1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ

20 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 7,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình chuẩn bị trước khi thực hiện xử lý tráng rửa phim: Trước khi thực hiện xử lý tráng rửa phim kỹ thuật viên phải tuân theo các bước sau : i Khuấy đều tất cả những dung dịch dùng

Trang 1

CHƯƠNG 5

KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ

5.1 MỞ ĐẦU.

Một phim tia X cấu tạo gồm một lớp nền trong suốt bằng chất cellulose, hai mặt được phủ một lớp nhũ tương làm từ muối halogen bạc dưới dạng huyền phù chất glatine Muối halogen bạc được phân bố đều trong lớp nhũ tương là những tinh thể nhỏ li ti Khi bị chiếu bởi ánh sáng, bức xạ tia X hoặc tia gamma thì những tinh thể muối halogen bạc bị đổi màu và tạo ra một ảnh ẩn nằm trong lớp tinh thể mà sau đó sẽ tạo ra một hình ảnh nhìn thấy và lưu giữ được lâu dài sau khi xử lý tráng rửa phim

Quá trình xử lý tráng rửa được thực hiện dưới ánh sáng mờ sao cho màu và cường độ ánh sáng không thể tác động được lên phim nữa Màu và cường độ của ánh sáng an toàn được đưa ra bởi nhà sản xuất phim và những kiến nghị này bắt buộc phải thực hiện theo Dung dịch

xử lý tráng rửa phim phải được chứa trong một thùng chứa sâu sao cho phim đặt trong khung kẹp có thể treo đứng được trong dung dịch

5.2 ÁNH SÁNG AN TOÀN

Khi phim bị chiếu bởi ánh sáng trắng thì những tinh thể trên phim sẽ bị ảnh hưởng; Cho nên phim tia X phải được cất giữ trong những điều kiện ánh sáng an toàn Ngay cả trong những điều kiện ánh sáng an toàn ta cũng không nên để cho phim chưa được tráng rửa nhận quá mức ánh sáng an toàn, vì như vậy thì phim tia X có thể bị mờ Chú ý rằng, phim đã được chụp nhạy với ánh sáng hơn phim chưa chụp Cường độ và vị trí đặt nguồn sáng an toàn nên được xem xét cẩn thận Ngoài ra, cường độ ánh sáng an toàn phải tương đồng với độ sáng trong phòng tối “Độ an toàn” của ánh sáng an toàn có liên quan trực tiếp đến việc điều chỉnh đúng công suất, loại kính lọc, và vị trí (khoảng cách) của đèn đối với phim Như vậy, những điều kiện trên rất quan trọng để bảo vệ cho phim tránh bị chiếu ánh sáng an toàn trực tiếp vào khi lấy phim ra treo lên thành từng nhóm để chuẩn bị xử lý tráng rửa

5.2.1 Kiểm tra độ chiếu sáng an toàn :

Việc kiểm tra được thực hiện khi phòng tối lần đầu tiên đưa vào sử dụng, những kính lọc ánh sáng an toàn gây sự đổi màu hoặc khi xử lý tráng rửa một phim tia X có tốc độ nhanh Sau đây là hai phương pháp kiểm tra độ chiếu sáng an toàn thông dụng và đơn giản :

(a) Đặt nằm một tấm phim trần chưa chụp lên trên bàn nạp phim Đặt một số mẫu vật có dạng phẳng như là thước, bút chì, tấm kim loại.v.v…lên trên phim Để phim thử và những mẫu vật đó dưới ánh sáng an toàn trong khoảng 1 và 1/2 thời gian của một phim thường được đặt ở đó Sau khi phim thử trên được đem đi xử lý tráng rửa, nếu không nhìn thấy dấu vết gì của những mẫu vật đặt trên phim thì ta xem như ánh sáng an toàn vừa chiếu lên phim ở mức độ cho phép

(b) Đặt một tấm phim trần chưa chụp lên trên bàn nạp phim Che toàn bộ phim chừa lại một khoảng rộng chừng 25mm dọc theo chiều dài phim Sau mỗi khoảng thời gian nhất định (chẳng hạn là 5 phút), dịch chuyển miếng che sang bên cạnh để được một khoảng

