1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học Cách mạng khoa học – công nghệ và việc áp dụng nó vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở việt nam hiện nay

58 653 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 434 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẤU Từ khi loài người xuất hiện đến nay, dù ở thời đại nào thì con người luôn dựa vào tri thức sáng tạo để tăng thêm khả năng, sức mạnh cho mình. Trải qua từng giai đoạn phát triển, loài người lại đạt được những thành tựu to lớn về rất nhiều lĩnh vực Thuở sơ khai, những kinh nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi chính là những công nghệ đầu tiên, tuy hết sức thô sơ, giản đơn nhưng cũng giúp con người bỏ qua được xã hội hoang sơ để bước vào nền văn minh đầu tiên của con người nền văn minh nông nghiệp. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, các cuộc cách mạng khoa học đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện. Lực lượng sản xuất, nhờ vào hệ thống công nghệ mới đã ngày càng thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển nhảy vọt. Trong xã hội công nghiệp, khoa học công nghệ vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội của các quốc gia và thế giới. Vai trò của khoa học ngày càng tăng trong xã hội hiện đại và ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển. Ngày nay, việc áp dụng cách mạng khoa học – công nghệ vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam là điều cần thiết. Qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, Đảng ta đã quán triệt quan điểm công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cách mạng khoa học công nghệ là con đường, là phương tiện để nước ta có thể đẩy mạnh nhanh hơn sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Vì ý nghĩa rất lớn của cách mạng khoa học công nghệ, em chọn đề tài tiểu luận: “Cách mạng khoa học – công nghệ và việc áp dụng nó vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Liên hệ với thực tiễn của ngành hoặc địa phương”. Qúa trình làm tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô nhận xét và bổ sung cho tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn

Trang 1

Mục lục

Phần mở đầu

Phần nội dung

A Một số vấn đề chung về cách mạng khoa học – công nghệ

I Khỏi quỏt lịch sử phỏt triển của cỏch mạng khoa học- cụng nghệ

1 Một số khỏi niệm liờn quan

2 Khỏi quỏt lịch sử phỏt triển của cỏch mạng khoa học – cụng nghệ

II Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ lần 3 (Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ hiện đại)

1 Tiền đề

2 Đặc trưng của cuộc cỏch mạng khoa học và cụng nghệ lần 3 (từ thế kỷ

XX đến nay)

2.1 Sự phỏt triển của cụng nghệ cao

2.2 Cỏc cụng nghệ trụ cột chớnh và những thành tựu của chỳng

3 Tỏc động của cuộc cỏch mạng khoa học và cụng nghệ hiện đại đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội

3.1 Khoa học và cụng nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

3.2 Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ hiện đại thỳc đẩy quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phỏt triển lực lượng sản xuất

3.3 Cỏch mạng khoa học cụng nghệ hiện đại làm thay đổi cơ cấu xó hội

3.4 Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ hiện đại thỳc đẩy quỏ trỡnh toàn cầu hoỏ

3.5 Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ làm cho trỏch nhiệm xó hội của khoa học trong thế kỷ XXI tăng lờn

Trang 2

III Áp dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

1 Khái niệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá

2 Một số vấn đề về khoa học và công nghệ ở Việt Nam

2.1 Luật công nghệ cao ở Việt Nam

2.2 Khoa học và công nghệ ở Việt Nam có nhiều tiến bộ trong những năm vừa qua

2.3 Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ

3 Kinh tế tri thức và mối liên hệ giữa kinh tế tri thức với công nghiệp hoá - hiện đại hoá và khoa học và công nghệ

3.1 Một số vấn đề về kinh tế tri thức

3.1.1 Khái niệm

3.1.2 Vai trò của kinh tế tri thức trong thời đại hiện nay

3.2 Mối mối liên hệ giữa kinh tế tri thức với công nghiệp hoá - hiện đại

hoá và khoa học và công nghệ

3.3 Một số thành tựu của khoa học công nghệ Việt Nam trong thời gian gần đây

C Thùc tiÔn thùc hiÖn c¸ch m¹ng khoa häc – c«ng nghÖ ëQu¶ng B×nh

I Tình hình chung về khoa học công nghệ ở Quảng Bình

1 Các đơn vị khoa học – công nghệ trong Tỉnh

Trang 3

2 Quảng Bình ứng dụng khoa học công nghệ vào tất cả các các lĩnh vực

3 Những thành tựu nổi bật của khoa học công nghệ Quảng Bình

Phần kết luận

PHẦN MỞ ĐẤU

Từ khi loài người xuất hiện đến nay, dù ở thời đại nào thì con người luôndựa vào tri thức sáng tạo để tăng thêm khả năng, sức mạnh cho mình Trảiqua từng giai đoạn phát triển, loài người lại đạt được những thành tựu to lớn

Ngày nay, việc áp dụng cách mạng khoa học – công nghệ vào sự nghiệpđẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam là điều cần thiết Quacác kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, Đảng ta đã quán triệt quan điểm côngnghiệp hoá - hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Cách mạng khoa học công nghệ là conđường, là phương tiện để nước ta có thể đẩy mạnh nhanh hơn sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 4

Vỡ ý nghĩa rất lớn của cỏch mạng khoa học cụng nghệ, em chọn đề tài tiểuluận: “Cỏch mạng khoa học – cụng nghệ và việc ỏp dụng nú vào sự nghiệpđẩy mạnh cụng nghiệp hoỏ - hiện đại hoỏ ở Việt Nam hiện nay Liờn hệ vớithực tiễn của ngành hoặc địa phương” Qỳa trỡnh làm tiểu luận chắc chắn sẽkhụng trỏnh khỏi những thiếu sút, kớnh mong cỏc thầy cụ nhận xột và bổsung cho tiểu luận của em được hoàn thiện hơn Em xin cảm ơn!

PHẦN NỘI DUNG

A Một số vấn đề chung về cách mạng khoa học – công nghệ

I Khỏi quỏt lịch sử phỏt triển của cỏch mạng khoa học- cụng nghệ

1 Một số khỏi niệm liờn quan

 Khoa học: là hệ thống những tri thức về thế giới khỏch quan

 Tri thức: là những điều hiểu biết cú hệ thống về sự vật, hiện tượng hayquỏ trỡnh nào đú

 Cụng nghệ: là phương phỏp gia cụng, chế tạo làm thay đổi trạng thỏi,tớnh chất, hỡnh dỏng của nguyờn vật liệu hoặc bỏn thành phẩm để tạo

 Hoạt động cụng nghệ cao: là nghiờn cứu và phỏt triển, ứng dụngcụng nghệ cao, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ cụng nghệ

Trang 5

cao, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;phát triển doanh nghiệp, công nghiệp công nghệ cao

 Sản phẩm công nghệ cao: là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, cógiá trị gia tăng cao

 Doanh nghiệp công nghệ cao: là doanh nghiệp sản xuất sản phẩmcông nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; có nguồn lực vàđầu tư cho nghiên cứu và phát triển

 Công nghiệp công nghệ cao: là các ngành kinh tế - kỹ thuật sảnxuất sản phẩm công nghệ cao và cung ứng dịch vụ công nghệ cao

