1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

luận văn thạc sĩ luật học Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở việt nam trong giai đoạn hiện nay

136 834 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 146,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương do dân tổ chức ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân 47, tr. 698, Luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản nhất đó là: Nhà nước do dân thiết lập và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyền lực nhà nước. Quyền lực đó thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước, trong đó có độc quyền bộ máy cưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp luật. Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước trở thành một bộ máy có quyền lực rất lớn, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp khi quyền lực nhà nước không được kiểm soát, nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên xã hội, xa lạ với xã hội, trở thành một lực lượng ăn bám xã hội, trong nhiều thời kỳ nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội. ở nước ta hiện nay, ở nơi này, nơi khác đã xuất hiện nguy cơ Đảng và Nhà nước không còn là của dân, vói những biểu hiện là một số cán bộ công chức nắm quyền lực được nhân dân ủy thác lại xa dân, xa cấp dưổi, xa cơ sở, không chủ động phục vụ nhân dân vô điều kiện mà chỉ lo làm ăn phát tài, lo thăng quan tiến chức, đánh mất bản chất cách mạng chân chính của mình. Một số tài sản quốc gia và của nhân dân bị bọn tham nhũng những kẻ vô trách nhiệm phần lổn là nắm quyền lực chiếm đoạt và làm thất thoát. Có những vụ ăn cắp tài sản quốc gia hàng ngàn tỷ đổng, một số không ít nắm quyền lực nhà nước đã và đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước vói nhân dân. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ấy là do quyền lực nhà nước mà biểu hiện cụ thể là một số kẻ có chức, có quyền đã lạm dụng quyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Nói cách khác là quyền lực nhà nước không được kiểm soát đầy đủ. Bên cạnh đó, khi bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì tổ chức và hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước nói chung, các thể chế kiểm soát (kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, tài phán, giám sát) quyền lực nhà nước nói riêng từ Trung ương đến cơ sở có nhiều điểm bất cập như sự chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể và cá nhân chưa được chế định chặt chẽ. Xảy ra tình trạng tập trung quá mức ở Trung ương, vừa phân tán, cục bộ ở các cấp, các ngành. Như vậy, quyền lực nhà nước ở nước ta có biểu hiện là không được kiểm soát tốt cả từ trên xuống và từ dưới lên, từ bên trong các tổ chức nhà nước và từ bên ngoài xã hội. Do đó, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta đã trở thành yêu cầu cấp bách, đòi hỏi phải được giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đồng thời đề ra các giải pháp tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, góp phần vào việc chống tha hóa quyền lực, đẩy mạnh thực hành dân chủ trong xã hội, bảo đảm quyền và lọi ích chính đáng của nhân dân lao động, của nhà nước trong chế độ chính tĩị XHCN của chúng ta. Vì vậy tôi chọn: Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

"Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân,chính quyền từ xã đến Chính phủ đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chínhphủ Trung ương do dân cử ra, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương do dân

tổ chức ra Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [47, tr 698],

Luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản nhất đó là: Nhà nước dodân thiết lập và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyềnlực nhà nước Quyền lực đó thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm thựchiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước, trong đó có độc quyền bộ máycưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp luật

Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước trở thành một bộmáy có quyền lực rất lớn, độc lập với xã hội Trong xã hội có giai cấp khiquyền lực nhà nước không được kiểm soát, nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên

xã hội, xa lạ với xã hội, trở thành một lực lượng ăn bám xã hội, trong nhiềuthời kỳ nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội

ở nước ta hiện nay, ở nơi này, nơi khác đã xuất hiện nguy cơ Đảng vàNhà nước không còn là của dân, vói những biểu hiện là một số cán bộ côngchức nắm quyền lực được nhân dân ủy thác lại xa dân, xa cấp dưổi, xa cơ sở,không chủ động phục vụ nhân dân vô điều kiện mà chỉ lo làm ăn phát tài, lothăng quan tiến chức, đánh mất bản chất cách mạng chân chính của mình

Một số tài sản quốc gia và của nhân dân bị bọn tham nhũng những kẻ

vô trách nhiệm phần lổn là nắm quyền lực chiếm đoạt và làm thất thoát Cónhững vụ ăn cắp tài sản quốc gia hàng ngàn tỷ đổng, một số không ít nắmquyền lực nhà nước đã và đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây hậu quả xấucho xã hội, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước vói nhân dân

Trang 2

Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ấy là do quyền lựcnhà nước mà biểu hiện cụ thể là một số kẻ có chức, có quyền đã lạm dụngquyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng Nói cách khác là quyền lực nhànước không được kiểm soát đầy đủ.

Bên cạnh đó, khi bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN) thì tổ chức và hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nướcnói chung, các thể chế kiểm soát (kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, tài phán, giámsát) quyền lực nhà nước nói riêng từ Trung ương đến cơ sở có nhiều điểm bấtcập như sự chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tráchnhiệm của tập thể và cá nhân chưa được chế định chặt chẽ Xảy ra tình trạngtập trung quá mức ở Trung ương, vừa phân tán, cục bộ ở các cấp, các ngành

Như vậy, quyền lực nhà nước ở nước ta có biểu hiện là không đượckiểm soát tốt cả từ trên xuống và từ dưới lên, từ bên trong các tổ chức nhànước và từ bên ngoài xã hội

Do đó, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta đã trở thành yêucầu cấp bách, đòi hỏi phải được giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Đồngthời đề ra các giải pháp tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam,góp phần vào việc chống tha hóa quyền lực, đẩy mạnh thực hành dân chủ trong

xã hội, bảo đảm quyền và lọi ích chính đáng của nhân dân lao động, của nhà

nước trong chế độ chính tĩị XHCN của chúng ta Vì vậy tôi chọn: "Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài

nghiên cứu của luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói, vấn đề kiểm soát quyền lực trong chính tĩị học thế giới, màđặc biệt là chính tĩị học phương Tây là vấn đề rõ ràng về lý thuyết và thực tế.Những nghiên cứu cụ thể chỉ nhằm tìm hiểu những phương thức kiểm soát cụthể khác nhau, ở nước ta thì đây lại là vấn đề rất mói mẻ, còn chưa có nhậnthức thống nhất Vì vậy cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát

Trang 3

quyền lực ở nước ta không nhiều Phần lớn lại được "tổng kết" từ các hoạtđộng giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND), các hoạt động thanhtra nhà nước, kiểm tra Đảng v.v

Đã có một số đề tài cử nhân chính trị, thạc sĩ khoa học đề cập đến từnglĩnh vực cụ thể của công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát đối với hoạtđộng của bộ máy nhà nước ta ở cả cấp Trung ương và tỉnh, thành Một số công

trình như "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" của Bộ Tư pháp, "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay" của Khoa Nhà nước và

Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cũng đã đề cập đến vấn

đề kiểm soát quyền lực

Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận và phương pháp luật học(khoa học pháp lý) đã phân tích từng hoạt động cụ thể của việc thực hiện cácchức năng như giám sát của Quốc hội và HĐND, kiểm sát của Viện kiểm sátnhân dân (VKSND), thanh tra, kiểm tra của Chính phủ Những công trình này

đã đưa ra được các đánh giá khái quát, các giải pháp mang tính định hướngchung của việc kiểm soát quyền lực, nhưng chưa đi sâu luận chứng hệ thốngkiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta

Đề tài mà tác giả chọn tập trung đi sâu vào hệ thống tổ chức và hoạtđộng kiểm soát quyền lực nhà nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Trang 4

Về mặt lý luận, làm rõ tính tất yếu khách quan, những yêu cầu thực tế

và khả năng thực hiện việc kiểm soát quyền lực ở nước ta hiện nay

- Làm rõ thực trạng vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở YiệtNam hiện nay

- Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường kiểmsoát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Quá trình tổ chức, thực thi và kiểm soát quyền lực của các cơquan nhà nước ở nước ta: bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp,chính quyền địa phương

-Tổ chức và hoạt động của Đảng, các đoàn thể nhân dân trong quá trìnhthực hiện dân chủ và tham gia kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước

- Nhà nước vừa là người thực thi quyền lực, vừa là người kiểmsoát và là đối tượng chịu sự kiểm soát Luận văn sẽ nghiên cứu hoạt động củacác cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách chủ thể kiểm soát và cả đối tượng

bị kiểm soát

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cácquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và thực thi quyền lựcnhà nước, về công tác kiểm tra, kiểm soát

- Vận dụng lý luận về kiểm soát quyền lực của các nhà tư tưởngchính tri trên thế giới, đặc biệt là các tư tưởng thòi đại khai sáng về tổ chứcquyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước

- Các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức vàhoạt động của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhànước

Trang 5

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, lôgic, phân tích,thống kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn và một số phương pháp chuyênngành và liên ngành khác.