Trang 2

rộng 25mm khác Sau một vài lần chiếu trong những khoảng thời gian mà ta mong muốn, phim được đem đi xử lý tráng rửa dưới những điều kiện bình thường và được kiểm tra sau khi đã sấy khô Phim được kiểm tra độ đen để xác định sự biến thiên độ đen (nếu có) của các dải rộng 25 mm trong những khoảng thời gian chiếu khác nhau và dựa vào đó để đánh giá mức chiếu sáng an toàn

5.3 QUY TRÌNH XỬ LÝ TRÁNG RỬA PHIM

Những bước thực hiện chủ yếu trong một quá trình xử lý tráng rửa phim chụp ảnh bức xạ: (a) Quá trình làm hiện ảnh

(b) Quá trình rửa trung gian (rửa nước hoặc acid)

(c) Hãm (cố định ảnh)

(d) Rửa làm sạch

(e) Sấy khô

5.3.1 Quá trình chuẩn bị trước khi thực hiện xử lý tráng rửa phim:

Trước khi thực hiện xử lý tráng rửa phim kỹ thuật viên phải tuân theo các bước sau :

(i) Khuấy đều tất cả những dung dịch dùng để xử lý tráng rửa phim trước khi đem vào

sử dụng (những dung dịch đó có khuynh hướng bị loãng ra khi ta không khuấy đều) (ii) Kiểm tra nhiệt độ của dung dịch chứa trong bể Điều quan trọng là nhiệt độ những dung dịch này nên gần bằng với phương pháp kiểm soát cho phép và nhiệt độ của dung dịch thuốc hiện càng gần với 200C càng tốt

(iii) Kiểm tra mức dung dịch chứa trong bể Nhân viên rửa ảnh cần phải xem xét thường xuyên và thật kỹ mức dung dịch trong bể và nước rửa Mức dung dịch trong bể phải ngập hết các thanh ngang của bộ gá phim Nếu mức dung dịch quá thấp thì phải thêm vào dung dịch làm mới cho đến mức thích hợp

(iv) Cần luôn luôn có một dòng nước chảy đều ổn định và đủ mạnh trong các bể rửa trung gian và bể làm sạch

(v) Tra cứu bảng thời gian hiện ảnh và khi cần thiết thì tra cứu biểu đồ thời gian -nhiệt

độ hiện ảnh mà nhà sản xuất phim nào cũng cung cấp và đặt thời gian trên đồng hồ hẹn giờ cho phù hợp

(vi) Lau sạch các dụng cụ dùng trong xử lý tráng rửa phim và rửa sạch tay

(vii) Tắt toàn bộ các nguồn sáng và chỉ tiến hành công việc xử lý tráng rửa phim trong điều kiện ánh sáng an toàn

5.3.2 Quá trình hiện ảnh :

Khi phim được đặt trong dung dịch thuốc hiện, ở giai đoạn này những tinh thể không bị chiếu

xạ thì không bị tác động hoặc bị tẩy sạch, nhưng thuốc hiện sẽ phản ứng với ảnh ẩn những tinh thể bị chiếu nằm trong lớp nhũ tương, tách kim loại bạc ra khỏi hỗn hợp và kết tủa dưới dạng những hạt bạc kim loại nhỏ li ti tạo thành hình ảnh kim loại bạc có màu đen Nhiệt độ càng cao thì quá trình hiện ảnh càng nhanh Tuy nhiên hình ảnh nhận được tốt nhất khi nhiệt

độ thuốc hiện khoảng 200C Nhiệt độ cao hơn sẽ gây ra sự mờ hình ảnh nhiều hơn do tập trung hoá chất và các hạt bị tạo dấu nhiều hơn Dung dịch hiện bị hỏng nhanh hơn và xuất hiện sự hư hỏng do mất đi quá trình làm tươi trong phim và (hoặc ) trong bể thuốc hoặc do làm sạch không đủ sau khi hiện.v.v…Ở nhiệt độ cao có thể phát hiện thấy trên lớp nhũ tương

sự hình thành mắt lưới, làm cho nó có thể bị trôi đi hoặc bị chảy ra Mặt khác nếu nhiệt độ giảm xuống dưới 180C tạo ra các nguyên tố trong thuốc hiện bị kìm hãm không đạt độ tương phản cao hơn

5.3.2.1 Mối quan hệ giữa thời gian và nhiệt độ:

Khi những yếu tố khác vẫn không thay đổi, số lượng hoặc mức độ hiện ảnh là một hàm biến thiên theo thời gian và nhiệt độ Bằng cách kết hợp hai hệ số này lại với nhau theo mối quan

