vào thực tế giảng dạy trong năm học này
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TỐT DẠNG
TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
Để giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán Chuyển động đều , tôi đã thực hiện
các biện pháp sau:
Biện pháp1: Rèn kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo
Qua thực tế giảng dạy và trong quá trình dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy một
sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toán Chuyển động đều là chưa nắm vững cách đổi đơn vị thời gian, một số học sinh chuyển đổi sai (2 giờ 15 phút = 2,15 phút) dẫn đến tính sai kết quả
Trang 9Vậy trong giảng dạy, để khắc phục tình trạng này chúng ta phải giúp học sinh nắm được điểm khác biệt về mỗi quan hệ giữa đơn vị đo thời gian với các đơn vị đo khác (theo hệ thập phân như: độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích)
Cụ thể, tôi hướng dẫn học sinh cách đổi như sau:
Cách 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối quan
hệ giữa các đơn vị đo cơ bản:
Ta chia số phải đổi cho tỉ số của hai đơn vị
Vậy 30 phút = 30 : 60 = 12 giờ = 0,5 giờ
Cách 3: Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé
120km/giờ = 2km/phút
Ở phép đổi thứ hai ta giữ nguyên đại lượng thời gian còn đổi đại lượng độ
ờ
Trang 10dài nên các em vận dụng cách đổi đơn vị độ dài 1km = 1000 m Vậy ta lấy số cầnđổi nhân với 1000 Ta được : 2km/phút = 2000/phút
Ví dụ b đổi đơn vị bé sang đơn vị lớn
Ở phép đổi thứ nhất, đại lượng thời gian giữ nguyên ta chỉ việc đổi đại lượng
Ta được: 45m/phút = 0,75km/giờ
Biện pháp 2: Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản
Toán Chuyển động đều trong chương trình lớp 5 các em được học những
kiến thức cơ bản, đơn giản với số lượng bài ít gồm 3 tiết cung cấp kiến thức mới
về Vận tốc (v) , Quãng đường (s) và Thời gian (t) Sau mỗi tiết học hình thànhquy tắc và công thức mới về vận tốc, quãng đường, thời gian, tôi luôn khắc sâu,nhấn mạnh về các công thức này, đồng thời giúp các em hiểu được mỗi quan hệbiện chứng của 3 công thức Do vậy chỉ cần ghi nhớ 1 công thức là có thể nhớluôn cả hai công thức còn lại
s = v t v = s : t ; t = s : v
Biện pháp 3: Giúp học sinh nắm rõ bản chất mối quan hệ giữa các đại
lượng : vận tốc, quãng đường, thời gian.
- Bài toán Chuyển động đều ở Tiểu học là bài toán có chứa ba đại lượng:
Quãng đường(s), vận tốc(v), thời gian(t) Ba đại lượng này có mối liên hệ mậtthiết với nhau bởi quan hệ:
+ Muốn tìm quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian ( s = v t ) + Muốn tìm vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian ( v =
t s
)
Trang 11+ Muốn tìm thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc ( t =
v
s
) Trong mỗi công thức trên, các đại lượng phải sử dụng cùng một hệ thống đơn
vị đo Nghĩa là:
+ Đơn vị vận tốc phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và đơn vị thời gian
Chẳng hạn:
- Nếu đơn vị đo quãng đường là km, thời gian là giờ thì vận tốc là km/giờ
- Nếu đơn vị quãng đường m, thời gian là phút thì vận tốc là m/phút,…
+ Đơn vị thời gian phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và vận tốc.
Chẳng hạn:
- Nếu quãng đường là km, vận tốc là km/giờ thì thời gian là giờ
- Nếu quãng đường là m, vận tốc là m/phút thì thời gian là phút, …
+ Đơn vị quãng đường phụ thuộc vào đơn vị vận tốc và thời gian.
Chẳng hạn:
- Nếu vận tốc là km/giờ , thời gian là giờ thì quãng đường là km, …
+ Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau
Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân, phân số.
Trong nội dung bài mới của toán chuyển động đều, khái niệm vận tốc là một
khái niệm khó hiểu, trìu tượng đối với học sinh nên khi dạy bài này tôi đặc biệt chú ý Để học sinh hiểu rõ, nắm chắc bản chất của vận tốc, bằng các ví dụ cụ thể
sách giáo khoa, giúp học sinh hiểu : Nếu đem chia quãng đường đi được cho thời gian đi quãng đường đó thì sẽ được vận tốc trung bình của động tử Hay gọi tắt là vận tốc của động tử
Vận tốc = Quãng đường : thời gian
Để học sinh hiểu rõ ý nghĩa của vận tốc là chỉ rõ sự chuyển động nhanh hay
chậm của động tử tôi đã lấy 1 ví dụ cụ thể để hướng dẫn học sinh như sau:
Ví dụ : Em và chị cùng đi học từ nhà đến trường (hai chị em cùng học một
trường) Em được bố đèo bằng xe máy đi với vận tốc 30km/giờ Chị đi bằng xe đạp với vận tốc 12km/giờ Hỏi ai đến trường trước
Bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Trang 12
Nhà Trường
QĐ trong 1 giờ : 1 2 km
Từ sơ đồ học sinh dễ dàng nhận thấy người đến trường trước là người đi
nhanh hơn Qua đó học sinh hiểu rõ bản chất “Vận tốc chính là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian.”
* Ngoài ra các đại lượng trên còn có mối quan hệ tỉ lệ với nhau như:
- Với cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian (Nghĩa là: Với
cùng một vận tốc đi một quãng đường dài thì phải mất nhiều thời gian, đi quãng đường ngắn thì mất ít thời gian hơn Hay đi nhiều thời gian thì được một quãng đường dài, đi trong một thời gian ngắn thì được quãng đường ngắn hơn)
- Trong cùng một thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc (Trong một thời gian nhất định nếu đi quãng đường dài thì phải đi với vận tốc lớn, còn đi quãng đường ngắn hơn thì đi với vận tốc nhỏ hơn)
- Trên cùng một quãng đường thì vận tốc và thời gian là hai đại lượng tỉ lệnghịch
Với những mỗi quan hệ này , tôi cũng lấy ví dụ trong thực tế để học sinh dễnắm bắt
Biện pháp 4: Giúp học sinh nhận dạng và rèn kĩ năng giải các bài tập theo từng dạng cụ thể
Để giải tốt toán chuyển động, trước hết tôi hướng dẫn học sinh nhận dạngcác bài toán và thực hiện quy trình giải toán có lời văn Trong chương trình sáchgiáo khoa Toán 5, toán Chuyển động đều chỉ tập trung vào các dạng cụ thể sau: Dạng 1: Chuyển động thẳng đều có một động tử
Dạng 2: Chuyển động thẳng đều có hai động tử tham gia
Dạng 3: Chuyển động trên dòng nước
Mỗi dạng toán có những đặc điểm và cách giải riêng Vậy để giải tốt các bàitoán Chuyển động đều trước hết học sinh phải nắm chắc các đặc điểm và cách
Em
QĐ trong 1 giờ: 30 km
Chị