6 Cái mới và ý nghĩa của luận văn

Đưa ra kiến giải bước đầu về kiểm soát quyền lực nhà nước ở ViệtNam từ cơ chế, hoàn thiện cơ chế; phương thức hoạt động, đến việc xác địnhkhâu đột phá trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước

Ý nghĩa của luận văn:

- Góp phần nâng cao nhận thức về tính tất yếu của việc kiểm soátquyền lực ở nhà nước ta hiện nay

- Bước đầu cung cấp những kiến giải có tính học thuật về kiểmsoát quyền lực nhà nước

- Trên cơ sở mô tả thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước, luậnvăn đưa ra những dự báo và kiến nghị về nguy cơ quyền lực không được kiểmsoát

Nhờ vậy mà luận văn có ý nghĩa tham khảo cho các nhà hoạt độngchính trị xã hội trong thực tiễn đồng thời góp phần nâng cao văn hóa chính trịcho người đọc

Những giải pháp mà luận văn đưa ra có thể được áp dụng trong thựctiễn góp phần hạn chế tha hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước, đẩy mạnhthực thi dân chủ trong xã hội chúng ta nhằm làm cho quyền lực nhà nước đượcthực hiện khoa học, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc vềnhân dân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Chương 1

KIỂM SOÁT QUYỂN Lực NHÀ NƯỚC MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN

VÀ THựC TIEN

Trang 6

1.1 KIỂM SOÁT QUYỂN Lực LÀ YÊU CẦU TẤT YẾU KHÁCH QUAN

1.1.1 Khái niệm quyền lực nhà nước - kiểm soát quyền lực nhà nước

- Quyền lực Nhà nước:

Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi xã hộiloài người bị phân chia thành những giai cấp đối kháng

Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và

là trung tâm của quyền lực chính trị, được hình thành thông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành quyền tổ chức nhà nước và thực hiện chức năng thống trị xã hội.

Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước, trong đó có việc tổ chức và việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp Đồng thời còn được bảo đảm bằng các phươngtiện độc quyền như luật pháp, và bộ máy cưỡng chế chuyên nghiệp quân đội,cảnh sát, nhà tù

ở đây cần thấy rằng, quyền lực nhà nước mang tính chính trị, nhưngkhông phải mọi quyền lực chính tri đều là quyền lực nhà nước Quyền lựcchính tri rộng hơn, đa dạng hơn về phương thức thực hiện cũng như hình thứcthể hiện, có nhiều cấp độ hơn về cơ cấu của chủ thể quyền lực

Sự thay đổi vai trò vị trí của các giai cấp trong đòi sống sản xuất xã hội

sẽ dẫn tới việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giaicấp khác, dẫn tới thay đổi căn bản tính chất của quyền lực nhà nước, phươngthức cầm quyền, các quan hệ chính trị, các thể chế chính tri và hệ thống chínhtrị Các cơ quan nhà nước thực chất là các cơ quan thực thi quyền lực nhànước, được các giai cấp và lực lượng xã hội (còn gọi là nhân dân) trao quyềncho mà thôi Tuy nhiên, do những hình thức ủy quyền và kiểm soát quyền lực

Trang 7

nhà nước khác nhau, nên nhiều lúc quan hệ giữa người có chủ quyền và ngườiđược ủy quyền bị tha hóa, xuyên tạc.

Quyền lực nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) có những điểmkhác biệt so với quyền lực nhà nước trong các xã hội trước đó ở chỗ nhà nướcXHCN là nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân Nhưng lợi ích cănbản của giai cấp công nhân là thống nhất với lợi ích của đại đa số nhân dân laođộng Nên quyền lực nhà nước dưới CNXH đã có sự thống nhất giữa tính giaicấp và tính xã hội, giữa tính chính trị với tính công quyền Trong các kiểu nhànước khác, đặc biệt là nhà nước quân chủ chuyên chế, giữa chức năng giai cấpđối lập với chức năng xã hội, lợi ích của giai cấp thống trị đối lập với lợi íchquảng đại quần chúng

Trong nền dân chủ XHCN, chức năng giai cấp và chức năng xã hội tạothành một thể thống nhất, trở thành điều kiện và tiền đề hoàn thiện cho nhau

Ở Việt Nam, các bản hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân

Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đãquy định rõ: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam,không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo giai cấp, tôn giáo" Tư tưởngnhất quán này đều được thể hiện qua Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiếnpháp 1992 Tại Điều 2 và Điều 6 Hiến pháp 1992 thì "Nhà nước xã hội chủnghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân Tất cảquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp côngnhân vói giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức", "nhân dân sử dụng quyền lựcnhà nước thông qua Quốc hội và Hội đổng nhân dân là những cơ quan đại diệncho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu tráchnhiệm trước nhân dân"

Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ quantrong bộ máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy Yì vậy, việc thực

Trang 8

thi quyền lực cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước vàcon người trong bộ máy ấy Nếu như người cầm quyền được trao quyền, khôngbiết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợithì sức mạnh của quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội Vì thếmuốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao, xã hội khôngphải gánh chịu những lộng hành sai phạm vô ý thức hoặc có ý thức của nhànước thì phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiểmsoát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước Đây là một yêu cầu tất yếutrong tổ chức và hoạt động của một nhà nước dân chủ, kể cả trong nền dân chủXHCN của chúng ta.

- Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước: là hoạt động có chủ đích của nhà nước và xã hội, với tổng thể những phương tiện tổ chức và pháp

lý thông qua các hình thức hoạt động như giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, kiểm toán, tài phán nhằm hạn chế nguy cơ sai phạm cũng như những hành

vi lộng quyền, chuyên quyền, độc đoán của cơ quan quyền lực nhà nước và của công chức nhà nước Đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, khoa học, hiệu lực và hiệu quả.

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc kiểm soát quyền lực nhà nước

- Mục đích của việc kiểm soát quyền lực nhà nước là đảm bảo choquyền lực nhà nước không bị lạm dụng, ngăn chặn các hiện tượng, xu hướng,quan liêu, độc tài, chuyên quyền, độc đoán trong bộ máy nhà nước, không bị

sử dụng trái vói ý chí của nhân dân Khi quyền lực càng tập trung, thì khả năngkiểm soát nó càng khó Nếu không có sự kiểm soát tốt nó trở thành bức rào cảncủa tự do và dân chủ, lđm hãm sự tiến bộ xã hội Xã hội càng phát triển, quyềnlực của nhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước tănglên Hiện nay trên thế giới đang tổn tại các hệ thống kiểm soát quyền lực khácnhau đó là:

Hệ thống kiểm soát quyền lực của nhà nước với tư cách là một kết cấuphân cấp, phân quyền quyền lực công

Trang 9

Hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức, thiết chếchính trị xã hội.

Hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước của các cá nhân công dânthành viên xã hội

Mỗi hệ thống trên có nhiều bộ phận khác nhau với những phương thứcthực hiện khác nhau

- Quyền lực nhà nước có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: Quátrình tổ chức bộ máy nhà nước sao cho các bộ phận của nhà nước có khả năngkiểm soát lẫn nhau và hoạt động của các hệ thống kiểm soát quyền lực từ bêntrong và bên ngoài bộ máy nhà nước

Tổ chức là cách thức tạo lập và xây dựng hệ thống quyền lực, các bộphận cấu thành quyền lực, giới hạn chức năng của từng bộ phận, mối quan hệqua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự, thủ tục thực hiện quyền lực Hệthống kiểm soát quyền lực là hệ thống kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thựchiện quyền lực Các hình thức phản biện từ phía các chủ thể khác nhau của hệthống chính trị, các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sửdụng quyền lực nhà nước Xét một cách tổng quát yếu tố tổ chức có ý nghĩaquan trọng nhất, bỏi vì đây là khỏi điểm cho việc sử dụng cũng như kiểm soátquyền lực

Trong các xã hội bóc lột trước đây, nhà nước xuất hiện từ xã hội, trởthành lực lượng tách ròi xã hội, đứng trên xã hội, do đó nó có nguy cơ thoát lykhỏi sự kiểm soát của của nhân dân Mặc dù, quyền lực nhà nước bắt nguồn từnhân dân Như thế trong xã hội có giai cấp đối kháng, nhân dân có rất ít khảnăng thực tế tham gia vào việc tổ chức quyền lực nhà nước, để từ đó kiểm soátđược quyền lực Việc kiểm soát quyền lực này thực tế phụ thuộc trước hết làvào cấu trúc quyền lực của nó Một cấu trúc có thể cho phép tổn tại sự kiểmsoát, sau đó là năng lực kiểm soát của các chủ thể khác Chế độ tập quyềnchuyên chế kéo dài suốt thời kỳ trung cổ thực sự là mảnh đất cho sự lộng hành,

Trang 10

cản trở sự phát triển xã hội Để xóa bỏ rào cản đi đến tự do, dân chủ đã buộccác nhà tư tưởng phải tìm ra các giải pháp cho sự tiến bộ xã hội, học thuyếtphân quyền mà trường phái khai sáng đề xướng đến nay vẫn là những chỉ dẫncho việc kiểm soát quyền lực ở các quốc gia mà nhà nước chưa thực sự là củadân, nhân dân chưa có đủ điều kiện để kiểm soát hữu hiệu quyền lực nhà nước.

