Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Cùng với các môn học khác, Toán học là môn học có vị trí vô cùng quan trọng, chiếm phần lớn thời gian trong chương trình học của trẻ. Nội dung toán học được xây dựng có hệ thống phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người, nó là một môn học có khả năng giáo dục rất to lớn về lý trí và những đức tính tốt đẹp như: năng động, sáng tạo, cần cù và nhiều kỹ năng tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Trong chương trình Toán học ở Tiểu học, Giải toán có lời văn là loại toán riêng biệt là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ, mạch kiến thức này chiếm một vị trí quan trọng xuyên suốt trong chương trình Toán học. Việc dạy học Giải toán có lời văn không chỉ giúp học sinh biết cách vận dụng linh hoạt những kiến thức về toán, những hiểu biết thực tế cuộc sống, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận mà nó còn góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, đó là những phẩm chất của con người xã hội mới. Như chúng ta đã biết, một trong bốn mạch kiến thức ở môn Toán 3 là Giải bài toán có lời văn. Các bài toán có lời văn (toán đơn và toán hợp) được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác. So với 3 mạch kiến thức còn lại (Số học, Hình học và Đo lường), khối lượng mạch giải toán không nhiều, song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận thấu đáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn đề của học sinh. Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy học sinh Tiểu học Giải toán có lời văn là một vấn đề không thể xem nhẹ. Qua thực tế nhiều năm giảng dạy khối Ba, tôi nhận thấy trong các kiến thức toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó nhất đối với học sinh nhất là Giải toán bằng hai phép tính. Bởi đối với một số học sinh vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Các em chưa biết phân tích bài toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng, thiếu lôgic. Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách phân tích và tìm ra lời giải của bài toán Giải bằng hai phép tính , đó là điều khiến tôi rất trăn trở bấy lâu và đây là lí do mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng giải các bài toán hợp cho học sinh lớp 3” , mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải toán hợp cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3C nói riêng. Để các em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn ở các lớp trên.
Trang 1M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
II Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng rèn kỹ
năng giải các bài hợp cho học sinh lớp 3
Biện pháp 3: Rèn kỹ năng trình bày bài giải cho học sinh 17
II Những bài học rút ra cho bản thân và đồng nghiệp sau
quá trình thực hiện
23
Trang 2PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng choviệc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Cùng với các môn học khác,Toán học là môn học có vị trí vô cùng quan trọng, chiếm phần lớn thời giantrong chương trình học của trẻ Nội dung toán học được xây dựng có hệ thốngphù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người, nó là một môn học
có khả năng giáo dục rất to lớn về lý trí và những đức tính tốt đẹp như: năngđộng, sáng tạo, cần cù và nhiều kỹ năng tính toán cần thiết để con người pháttriển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trongthời đại mới
Trong chương trình Toán học ở Tiểu học, Giải toán có lời văn là loại
toán riêng biệt là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ, mạch kiến thức này chiếmmột vị trí quan trọng xuyên suốt trong chương trình Toán học Việc dạy học
Giải toán có lời văn không chỉ giúp học sinh biết cách vận dụng linh hoạt
những kiến thức về toán, những hiểu biết thực tế cuộc sống, rèn luyện và pháttriển năng lực tư duy, phương pháp suy luận mà nó còn góp phần đào tạo họcsinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, cần cù, chịukhó, đó là những phẩm chất của con người xã hội mới
Như chúng ta đã biết, một trong bốn mạch kiến thức ở môn Toán 3 là
Giải bài toán có lời văn Các bài toán có lời văn (toán đơn và toán hợp) được
sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác So với 3 mạch kiến thức còn lại(Số học, Hình học và Đo lường), khối lượng mạch giải toán không nhiều, song
nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nóichung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy trừu
Trang 3tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận thấuđáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn đề của học sinh.
Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy học sinh Tiểu học Giải toán có
lời văn là một vấn đề không thể xem nhẹ
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy khối Ba, tôi nhận thấy trong các kiếnthức toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là
mạch kiến thức khó nhất đối với học sinh nhất là Giải toán bằng hai phép
tính Bởi đối với một số học sinh vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu,
khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Các em chưa biết phântích bài toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bàigiải, diễn đạt chưa rõ ràng, thiếu lôgic
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách phân tích và tìm ra
lời giải của bài toán Giải bằng hai phép tính , đó là điều khiến tôi rất trăn trở
bấy lâu và đây là lí do mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng rèn kỹ năng giải các bài toán hợp cho học sinh lớp 3” , mong tìm ra
những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải toán hợp cho học sinhTiểu học nói chung và học sinh lớp 3C nói riêng Để các em có thể giải thànhthạo hơn với những bài toán có lời văn ở các lớp trên
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1 Tìm hiểu các bài toán hợp ở lớp 3
2 Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học dạng toán hợp của giáo viên vàhọc sinh lớp 3 trường Tiểu học Nghĩa Dân
2 Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và họcgiải các bài toán hợp lớp 3
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương phápsau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
2 Phương pháp điều tra, thống kê
Trang 43 Phương pháp phân tích, tổng hợp.
4 Phương pháp thực nghiệm, kiểm chứng
5 Phương pháp đánh giá, tổng kết kinh nghiệm
IV- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng:
- Các bài toán hợp trong chương trình Toán 3
- Giáo viên và học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Nghĩa Dân
2 Phạm vi nghiên cứu: Các bài toán hợp (giải bằng 2 phép tính) trong
chương trình Toán lớp 3 và phương pháp giải
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Vị trí, tầm quan trọng của môn Toán trong trường Tiểu học
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triểnnhững cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam.Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí
vô cùng quan trọng, vì:
- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụngtrong đời sống; chúng cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học cácmôn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở Trung học
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng vàhình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phươngpháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động cóhiệu quả trong đời sống
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương phápsuy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề , nó góp phầnphát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đónggóp vào việc hìh thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người laođộng như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, cónền nếp và tác phong khoa học
2 Mục đích, tầm quan trọng của việc dạy giải các bài toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và giải toán hợp ở lớp 3 nói riêng
Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở trườngTiểu học Toán có lời văn thực chất là những bài toán được ghi bằng lời vănnói về những quan hệ tương quan giữa các đối tượng xảy ra trong cuộc sốnghàng ngày Việc dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học giúp học sinh biếtcách vận dụng những kiến thức về Toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với
Trang 6những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy họcgiải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rènluyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao độngmới.
Giải toán có lời văn là một hoạt động bao gồm những thao tác : xác lậpđược mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điềukiện của bài toán, chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bàitoán Cái khó của việc giải bài toán có lời văn là phải lược bỏ những yếu tố vềlời văn đã che đậy bản chất của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra các mốiquan hệ giữa các yếu tố toán học chứa trong bài toán từ đó nêu ra phép tính thíchhợp để tìm được đáp số bài toán