 Ươm tạo công nghệ cao: là hoạt động trợ giúp tổ chức, cá nhân có

ý tưởng công nghệ, kết quả nghiên cứu, công nghệ chưa hoàn thiệnnhằm tạo ra, hoàn thiện công nghệ cao theo mục tiêu thương mạihoá

 Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao: là hoạt động trợ giúp tổchức, cá nhân có sở hữu công nghệ cao thành lập doanh nghiệpcông nghệ cao

 Khu công nghệ cao: là khu chuyên nghiên cứu và phát triển, ứngdụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanhnghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất vàkinh doanh sản phẩm công nghệ cao; có ranh giới địa lý xác định;được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính Phủ

 Kỹ thuật:

- Là phương tiện phục vụ cho sản xuất

- Là phương pháp tiến hành một công việc

- Là tính từ chỉ trình độ cao, khéo léo của người lao động

 Công nghiệp: là ngành sản xuất vật chất dựa trên khoa học, kỹthuật và công nghệ

Trang 6

2 Khái quát lịch sử phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ

Từ khi con người xuất hiện, con người luôn dựa vào tri thức, khả năngsáng tạo của mình để nâng cao sức mạnh và chế ngự thiên nhiên, bắtthiên nhiên phục vụ mình

2.1 Thời kỳ tiền sử (thời kỳ đồ đá cũ)

Đây là một thời gian rất dài, chiếm tới 99% thời gian tồn tại của loàingười (tính đến hiện nay) Thời gian này tồn tại khoảng 700.000 năm.Con người chủ yếu làm theo bản năng như săn bắt, hái lượm, chưa cókhái niệm gì về khoa học, công nghệ

2.2 Nền văn minh nông nghiệp (nền văn minh gốc tự nhiên)

Nhờ tích góp kinh nghiệm cuộc sống, con người đã sáng tạo ra cáchchăn nuôi và trồng trọt là những công nghệ đầu tiên, tuy hết sức thô sơsong cũng giúp con người bỏ qua được xã hội hoang sơ để bước vàonền văn minh nông nghiệp

Nền văn minh nông nghiệp có vào khoảng 7000 năm trước, được đánhdấu bằng việc phát minh ra chiếc cày do súc vật kéo, mở ra nhữngtrang đầu tiên trong lịch sử văn minh của loài người

Những phát minh chủ yếu của thời kỳ này:

- Cày, bừa do trâu bò kéo

- Máy bơm, cối xay chạy bằng nước

- Tên nỏ, thuốc sung

Trang 7

Những phát minh đó đã tạo những tiến bộ to lớn, hỗ trợ lao động cơ bắp,nâng cao sức sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển loài người

2.3 Nền văn minh công nghiệp

 Tiền đề: là cách mạng khoa học – công nghệ lần 1 (bắt đầu từ cuốithế kỷ XVII) Cuộc cách mạng khoa học này gắn liền với nhiềuthiên tài khoa học như: Niutơn (người phát minh ra định luật vạnvật hấp dẫn), Đêcáctơ (người sáng tạo ra môn hình học giải tích),Culông (người đặt nền móng cho kỹ thuật về điện và điện tử)…

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất: là kết quả của cuộccách mạng khoa học – công nghệ lần 1 diễn ra vào cuối thế kỷXVIII và bắt đầu ở nước Anh rồi lan sang các nước Tây Âu khácvào nửa đầu thế kỷ XIX

Đây là giai đoạn quá độ từ nền sản xuất thủ công sang nền sản xuất cơkhí với các sản phẩm công nghệ mới như:

- Than đá (1709)

- Máy động lực dùng hơi nước (1712)

Máy động lực dùng hơi nước đã thay thế hệ thống công nghệ thủ công làthan củi, sức kéo động vật vốn đang làm nền công nghiệp khi đó đình trệ

vì lượng gỗ tiêu thụ quá lớn Nhờ hệ thống công nghệ mới này đã thúcđẩy kinh tế thế giới phát triển nhảy vọt

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai: diễn ra từ nửa sau thế

kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

 Đặc điểm của cuộc cách mạng này:

- Cho ra đời hệ thống công nghệ điện – cơ khí,

- Đưa lực lượng sản xuất tiến lên một bước từ nền sản xuất cơ khíchuyển sang nền sản xuất đại cơ khí và tự động hoá cục bộ

Trang 8

- Cuộc cách mạng này đã dẫn đến nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng2% với những đổi thay sâu sắc

- Tạo ra một loạt những ngành nghề mới

ít phụ thuộc hơn vào lượng lao động phải bỏ ra mà trước hết phụ thuộcvào trình độ ứng dụng của khoa học vào sản xuất hay vào sự phát triểncủa công nghệ Nền công nghệ truyền thống với yếu tố vật chất là quyếtđịnh không thể tồn tại một cách lâu dài và vững bền Con người ngàycàng phải phát huy khả năng sáng tạo của mình, tạo ra một hệ thốngcông nghệ mới, phát triển về cả lượng và chất, khắc phục được nhữnghạn chế ràng buộc, đưa xã hội loài người tiếp tục tiến lên Và sự thật làcon người vẫn tiến lên, tiến đến cuộc cách mạng khoa học và công nghệlần 3

II Cách mạng khoa học và công nghệ lần 3 (Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại)

Trang 9

1 Tiền đề

Để đáp ứng những đòi hỏi bức bách đặt ra về tài nguyên, môi trường…,khoa học và công nghệ thế kỷ XX đã có những bước phát triển nhảy vọt,vượt xa những thành tựu đã đạt được trong những thiên niên kỷ trướcvới tốc độ phát triển : “một ngày bằng 20 năm”

Nguồn gốc của sự phát triển mang tính đột biến này là ba phát minh vĩđại đầu thế kỷ XX

- Thuyết tương đối của Anhxtanh

- Thuyết lượng tử của Plăngcơ

- Sự phát hiện ra mật mã di truyền của Oatxơn và Gricơ

Những phát minh này là đã mở ra thế giới vi mô của vật chất, đánh dấumột bước tiến vĩ đại của khoa học và công nghệ Loài người đã nhanhchóng mở rộng tri thức của mình từ chỗ khám phá các quy luật vận độngcủa thế giới vi mô, tạo ra một hệ thống công nghệ mới cao cấp hơn hẳn

hệ thống công nghệ cũ: đó là các công nghệ vi điện tử, máy tính, quangđiện tử, laze, vật liệu mới, hạt nhân, gen, tế bào…

2 Đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần 3 (từ thế kỷ XX đến nay)

2.1 Sự phát triển của công nghệ cao

Khái niệm công nghệ cao được sử dụng bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ

XX khi một loạt những ngành công nghệ mới ra đời làm cho ranh giới giữakhoa học và công nghệ không tồn tại một cách rõ ràng Công nghệ cao dựavào những thành tựu khoa học mới nhất với hàm lượng tri thức và hoàmlượng khoa học sáng tạo cao nhất Không phải công nghệ truyền thống đượcứng dụng một phần công nghệ cao thì được gọi là công nghệ cao Ví dụ nhưcông nghệ xe hơi truyền thống của Hoa Kỳ tuy rất hiện đại nhưng vẫn chưaphải là công nghệ cao Chỉ khi động cơ thay bằng nhiên liệu không ô nhiễm,