Kiểm soát quyền lực từ tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền có những ưu điểm sau đây:

Thứ nhất: Sự phân ra rành mạnh về chức năng và nhân sự, cùng với cơ

chế kìm chế, đối trọng vừa có tác dụng đề cao trách nhiệm cá nhân, tính độclập sáng tạo của cá nhân trong thực thi quyền lực nhà nước vừa hạn chế khảnăng lạm quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền

Thứ hai: Ở mức độ nhất định cơ chế phân quyền đảm bảo tính độc lập

của cơ quan xét xử

Thứ ba: Cơ chế kìm chế đối trọng là một trong những đảm bảo (ở mức

độ nhất định) hiệu lực của hiến pháp

Xuất phát từ ưu điểm trên đây, các nước tư bản hiện đại đã áp dụng họcthuyết phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình và coi đó

là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất, có ý nghĩa cơ sở để đảm bảodân chủ, tự do, bình đẳng xã hội

Tuy nhiên cũng cần nói rằng, mặt trái của phân quyền là tranh giành,chia rẽ phân tán quyền lực nếu không được kiểm soát tốt Vì vậy, phân quyềnvừa có mục đích kiểm soát quyền lực vừa phải kiểm soát cả sự phân quyền vàthực thi quyền lực trong cơ chế phân quyền

- Dưổi chế độ XHCN, về nguyên tắc nhân dân có toàn quyền quyếtđịnh đối với quyền lực nhà nước, có toàn quyền kiểm soát quyền lực đó Thếnhưng các nguyên tắc đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi có một cơ chế tổchức và thực hiện khả thi quyền lực nhà nước từ phía nhân dân Nhân dân, vói

tư cách là người chủ của quyền lực, có quyền và cần thiết phải thực hiện sự

Trang 11

kiểm soát như vậy nhằm đảm bảo quyền lực được thiết lập và thực hiện vì lợiích của nhân dân và xã hội ở đây sự kiểm soát quyền lực có sự khác biệt vềchất so với sự kiểm soát quyền lực của nhân dân trong xã hội tư sản Nhân dânkiểm soát quyền lực không chỉ nhằm đảm bảo quyền lực không bị lạm dụng,

mà còn đảm bảo khả năng nhân dân thay đổi quyền lực đó cả về nội dung, hìnhthức, phương thức thực hiện nếu thấy cần thiết Yiệc yêu cầu nhân dân kiểmsoát một cách toàn diện và ngày càng đầy đủ hơn quyền lực nhà nước, đòi hỏinhà nước XHCN phải đảm bảo tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ.Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân thông qua những người đại diện củamình có thể kiểm soát toàn bộ quyền lực nhà nước

1.1.3 Tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử tư tưởng chính trị

Việc kiểm soát quyền lực có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khácnhau, trong đó có ít nhất là hai xuất phát điểm cơ bản: từ lợi ích của nhữngngười nắm giữ quyền lực và từ lợi ích của những người chịu tác động quyềnlực Thực tiễn lịch sử cho thấy các chủ thể nắm quyền lực thường có xu hướnglạm quyền, sử dụng quyền lực được trao để mưu tính lợi ích khu biệt, cá nhân.Ngay từ thời cổ đại cho đến ngày nay việc nghiên cứu về kiểm soát quyền lực

đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau trong lịch sử tư tưởng chính tri cảphương Đông và phương Tây Nhằm đưa ra những kiến giải để kiểm soátquyền lực khi quyền lực được trao cho chủ thể nắm quyền

1.1.3.1 Các nhà tư tưởng cổ đại

- Phương Đông

Tư tưởng về quyền lực chính tĩị và kiểm soát quyền lực cai trị đáng chú

ý nhất trong trường phái pháp tri Trung Hoa cổ đại, được biểu hiện trong tácphẩm của Hàn Phi Tử, một "Tập đại thành" gói trọn kinh điển pháp gia Trong

xã hội phong kiến chuyên chế phương Đông, vua thâu tóm mọi quyền lực nhànước cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, tức vận mệnh của đất nước đặt

Trang 12

cược vào trong tay một con người Yiệc kiểm soát quyền lực từ trên xuống củanhà vua là khá chặt chẽ, để chống lại sự phản kháng của dân chúng và sự mưulợi ích riêng của đội ngũ quan lại, nhằm mục đích bảo vệ chế độ chính trị quânchủ chuyên chế, đem lợi ích cho vua và giai cấp thống tri Thực hiện mục tiêu

đó, các nhà pháp tậ đặc biệt là Hàn Phi Tử đã không ngừng tìm tòi, khám phá

kế thừa và phát triển những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng pháp trị, để hìnhthành những quan điểm và nguyên tắc pháp lý tương đối hoàn chỉnh thông qua

hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát việc thực thi quyền lực của đội ngũ quanlại trong hệ thống chính quyền nhà nước chuyên chế

Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là một hệ thống quan điểm về pháp

- thế - thuật, lấy pháp làm nội dung cai trị gồm những đặc trưng cơ bản: Pháp là pháp luật thành văn của quốc gia, gồm những điều luật, luật lệ, quyđịnh mang tính nguyên tắc được biên soạn rõ ràng minh bạch như khuôn mẫu,được chép trong đồ thư và bày ra ở nơi quan phủ, ban bố rộng rãi cho dânchúng biết việc gì làm được và việc gì không làm được 2- Nội dung và cáchình thức thưởng phạt 3- Mục đích thức hiện pháp là:

1-Để chữa cái loạn của dân chúng, trừ cái họa trong thiên hạ.Khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúcphạm số ít, người già được thỏa lòng, ngưòi trẻ và cô độc đượctrưởng thành, biên giói không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau,cha con giữ gìn cho nhau, lại không mắc phải cái lo bị giết chóc hay

bị giặc bắt cầm tù, đó cũng là cái công hết sức lớn [55, tr 130].Như vậy, pháp luật được Hàn Phi xem là tiêu chuẩn để phân biệt đúng

- sai, chính tà, là phương tiện của người cầm quyền dùng để điều khiển đấtnước Theo Hàn Phi chỉ có pháp luật mới làm cho nước trị: "Cái làm cho trị an

là pháp luật, cái gây ra loạn là sự riêng tư Pháp luật đã thiết lập rồi thì không

ai có thể làm điều riêng tư được nữa" [55, tr 500]

Trang 13

Điều này cho thấy, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu quan trọngnhất trong của bình ổn xã hội kể cả đối với đội ngũ quan lại không thể dùngquyền lực nhà nước do vua trao mà mưu lợi ích riêng được Đây cũng là điểmrất quan trọng mà từ xưa đến nay nhân loại vẫn chưa giải quyết được một cáchthỏa đáng; mâu thuẫn công và tư, trung với hiếu, danh và thực trong đời sốngcon người Cho nên trị nước phải coi trọng pháp luật, thưởng phạt phải nghiêmminh, pháp luật là công cụ của các đế vương khi thực thi quyền lực, để cai triđất nước và nó đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng một nhà nước phong kiếntrung ương tập quyền mạnh.

- Các nhà tư tưởng cổ đại phương Tây

Không chỉ có trong các nhà nước đương đại mà đã xuất hiện ngay từthời cổ đại, ở Aten vào năm 461 TCN dưới chính quyền Pericles, Hội nghịnhân dân - cơ quan có chức năng tương tự như cơ quan lập pháp ngày nay, mỗinăm phải họp ít nhất 10 lần và trong hội nghị, theo thủ tục bao giờ dân chúngcũng được mời biểu quyết chấp thuận hay khiển trách các viên chức của họ.Nếu khiển trách thì tiếp theo sẽ có cuộc truy tố trước tòa án; tương tự như mộtthủ tục bãi nhiệm; khi đến cuối năm mỗi viên chức phải tường trình trước một

ủy ban đặc biệt về tiền công quỹ mà họ là người thu, người giữ, hay ngưòi chitiêu Đây là hình thức ban đầu sơ khai của sự kiểm soát của nhân dân đối vóiviệc thực hiện quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của cơ quan lập pháp đối vóicác nhân viên nhà nước

- Bước chuyển sang chế độ phong kiến cũng đổng thời đánh dấu

sự thay đổi cơ bản trong tổ chức quyền lực xã hội Toàn bộ quyền lực từ quyềnlập pháp, hành pháp đến quyền tư pháp đều tập trung vào một người là nhàvua Do không có cơ chế kiểm soát, quyền lực xã hội phong kiến chìm đắmtrong sự độc đoán chuyên quyền, còn gọi là "đêm dài trung cổ"

- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhànước (quyền hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp) đều nằm trong tay

Trang 14

một nhà quân chủ Nhà nước quân chủ chuyên chế - quyền lực của nhà vua là

vô hạn Cách tổ chức quyền lực chuyên chế dẫn đến sự lạm quyền, và tùy tiện

Trong điều kiện đó, hệ tư tưởng giải phóng để phát triển của cuộc cáchmạng tư sản mà cốt lõi là học thuyết về quyền tự nhiên, chủ nghĩa lập hiến vàchế độ đại nghị đánh dấu bước tiến mới trên con đường giành dân chủ

Các Mác có một nhận xét rất xác đáng về chế độ đó rằng: Sự tùy tiện làquyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tùy tiện

Để chống lại chế độ chuyên quyền, độc đoán đó ngay từ thời cổ đại đãxuất hiện tư tưởng phân quyền Ở những mức độ khác nhau Đại biểu củanhững tư tưởng ấy là Platôn (427 - 347 TCN) và Arixtôt (384 - 322 TCN)

Aristôt quan niệm hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức

quyền lực chính trị Nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phậnđộc lập Cơ quan nghị luận (làm luật), cơ quan chấp hành (hành chính), cơquan xét xử, trong đó cơ quan làm luật giữ vị trí vai trò chủ đạo, bởi lẽ ôngquan niệm luật thống trị tất cả, các cơ quan hành chính không có quyền đó màchỉ cụ thể hóa luật và thực thi pháp luật

Như vậy, tư tưởng phân quyền thời cổ đại chỉ là phân công lao động,phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước.Việc thực hiện nhiệm vụ nhà nước theo chức năng, tự nó đã có sự giám sátquyền lực

Platôn cho rằng, nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là chính tĩị

phân giải thành pháp lý, hành chính, tư pháp và ngoại giao Song tất cả các yếu

tố đó phải được thống nhất bỏi chính trị Tức là phân công lao động trong bộmáy nhà nước là cần thiết, hoạt động của nhà nước như lập pháp, hành pháp, tưpháp cùng nhằm vào một đối tượng, nhưng đổng thời chúng có khác nhau

Trang 15

Một nhà nước lý tưởng, nhà nước đó phải được cầm quyền bỏi sựthông thái; có sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau Nhànước đó gồm ba tầng lớp (giai cấp) cơ bản:

Tầng lớp các pháp quan là những người có lý trí, có vai trò cai tri thànhbang

Tầng lóp chiến binh là những người có sức mạnh bảo vệ thành bang.Tầng lóp nông dân, thợ thủ công là những người nặng về đời sống nhụccảm, có trách nhiệm cung cấp đồ ăn, vật dụng cho thành bang

1.1.3.2 Các nhà tư tưởng thời cận đại

Các nhà tư tưởng thời cận đại đã kế thừa tư tưởng phân quyền về kiểmsoát quyền lực thời cổ đại, phát triển thành học thuyết "phân chia quyền lực"vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI - XVIII đại diện là Jon Lock và đỉnhcao là Mongtecxkiơ

Theo Jon Lock (1632 -1704), trong tác phẩm sự luận giải về chính

quyền, thì để bảo đảm quyền lực thực thi đúng quĩ đạo của nó; quyền lực nhànước phải được hạn chế theo nguyên tắc phân chia quyền lực; tách hành pháp

ra khỏi lập pháp và nhà làm luật cũng phải lệ thuộc vào luật, tuân theo luật,chia quyền lực nhà nước thành: lập pháp, hành pháp, và quyền lực liên bang.Quyền lập pháp do nghị viện, cơ quan đại diện nhân dân thực hiện Quyềnhành pháp và quyền liên bang cần trao cho một nhân vật - nhà quân chủ, nhưngngười đó không được lạm quyền Còn quyền tư pháp chỉ là một bộ phận củaquyền hành pháp, nhưng khi xét xử phải có sự tham gia của nhân dân

Jon Lock muốn trao từng bộ phận quyền lực cho những lực lượngchính tri xã hội khác nhau là tư sản và phong kiến

Trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưngkhông tuyệt đối vì quyền lực tối cao thuộc về nhân dân Là ngưòi có thể giảitán hay thay đổi thành lập cơ quan lập pháp khi hoạt động không còn đủ tínnhiệm với nhân dân

Trang 16

- Mongtexkỉơ ị1689 - 1775): Là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc củapháp, người đề xưổng học thuyết phân quyền; tư tưởng của ông được phản ánhtrong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" và "Những bức thư thành Ba Tư".

Nghiên cứu lịch sử của chế độ chuyên chế, quyền lực nằm trong taymột người, hay một tổ chức tất yếu dẫn đến lạm quyền và sử dụng quyền lực

để mưu lợi ích riêng Tác giả cho rằng, để loại trừ khả năng lạm quyền thì cầnphải thiết lập một trật tự trong đó - quyền lực lập pháp, hành pháp, tư phápphải độc lập, trở thành lực lượng kiềm chế nhau Quyền lập pháp được chiagiữa tư sản và phong kiến Nghị viện có hai viện, Thượng viện đại diện choquý tộc; Hạ viện đại diện cho dân Quyền hành pháp thuộc quý tộc, và thànhlập chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân, tức là trướcgiai cấp tư sản Mongtecxkiơ giải thích như sau: "Khi mà quyền lập pháp vàquyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽkhông còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay Viện ấy chỉ đặt

ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài" [50, tr 100], Cũng tương tự nhưvậy, "nếu quyền tư pháp nhâp lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoánvới quyền sống và quyền tự do của công dân" [50, tr 100] và "nếu quyền tưpháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức manh của kẻđàn áp" [50, tr 101] và "nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặccủa quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền nói trên thì tất cả sẽmất hết" [50, tr 101]

Ông còn cho rằng, quyền tư pháp phải độc lập, không trao cho cơ quanthường trực nào, mà trao cho nhân dân bầu theo định kỳ

Mongtecxkiơ chỉ ra rằng: "Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm raluật và xem xét ngưòi ta thực hiện luật như thế nào" [50 tr 101] và không có

"chức năng ngăn cản" tức là "quyền làm cho quyết định của ngưòi khác trởthành vô hiệu" [50, tr 101]

Thuyết phân chia quyền lực ra đòi trở thành ngọn cờ tư tưởng của giaicấp tư sản tập hợp quần chúng chống chế độ phong kiến Khi giai cấp tư sản

Trang 17

giành được chính quyền, học thuyết này đã trở thành nguyên tắc căn bản về tổchức và hoạt động của nhà nước tư sản Ý nghĩa lịch sử của học thuyết phânquyền là ở chỗ thấy được sức mạnh của quyền lực nhà nước (vói tư cách làquyền lực của nhân dân ủy quyền) Vì thế nó không được trao cho một ai hoàntoàn, mặt khác nó cho thấy sự nguy hiểm nếu quyền lực nhà nước không đượckiểm soát để rơi vào tay quý tộc hay tư sản Cũng cần thấy rằng, nguồn gốc sâu

xa của lý thuyết phân quyền là: ở chỗ nó đã thích ứng với tính không thuầnnhất về lợi ích giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ giai cấp tư sản, thíchứng với tình trạng tranh giành quyền lực diễn ra liên tục giữa các bộ phận đó

Như vậy, về phương tiện chính tậ trước đây phân quyền là cái cớ đểgiai cấp tư sản đòi chia quyền thống tri với giai cấp phong kiến, thì hiện giờ làgiải pháp tổ chức quyền lực thích ứng với mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản.Tuy nhiên bản thân học thuyết phân quyền ngoài việc phản ánh hiện tượngkhách quan của xã hội tư sản là có mong muốn một xã hội tốt đẹp, trong đóquyền tự do con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu những lộnghành của nhà nước, họ đã kỳ vọng chủ yếu vào sự kiểm soát quyền lực nhànước ngay trong hệ thống tổ chức quyền lực

I.I.3.3 Quan điểm của các nhà kỉnh điển mác-xít về kiểm tra - kiểm soát quyền lực nhà nước

* Quan điểm của Mác - Ẵngghen

Qua di sản lý luận mà Mác - Ảngghen để lại, hầu như hai ông không đisâu bàn tới việc kiểm soát quyền lực một cách trực tiếp, mà bàn tới công táckiểm tra, kiểm soát của Đảng và Nhà nước Mặc dầu vậy chúng ta cũng có thểthấy rõ quan điểm của các ông về kiểm soát quyền lực Vì vậy, khi nghiên cứuMác - Ảngghen chúng ta cần có cách tiếp cận rộng hơn các hình thức giám sátquyền lực Trong bộ Tư bản, Mác đã đề cập đến công tác kiểm tra nói chung -kiểm tra là một phương thức hành động để thực hiện mục đích Nó như là quyluật Như vậy theo quan điểm của Mác - Ảngghen thì kiểm tra là một tất yếu

Trang 18

khách quan đối vói hoạt động của con ngưòi và tổ chức Có hoạt động thì phải

có kiểm ưa Các Mác khẳng định rằng:

Vào một thòi kỳ ở một nước mà thế lực vua chúa, giai cấpquý tộc và giai cấp tư sản tranh giành quyền thống trị, mà do đóquyền thống tri bị phân chia thì học thuyết phân quyền tỏ ra là tưtưởng thống trị, nó được người ta coi là quy luật vĩnh viễn mỗiđiều khoản của hiến pháp đều chứa sẵn trong bản thân nó cái phản

đề của bản thân nó, cái thượng viện và hạ viện của nó tự do trongcâu nói chung chung, và xóa bỏ cái tự do trong điều khoản kèmtheo Hiến pháp đã được thảo ra sao cho nghị viện có thể gạt bỏđược tổng thống bằng con đường lập hiến, nhưng Tổng thống lại cóthể gạt bỏ nghị viện bằng con đường không hợp hiến, bằng cách thủtiêu luôn cả hiến pháp Như thế là ở đây, bản thân hiến pháp lại đithách thức thủ tiêu mình bằng bạo lực Chẳng những nó thần thánhhóa chế độ phân quyền giống như Hiến chương 1830, mà nó còn mởrộng chế độ phân quyền đến chỗ mâu thuẫn không sao chịu nổi Nếu hiến pháp giao cho tổng thống quyền thực tế thì nó lại cố gắngbảo đảm cho nghị viện quyền tinh thần [41, tr 236],

Khi xem xét mối liên hệ giữa Thuyết phân quyền với sự phân công laođộng trong bộ máy nhà nước Ph Ãngghen đã viết "Phân quyền được xem như

là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm được trên thực tế, về thựcchất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp dụng đốivới bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hóa và để kiểm tra" [43, tr 405], Các ôngcho rằng, Thuyết phân quyền ở đó Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, tòa ánchỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trang vào cơ quan hành pháp.Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học thuyết chính tri pháp lý,

kể cả thuyết phân chia quyền lực Đổng thòi, tổng kết kinh nghiệm đấu tranhgiai cấp, Mác và Ảngghen đã cho ta thấy, trong xã hội có giai cấp đối kháng,quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp thống trị; nếu chế độ nhà nước đó

Trang 19

bị đập tan thì quyền lực nhà nước trở về tay nhân dân, như chính cội nguồnban đầu của nó, nhân dân là gốc của quyền lực là chủ thể của quyền lực Sựthay đổi về bản chất này cần có quan điểm mói về tổ chức và thực hiện quyềnlực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước khi nhà nước của nhân dân laođộng được thành lập dưới CNXH.