Khi giải các bài toán có lời văn ở Tiểu học HS phải tư duy một cách linhhoạt, áp dụng được tất cả các kiến thức, kỹ năng và khả năng vốn có vào giảitoán Các em phải biết phân tích và xử lý các tình huống, các dữ kiện trong bàitoán một cách tích cực, chủ động và sáng tạo Phải biết dự kiến các tình huốngxảy ra, các dữ liệu, những điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh.Như vậy trong giải toán có lời văn phát huy vai trò trung tâm, tích cực, chủđộng của HS, vì vậy mạch kiến thức giải toán có lời văn đóng vai trò quantrọng trong nội dung chương trình Toán Tiểu học
Toán có lời văn ở lớp 3 có hai dạng cụ thể: Các bài toán đơn là nhữngbài toán được giải bằng một bước tính và các bài toán Giải bằng hai phép tính,
đó là những bài toán hợp Mục đích của việc giải các bài toán đơn ở lớp 3nhằm củng cố cách giải các bài toán có lời văn và làm tiền đề để giải các bàitoán bằng hai phép tính và các bài toán hợp ở các lớp trên
3 Nội dung, chương trình các bài toán hợp ở lớp 3
3.1 Các bài toán có lời văn trong chương trình toán tiểu học
Căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học, nội dung các bài toán có lời văn được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Các bài toán có lời văn ở Tiểu học được chia thành 2 dạng: các bài toán đơn và các bài toán hợp Cụ thể:
Trang 7Dạng 1: Toán đơn là bài toán được giải bằng một phép tính Các bài
toán đơn chủ yếu tập trung nhiều ở lớp 1,2 và lớp 3 Cụ thể:
Lớp 1: Toán có lời văn được đưa vào chương trình lớp 1 từ tiết 26 (bài
luyện tập trong phạm vi 3) Mức độ yêu cầu giảng dạy toán có lời văn ở lớp 1 được chia thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Là giai đoạn chuẩn bị cho việc học giải toán (ở học kì I)
Ở giai đoạn này các em làm quen với các tình huống qua tranh vẽ, từ đó nêu thành bài toán có lời văn (nêu miệng) và giải bài toán bằng cách viết phép tínhthích hợp vào 5 ô trống
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn chính thức học giải toán có lời văn (ở học kì II) Các bài toán trong giai đoạn này là các bài toán đơn có nội dung “Thêm một số đơn vị” và “Bớt một số đơn vị” Ở giai đoạn này các em chính thức được biết thế nào là bài toán có lời văn, biết cách giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn (ở mức độ hoàn chỉnh gồm câu trả lời, phép tính và đáp số)
Lớp 2: Các em tiếp tục được học giải các bài toán đơn với 4 phép tính
cộng, trừ, nhân, chia Trong đó có các dạng toán cơ bản “nhiều hơn” , “ít hơn” một số các bài toán về Tìm các thành phần chưa biết trong phép tính, bước
đầu làm quen với viêc giải bài toán có nội dung hình học như tính độ dài,tínhchu vi các hình ,các bài toán liên quan đến phép tính với các đơn vị đo đã học(cm,m,km ,kg…)
Lớp 3: Tiếp tục ôn tập và củng cố cách giải các bài toán đơn ở lớp 1 và
lớp 2 và học thêm một số dạng toán đơn cơ bản khác như Tìm một trong các
phần bằng nhau của một số, Gấp một số lên nhiều lần, Giảm một số đi nhiều lần, Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, các bài toán liên quan đến tính chu
vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông, …
Lớp 4,5: Các em vẫn tiếp tục được giải các bài toán đơn liên quan đến
phân số, tỉ số, tỉ số phần trăm và một số bài toán đơn liên quan đến hình học,đến toán chuyển động áp dụng trực tiếp công thức
Dạng 2: Toán hợp là bài toán được giải bằng một số bước tính ( từ 2
bước tính trở lên)
Trang 8Bài Toán hợp chứa đựng trong nó những bài Toán đơn theo một cấu
trúc : số phải tìm trong bài toán đơn này lại là số cho trước của bài toán đơnkhác; hay là kết quả của phép tính trong bài toán đơn này sẽ trở thành mộtphần của phép tính trong bài toán đơn tiếp sau đó Các bài toán hợp được đưavào chương trình giải toán có lời văn ở Tiểu học bắt đầu từ Tuần 10 của lớp 3
Trong Toán hợp, có những bài toán mà quá trình giải không có một
phương pháp thống nhất cho các bài toán đó Nhưng cũng có các bài toán hợp
có cùng một cấu trúc và cùng một cách giải nhất định gọi là Toán điển hình.