Trang 10

hệ thống điều khiển được tự động hoá toàn bộ thì mới được gọi là công nghệcao Trong nông nghiệp, những công nghệ tạo ra sản phẩm không phải chủyếu từ những cây, con nuôi trồng truyền thống mà từ công nghệ gen, côngnghệ tế bào, công nghệ enzim… được gọi là công nghệ cao

Các ngành công nghiệp công nghệ cao như: viễn thông, máy tính, thiết bịvăn phòng, thiết bị khoa học, dược phẩm, hàng không vũ trụ…là nhữngngành mà các nước trên thế giới đang chạy đua với nhau để mong đạt đượcnhững thành tựu và tự khẳng định mình trên trường quốc tế

Trong sản xuất dựa vào các công nghệ mới, chi phí nguyên liệu cho một đơn

vị thành phẩm ngày càng ít hơn Vào những năm 20 của thế kỷ XX, chi phínguyên liệu và năng lượng cho một chiếc xe hơi chiếm tới 60% tổng cho phísản xuất Nhưng đến những năm 80 của thế kỷ XX, chi phí vật chất chỉ cònchiếm 2% so với 98% chi phí cho phần trí tuệ trong tổng chi phí cho sảnxuất cho một cụm vi mạch bán dẫn Dây cáp đồng của những năm 80 của thế

kỷ XX có hàm lượng nguyên liệu và nhiên liệu gần 80% còn ở đây cáp điệnthoại bằng sợi thuỷ tinh của những năm 1990 hàm lượng đó chỉ chiếm 10%.Dây cáp đồng chỉ có thể chuyển tải 1 trang thông tin trong 1 giây trong khidây cáp quang có thể chuyển tải được hàng vạn tập sách 1 giây Phần chi phívật chất cho sản phẩm ngày càng giảm, trong khi giá trị sản phẩm ngày càngtăng do có hàm lượng chất xám cao

2.2 Các công nghệ trụ cột chính và những thành tựu của chúng

2.2.1 Công nghệ sinh học

Nó dựa vào sự hiểu biết về sự sống, về bản than con người cũng như về sựsống xung quanh mình Phải có sự hiểu biết đầy đủ thì con người mới có thểphát triển một cách toàn diện, có sức khoẻ, có cuộc sống tốt đẹp

Trong công nghệ sinh học, các lĩnh vực công nghệ cao bao gồm:

- Công nghệ tế bào

Trang 11

- Công nghệ enzim

- Công nghệ gen

- Công nghệ lên men vi sinh vật

- Công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật

- Công nghệ nuôi cấy mô tế bào động vật

- Công nghệ chuyển hoá thông qua enzim

Trong đó, kỹ thuật mấu chốt quyết định sự ra đời của công nghệ sinh họchiện đại là kỹ thuật AND tái tổ hợp và công nghệ gen Các công nghệ này đãcho phép con người tạo ra các thần dược để kéo dài tuổi thọ của con người,tạo ra những giống cây trồng mới có chất lượng, có năng suất cao

Các sản phẩm do công nghệ sinh học tạo ra rất đa dạng, phong phú và hầunhư có mặt trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả ngành côngnghiệp nặng như: công nghiệp khai thác quặng, dầu mỏ…

 Công nghệ sinh học cổ đại: xuất hiện 1000 năm trước côngnguyên Lúc đó con người biết lợi dụng nấm men, một loại visinh vật trong rượu và chưng cất rượu

 Công nghệ sinh học truyền thống: được đánh dấu bởi năm 1855,khi Paxtơ phát hiện ra vi sinh vật là nguyên nhân gây bệnh và làmthối rữa động thực vật Ngành vi sinh vật học ra đời đánh dấumốc phát triển của giai đoạn phát triển công nghệ sinh học truyềnthống

 Công nghệ sinh học hiện đại: được bắt đầu từ năm 1953, khi Cric

và Oatxơn phát hiện ra mô hình cấu trúc phân tử AND Đến năm

1980, kỹ thuật AND tái tổ hợp ra đời nhờ phát minh về các enzimhạn chế (cho phép cắt và ghép nối các phân tử AND), mở ra thời

kỳ phát triển vũ bão của công nghệ sinh học hiện đại

Trang 12

Công nghệ sinh học đã mang lại những biến đổi rất to lớn trong rất nhiềulĩnh vực

 Trong nông nghiệp: con người đã sử dụng phổ biến phương pháp nuôicấy mô để nhân vô tính các giống cây trồng, sử dụng phương phápcấy ghép hợp tử để nhân nhanh các giống gia súc quý, sử dụng côngnghệ AND tái tổ hợp và ghép gen để tạo ra những giống cây ăn quảhoặc cây lương thực mới có năng suất cao, có khả năng cố định đạmkhông khí hoặc chống chịu một số loại dịch bệnh

- Các nhà khoa học thành công trong việc cấy một số gen thích hợpvào trứng mới thụ tinh của gia súc, gia cầm, thuỷ sản để có thể nângcao tốc độ và khối lượng tăng trưởng của các loại vật nuôi Áp dụngcông nghệ này, người ta có thể làm cho trứng gà hoặc sữa bò có đượcnhững protein rất quý và có lợi cho sức khoẻ

- Công nghệ sinh học tạo được nhiều loại phân vi sinh, thuốc trừ sâu visinh, các loại thức ăn giàu protein cho gia súc, các loại chất ngọt, chấtthơm và gia vị quý cần cho công nghiệp thực phẩm

- Công nghệ sinh học giúp con người có thế tạo ra được những giốnglúa theo ý muốn Trong 5 – 10 năm tới, các giống lúa có năng suấttrên 15 tấn/ha sẽ được áp dụng rộng rãi

- Sử dụng công nghệ gen sẽ giúp tạo ra những loại cây trồng có sảnlượng cao, có khả năng kháng bệnh và giàu dinh dưỡng

- Kỹ thuật canh tác bằng máy máy móc sẽ thay thế kỹ thuật canh tácnông nghiệp truyền thống

- Các kỹ thuật nông nghiệp như gieo mạ, tưới tiêu, bón phân và sáttrùng được điều khiển bằng máy vi tính

- Phương pháp nuôi trồng cây không có đất được sử dụng rộng rãi sẽgiúp cho sản lượng của các loại cây trồng tăng lên rất nhiều

Trang 13

- Dân số thế giới ngày càng tăng lên, diện tích đất đai trồng trọt ngàycàng giảm và nếu chúng ta không dựa vào những thành tựu của khoahọc công nghệ, đưa những kỹ thuật cao vào sản xuất thì sẽ dẫn đếntình trạng thiếu lương thực thực phẩm Theo các nhà khoa học, nếukhông đưa kỹ thuật cao vào để nâng cao chất lượng sản phẩm thì đếnnăm 2025, tình trạng đói nghèo sẽ tăng lên khoảng 40%

 Trong lĩnh vực y, dược: công nghệ sinh học, đặc biệt là công nghệ gen

đã đạt được rất nhiều thành tựu trong chẩn đoán, phòng và điều trịbệnh

- Ngày 26/6/2000, bản đồ gen con người đã được công bố là cơ bảnhoàn thành Bản đồ này đã đọc được 3,23 tỷ trong 3.5 tỷ nucleotide -chữ cái của mã di truyền bộ gen con người