* Quan điểm của V.I Lênin

về công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm kê kiểm soát, V.I Lênin bàn đếnrất nhiều, rất sâu (ở trong khoảng không dưới 150 tác phẩm) Nội dung quanđiểm của V.I Lênin được thể hiện rõ ở 4 vấn đề chủ yếu sau:

+ Tính tất yếu phải kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát

+ Những nội dung cơ bản của kiểm tra, kiểm soát

+ Chủ thể kiểm tra, kiểm soát và đối tượng của nó

+ Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát

Theo Lênin, những nội dung chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát bao gồm: Một là, kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và phân phối những sản phẩm

chủ yếu nhất

Hai là, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và tiền tệ, nhất là

hoạt động của ngân hàng, lưu thông tiền tệ, thu nhập, chi tiêu và nộp thuế củacác nhà giàu

Ba là, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của

Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc thi hành các chức trách và chấp hành kỷluật lao động

Bốn là, kiểm tra, kiểm soát để phát hiện kịp thòi và đấu tranh chống các

hiện tượng tiêu cực

Đây chính là những vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, tuy nhiên ởcác quy mô rất khác nhau

Nói một cách khái quát, theo V.I.Lênin, nội dung công tác kiểm tra baogồm: kiểm tra việc và kiểm tra người Nó bao trùm toàn bộ việc kiểm soát việc

Trang 20

thực thi quyền lực nhà nước, chứ không chỉ là một quá trình của công tác lãnhđạo.

Khi giai cấp tư sản nắm quyền thống tĩị thì chủ thể kiểm tra, kiểm soátthuộc về giai cấp tư sản Còn đối tượng (khách thể) kiểm tra, kiểm soát là giaicấp vô sản và quần chúng lao động

Khi giai cấp vô sản giành quyền thống trị thì chủ thể kiểm tra, kiểmsoát thuộc về giai cấp công nhân và toàn thể dân cư tiến hành Nhà nướcchuyên chính vô sản dựa vào quần chúng lao động, trước hết là công nhân vànông dân, để tiến hành kiểm tra, kiểm soát Đối tượng bị kiểm tra, kiểm soátlúc này bao gồm:

- Tất cả các đơn vị kinh tế, các ngành

- Bọn ăn cắp, đầu cơ, làm ăn gian dối, nhận hối lộ, ăn bám, lưumanh, phá hoại ngầm, bọn "con ông cháu cha"

- Các biểu hiện của tính tự phát vô chính phủ

- Nhà nước và các tổ chức đảng vừa là chủ thể vừa là khách thểcủa công tác kiểm tra, kiểm soát

Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát

Công tác tổ chức là công tác có ích nhất và cần thiết nhất cho nhân dân.Nếu quần chúng không có tổ chức thì không thể đảm bảo một sự kiểm tra,kiểm soát nghiêm chỉnh Cần đề bạt những người có tài tổ chức xuất thân từ tất

cả các tầng lớp dân cư, các giai cấp vào cương vị then chốt trong bộ máy kiểmtra, kiểm soát Vấn đề cấp thiết nhất là tiến hành cải tiến bộ máy nhà nước Xôviết theo nguyên tắc "Thà ít mà tốt" Cơ quan đầu tiên cần phải được cải tiến là

Bộ dân ủy Thanh tra công nông Phải chọn ngưòi đứng đầu có uy tín, coi trọngchất lượng và tình giảm biên chế của cơ quan này

Riêng đối với cơ quan kiểm tra của Đảng phải được củng cố, xây dựng

đủ mạnh để thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ của nó Cần thiết lập ban kiểm tra

Trang 21

song song vói Ban chấp hành Trung ương Thành phần của Ban này bao gồmnhững đổng chí có uy tín nhất Các thành viên của Ban kiểm tra Trung ương cóquyền tham dự các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có quyền đọc các tàiliệu và có ý kiến.

Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát cần thực hiện tốt những phương pháp chủ yếu sau:

Một là, phải tổ chức phối hợp việc kiểm tra, kiểm soát từ dưới lên và từ

trên xuống Nhất thiết phải đặt ra và chấp hành những quy tắc về tiếp dân, tổchức phòng tiếp khách sao cho việc lui tới cơ quan được tự do, hoàn toànkhông cần có giấy phép nào cả

Hai là, phải công khai hóa việc kiểm tra, kiểm soát.

Ba là, kiểm tra phải thực sự, hình thức kiểm tra phải linh hoạt.

Bốn là, kiểm tra và xử lý phải thật nghiêm minh, kiên quyết.

1.1.3.4 Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Mình và quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ở Việt Nam

- Tư tưởng Hồ Chí Minh

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công táckiểm tra, kiểm soát gắn liền với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng củaNgười về Đảng nói chung Xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, nhà nước củadân do dân, vì dân nói riêng

Tư tưởng trên được hình thành rất sớm biểu hiện rõ nét trong hai vănkiện quan trọng "Án nghị quyết của hội nghị trà bị toàn quốc đại biểu đại hội"ngày 23 tháng giêng năm 1929 và trong Điều lệ của Hội Việt Nam cách mạngThanh niên Trong văn kiện thứ nhất, Hổ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề "đặt

ra đặc biệt ủy viên Hội để điều tra và xử đoán" [88, tr 91] những sự kiện cáonhau Trong văn kiện thứ hai đã đề cập tói các hình thức kỷ luật đối vói các hộiviên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên bị sai lầm, khuyết điểm Tiếp đó

Trang 22

trong các văn kiện, bài nói, bài viết từ năm 1930 đến năm 1969 tư tưởng vềcông tác kiểm tra, kiểm soát và thi hành kỷ luật đã không ngừng được người

bổ sung, hoàn thiện Nội dung tư tưởng Hổ Chí Minh về công tác kiểm tra,kiểm soát và thực hành kỷ luật được biểu hiện rõ nét ở những vấn đề chủ yếusau:

+ Vì sao phải tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý kỷ luật.Học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp côngnhân đã khẳng định: chính đảng ra đời là một tất yếu lịch sử Là đòi hỏi tất yếukhách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thểhiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp mình Như vậy lãnh đạo làchức năng bao trùm của Đảng Chức năng ấy được qui định bởi ngay từ quiluật ra đời của Đảng

Thế nào là lãnh đạo đúng? Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc Hồ ChíMinh đã luận giải hết sức rõ ràng, lãnh đạo đúng có nghĩa là:

Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng

Phải tổ chức sự thi hành cho đúng

Phải tổ chức sự kiểm soát [46, tr 285],

Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không phải là viết nghịquyết và ra chỉ thị, mà điều quan trọng, lãnh đạo còn là tổ chức thi hành vàkiểm soát thực hiện Lãnh đạo là kiểm soát, điều đó hoàn toàn chính xác cả về

lý luận và thực tiễn Sự chính xác của các quyết định của Đảng và Nhà nướcphụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố quan trọng là công tác kiểmtra, kiểm soát Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chínhsách mới đúng11., nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là

"nổi vuông úp vung tròn" không ăn khớp gì hết [46, tr 267]

Kiểm tra, kiểm soát là tất yếu khách quan còn ở chỗ muốn cho ý chí, trítuệ của toàn Đảng, toàn dân thành hiện thực cuộc sống thì phải thường xuyênquan tâm đến công tác quan trọng đó

Trang 23

Trong tác phẩm "Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hànhngay" Hổ Chí Minh khẳng định:

ở đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo

tư tưởng của V.I Lênin:

Khi mục đích, nhiệm vụ chính tn đã được xác định, quyếtđịnh đã được thông qua, thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lênhàng đầu Điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo cácsắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thựchiện Đó là vấn đề then chốt nhất đối với Đảng tiên phong, nhất làtrong diều kiện Đảng cầm quyền Tìm người, kiểm tra công việc - tất

cả là ở đó Cần phải ưu tiên thời gian, trí tuệ thích đáng, vì nếukhông làm như vậy thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là

mớ giấy lộn [29, tr 450],

Tính tất yếu của công tác kiểm tra kiểm soát được quy định ngay từ quiluật và phát triển của Đảng Hồ Chí Minh luận giải rất rõ ràng những cănnguyên của những khuyết điểm sai lầm trong Đảng: "Đảng ta là một Đảng rất

to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội Vì vậy có nhiều tính cách rấttrung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại Song cũng không tránh khỏi những tậptục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vàotrong Đảng" [46, tr 261]

Trang 24

Trong Đảng ta gồm những ngưòi có tài, có đức, phần đông nhữngngười hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết dũng cảmnhất Tuy vậy, không phải là ngưòi ngưòi đều tốt, làm việc đều hay TrongĐảng chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vụ lọi những việc không chínhđáng Do vậy kiểm tra và thực hành kỷ luật trong Đảng là một tất yếu kháchquan, để ngăn chặn khuyết điểm sai lầm, sửa chữa thói hư tật xấu, thải loạinhững kẻ thoái hóa biến chất, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh Xây dựngnhà nước của dân do dân vì dân.

+ Mục đích, ý nghĩa, tác dụng, nội dung của công tác kiểm tra

Phạm vi, nội dung của công tác kiểm tra rất rộng nhưng tập trung nhất

là kiểm tra việc và kiểm tra người Yiệc ở đây chủ yếu bao gồm các nghịquyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Người ở đây là cánhân cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích, tác dụng của công táckiểm tra, kiểm soát là giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnhđạo, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước trong hiện thực cuộc sống có gì đúng đắn, sai lệch, ai chấp hành tốt, aichấp hành chưa tốt, năng lực thực tế của mỗi người

Người cho rằng: có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viêntốt hay xấu Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan Mới biết rõ

ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết Muốn chống bệnhquan liêu bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành

có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có mộtcách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơnnữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi [46, tr 287]

Cũng như V.I Lênin, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những

cơ quan, cán bộ mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, "chỉ lo khai hội vàthảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị" [46, tr 520]; "có mắt mà không thấysuốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật màkhông nắm vững Ngưòi cho rằng, những ngưòi đó "không làm được việc,

Trang 25

phải thải đi" Ngoài ra, Hổ Chí Minh còn lưu ý đến hai hạng người" [46, tr.286].