Trang 3

hệ thời gian – nhiệt độ, ta có thể bổ sung cho sự thay đổi của đại lượng này bằng sự thay đổi của đại lượng kia Vì vậy, trong những giới hạn nhất định, một sự thay đổi về tốc độ hiện do tăng hay giảm nhiệt độ có thể được bổ sung bằng cách điều chỉnh thời gian hiện phù hợp theo mối quan hệ thời gian – nhiệt độ mà đã được thiết lập cho một dung dịch hiện nào đó Tất cả các nhà sản xuất dung dịch hiện ảnh đều cung cấp cho ta bảng số liệu về mối quan hệ thời gian – nhiệt độ với những chất hoá học có trong đó Hình 5.1 minh hoạ một dạng biểu đồ về mối quan hệ thời gian – nhiệt độ điển hình

Bằng cách sử dụng mối quan hệ giữa thời gian – nhiệt độ được trình bày ở trên, quá trình kiểm soát thực sự có thể đưa ra trong quy trình hiện : các sai sót về kỹ thuật chụp ảnh bức xạ

có thể nhận ra dễ dàng và không nhầm lẫn được với những lỗi trong quá trình thực hiện để hiện ảnh Việc quan sát trong quá trình hiện ảnh, ngay cả ở điều kiện tốt nhất, là một phương pháp không chính xác do nó phụ thuộc vào sự đánh giá của các kỹ thuật viên, phụ thuộc vào một số yếu tố khác như là sự mệt mỏi và khoảng thời gian mà người đó ở trong phòng tối 5.3.2.2 Quá trình rung lắc:

Sự rung lắc phim là một quá trình làm cho phim dao động trong các dung dịch xử lý tráng rửa phim khác nhau, cách làm như vậy sẽ làm tươi (mới) dung dịch ở trên bề mặt của phim để tạo

ra phản ứng thích hợp giữa lớp nhũ tương của phim và dung dịch xử lý tráng rửa phim Sự rung lắc là quá trình quan trọng nhất trong khoảng thời gian làm hiện ảnh Nếu một phim được đặt trong dung dịch thuốc hiện để cho hiện ảnh mà không thực hiện một động tác rung lắc nào thì những sản phẩm phản ứng trong quá trình hiện ảnh sẽ chảy xuống dưới bề mặt của phim, vì thế sẽ đẩy dung dịch hiện tươi (mới) không đi đến được bề mặt của phim Mật độ phim càng lớn thì dòng chảy xuống càng mạnh và là nguyên nhân gây ra quá trình hiện không đồng đều ở vùng phía bên dưới Nguyên nhân này có thể tạo ra các dạng đường vết trên phim Trong quá trình xử lý tráng rửa thủ công thì việc rung lắc được thực hiện bằng tay Thông thường không nên dùng các máy bơm thổi lưu thông hoặc máy khuấy, vì khi sử dụng những thiết bị này thường gây ra những dòng chảy mạnh trong dung dịch, tạo ra những điều kiện hiện không đồng đều còn xấu hơn khi không thực hiện một động tác rung lắc nào Sự rung lắc cho phép được thực hiện khi phim được rung lắc lên, xuống, qua phải, trái hoặc dịch chuyển

từ phía bên này qua phía bên kia ở trong bể khoảng một vài giây trong mỗi phút của quá trình hiện Quá trình làm mới dung dịch thoả mãn hơn bằng cách lấy phim ra khỏi dung dịnh thuốc hiện, để ráo dung dịnh ở một góc nào đó của phim trong khoảng 1 đến 2 giây sau đó lại đặt phim vào dung dịnh thuốc hiện và lập lại quy trình làm ráo dung dịch ở một góc khác Điều này được lặp đi lặp lại trong khoảng một phút trong suốt quá trình hiện

Trang 4

Hình 5.1 Mối quan hệ giữa thời gian – nhiệt độ trong quá trình hiện của một ảnh bức xạ.