- Ngày 12/2/2001, bản đồ chi tiết bộ gen con người đã được công bố Khi nắm được quy luật của bộ gen con người thì chúng ta sẽ hiểu được tìnhtrạng sức khoẻ của con người và những gì sẽ xảy ra đối với quá trình pháttriển của từng con người để từ đó biết cách chữa trị và sửa chữa nhữngkhiếm khuyết của con người Điều này đồng nghĩa với việc điều khiển sựsống của con người, khắc phục bệnh tật và điều quan trọng là những bệnhhiểm nghèo như ung thư hay “bệnh thế kỷ” như AIDS sẽ được chữa trị, tuổithọ con người sẽ được kéo dài Hơn nữa, đã có rất nhiều thành tựu đạt đượckhi con người nắm được quy luật của bộ gen con người

- Năm 1993, các nhà khoa học Anh đã thành công trong việc tạo ra chúcừu Dolly bằng phương pháp nhân bản vô tính Nhờ ứng dụngphương pháp này, các nhà khoa học thuộc viện bảo tàng Australia cóthể làm sống lại loài hổ Tasmanian - một loại động vật quý hiếm đã

bị tuyệt chủng cách đây trên một thế kỷ Hiện nay, viện bảo tàng nàyđang lưu giữ rất nhiều những nguyên liệu để có thể đưa lời động vật

Trang 14

này trở lại với thiên nhiên Đây là một bước đột phá quan trọng tronglĩnh vực y học, mở ra một triển vọng mới trong việc hồi sinh nhữngloài động vật đã bị tuyệt chủng và đồng thời là phương án tối ưu đểbảo vệ các loài động vật trước nguy cơ bị tuyệt chủng

- Nhờ xác định được cơ chế quan hệ giữa bệnh và gen khuyết tật tươngứng đã bắt đầu điều trị được một số bệnh có nguồn gốc di truyềnbằng cách tác động vào các tế bào có liên quan Đây là một thành tựurất đáng quan tâm

- Các nhà khoa học đang tạo ra những loại vắc xin sống có khả năngtạo miễn dịch cao hơn và có khả năng đa trị như vắc xin chống virutHIV, các bệnh ký sinh, các bênh nhiễm khuẩn và cả trong lĩnh vựcchống thụ thai cũng đang trở thành hiện thực

- Các loại vắc xin cũng sẽ được đưa vào thực vật sử dụng trong cácbữa ăn hàng ngày Điều này sẽ được tiến hành bởi các công nghệ tái

tổ hợp AND, miễn dịch phân tử, sinh học phân tử, hoá học phân tíchpolysacarrit và những nghiên cứu về nguyên nhân phát sinh bệnh

Ta thấy rằng: những khả năng mới của công nghệ y – sinh như cấy ghép

và thay thế cơ quan sinh sản nhân tạo, dự báo và điều trị các bệnh ditruyền đang đưa lại cho ngành y học sức mạnh to lớn để phục vụ lợi íchcho con người nhưng đồng thời cũng đặt ra cho các nhà khoa học nhữngđòi hỏi rất cao về tinh thần trách nhiệm và ý thức đạo đức xã hội Việcchú cừu Dolly ra đời bằng phương pháp sinh sản vô tính đã kéo theohàng loạt những chú cừu, chú bê khác ra đời Và vấn đề băn khoăn làliệu phương pháp này có được dùng để sinh sản ra con người hay không

và lẽ nào mỗi con người lại cho phép có những bản sao giống hệt mình.Trong nhiều hội nghị khoa học đã bàn luận rất nhiều về vấn đề này và đi

Trang 15

đến kết luận là không được phép dùng phương pháp sinh sản vô tính chongười

Hơn nữa, nhiều vấn đề về đạo đức đang tiếp tục đặt ra và cần nghiêm túcxem xét như khả năng lạm dụng thông tin di truyền, quyền sở hữu gen

và mã di truyền, sự di chuyển gen từ loại động vật này sang loài khác,việc sử dụng các loại vi sinh vật biến đổi gen… nhất là những vấn đềliên quan đến bộ gen con người Uỷ ban quốc tế về đạo đức trong sinh

học (CIB) đã soạn thảo Bản tuyên bố về bộ gen con người và quyền con

người, được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua tháng 12 năm 1998.

Một vấn đề khác được đặt ra là quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực côngnghệ sinh học Những thành tựu mà công nghệ sinh học đưa lại giá trị rất

to lớn nên cần có một chế độ sở hữu trí tuệ hợp lý, tránh độc quyềnchiếm hữu sáng chế về ứng dụng tri thức về gen để làm ra sản phẩm y,dược có ích đối với cuộc sống con người, trong khi việc nghiên cứu, giải

mã, lập bản đồ gen con người là thành quả lao động sang tạo của nhiềuthế hệ các nhà khoa học trên thế giới, là thành quả chung của loài người

Có thể nói rằng: công nghệ sinh học phát triển đã mang lại cho loàingười rất nhiều lợi ích nhưng những vấn đề mà nó đặt ra cũng rất nhiều.Chúng ta phải cùng nhau tìm hiểu và giải quyết dần dần những vấn đềđó

 Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, công nghệ sinh học cũng có vai tròngày càng quan trọng Việc phân huỷ các chất thải bằng phương phápsinh học được sử dụng có hiệu quả, thay thế cho các phương pháp phisinh học như phân huỷ hoá học hoặc thiêu đốt, để chống ô nhiễm docác chất phế thải của công nghiệp và nông nghiệp gây ra

Công nghệ sinh học đang hội tụ với những ngành khoa học khác, hình thànhnhiều lĩnh vực khoa học mới như:

Trang 16

 Sinh – tin học: đây là sự kết hợp giữa công nghệ sinh học và côngnghệ thông tin Công nghệ thông tin đã nhanh chóng trở thành công

cụ hữu hiệu chi phối các hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứuứng dụng, nghiên cứu thích ứng và tự động hoá sản xuất trong lĩnhvực công nghệ sinh học

- Trong nghiên cứu cơ bản, tin học đang làm thay việc thống kê minhhoạ, so sánh các dữ kiện

- Trong sinh học thực nghiệm, đặc biệt là nghiên cứu sinh học phân tử

và công nghệ gen thì rất nhiều phần mềm chuyên dụng không thểthiếu được trong các phòng thí nghiệm tiên tiến

- Trong công nghệ lên men, tự động hoá điều chỉnh các thông số kỹthuật về nhiệt độ, độ pH, tốc độ khuấy, tốc độ sục khí, mật độ tế bào,tốc độ bổ sung môi trường, hầu hết đều đã được vi tính hoá

- Giải mã toàn bộ gen con người hoàn thành được là nhờ các mánh tínhcực mạnh

- Trong lĩnh vực y dược, để tìm kiếm được những loại dược phẩm mới,nhiều công ty công nghệ sinh học xuyên quốc gia trên thế giới đanghợp tác với nhau và giành nguồn đầu tư ngân sách rất lớn cho việcnghiên cứu các gen gây bệnh nhằm giải quyết các vấn đề nan giảitrong y học và dược phẩm