Một là, những ngưòi cậy mình là công thần cách mạng rồi đâm ra

ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng vàChính phủ Họ kiêu ngạo, bất chấp kỷ luật, kỷ cương Vói những người này,

"cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ và kỷ luật" để chữatính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng vàChính phủ

Hai là, hạng ngưòi nói suông Hạng người này tuy thật thà, trung thành

nhưng không có năng lực làm việc, chỉ biết nói suông

HỒ Chí Minh đánh giá rất cao ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra,đặc biệt là kiểm tra việc và kiểm tra người Người thường xuyên nhắc nhở:Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thihành thế nào Nếu không như vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ralời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng

Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng CNXH thìcông tác kiểm tra càng có tác dụng, tầm quan trọng đặc biệt Tại hội nghị tổngkết công tác kiểm tra của Đảng, ngày 29/7/1964, Hồ Chí Minh nhấn manh:

Công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều Muốnhoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấphành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng Và muốn nhưvậy, thì các cấp ủy Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra Vì kiểmtra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trònnhiệm vụ đối với Đảng, đối với nhà nước, làm gương mẫu tốt chonhân dân Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng,

về tổ chức [47, tr 300],

+ Cách kiểm tra:

Trang 26

Hổ Chí Minh coi kiểm tra là một phương tiện, một liều thuốc đặc hiệuchống lại căn bệnh "nghị quyết một đằng thi hành một nẻo" và bệnh quan liêugiấy tờ Song, muốn đạt hiệu quả cao thì phải "khéo kiểm soát" "Khéo" tức làphải trên cơ sở khoa học, có hình thức, phương pháp kiểm tra linh hoạt, đadạng Ngưòi phê phán nghiêm khắc lối làm việc quan liêu; thiếu kiểm tra, kiểmsoát cụ thể; thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều; ngồi một noi chỉ tay nămngón Cách làm việc như thế rất có hại Nó làm cho lãnh đạo không đi sát vóiphong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưổi, cho nên phần nhiều chủtrương, nghị quyết không được chấp hành đến noi đến chốn.

"Khéo" kiểm tra còn có nghĩa là:

- Kiểm tra phải có hệ thống, nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phảilập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cáchlàm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy Có như thế mới kịp thời thấy

rõ những khuyết điểm và những khó khăn để sửa đổi các khuyết điểm và tìmcách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn

- Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào giấy tờ báo cáo, ngồi trongphòng giấy mà chờ người ta báo cáo mà phải đi đến tận nơi, xem tận chỗ

- Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình,

để tỏ rõ mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy Nhưthế, thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách

"Khéo" kiểm tra tức là phải biết kết hợp linh hoạt các hình thức,phương pháp kiểm tra: kiểm tra từ dưới lên, từ trên xuống; kiểm tra thườngxuyên, bất thường, định kỳ, kiểm tra trực tiếp, gián tiếp v.v

Người lý giải rất rõ ràng hai cách kiểm tra: kiểm tra từ trên xuống - tức

là người lãnh đạo kiểm tra kết quả những công việc của cán bộ mình Kiểm tra

từ dưới lên - tức là quần chúng và cán bộ kiểm tra sự sai lầm của người lãnhđạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó Cách này là cách tốt nhất đểkiểm tra các nhân viên

Trang 27

Có hình thức, phương pháp kiểm tra đúng, điều đó rất quan trọng,những yếu tố quyết định hiệu quả của mỗi cuộc kiểm tra là ở ngưòi kiểm tra.

Vì hình thức, phương pháp kiểm tra mói chỉ là phương tiện, cái quyết định là ởngưòi sử dụng các phương tiện ấy Theo Hổ Chí Minh:

Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra Ngưòi lãnh đạo phải

tự mình làm việc kiểm tra, mói đủ kinh nghiệm và oai tín

Nhưng người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ kinhnghiệm và giàu năng lực để giúp mình di kiểm ưa Ai di kiểm traviệc ế, noi nào nếu có sơ suất thì ngưòi ấy phải chịu trách nhiệm [46,

tr 520]

ở đây, tư tưởng của Hồ Chí Minh đã bắt gặp tư tưởng của V.I.Lênin:các đồng chí lãnh đạo chủ chốt phải đích thân tiến hành kiểm tra, chứ khôngphải chỉ giao cho những người "ở địa vị thứ yếu"

Trong các hình thức, phương pháp kiểm tra, Hồ Chí Minh đặc biệt đềcao kiểm tra thường xuyên và kiểm tra trực tiếp Người thường nhắc nhở: Cácđồng chí phụ trách ở các Bộ, các Ban, các ngành ở Trung ương cần phảithường xuyên đi kiểm tra và giải quyết các công việc tại chỗ, phải chống bệnhgiấy tờ, hội họp nhiều Cách nhắc nhở và phê bình cán bộ, đảng viên có khuyếtđiểm của Hồ Chí Minh cũng rất độc đáo - vừa rất nghiêm khắc nhưng lại rất độlượng, chan chứa tình người: Các đồng chí ở huyện phải đi xuống xã mà xemxét, kiểm tra, chớ làm theo lối quan liêu, tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửigiấy về xã Giấy không thể che rét cho trâu bò được, làm như vậy trâu bò sẽ bịgầy đi vì đói, vì rét, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất [48, tr 20; 313],

Trong công việc thường ngày, Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực vềcách làm việc có kiểm tra, tôn trọng kỷ luật của Đảng Dù bận trăm công nghìnviệc nhưng Người vẫn thường xuyên đến với quần chúng - công nhân, nôngdân, bộ đội trực tiếp xem và nghe người thật việc thật, trên cơ sở đó hình

Trang 28

thành những chủ trương, quyết sách lớn, có liên quan đến vận mệnh của Đảng,Nhà nước và chế độ XHCN.

Kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, chứ không phải lúc làm,lúc bỏ, đánh trống bỏ dùi; phải trở thành công việc thường ngày của các cấp ủyĐảng (nhất là các đổng chí cán bộ chủ chốt) Mỗi cuộc kiểm tra đều phải cóchương trình, kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng Thực hiện đúngcác nguyên tắc: công khai, công bằng; dân chủ gắn liền vói kỷ luật Khi chưaquyết định thì tha hổ bàn cãi, nhưng khi đã quyết định rồi thì không được cãinữa, có bàn cãi cũng chỉ là cách bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, khôngphải để đề nghị không thực hiện

Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triểnquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác kiểm tra, kiểm soát phù hợpvới hoàn cảnh thực tiễn của đất nước ta và Đảng ta Sự sáng tạo, bổ sung vàphát triển đó được thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, HỒ Chí Minh đã làm sáng tỏ hơn tính tất yếu khách quan của

công tác kiểm tra, kiểm soát; đã khẳng định nó là một nội dung lãnh đạo, mộtkhâu không thể thiếu trong quy trình lãnh đạo của Đảng Người đã phân tíchrất sâu sắc mối quan hệ giữa kiểm tra với đường lối, chính sách của Đảng.Chính công tác kiểm tra là một nhân tố quyết định để Đảng đề ra được đườnglối, chính sách đúng và tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách đó

Thứ hai, Hồ Chí Minh đã khẳng định mục đích của kiểm tra là ngăn

ngừa khuyết điểm, sai lầm, phát hiện người tốt việc tốt là chính

Thứ ba, Người đã bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm các hình

thức, phương pháp kiểm tra Công tác kiểm tra phải được tiến hành theo đúngnguyên tắc tổ chức của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phêbình và phê bình Kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, cụ thể, sâu sát,

Trang 29

trực tiếp, phải đến tận noi, xem tận chỗ; đề cao tính dân chủ, công khai Coitrọng kiểm tra từ trên xuống và từ cơ sở lên.

Thứ tư, phát huy tình thần xây dựng Đảng của quần chúng, tăng cường

công tác kiểm tra Hổ Chí Minh cho rằng: muốn kiểm soát đúng thì phải cóquần chúng giúp mói được Những người lãnh đạo trông từ trên xuống chỉ thấymột mặt của công việc, của sự đổi thay của mọi ngưòi Vì vậy, sự trông thấy đó

có hạn Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự đổi thay của mọi ngưòi.Mặt khác, họ trông thấy từ dưổi lên và sự trông thấy cũng có hạn Vì vậy,muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm của hai bên lại

- Quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát trong thời kỳ mới

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Yiệt Nam đã coi trọng côngtác kiểm tra và giữ gìn kỷ luật Điều lệ Đảng 1930 ghi rõ:

Cái trách nhiệm của đảng viên và các cán bộ là giữ theo kỷluật Đảng một cách nghiêm khắc Tất cả đảng viên đều phải chấphành các nghị quyết của Quốc tế, của Đảng đại hội, của Trung ương

và của thượng cấp cơ quan Đối với vấn đề phạm kỷ luật thì do toànchi bộ hoặc các cấp Đảng bộ tra xét [88, tr 127]

Các cấp ủy viên có thể đặt ra đặc biệt ủy viên để tra xét những vấn đềphạm kỷ luật của Đảng

Đại hội lần thứ nhất của Đảng, ngày 29/3/1935 đã thông qua điều lệ,trong đó ghi rõ: Muốn cho sự chỉ đạo Bôn-sê-vích được phát triển thì các cơquan thượng cấp (từ Trung ương cho tới tổng bộ khu bộ) có thể gửi ngườixuống hạ cấp kế đó (Trung ương xuống xứ ủy, xứ ủy xuống tỉnh ) để kiểm tra

và chỉ đạo công tác của các địa phương Các cấp ủy viên có thể đặt ra ban đặcbiệt ủy viên để tra xét những vấn đề phạm kỷ luật của Đảng