5.3.3 Rửa trung gian :

Sau khi hiện xong thì phim được rửa trong dung dịch thuốc rửa trung gian (thuốc dừng hiện)

khoảng 30 đến 60 giây Thuốc rửa trung gian (dừng hiện) chứa 2.5% dung dịch acid acetic

băng nghĩa là 2.5mL acid acetic băng trong một lít nước Acid dùng làm ngưng các hoạt động

của thuốc hiện trên phim Mặt khác, dung dịch này sẽ ngăn cản các phản ứng khi dung dịch thuốc hiện rơi vào dung dịch thuốc hãm và có thể làm hỏng thuốc hãm Nếu acid acetic băng không có sẵn thì phim có thể được nhúng trong một dòng nước sạch chảy liên tục, ít nhất từ 1 đến 2 phút

5.3.4 Quá trình hãm:

Chức năng của dung dịch thuốc hãm hoặc dung dịch “Hypo” là :

(a) Làm dừng nhanh quá trình hiện

(b) Làm sạch toàn bộ những hạt muối bạc không được hiện trong lớp nhũ tương và giữ lại những hạt bạc hiện được như một hình ảnh cố định vĩnh viễn

(c) Làm cứng lớp glatin trong lớp nhũ tương làm cho lớp này trở nên chắc hơn trong quá trình làm sạch, sấy khô và những thao tác cầm nắm tiếp theo sau

18 19 20 21 22

23

24

Chuẩn

Tương phản

Thời gian hiện, phút

Trang 5

Khoảng thời gian giữa thời điểm đặt phim vào dung dịch thuốc hãm và lúc biến mất các hạt muối bạc ban đầu có màu vàng sữa, phân tán, được gọi là thời gian làm sạch Đây là khoảng thời gian dung dịch thuốc hãm hoà tan các hạt muối halogen bạc không hiện được Với một khoảng thời gian bằng với khoảng thời gian được yêu cầu để tẩy sạch các hạt muối halogen bạc khuếch tán trong lớp nhũ tương và để cho lớp glatin đạt được độ cứng mong muốn Vì vậy, thời gian hãm tổng cộng ít nhất phải bằng hai lần thời gian làm sạch Phim cũng phải được rung lắc mạnh khi mới đặt vào thuốc hãm giống như cách thực hiện trong quá trình hiện Dung dịch thuốc hãm phải giữ ở nhiệt độ bằng với nhiệt độ của dung dịch thuốc hiện và dung dịch rửa trung gian (dừng hiện) (trong khoảng từ 180C đến 240C)

5.3.5 Quá trình rửa làm sạch :

Lớp nhũ tương trong phim mang theo một số chất hoá học từ dung dịch thuốc hãm sang nước rửa Nếu những chất hoá học này được giữ lại trên phim thì chúng sẽ làm cho ảnh chụp bức

xạ bị đổi màu và mờ dần sau một thời gian lưu trữ Để tránh xảy ra điều này thì phim phải được rửa sạch trong những điều kiện thích hợp nhất để loại bỏ những hợp chất hoá học này Sau đây là những thao tác quan trọng nhất phải tuân theo khi rửa một phim chụp ảnh bức xạ: (a) Sử dụng dòng nước chảy liên tục, sạch, lưu thông tuần hoàn sao cho toàn bộ diện tích của lớp nhũ tương thường xuyên nhận được sự thay đổi

(b) Chắc chắn rằng bộ gá kẹp phim đều được nhúng chìm trong nước

(c) Cần phải rửa sạch ít nhất là 20 phút

(d) Nhiệt độ của nước phải không được quá 250C để cho lớp nhũ tương không bị làm mềm ra và bị rửa trôi đi mất

(e) Nhiệt độ của nước cũng không được dưới 150C vì nếu nước ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt

độ này thì dung dịch Hypo (dung dịch thuốc hãm) sẽ không được hoà tan tốt

(f) Thể tích nước chảy trong bể phải được thay thế từ bốn đến tám lần trong một giờ 5.3.5.1 Các phương pháp rửa làm sạch :

(a) Bể đơn có dòng nước chảy (hình 5.2) : Đầu tiên phim phải được đặt ở phía nước chảy vào của bể và dịch chuyển từ từ hướng đến phía nước chảy ra của bể , khi có thêm nhiều phim được đặt vào bể

Hình 5.2 Bể đơn với dòng nước chảy.