 Sinh - điện tử học: đây là một ngành chuyên nghiên cứu các phươngpháp tổng hợp hữu cơ và việc sử dụng các phân tử hữu cơ với tư cách

Trang 17

và các thiết bị cảm biến điện – sinh học… để từ đó tạo ra các hệthống xử lý tin học có thể dùng trong các người máy và các máy tínhthông minh có thể đọc được suy nghĩ và bắt chước một số cơ chế của

bộ não và hệ thần kinh trung ương của con người Trong tương lai,các mạch (chip) sinh học sẽ thay thế các mạch silic trong thế hệ máytính biết tư duy với tốc độ tính toán và xử lý tăng lên nhiều lần, gópphần giải mã và điều khiển các cơ chế cơ bản của sự sống

2.2.2 Công nghệ vật liệu

Đây là ngành có tốc độ phát triển nhanh, có tính liên ngành rất cao Nhữngvật liệu mới được phát minh đều phải dựa trên nhiều ngành khoa học nhưvật lý, cơ học, hoá học, sinh vật học… Những sản phẩm của ngành vật liệumới thường có tính năng siêu việt, đáp ứng được rất nhiều nhu cầu của conngười Sự phát triển của vật liệu thể họên sự phát triển của văn minh nhânloại Bởi vậy, người ta có thể phân biệt các thời đại nhờ vào các loại vật liệu

mà con người sử dụng trong các thời đại đó

Có rất nhiều loại vật liệu mới nhưng cơ bản nó được tạo bởi ba loại côngnghệ:

 Vật liệu composit: là sự tổ hợp của nhiều loại vật liệu khác nhau để cóthể tạo ra những vật liệu mới có sức chịu nhiệt, chịu lực, chịu lão hoáphù hợp với các nhu cầu khác nhau Vật liệu composit rất đa dạng vàhiện nay đang phát triển rất mạnh

 Vật liệu siêu dẫn: là loại vật liệu dùng trong tải điện không gây tổnthất điện năng và khả năng tải dường như vô hạn; sử dụng vật liệusiêu dẫn trong chế tạo động cơ điện có thể giảm kích thước xuống rấtnhỏ mà đạt được công suất rất lớn Hiện nay, đã có vật liệu siêu dẫn ởnhiệt độ nitơ lỏng và trong vài thập kỷ tới sẽ có vật liệu siêu dẫn ởnhiệt độ bình thường

Trang 18

 Công nghệ Nano (nanotechnology): công nghệ này có độ chính xác ởcấp nguyên tử, tức là các sản phẩm tạo ra bởi công nghệ nano có mộtcấu trúc cố định đạt được những tính chất bắt buộc ở cấp độ nguyên

tử Không cần phải chuyển nguyên vật liệu đến từ nơi xa, bất cứ vậtliệu nào ở xung quanh chúng ta đều được tách ra thành những nguyên

tử hợp thành rồi sau đó lắp ráp chúng lại thành ra những sản phẩmhữu ích nhờ các thiết bị lắp ráp phân tử của công nghệ nano

Ta có thể lấy ví dụ như từ vật liệu cácbon, có thể tạo ra được những ống

“cácbon” đường kính khoảng 0,1 – 0,2 micromet, thành của nó dàikhoảng vài chục nanomet (1micro = 1/1000 mm, 1 nano =1/1.000.000mm) Từ những ống cácbon đó có thể tạo ra được những loạivật liệu mới nếu so với thép thì nhẹ hơn 7 lần, cường độ chịu lực thì lớnhơn thép 400 lần Trong tương lai, loại vật liệu này sẽ được sử dụngtrong ngành chế tạo máy, cho những bộ phận phải chịu lực rất cao và sẽ

đi tới những máy móc tý hon, những rôbốt, máy tính tý hon Công nghệnano mở ra một chân trời rất mới và đầy triển vọng cho những ngànhcông nghiệp công nghệ cao, cho tự động hoá các quá trình sản xuất vàcác quá trình điều khiển khác

Ngoài ra, các hợp kim nhôm, hợp kim titan – zireon, hợp kim bột,composit trên nền kim loại, composit trên nền chất dẻo cũng đang đượcphát triển và sử dụng phổ biến Vật liệu gốm cũng có ưu điểm nhẹ, cứng,chống mài mòn, ăn mòn, không dẫn điện, chịu được nhiệt rất cao, được

sử dụng ngày càng phổ biến để chế tạo các dụng cụ cắt, các bộ phận chịunhiệt độ cao của Turbin và các loại động cơ

Trên thị trường hiện có hàng loạt vật liệu kim loại, hang chục vạn loại vậtliệu chất dẻo và hữu cơ thông dụng Số lượng này càng ngày càng tăngnhanh, vì vậy cần phải được quản lý trong các ngân hang dữ liệu với đầy

Trang 19

đủ những tham số về tính năng kinh tế, kỹ thuật của từng loại vật liệu đểlàm cơ sở thuận tiện cho các nhà công nghiệp lựa chọn loại vật liệu phùhợp với sản phẩm của mình Chế tạo vật liệu và gia công vật liệu đang có

xu thế kết hợp thành một quá trình thống nhất, thuận tiện hơn rất nhiềucho người tiêu dùng

2.2.3 Công nghệ năng lượng

Thế giới đã và đang phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng nănglượng song việc giải quyết khủng hoảng chỉ còn là vấn đề thời gian vì triểnvọng xuất hiện và khả năng sử dụng các nguồn năng lượng mới đã rất rõràng

 Về năng lượng mặt trời: hiện nay, loại năng lượng này còn rất đắtnhưng các nhà khoa học và những doanh nghiệp vẫn tập trung đầu tưnghiên cứu Nhờ những vật liệu mới và công nghệ mới năng lượngmặt trời trong tương lai gần sẽ rất rẻ và được sử dụng rộng rãi

Pin mặt trời đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng, nó có thể đạt đến côngsuất hang chục ngàn watt Hiệu suất thực tế hiện nay đạt 10% và đang tiếnđến 20% Với những kết quả khả quan này, pin mặt trời đã cạnh tranh đượcvới nhiệt điện ở những vùng xa xôi hẻo lánh

 Về năng lượng nguyên tử: sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhấtnăm 1973, các nước tư bản phương Tây phát triển rất mạnh nănglượng điện nguyên tử vì những nước này thấy trước được những lợiích của năng lượng điện nguyên tử “Loài người sẽ không thể giảiquyết được vấn đề năng lượng nếu không phát triển năng lượng hạtnhân”

Bởi nền sản xuất nào cũng cần đến năng lượng nên sự phát triển củanhững ngành tạo ra năng lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,chất lượng và hiệu quả của các ngành sản xuất kinh doanh khác

Trang 20

 Năng lượng sinh học: đang được phát triển mạnh mẽ, là nguồn nănglượng sạch môi trường, vừa giải quyết vấn đề nguồn năng lượngtruyền thống đang ngày càng cạn kiệt, vừa giải quyết vấn đề chống ônhiễm môi trường