Các bài toán điển hình được học tập trung ở lớp 4,5 như: Tìm số trung bình
cộng, Tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó, Tìm hai số biết tổng (hiệu) hoặc tỉ số của hai số đó, Các bài toán tỉ lệ…
3.2 Nội dung, chương trình các bài toán hợp ở lớp 3
Tiết toán thứ 5 của tuần 10 trong chương trình Toán 3, các em chính
thức được làm quen với Bài toán giải bằng hai phép tính, đó là những bài
Toán hợp đầu tiên của chương trình toán Tiểu học
Bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 được học chính thức trong 3 tiết(2 tiết bài mới trang 50, 51 và 1 tiết luyện tập trang 52) Ngoài ra các bài toánhợp giải bằng 2 phép tính của lớp 3 còn nằm rải rác, đan xen ở các tiết từ tuần
12 đến cuối năm học Đây là những bài toán cơ bản đầu tiên rèn luyện tư duyphân tích tổng hợp cho học sinh
4 Những hạn chế trong dạy và học giải các bài toán hợp lớp 3 ở trường Tiểu học Nghĩa Dân
Qua thực tế giảng dạy, trao đổi với một số giáo viên trong trường,phỏng vấn một số em học sinh và qua dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy giáo viên
và học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Nghĩa Dân của chúng tôi còn có một số hạnchế sau:
1 Giáo viên: Giáo viên tuy có nhiều cố gắng, đạt được một số thành
công song cũng còn những điểm hạn chế nhất định Trong giảng dạy giáo viên
Trang 9chưa giúp cho HS thực sự có được “quy trình ” giải bài toán có lời văn, chưagiúp cho các em có được kĩ năng thực hành giải toán theo tiêu chuẩn đối với
HS lớp 3
Hiện nay đổi mới phương pháp dạy học đang được phổ biến rộng rãi,đặc trưng chủ yếu của phương pháp là lấy học sinh làm trung tâm, giáo viênchỉ là người tổ chức, định hướng cho học sinh tự tìm ra kiến thức Điều đókhông có nghĩa là trong giải toán có lời văn giáo viên bỏ mặc cho học sinh tựđọc đề bài, tự tìm hiểu, tự làm và tự trình bày bài giải Một số giáo viên cứthấy học sinh giải được bài toán là được mà không quan tâm và biết rằng em
đó thực chất có hiểu nội dung bài toán đó nói gì không? Hay có phải thực chất
em đó giải được bài toán đó không?
Giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc hướng dẫn kĩ năng đọc đề toán chohọc sinh Hoặc có giáo viên vẫn áp dụng cách dạy cũ: Thầy giảng – Trò nghe, chưa chủ động thiết kế bài giảng mà còn phụ thuộc vào sách giáo viên, sách thiết kế, dẫn đến không xác định được trọng tâm
Mặt khác, khi dạy giải các bài toán hợp, giáo viên chưa chú ý hướngdẫn HS theo 4 bước trong giải toán có lời văn nên hầu như học sinh không cóthói quen phân tích bài toán mà chủ yếu dựa vào GV dẫn đến việc giáo viêndạy theo kiểu áp đặt, không phát huy được tính tích cực của HS
2 Học sinh
Giải toán có lời văn là dạng toán khó nhất đối với học sinh Tiểu học.Nhiều em làm tốt dạng toán tính nhưng sang dạng toán này các em vẫn khôngtiếp thu được, các em chỉ nắm (biết) cách giải bài toán ngay ở trên lớp dưới sựhướng dẫn , giúp đỡ của giáo viên, song khi rèn kĩ năng thực hành hay vậndụng vào thực tế thì còn rất nhiều hạn chế Tại sao vậy?
- Nguyên nhân thứ nhất: Do vốn từ ngữ, vốn sống thực tế của các em
còn nhiều hạn chế, các em không hiểu quan hệ giữa các yếu tố nêu trong bàitoán dẫn đến các em không phân tích được bài toán
- Nguyên nhân thứ hai: Do tâm lý bản thân các em cho đó là dạng toán
khó nên không đọc kĩ bài toán, không tự suy luận được yêu cầu bài toán đặt ra
Trang 10là gì ? khi không suy nghĩ được cách trả lời thì không mày mò làm tiếp hoặclàm đại khái qua loa, từ từ dẫn đến chuyện không giải được các bài toán hợpluôn.