(b) Rửa làm sạch dạng tầng (hình 5.3) : Phương pháp rửa làm sạch dạng tầng là phương pháp tiết kiệm nước nhất và tạo quá trình rửa làm sạch tốt hơn trong cùng một khoảng thời gian Ở phương pháp rửa làm sạch này thì ngăn của bể rửa làm sạch được chia ra làm hai phần Phim được lấy ra khỏi dung dịch thuốc hãm và đặt vào ngăn A Sau khi chúng đã được rửa sạch một phần thì chúng sẽ được đưa vào ngăn B, để cho ngăn A trống bớt sẽ chứa được nhiều phim từ dung dịch thuốc hãm chuyển qua

Lối nước chảy vào Lối nước chảy ra

Trang 6

Lối nước chảy vào

Lối nước chảy ra

Hình 5.3 Các bể làm sạch dạng tầng.

(c) Phương pháp nhiều bể (không có sẵn dòng nước chảy hoặc chỉ có sẵn một ít nước sạch) Phương pháp này gồm có đặt phim liên tiếp và bốn bể chứa phim khác nhau, trong mỗi bể được đổ đầy nước đọng Ưu điểm của phương pháp này khi so sánh với việc đặt phim trong duy nhất một bể nước đọng, là khi phim được đặt lần lượt vào trong bốn bể , do đó hàm lượng thuốc hiện sẽ suy giảm dần theo từng bể

5.3.5.2 Sấy phim:

Sấy có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng phim chụp bức xạ đã hoàn thành Ta phải thực hiện làm sao mà không gây ra bất kỳ sự hư hại nào cho lớp nhũ tương hoặc tạo ra các vết, dấu

do quá trình sấy không đồng đều, và không được đặt lớp nhũ tương ẩm lên những nơi bẩn hoặc có các xơ bông vải Để tránh tạo ra các vết trong quá trình sấy và làm khô nhanh thì phim được nhúng trong một dung dịch làm khô trong khoảng 15 đến 30 giây (dung dịch này

có bán trên thị trường) Dung dịch này giảm sức căng bề mặt của nước, tránh được sự hình thành các giọt nước đọng Nếu không sử dụng dung dịch làm khô thì nên lau sạch phim bằng một miếng bọt biển mềm Phim thường được làm khô trong một tủ sấy có không khí tuần hoàn ở nhiệt độ cao Nhiệt độ của không khí trong tủ sấy phải được điều chỉnh sao cho không làm cho phim bị cong hoặc khô không đều Phải cẩn thận đừng nên để phim va chạm với các phim khác ở trong tủ sấy

5.4 BẢO DƯỠNG CÁC BỂ XỬ LÝ TRÁNG RỬA PHIM

5.4.1 Bể chứa dung dịch thuốc hiện :

Khi dung dịch thuốc hiện được sử dụng thì khả năng làm hiện của nó bị giảm dần, một phần

là do chất làm hiện bị hư hỏng trong quá trình sử dụng, phần khác là do tác dụng hãm các sản phẩm phản ứng hiện đã được tích luỹ, ngoài ra còn có thêm một ảnh hưởng nhỏ là thuốc hiện

có thể bị ôxy hoá bởi không khí ngay cả khi không sử dụng Để kiểm tra khả năng phản ứng của thuốc hiện một cách chính xác, ta cần phải thực hiện kiểm tra định kỳ bằng một tấm phim chuẩn được chiếu chụp theo các điều kiện tiêu chuẩn Người ta đưa ra một quy trình để chiếu chụp một phim qua một mẫu dạng bậc không sử dụng màn tăng cường : sau đó cắt phim thành các dải theo một kích thước chuẩn để sử dụng như là một tiêu chuẩn đánh giá cho một

bể thuốc hiện khi mới được đưa vào sử dụng Tiếp theo, đem những tấm phim rời vào để hiện

ở những khoảng thời gian đã được xác định trước và đem so sánh độ đen của những tấm phim này với những tấm phim chuẩn nói trên Khi sử dụng một hệ thống làm mới thuốc hiện trong

xử lý tráng rửa phim, thì sự làm mới thuốc hiện được thực hiện với hai mục đích sau :

(a) Nhằm duy trì mức (thể tích) dung dịch trong bể để cho phim và bộ gá phim nhúng chìm được hết trong dung dịch

(b) Để duy trì khả năng phản ứng của dung dịch sao cho nhận được một kết quả phù hợp Dung dịch bổ sung (làm đầy) phải được pha chế theo sự chỉ dẫn của các nhà sản xuất và

có thể pha chế giống như dung dịch được làm mới hoặc có thể pha loãng hơn một chút Trong thực tế, việc làm mới (làm đầy) dung dịch được thực hiện ngay trong phòng tối