Đến năm 2030, các dạng năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, nănglượng sinh học, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thuỷ triều, năng lượnggió…sẽ vượt qua toàn bộ nguồn năng lượng truyền thống như dầu mỏ, than,khí tự nhiên và thuỷ lực Khi đó, vai trò của nguồn năng lượng truyền thốngđối với sức mạnh của một quốc gia sẽ giảm bớt đi, nguồn năng lượng mới sẽtrở nên ngày càng quan trọng

2.2.4 Công nghệ thông tin (CNTT)

Thông tin được coi là cơ sở của tri thức, là tài nguyên quan trọng nhất củanền kinh tế tri thức Thông tin có vai trò quan trọng chẳng những trong sảnxuất kinh doanh mà còn rất quan trọng trong lĩnh vực của đời sống xã hội

Ở Việt Nam: khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyếtChính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp cácphương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủyếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trongmọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Công nghệ thông tin có những chức năng quan trọng như:

- Sáng tạo

- Truyền tải thông tin

- Xử lý thông tin

- Lưu trữ thông tin

Với những thành tựu và khả năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tinnhư máy vi tính, tia laze, vi điện tử, viễn thông và mạng Internet… ngành

Trang 21

công nghệ thông tin và các dịch vụ liên quan đang trở thành ngành mangtính chủ đạo của nền kinh tế

Quá trình phát triển công nghệ thông tin có thể chia làm bốn giai đoạn: thủcông – cơ giới hoá - tự động hoá – thông tin thông minh

Ta thấy rằng, bốn trụ cột chính của nền sản xuất hiện đại đang phát triển rấtmạnh mẽ trong những thập kỷ cuối thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, trở thànhđộng lực thúc đẩy sự chuyển tiếp từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức

3 Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đến sự phát triển kinh tế - xã hội

3.1 Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Ngày nay, trên nhiều lĩnh vực, khoa học và công nghệ đã trực tiếp trở thànhlực lượng sản xuất Các công viên khoa học, các thành phố khoa học, cáckhu công nghệ cao được thành lập ở các nước công nghiệp tiên tiến chính là

để tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho khoa học, công nghệ và sảnxuất vào làm một Phòng thí nghiệm cũng chính là nhà máy, nhà khoa họcđồng thời là nhà sản xuất, kinh doanh Cùng một nơi, người ta nghiên cứurồi sản xuất đại trà

Trước đây, chúng ta hiểu khoa học là lực lượng sản xuất với nghĩa khoa họctham gia vào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ, tạo ra phươngpháp để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquả của sản xuất; còn bây giờ, khoa học đã trực tiếp tạo ra sản phẩm, khoahọc trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Đó là sự kỳ diệu nhất của khoahọc trong thế kỷ XX

Trong kinh tế nông nghiệp, vai trò của khoa học còn yếu, không đáng kể.Chuyển sang kinh tế công nghiệp, vai trò của khoa học cao hơn hẳn và cótác dụng rõ ràng Khoảng 3/4 mức tăng trưởng kinh tế của các nước côngnghiệp phát triển là dựa vào tiến bộ khoa học và công nghệ Đầu thập niên

Trang 22

80 của thế kỷ XX, đầu tư cho khoa học và công nghệ, cho một cán bộ khoahọc và công nghệ bình quân cả thế giới vào khoảng 57.000 USD một năm,nhưng hiện nay đã lên tới 150.000 USD một năm Những gì xảy ra với khoahọc và công nghệ trong những năm tới khó mà dự đoán hết được, nhưngđiều chắc chắn sẽ tiếp tục xảy ra là khoa học và công nghệ sẽ phát triểnmanh hơn và kinh tế - xã hội sẽ ngày càng biến đổi mạnh hơn nữa.

3.2 Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất

Khoa học và công nghệ phát triển tạo ra nhiều ngành mới, nhất là trong cáclĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Tỷ lệ nông nghiệp trong GDP ngày cànggiảm Khu vực sản xuất chính không còn là khu vực sản xuất vật chất nữa

mà là khu vực dịch vụ, bởi chỉ có khu vực này mới có thể tạo ra nguồnnguyên, nhiên liệu, thông tin, tri thức cho nền kinh tế tri thức Dịch vụ hiệnnay chiếm tỷ lệ trên 60% trong tổng sản phẩm xã hội của thế giới Nhờ cócông nghệ mới mà nhiều ngành mới, nhất là các ngành trong lĩnh vực côngnghiệp và dịch vụ được tạo ra Các ngành truyền thống được hiện đại hoá vàtiếp tục phát triển, nhưng tỷ lệ trong GDP ngày càng giảm đi Tỷ lệ cácngành dịch vù tăng lên

Trong khi nền kinh tế công nghiệp dựa vào sự tổ chức hàng loạt, quy chuẩnhoá thì nền kinh tế tri thức dựa trên cơ sở sản xuất linh hoạt hang hoá vàdịch vụ dựa vào công nghệ cao, đây cũng là kinh tế văn phòng (người trựctiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, người làm việc ở vănphòng nhiều lên) Các công ty công nghệ ngày càng quan trọng Tỷ lệ giatăng công nghiệp công nghệ cao trong công nghiệp chế tạo đang tăng nhanh

3.3Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại làm thay đổi cơ cấu xã hội

Trước chiến tranh thế giới thứ 2, ở các nước phát triển, nông dân chiếm đa

số, còn ngày nay chỉ chiếm dưới 1/5 dân số, tức là chỉ còn 1/10 so với 80

Trang 23

năm trước đây Nông dân sản xuất chỉ còn chiếm 2% lực lượng lao động vàcũng ko còn là người nông dân “chân lấm tay bùn” nữa mà là những nhà

“kinh doanh nông nghiệp”

Công nhân nói chung tăng lên nhưng công nhân áo xanh (những công nhânlao động chân tay lao động trong các xí nghiệp, hầm mỏ…) giảm đi, côngnhân áo trắng tăng lên và đặc biệt là đã xuất hiện công nhân trí thức (lànhững người làm việc bằng trí óc để trực tiếp tạo ra sản phẩm, như nhữnglập trình viên, những nhà thiết kế công nghệ, sản phẩm trên máy tính, nhữngngười điều khiển máy móc đòi hỏi có trình độ tri thức nhất định Trong nềnkinh tế mới, vai trò của người công nhân áo trắng, nhất là công nhân trí thứcrất quan trọng Họ là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải xã hội, tiêu biểu cholực lượng sản xuất mới Theo thống kê của OECD, tỷ lệ đóng góp của ngànhdịch vụ Hoa Kỳ vào GNP từ 50% lên 80%, trong đó, 63% dịch vụ là thuộcdịch vụ công nghệ cao Còn theo đánh giá của ngân hang thế giới WB, 64%của cải thế giới hiện nay là do “vốn nhân lực” tạo thành Trên 80% côngviệc trong các ngành của Hoa Kỳ về bản chất là công việc của lao động tríóc

3.4 Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thúc đẩy quá trình toàn cầu

Trang 24

nhanh chóng mậu dịch quốc tế, đầu tư và tích tụ tập trung tư bản trên phạm

vi toàn cầu dẫn tới hình thành nền kinh tế thế giới nhất thể hoá, toàn cầu hoáhiện nay