- Nguyên nhân thứ ba: là mất căn bản toán học về các phép tính cộng,
trừ, nhân, chia, các em không hiểu thuật ngữ toán học như: “gấp” , “giảm”,
“kém”, “hơn”, “nhiều hơn”, “ít hơn”, Dẫn đến các em không xác định rõ khi nào làm phép tính gì
- Nguyên nhân thứ tư: Do không được rèn kĩ năng giải toán thường
xuyên, nên các bỏ qua các bước căn bản trong giải toán, đó là tóm tắt đề toán
và bước kiểm tra lại bài dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tínhnhầm, do chủ quan
Ngoài ra, còn có những trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúngtúng trong cách trình bày nhất là với các bài toán giải có lời văn phức tạp phảigiải bằng nhiều bước tính
Từ thực tế đó, tôi đã dành thời gian tập trung nghiên cứu, đúc rút kinhnghiệm và áp dụng kinh nghiệm đó vào thực tế giảng dạy trong năm học này
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN HỢP CHO HỌC SINH LỚP 3
Biện pháp 1 Rèn kĩ năng tìm hiểu và tóm tắt bài toán hợp cho học sinh:
Đây là một bước quan trọng không thể thiếu được trong dạy – học giảitoán Ở bước này trước tiên giáo viên giúp học sinh xác định được 3 yếu tố cơbản của bài toán: Dữ kiện (là những cái đã cho, đã biết trong đề bài), ẩn số (lànhững cái chưa biết, cần tìm), điều kiện (là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số)
và xác định được mỗi quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm sau đó trình bàylại một cách ngắn gọn, cô đọng - đó chính là tóm tắt bài toán
Như chúng ta đã biết, phần tóm tắt bài toán không phải là một thànhphần trong khâu trình bày bài giải, nhưng là phần quan trọng giúp HS có cáinhìn tổng thể về toàn bộ nội dung bài toán, từ đó tìm được mối liên hệ cầnthiết giữa cái đã cho và cái phải tìm Qua đó, giúp các em biết lựa chọn phéptính thích hợp
Trang 11Như trên đã nói, bài toán hợp là bài toán chứa đựng trong nó những bàitoán đơn theo một cấu trúc nhất định Mà ở lớp 3, các bài toán hợp đều đượccấu trúc theo kiểu: số phải tìm trong bài toán đơn này là số cho trước của bàitoán đơn khác; hay là kết quả của phép tính trong bài toán đơn này sẽ trở thànhmột phần của phép tính trong bài toán đơn tiếp sau đó.
Vậy để giúp học sinh lớp 3 tóm tắt được các bài toán hợp, trước hết giáoviên cần phải hướng dẫn học sinh rèn luyện tốt kĩ năng tóm tắt các bài toánđơn Vì vậy, việc rèn cho học sinh thuần thục khâu tóm tắt các bài toán đơn(chủ yếu bằng sơ đồ đoạn thẳng là không thể thiếu Việc thuần thục khâu tómtắt bài toán đơn không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nócòn là cơ sở giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán hợp
Đối với phần này, giáo viên tuyệt đối không được làm cho học sinh mànên để học sinh tự làm để phát huy năng lực chủ động, sáng tạo trong giảitoán Giáo viên nên vận dụng phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh tựkhám phá, tìm hiểu và tóm tắt bài toán Có thể chuyển từ phương pháp “Đàmthoại” sang “Đàm bút” nghĩa là không hỏi những câu hỏi đơn thuần: “Bài toáncho biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?” mà yêu cầu học sinh gạch một gạch dướinhững cái đã biết và gạch hai gạch dưới những cái chưa biết, sau đó tóm tắtbài toán
Trên thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán Như:
dễ dàng hơn Trong thực tế dạy học, tôi đã nhắc nhở các em nên chọn cách