để duy trì mức (thể tích) dung dịch chứa trong bể, chỉ cần bổ sung một dung dịch làm

Trang 7

mới (làm đầy) và hệ thống hoạt động hoàn hảo Tuy nhiên, việc làm mới dung dịch đúng bài bản hơn là phải theo kiến nghị của nhà sản xuất : thực hiện việc thay thế dung dịch theo thể tích phim đã được xử lý tráng rửa

5.4.2 Bể chứa dung dịch thuốc hãm :

Thời hạn sử dụng dung dịch thuốc hãm phụ thuộc vào khả năng trung hoà các chất kiềm trên phim Thời gian cần thiết để làm sạch một phim là một cách đánh giá tốt nhất về tình trạng pha loãng dung dịch thuốc hãm Khi thời gian làm sạch này vượt quá khoảng 8 phút thì dung dịch phải được làm mới lại Nó sẽ kéo dài được hạn sử dụng cho dung dịch thuốc hãm và duy trì được thời gian hãm nhanh như cũ Khi sử dụng dung dịch hãm đã bị loãng sẽ làm cho lớp nhũ tương không đủ cứng Ngoài ra, phim bức xạ có thể có một vết bẩn màu nâu mà chỉ thấy bằng ánh sáng phản xạ nhưng không thể thấy được bằng ánh sáng truyền qua của đèn đọc phim

5.5 XỬ LÝ HOÁ HỌC

5.5.1 Thuốc hiện:

Tất cả các dung dịch thuốc hiện dùng trong xử lý tráng rửa phim chụp ảnh phóng xạ đều có năm thành phần hoá học chủ yếu sau :

(i) Chất làm hiện :

Về cơ bản đó là một chất khử hữu cơ mềm chỉ phản ứng khử với các hạt bạc bị chiếu Chất làm hiện được dùng phổ biến là :

(a) Monomethyl paraminophenol sulphate

Trong các loại thuốc hiện phim tia X, cả hai loại chất này được sử dụng cùng một thời điểm Trong dung dịch monomethyl paraminophenol sulphate, ảnh ẩn hiện rất nhanh, nhưng độ đen đạt được mong muốn lại rất chậm, còn đối với dung dịch hydroquinone ảnh ẩn được hiện rất chậm nhưng nhận được độ đen mong muốn rất nhanh

(i) Chất gia tốc : Chất này có chức năng làm tăng cường hoạt động của thuốc hiện Về

cơ bản nó là một chất kiềm Natri carbonate và natri hydroxide là những chất được dùng phổ biến nhất

(ii) Chất bảo quản : Thuốc hiện chịu quá trình ôxy hoá do tiếp xúc với không khí, vì thế sẽ bị mất những tính chất làm hiện trong thời gian lưu trữ lâu dài Chất bảo quản khi được thêm vào trong dung dịch hiện sẽ ngăn cản được quá trình ôxy hoá Chất bảo quản được sử dụng phổ biến là natri sulphite

(iii) Chất kìm hãm : Dùng để điều chỉnh hoạt động của thuốc hiện và chỉ cho phép nó biến đổi các hạt muối halogen bạc bị chiếu thành các hạt kim loại bạc màu đen Chất kìm hãm thường được sử dụng là chất kali bromide

Một loại thuốc hiện điển hình được sử dụng phổ biến thường có các thành phần sau :

Monomethyl paraminophenol sulphate 2.3mg

Natri sulphite (khan) 72mg

Hydroquinone 8.8mg

Natri carbonate (khan) 48mg

Kali bromide 4mg

Nước để pha chế 1000cc

Để pha chế dung dịch, hoà tan những thành phần trên theo thứ tự vào trong nước cất ở nhiệt

độ 320C (900F) và làm hiện ảnh trong khoảng 5 phút ở nhiệt độ 200C (680F)

Trang 8

5.5.2 Chất làm mới (chất bổ sung) :

Mức (thể tích) và khả năng hoạt động của thuốc hiện chứa trong bể bị giảm xuống theo thời gian sử dụng Vì vậy, dung dịch thuốc hiện cần phải được làm mới làm mới một cách thích hợp để duy trì mức (thể tích) và khả năng hoạt động của nó Một chất làm mới (bổ sung) điển hình được sử dụng phổ biến có các thành phần sau :