Thông tin và tri thức không bị cột chặt trong một nước hay khu vực mà gầnnhư lưu động không hạn chế Công nghệ thông tin với hệ thống mạng thôngtin toàn cầu làm cho quan hệ giữa các quốc gia và giữa các khu vực trở nênchặt chẽ hơn, mở đường cho mỗi quốc gia có thể truy cập thông tin của cácquốc gia khác dễ dàng hơn Các nước đang phát triển có thể tìm cách để rútngắn khoảng cách và bắt kịp các nước phát triển

Các công ty xuyên quốc gia đã được thành lập với hệ thống chi nhánh trảidài trên nhiều nước phụ thuộc vào công ty mẹ dẫn đến việc lôi cuốn cácnước có chi nhánh phải tham gia vào vòng chu chuyển của tư bản xuyênquốc gia Các công ty xuyên quốc gia vừa đem đến cho các nước đang pháttriển một nền kỹ thuật tiên tiến (nhưng không phải là kỹ thuật cao), lại vừamang lại cho các nước dang phát triển những sản phẩm giá thành thấp nhờnguồn tài nguyên dồi dào và sức lao động rẻ của các nước đang phát triển.Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, đồng thời với sự đóng góp này thìnguồn tài nguyên của các nước đang phát triển đang bị suy kiệt nhanhchóng, môi trường sinh thái của các nước đó bị ô nhiễm nghiêm trọng

Đi liền với toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá - một đặc điểm nổi bật củanền kinh tế thế giới hiện nay Từ nay đến năm 2020, trên thế giới sẽ hìnhthành và phát triển ba khu vực kinh tế lớn: khu vực kinh tế Châu Âu vớitrung tâm là Liên minh Châu Âu, khu vực kinh tế Châu Mỹ với trung tâm làHoa Kỳ và khu vực kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương Sự hợp tác và đấutranh giữa các khu vực cũng góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá nềnkinh tế thế giới

Trang 25

3.4.2 Toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa đang làm gia tăng nhanh chóng khoảngcách giàu – nghèo, bất công xã hội, khoét sâu các mâu thuẫn của thời đại;phong trào chống toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa đang dâng lên

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi mở rộng thị trường trên toàn thếgiới, các nền kinh tế xâm nhập vào nhaudẫn đến toàn cầu hoá

Tuy nhiên, toàn cầu hoá lại mang tính chính trị, mang tính giai cấp Toàncầu hoá cho đến nay là toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa, do chủ nghĩa tư bảnchi phối Chủ nghĩa tư bản bằng mọi biện pháp lôi cuốn tất cả các nước đitheo trật tự do mình áp đặt Toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa đang xoá dần đinhững truyền thống được xây đắp qua hang chục thế kỷ, làm cho đạo đứcsuy thoái, tệ nạn xã hội gia tăng Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngàycàng tăng lên nhanh chóng Chưa bao giờ sự phân cực, sự tương phản, sự bấtbình lại sâu sắc như hiện nay Theo ước tính, các nước giàu trên thế giớichiếm 20% dân số lại chiếm giữ gần 90% GDP , hơn 80% xuất khẩu hanghoá và dịch vụ, gần 68% FDI và gần 95% người sử dụng Internet trên thếgiới; còn các nước nghèo nhất cũng bao gồm 20% dân số thế giới lại chỉchiếm 1% GDP, 1% xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, 1 % FDI và 0,2 % dân

số sử dụng Internet trên thế giới Chênh lệch thu nhập giữa 20% dân sốthuộc nhóm giàu nhất với 20% dân số thuộc nhóm nghèo nhất trên thế giớingày càng xa và đã lên đến hàng trăm lần

Các sản phẩm nông nghiệp, nguyên liệu thô của các nước đang phát triểnxuất khẩu bán với giá rất rẻ, còn các sản phẩm công nghiệp nhất là các sảnphẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng theo chế độ bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệhiện hành, các sản phẩm công nghệ cao thì giá cả cao hơn nhiều so với giátrị thực của chúng Tình trạng nợ nần chồng chất của các nước đang pháttriển tăng lên trong khi hiệu quả đầu tư rất thấp Các nước nghèo không cókhả năng trả nợ và sự phụ thuộc vào những “chủ nợ” là điều đương nhiên

Trang 26

xảy ra Hơn nữa, thông qua chuyển giao công nghệ, thông qua xuất, nhậpkhẩu, viện trợ các tập đoàn xuyên quốc gia tiếp tục bóc lột các nước đangphát triển Các siêu cường quốc tư bản chủ nghĩa đang dung những thủ đoạnkinh tế, tài chính rất tinh vi, kết hợp với cường quyền buộc các nước khácphải làm theo trật tự mình đã áp đặt Dường như thế giới ngày nay vẫn đangngự trị luật “lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng hơn”

Tình hình đó đã làm dấy lên phong trào đấu tranh chống toàn cầu hoá tư bảnchủ nghĩa trong nhân dân ở các nước nghèo, các nước kém phát triển Cácphong trào đấu tranh đó để bảo vệ các giá trị văn hoá của các dân tộc, chốnglại nguy cơ bị cơn lốc toàn cầu hoá huỷ diệt Phong trào đấu tranh để bảo vệmôi trường trên toàn cầu

3.4.3 Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đã được điều chỉnh để thíchnghi nhưng khó phù hợp được với lực lượng sản xuất ở giai đoạn phát triểnmới

Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và trình độ sản xuất ởtrình độ xã hội hoá cao càng ngày càng trở nên gay gắt và nan giải Chủnghĩa tư bản hiện đại đã phải đại điều chỉnh quan hệ sản xuất, quan hệ xã hộinhằm khắc phục mâu thuẫn vốn có Công nhân được hưởng lương cao hơn,thu nhập nhiều hơn, có trình độ học vấn khá hơn, có văn hoá hơn; đượchưởng chính sách phúc lợi xã hội, được mua cổ phần, được tham gia quản

lý Tuy nhiên, công nhân vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư, bản chất của chủnghĩa tư bản vẫn không thay đổi Vì chủ nghĩa tư bản chỉ có thể điều chỉnhtrong phạm vi của chủ nghĩa tư bản nên chúng không thể giải quyết đượcmâu thuẫn cơ bản giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự chuyểnbiến của lực lượng sản xuất xã hội từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế trithức tất yếu sẽ dẫn tới sự thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằngquan hệ sản xuất mới phù hợp hơn, cũng giống như trước đây, khi kinh tế