Monomethyl paraminophenol sulphate 4mg

Natri sulphite (khan) 72mg

Hydroquinone 16mg

Natri carbonate (khan) 48mg

Natri hydroxide (xút ăn da) 7.5mg

Nước để pha chế 1000cc

Hoà tan các thành phần trên (theo thứ tự )vào trong nước cất ở nhiệt độ 320C (900F) để tạo thành dung dịch

5.5.3 Thuốc hãm :

Các thành phần chủ yếu chứa trong dung dịch thuốc hãm dùng cho phim tia X được cho dưới đây :

(i) Hypo (hyposulphite) : Chất này có chức năng chỉ hoà tan các hạt tinh thể muối halogen bạc không hiện được, rồi tẩy các tinh thể này ra khỏi phim Chất hãm (còn được gọi là chất Hypo) được sử dụng phổ biến nhất là natri thiosulphate và ammonium thiosulphate

(ii) Chất trung hoà thuốc hiện : Chất này có khả năng làm trung hoà thuốc hiện còn lại trên phim sau quá trình hiện Chất này là acid acetic (băng) được thêm vào dung dịch thuốc hãm là một loại chất trung hoà thuốc hiện

(iii) Chất bảo quản : Chất này có chức năng ngăn cản sự phân hủy của thiosulphate bởi acid acetic Natri sulphite được thêm vào dung dịch thuốc hãm là một chất bảo quản (iv) Chất làm cứng : Chất này có chức năng làm cứng glatin trong lớp nhũ tương để lớp glatin này không bị uốn cong hoặc mềm đi trong quá trình rửa và sấy khô Bên cạnh

đó, phim đã cứng sẽ khô nhanh hơn Phèn kali carbonate là chất làm cứng được sử dụng phổ biến nhất

Dung dịch thuốc hãm điển hình dùng cho phim tia X gồm có các thành phần dưới đây :

Natri thiosulphate (hypo) 300mg

Natri sulpite (khan) 5mg

Acid acetic (băng) 10cc

Tinh thể acid boric 5mg

Phèn kali carbonate 10mg

Nước để pha chế 1000cc

Để pha chế dung dịch, hoà tan cùng một lúc các thành phần trên vào nước cất Đối với dung dịch thuốc hiện và thuốc hãm, tiêu chuẩn pha chế nên dùng theo yêu cầu của nhà sản xuất phim

5.6 CÁC THIẾT BỊ DÙNG TRONG XỬ LÝ TRÁNG RỬA PHIM

Có ba loại thiết bị được dùng trong xử lý tráng rửa phim tia X và loại giấy hiện ảnh bức xạ tia

X tức thì Những thiết bị này được trình bày dưới đây :

5.6.1 Thiết bị xử lý tráng rửa phim bằng tay :

Thiết bị này bao gồm một ngăn chứa dung dịch thuốc hiện, một bể dung dịch thuốc rửa trung gian (dừng hiện), hai bể dung dịch hãm, một bể nước rửa sạch và một bể dung dịch photoflo, toàn bộ các ngăn dung dịch này được đựng trong một bể lớn (hình 5.4) Thiết bị này cũng

Trang 9

Bao nước để điều chỉnh nhiệt độ

Ngăn rửa trung gian hay dừng hiện

Ngăn làm sạch Thuốc hiện

Hãm lần 2 Hãm lần 1

được trang bị một bộ điều khiển nhiệt độ để giữ cho các dung dịch xử lý tráng rửa phim ở một nhiệt độ không đổi Thiết bị này có tốc độ xử lý tráng rửa chậm, chỉ thích hợp ở những nơi có khối lượng công việc ít Nó thích hợp hơn trong mục đích huấn luyện, hữu ích cho những người mới học do nó cung cấp cho học viên hiểu thấu đáo tất cả các giai đoạn xử lý tráng rửa một phim tia X

Hình 5.4 Các bể xử lý tráng rửa phim bằng tay.