Trang 27

nông nghiệp chuyển sang kinh tế công nghiệp thì chế độ phong kiến đượcthay bằng chế độ tư bản chủ nghĩa Nhận định “tính chất của thời đại là sựquá độ của chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới”của các nhà tư tưởng trước đây bây giờ vẫn còn nguyên giá trị lý luận vàthực tiễn Chủ nghĩa tư bản đang tìm cách chống lại quá trình này một cáchquyết liệt Một mặt, họ tìm mọi cách để chống chế và xoá bỏ chế độ xã hộichủ nghĩa; mặt khác, họ cố gắng tự điều chỉnh để có thể khai thác triệt đểnhững thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Tuy nhiên,chủ nghĩa tư bản vẫn không thể giải quyết được những vấn đề nan giải nhưkhủng hoảng kinh tế, phân hoá giàu nghèo, bùng nổ dân số, suy thoái môitrường, tệ nạn xã hội và bệnh dịch thế kỷ Muốn chấm dứt những hiệntượng này phải thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội khác là xã hộicộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là xã hội xã hội chủ nghĩa Các Mác

và Ăngghen đã chỉ rõ: “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cầnphải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà là hiện thực phải tuân theo”3.4.4 Toàn cầu hoá – cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triểnToàn cầu hoá hiện nay đặt ra rất nhiều vấn đề đối với các nước đang pháttriển nhưng không một quốc gia nào có thể phát triển nếu biệt lập sản xuất

và không giao lưu với các nước khác trên thế giới Các nước đang phát triểnnhư nước ta chống lại toàn cầu hoá là chống lại sự bất công, bất bình đẳng,phản nhân văn của toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa hiện nay Chúng ta cầntham gia vào toàn cầu hoá để có cơ hội hợp tác và đấu tranh để cho toàn cầuhoá phát huy được những lợi thế của mình, hạn chế những mặt trái, làm chotoàn cầu hoá trở nên công bằng, bình đẳng, dân chủ và nhân văn

Những nước nào biết tận dụng thời cơ, chủ động hội nhập sẽ phát triểnnhanh và đuổi kịp các nước phát triển Quốc gia nào không hội nhập hay hộinhập không đúng cách sẽ có nguy cơ bị gạt ra khỏi vòng phát triển và ngày

Trang 28

càng lạc hậu hơn Công nghệ thông tin và tri thức, một mặt đã làm chochênh lệch giàu nghèo gia tăng nhưng mặt khác lại tạo cơ hội thuận lợi nhấtgiúp rút ngắn khoảng cách đó vì nếu quốc gia nào nắm bắt và xử lý đượcnhanh thông tin thì sẽ bắt kịp các nước phát triển khác

Để thực hiện quá trình toàn cầu hoá, các nước phát triển áp đặt những điềukiện hết sức khắc nghiệt về kỹ thuật và thương mại như tiêu chuẩn hoá,chứng nhận xuất xứ, giấy phép nhập khẩu, sở hữu công nghiệp…những điềukiện ấy vừa làm giảm sức cạnh tranh, vừa làm giảm lợi nhuận của hàng hoácác nước đang phát triển Một số công ty xuyên quốc gia dựa vào thực lựckinh tế to lớn đã đánh bại những ngành sản xuất dân tộc nhỏ, yếu của nướcchủ nhà, thậm chí còn bắt buộc chính phủ thay đổi chính sách

Có thể nói rằng: toàn cầu hoá đang đang đặt ra những thách thức rất lớn đốivới các nước đang phát triển trên mọi phương diện như về kinh tế, về khoahọc – công nghệ, về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, về bảo vệ môitrường…

3.4.5 Toàn cầu hoá cũng tạo ra những cơ hội to lớn cho các nước đang pháttriển rút ngắn khoảng cách

Toàn cầu hoá tạo điều kiện đi tắt đón đầu cho các nước đang phát triển thôngqua khoa học và công nghệ hiện đại Hơn nữa, toàn cầu hoá còn giúp chuyểngiao những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo mới về khoa học vàcông nghệ, về tổ chức - quản lý, về sản xuất – kinh doanh…mở đường choquá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

3.5 Cách mạng khoa học và công nghệ làm cho trách nhiệm xã hội của khoa

học trong thế kỷ XXI tăng lên

Nguyên tắc khung cho sự phát triển khoa học trong thế kỷ XXI là:

- Khoa học tri thức, vì tri thức, vì sự tiến bộ

- Khoa học vì hoà bình

Trang 29

- Khoa học vì sự phát triển

- Khoa học xã hội và khoa học vì xã hội

Cần phải luôn chia sẻ thông tin và tri thức khoa học với nhau, khoa học phảiphục vụ cho hoà bình, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Đặcbiệt, với môi trường và sự phát triển bền vững, khoa học phải đóng vai tròquan trọng như tăng cường phối hợp trên phạm vi toàn cầu bằng hệ thốngkiểm soát các yếu tố môi trường Nâng cao khả năng đánh giá và dự báo cáckhả năng rủi ro về môi trường và có biện pháp phòng chống Riêng đối vớicông nghệ và sản xuất, cần phát triển các vườn ươm công nghệ, các tụ điểmkhoa học, các xí nghiệp mũi nhọn và các tổ chức dịch vụ tư vấn chuyển giaocông nghệ cho các xí nghiệp vừa và nhỏ Đặc biệt đối với các nước đangphát triển là phải xây dựng năng lực tạo ra các công nghệ nội sinh xuất phát

từ những điều kiện đặc thù của nước mình, điều đó cho phép các có tàinguyên có thể trở thành các nước sáng tạo công nghệ

Hơn nữa, trách nhiệm của khoa học đối với xã hội cũng là vấn đề cần đượcquan tâm hiện nay Đi đôi với việc tự do nghiên cứu sang tạo và phát biểu ýkiến, khoa học có nghĩa vụ và trách nhiệm phải tôn trọng phẩm giá của conngười và lợi ích xã hội Nhà khoa học phải luôn hành động cho nhữngnguyên tắc dân chủ, phẩm giá, bình đẳng, chống lại sự dốt nát, sự thành kiếnchủng tộc và sự bóc lột con người Khoa học phải đi liền với đạo đức, phảituân thủ các chuẩn mực đạo đức cũng như quyền của các nhà khoa học đượcphát biểu về những vấn đề đạo đức, tố giác những hành vi lạm dụng khoahọc, ứng dụng nó vào những mục đích có hại, phi đạo đức Hơn tất cả, phảitôn trọng tri thức truyền thống Hệ thống tri thức dựa vào sự tìm tòi và tổngkết kinh nghiệm lâu đời của nhiều thế hệ Cần phải giữ gìn chúng như một

bộ phận quan trọng của di sản nhân loại Các hoạt động khoa học phải thuhút sự tham gia của tất cả các tầng lớp trong xã hội Phụ nữ, các tầng lớp

Ngày đăng: 17/09/2016, 13:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin - NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội – 20053. Tạp chí Đảng Cộng Sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. Hướng tới sự phát triển của đất nước, một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng - Viện chiến lược phát triển – Phó giáo sư, Tiến sỹ Ngô Doãn Vịnh (chủ biên) - NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới sự phát triển của đất nước, một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Ngô Doãn Vịnh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
1. Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá – Giáo sư, Viện Sỹ Đặng Hữu (chủ biên) – Nhà xuất bản (NXB) Chính trị Quốc gia – Hà Nội – 2001 Khác
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X - NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội – 2006 Khác
6. Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá X 7. Luật công nghệ cao Khác
8. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Khác
9. Khoa học và công nghệ thế kỷ XX những năm 1990 – 2006 Kỷ nguyên điện tử - NXB Kim Đồng – Hà Nội – 2007 Khác
11.Trí tuệ nổi trội - những phát hiện mới về nhận thức – NXB Thanh niên – Hà Nội - 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w