5.6.2 Các quy trình xử lý tráng rửa phim tự động :

Các thiết bị xử lý tráng rửa phim tự động làm cho việc xử lý tráng rửa phim nhanh hơn và giảm thiểu được các công việc xử lý tráng rửa phim thủ công do con người thực hiện

Đối với một thiết bị xử lý tráng rửa phim tự động, nhân viên chụp ảnh bức xạ chỉ cần lấy phim đã chiếu chụp xong ra khỏi cassette và đặt chúng vào trong thiết bị xử lý tráng rửa phim Thiết bị sẽ tự động thực hiện tất cả các giai đoạn xử lý tráng rửa trong khoảng 15 phút phim

đã sẵn sàng mang ra để xem xét và đánh giá Ưu điểm của quá trình này là tăng được số lượng

Trang 10

phim xử lý tráng và cải tiến được chất lượng ảnh trên phim Phương pháp xử lý tráng rửa phim tự động được thực hiện dựa trên nguyên lý luân chuyển trên con lăn

Hình 5.5 Sơ đồ của một thiết bị xử lý tráng rửa phim tự động (a) hình mặt cắt, (b) sơ đồ.

Ngăn xử lý tráng rửa phim Hệ thống trục quay vận chuyển

Ngăn sấy phim

Thùng nhận phim

(a)

Máy thổi không khí

Vị trí đưa phim vào Thuốc hiện

Thuốc hãm

Nước làm sạch

Máy sấy và thùng nhận phim (b)

Ngày đăng: 17/09/2016, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.1. Mối quan hệ giữa thời gian – nhiệt độ trong quá trình hiện của một ảnh bức xạ. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.1. Mối quan hệ giữa thời gian – nhiệt độ trong quá trình hiện của một ảnh bức xạ (Trang 4)
Hình 5.2. Bể đơn với dòng nước chảy. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.2. Bể đơn với dòng nước chảy (Trang 5)
Hình 5.3. Các bể làm sạch dạng tầng. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.3. Các bể làm sạch dạng tầng (Trang 6)
Hình 5.4. Các bể xử lý tráng rửa phim bằng tay. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.4. Các bể xử lý tráng rửa phim bằng tay (Trang 9)
Hình 5.5. Sơ đồ của một thiết bị xử lý tráng rửa phim tự động (a) hình mặt cắt, (b) sơ đồ. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.5. Sơ đồ của một thiết bị xử lý tráng rửa phim tự động (a) hình mặt cắt, (b) sơ đồ (Trang 10)
Hình 5.6. Cách bố trí điển hình cho một phòng tối. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.6. Cách bố trí điển hình cho một phòng tối (Trang 12)
Hình 5.7. Sơ đồ mặt cắt bố trí của một phòng xử lý tráng rửa phim tia X. - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.7. Sơ đồ mặt cắt bố trí của một phòng xử lý tráng rửa phim tia X (Trang 13)
Hình 5.8. Cửa chắn –kín  sáng (trái và phải) và cửa zic zac (giữa), cho phép đi vào phòng xử - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.8. Cửa chắn –kín sáng (trái và phải) và cửa zic zac (giữa), cho phép đi vào phòng xử (Trang 14)
Hình 5.9. Mô tả bàn nạp phim trong phòng xử lý tráng rửa phim tia X. xem hướng  B trong - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.9. Mô tả bàn nạp phim trong phòng xử lý tráng rửa phim tia X. xem hướng B trong (Trang 15)
Hình mắt lưới Trên bề mặt phim có các vùng dạng lưới hay dạng nhăn nheo - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình m ắt lưới Trên bề mặt phim có các vùng dạng lưới hay dạng nhăn nheo (Trang 18)
Hình  5.15  :  Các  vết  sọc  gây  ra  do  gá - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
nh 5.15 : Các vết sọc gây ra do gá (Trang 19)
Hình 5.18 : Các vết bẩn trên bề mặt phim gây - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.18 Các vết bẩn trên bề mặt phim gây (Trang 19)
Hình  5.17  :  Dấu  tròn  sáng  màu  gây  ra  do  (a) - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
nh 5.17 : Dấu tròn sáng màu gây ra do (a) (Trang 19)
Hình 5.16 : Dấu phóng tĩnh điện - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.16 Dấu phóng tĩnh điện (Trang 19)
Hình 5.21 minh họa khi màn tăng cường khi bị hư hại sẽ gây ra các chỉ thị giả như thế nào, qua sự thay đổi số lượng các electron đập vào phim - CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT TRÁNG RỬA PHIM CHỤP BỨC XẠ
Hình 5.21 minh họa khi màn tăng cường khi bị hư hại sẽ gây ra các chỉ thị giả như thế nào, qua sự thay đổi số lượng các electron đập vào phim (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w