Trang 30

Cùng vói quá trình xây dựng, lớn mạnh của Đảng, nhận thức của Đảng

ta về công tác kiểm tra, kiểm soát ngày càng hoàn thiện, toàn diện và đầy đủhơn Đã được thể hiện một cách nhất quán trong báo cáo chính tri của ĐảngCộng sản Việt Nam qua các thòi kỳ cách mạng đó là: Kiểm tra là một trongnhững chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộcông tác xây dựng Đảng là một bộ phận của việc giám sát việc thực thi quyềnlực nhà nước đối vdi đảng cầm quyền Các cấp ủy Đảng và ngưòi đứng đầu cấp

ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát

Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tracác cấp lại được sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới:

+ Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cung cấp khi có dấu hiệu viphạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiệnnhiệm vụ đảng viên

+ Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việcchấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng,các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra vàthi hành kỷ luật trong Đảng

+ Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết địnhhoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật

+ Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếunại về kỷ luật Đảng

+ Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp

ủy cùng cấp

Thực chất của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ỏ nước ta là tổng hợp các công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, của các cơ quan trong hệ thống chính trị và của nhân dân Báo cáo chính trị Đại hội IXchỉ rõ:

Lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra củaChính phủ và các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của

Trang 31

Quốc hội, Hội đổng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân, theo đúng chức năng và thẩm quyền của các cơ quan đó.Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy, của ủy ban kiểm tra cáccấp tập trung vào các nội dung chủ yếu: Thực hiện các nghị quyết,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành nguyêntắc tập trung dân chủ và qui chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ,giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán

bộ, đảng viên [16, tr 146]

Có thể nói, sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển của Đảng ta vềcông tác kiểm tra, kiểm soát thể hiện ở mấy điểm chủ yếu sau:

Một là, Đảng ta đã cụ thể hóa rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, tầm quan trọng

của công tác kiểm tra - đã xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnhđạo chủ yếu của Đảng; một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xâydựng Đảng Có lãnh đạo thì phải có kiểm tra Lãnh đạo cũng có nghĩa là kiểmtra Công tác kiểm tra là của toàn Đảng, các cấp ủy Đảng và người đứng đầucấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

Hai là, xác định rõ ràng và cụ thể hóa nội dung, nhiệm vụ kiểm tra của

cấp ủy và của ủy ban kiểm tra Trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng,Đảng ta đều có sự sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới, phù hợp vớihoàn cảnh thực tiễn Việc xác định chủ thể, khách thể kiểm tra trong từngnhiệm vụ cũng rõ ràng hơn Điều này có ý nghĩa thiết thực - khắc phục đượctình trạng buông lỏng, khoán trắng, thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công táckiểm tra của một số cấp ủy Việc ủy ban kiểm tra các cấp chuyển từ kiểm trachấp hành sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đã khắc phục được tình trạngkiểm tra tràn lan, không trúng đối tượng, thiếu trọng điểm nên kém hiệu quả.Nhiều trường hợp kết luận của kiểm tra chấp hành không nói lên đúng thựctrạng của tình hình vi phạm, tiêu cực trong các tổ chức đảng

Nhờ sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà công tác kiểm tra của Đảng ta trong gần 74

Trang 32

-năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đặc biệt trong hơn một thậpniên đổi mới, công tác kiểm tra của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc xâydựng, hoàn thiện, bảo vệ đường lối, chính sách, quan điểm, các nguyên tắc củaĐảng, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảngviên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phầntăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Các tổ chức đảng đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về côngtác kiểm tra Nhiều cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo công tác kiểm tra, xây dựngchương trình kế hoạch và trực tiếp kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới theo quyđịnh của Điều lệ Đảng, bước đầu có kết quả thiết thực

Tuy nhiên, công tác kiểm tra của các tổ chức đảng và cấp ủy các cấpcòn nhiều thiếu sót, khuyết điểm Không ít cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ vềcông tác kiểm tra của Đảng, coi đây chỉ là công việc của ủy ban Kiểm tra cáccấp Khi xem xét kỷ luật hoặc khi đơn vị có vụ việc, còn lúng túng, thiếu chủđộng cả về nội dung và phương pháp kiểm tra Nhiều chủ trương, nghị quyết,chỉ thị của Đảng không được chấp hành nghiêm túc, thậm chí sai lệch nhưngkhông được kiểm tra, uốn nắn Nhiều tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính,tiền tệ gây hậu quả nghiêm trọng, tệ quan liêu, tham nhũng đang làm tha hóamột bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhưng chậm được kiểm tra, pháthiện, xử lý công minh, kịp thời Công tác cán bộ còn nhiều thiếu sót, khuyếtđiểm, chưa đáp ứng yêu cầu

1.2 CÁC PHẠM TRÙ VỂ KIEM soát quyển Lực NHÀ NƯỚC, CÁC CẤP

ĐỘ VÀ HÌNH THỨC KIEM soát quyển Lực

Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn luôn gắn với một chủ thể nhấtđịnh, tức là phải trả lời câu hỏi: ai (người, hoặc tổ chức nào) có quyền thựchiện nhiệm vụ kiểm soát: Kiểm soát ai? Kiểm soát việc gì? Kiểm soát quyềnlực nhà nước được thực hiện bởi một loạt các chế định khác nhau, gắn liền vớichúng là các phạm trù, khái niệm khác nhau

Trang 33

1.2.1 Giám sát mang tính quyền lực nhà nước

Giám sát:

Trong Từ điển tiếng Việt: "Giám sát được hiểu là sự theo dõi xem xétlàm đúng hoặc sai những điều đã quy định hoặc được hiểu là theo dõi và kiểmtra xem có thực hiện đúng những điều quy định không"

Trong Từ điển hành chính, giám sát là:

Sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thườngxuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực đểbuộc và hưổng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quĩđạo, qui chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từtrước, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh [24, tr.261]

Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ giám sát có khác nhaunhưng đều có những đặc điểm sau đây:

- "Giám sát" luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định và luôn luôngắn với đối tượng cụ thể Tức là ai giám sát, giám sát ai, giám sát cái gì?

- Giám sát là làm cho đối tượng làm đúng những điều đã quy định.Trong hoạt động giám sát nói chung, tính chất hoạt động rất phong phú

và đa dạng từ việc giám sát quyền lực nhà nước, đến giám sát kỹ thuật, côngtrình

Giám sát mang tính quyền lực nhà nước:

Là loại giám sát được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đối với một hay nhiều cơ quan nhà nước khác Ở nước ta đó làhoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với chính phủ, Tòa án nhân dântối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), là hoạt độnggiám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND) đối với các cơquan nhà nước ở địa phương và còn là hoạt động giám sát của Tòa án đối vói

Trang 34

bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử Các phương pháp, cách thức màloại hình giám sát này áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước.

12.1.1 Giám sát của Quốc hội

Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Quốc hội do vị trívai trò của quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất nên hoạt động giám sát của Quốc hội có tính chất là giám sát tối cao;như vậy: chủ thể hoạt động giám sát tối cao là của Quốc hội; ủy ban Thường

vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đổng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, cácđoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội nhằm theo dõi, xem xét kiểm tra tính hợphiến, hợp pháp trong các văn bản pháp luật, trong hoạt động của chủ tịch nước,Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC và toàn bộ hoạt động của nhà nước nhằmđảm bảo sự tuân thủ hiến pháp, pháp luật và hiệu lực tham gia hoạt động củacác cơ quan này Xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, kịp thời bổ sungsửa đổi hoàn chỉnh hiến pháp, pháp luật

Đối tượng chịu giám sát tối cao là toàn bộ hoạt động của nhà nước, màtrước hết là: Chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, YKSNDTC, Chủ tịch Quốchội, UBTVQH

Nội dung của quyền giám sát tối cao bao gồm:

Một là, theo dõi, trong xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối

với các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động của Chủ tịch nước,

UBTVQH, Chính phủ, TANDTC và VKSNDTC Hai là, xử lý các hành vi vi

phạm Hiến pháp và luật bằng các chế tài bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ

do Quốc hội bầu và phê chuẩn trong bộ máy nhà nước, đình chỉ, bãi bỏ các vănbản trái với hiến pháp, luật và ra các nghị quyết khi xét thấy cần thiết

* Phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội:

Các cá nhân đại biểu Quốc hội chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốchội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC

Trang 35

UBTVQH cơ quan thường trực của Quốc hội giám sát việc thi hànhHiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội Pháp lệnh, nghị quyết củaUBTVQH, giám sát hoạt động của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, giámsát hoạt động của HĐND, Hội đổng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, thựchiện quyền giám sát trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ do Hiến pháp (1992)

và Luật Tổ chức Quốc hội quy định: Khi cần thiết Hội đổng dân tộc, các ủyban của Quốc hội cử các thành viên của mình đến cơ quan tổ chức hữu quan đểđiều tra xem xét về vấn đề mà hội đổng và các ủy ban quan tâm

Hậu quả giám sát tối cao của Quốc hội: là đình chỉ, hủy bỏ những vănbản do các cơ quan nói trên ban hành trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghịquyết của Quốc hội hay UBTVQH Bãi miễn, miễn nhiễm các chức vụ doQuốc hội bầu và phê chuẩn

1.2.1.2 Giám sát của hội đồng nhân dân

Do vị trí chính trị pháp lý của Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lựcnhà nước ở địa phương cho nên mặc dù giám sát của HĐND và Quốc hội đều

có chung một tính chất là giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm đảmbảo cho các quy định của pháp luật và nghị quyết HĐND được thi hànhnghiêm chỉnh trong phạm vi địa phương

HĐND thường xuyên thực hiện giám sát gắn liền với việc thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định: giám sát của HĐND tại kỳ họp,giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban HĐND, và giám sátcủa đại biểu HĐND Phương thức là: xem xét báo cáo công tác của Thườngtrực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp Xem xét việc trả lời chất vấncủa Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, thủtrưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Viện trưởng VKSND, Chánh ánTAND cùng cấp Xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cùngcấp, Nghị quyết của HĐND cấp dưới, trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu tráivới Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của

Trang 36

UBTVQH, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghịquyết của HĐND cùng cấp.

Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết, bỏ phiếu tín nhiệm đốivói ngưòi giữ chức vụ do HĐND bầu

1.2.1.3 Giám sát của cơ quan tài phán

Theo quy định hiện hành TAND các cấp trong phạm vi chức năng củamình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN Giám sát thông qua hoạt động xét

xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng tài sản, tự

do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Hoạt động giám sát của TAND chỉ tiến hành thông qua hoạt động xét

xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế trong quá trình xét xử bêncạnh việc xác định tội phạm, TAND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản

lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người

có chức vụ

Quyết định, bản án của Tòa án có thể được gửi cho thủ trưởng cơ quan,

tổ chức hữu quan Điều 74 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

-1996 quy định: các cơ quan nhà nước cấp trên khi nhận được quyết định, bản

án (hành chính) phải có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra cấp dưới thi hành Hoạtđộng giám sát của TAND khôi phục lại quyền của đương sự bị xâm phạm,được quy định tại Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự: "Khixét xử các vụ án dân sự, tòa án có quyền hủy quyết định rõ ràng trái pháp luậtcủa cơ quan tổ chức khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựtrong vụ án mà tòa án có nhiệm vụ giải quyết" hoặc "tạm đình chỉ việc thihành, quyết định hành chính bị khiếu kiện" Tòa án hành chính hiện nay thôngqua xét xử hành chính có tác dụng kiểm tra kết quả hoạt động hành chính,phán quyết tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính,các cơ quan, công chức nhà nước bị khiếu kiện

Trang 37

Do vậy, giám sát của cơ quan tài phán đây là loại hình giám sát của hệthống cơ quan độc lập thông qua trình tự tố tụng, được thực hiện thông quaviệc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

1.2.2 Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước

Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (còn gọi là giám sátmang tính nhân dân) bao gồm các hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc(MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân và công dân.vềquyền giám sát của Mặt trận, Hiến pháp 1992 quy định: "Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận là cơ sở chính tĩị của chínhquyền nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân giámsát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhànước" [21, tr 139] về tính chất của hoạt động giám sát của MTTQ Yiệt Nam,trong Điều 2 Luật MTTQ Yiệt Nam quy định:

Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Yiệt Nam là giámsát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanhtra của nhà nước, nhằm góp phần xây dựng, bảo vệ nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Yiệt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân[34, tr 6],

MTTQ Việt Nam giám sát hoạt động cơ quan nhà nước, đại biểu dân

cử, cán bộ công chức theo quy định của pháp luật

+ Hoạt động giám sát MTTQ Việt Nam được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt độnggiám sát với các cơ quan nhà nước

Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân và cácthành viên mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu

Trang 38

dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét giải quyết xử lý những tìnhhuống vi phạm pháp luật

Giám sát này mang tính nhân dân dưổi các hình thức theo dõi, pháthiện, nhận xét và kiến nghị

Về phạm vi giám sát được thực thi theo quy định của pháp luật, tức là

trong các văn bản pháp luật nào có quy định của hoạt động giám sát thì MTTQthực hiện quyền giám sát của mình theo quy định của văn bản pháp luật đó.(Chẳng hạn Luật Khiếu nại tố cáo có 4 điều, từ Điều 91 đến Điều 94) Về giámsát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và của tổ chứcthanh tra nhân dân Cho đến nay đã có gần 30 văn bản quy phạm pháp luật trêncác lĩnh vực có quy định về hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam

Như vậy giám sất của MTTQ Việt Nam và các thành viên của Mặt trận: là quyền giám sát của một tổ chức mang tính liên minh chính trị, liên hiệp, phối hợp và thôhg nhất hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân cử

và cán bộ, công chức nhà nước thông qua việc động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt động giám sát với cơ quan nhà nước và tổng hợp ỷ kiến của nhân dân cũng như của các thành viên để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

- Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước:

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân Theo quy định của Hiến pháp 1992 ở nước Cộng hòa XHCN ViệtNam "tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân" và "các cơ quan nhà

nước, cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân lắng nghe ý kiến

và chịu sự giám sát của nhân dân" [24, tr 139], Do vậy, quyền giám sát củanhân dân đối với bộ máy nhà nước là quyền giám sát của những người chủ củaquyền lực nhà nước

Trang 39

Quyền giám sát của nhân dân được thực hiện thông qua những hình thức sau đây:

+ Xem xét đánh giá phẩm chất năng lực của các đại biểu dân cử đó là

các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND Những ngưòi này đều do nhân dân bầuvào các cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí và nguyện vọng củanhân dân Theo quy định hiện hành, nhân dân có quyền xem xét, đánh giá tưcách của các đại biểu có xứng đáng vói sự tín nhiệm của nhân dân hay không.Đại biểu Quốc hội, HĐND có thể bị bãi nhiệm khi không còn sự tín nhiệm củanhân dân Thực chất ở đây nhân dân đã thực hiện quyền giám sát của mình đốivới tư sách và hoạt động của các đại biểu

+ Trực tiếp tham gia quản lý nhà nước quản lý xã hội: Vói quan điểmcủa Đảng ta là dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhân dân có quyềntham gia ý kiến với nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước Nhândân cũng có quyền trực tiếp tham gia các hoạt động của bộ máy nhà nướctrong cách quản lý đời sống kinh tế - xã hội giữ gìn an ninh trật tự, tổ chức đờisống cộng đồng ở cơ sở Thời gian qua Chính phủ ban hành các nghị định đểthực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã phường, thị trấn, trong doanh nghiệp,trong cơ quan đơn vị tổ chức hành chính sự nghiệp Những nghị định này tạo

cơ sở pháp lý để nhân dân được biết, được bàn trước khi cơ quan, tổ chức raquyết định hoặc có những việc nhân dân được tự quyết định và thực hiện Đóchính là yếu tố của quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước

+ Thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo của công dân: đây

là một trong những quyền cơ bản được ghi nhận trong Điều 74 Hiến pháp

1992 Thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo chính là việc nhân dân phát hiện ranhững việc làm sai trái, những hành vi vi phạm pháp luật thông qua một trình

tự thủ tục do pháp luật quy định Đề nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền xemxét, giải quyết nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của côngdân Qua đó góp phần đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước được đúng

Trang 40

đắn, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật, góp phần làm trongsạch bộ máy nhà nước Có thể nói việc thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo làbiểu hiện cao độ cho quyền làm chủ của nhân dân là một hình thức hữu hiệu đểnhân dân giám sát bộ máy nhà nước.

+ Thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân Đây là tổ chức

do nhân dân và tập thể những ngưòi lao động bầu ra ở xã phường, thị trấn, cơquan đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước Thông qua tổ chức nàynhân dân trực tiếp giám sát việc chấp hành pháp luật trong phạm vi địaphương, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, giám sát hoạt động của Chủ tịchUBND xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan đơn vị

+ Thông qua các hội, đoàn thể, thực hiện chức năng phản biện xã hộiđối với hoạt động của những cơ quan, công chức nhà nước

Vậy quyền giám sát của nhân dân đối với nhà nước là: quyền của nhândân khi xem xét, đánh giá hoạt động với tư cách của các đại biểu dân cử, trựctiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyền khiếu nại - tốcáo hoặc thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân do mình bầu ra.Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ công chứcnhà nước là một nội dung quan trọng của quyền dân chủ của nhân dân

1.2.3 Hoạt động thanh tra

Khái niệm thanh tra:

Thanh tra (tiếng Anh là inspect) xuất phát từ gốc La tinh (Inspectare)

có nghĩa là "nhìn vào bên trong", chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đốivới hoạt động của một đối tượng nhất định Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt,thanh tra "là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra" [85, tr 203],

Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra "là sự tác động của chủ thểđến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mụcđích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc" [82, tr 528], Theo Từ điểntiếng Việt: "Thanh tra là kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ

Ngày đăng: 17/09/2016, 03:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Hữu Ánh (1999), Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạ Hữu Ánh (1999), Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhànước
Tác giả: Tạ Hữu Ánh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
2. Bộ luật tố tụng hình sự (2003), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Bộ luật tố tụng hình sự
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2003
3. Hoàng Chí Bảo (1992), "Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu", Thông tin lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dânchủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1992
5. Hoàng Chí Bảo (2002), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 2002
6. Vũ Hoàng Công (2003), "Những vấn đề cơ bản trong tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin", Thông tin chính trị học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong tư tưởng chính trịcủa chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Năm: 2003
7. Vũ Hoàng Công (2004), "Chu trình chính sách và quy trình hoạch định chính sách quốc gia ở Việt Nam", Thông tin chính trị học, (1), tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu trình chính sách và quy trình hoạch địnhchính sách quốc gia ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Năm: 2004
8. Kim Dung (2001), "Giáo dục và đào tạo. Một số vấn đề bức xúc hiện nay", Báo Nhân dân, ngày 2-4, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo. Một số vấn đề bức xúc hiện nay
Tác giả: Kim Dung
Năm: 2001
9. Phạm Kim Dung (2004), Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân - những điều cần biết, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Kim Dung (2004), Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân - những điềucần biết
Tác giả: Phạm Kim Dung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
10. Nguyên Đăng Dung và Ngô Đức Tuấn (1996), Giáo trình ỉuật Hiến pháp, Nxb Thành phố Hổ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ỉuật Hiến pháp
Tác giả: Nguyên Đăng Dung và Ngô Đức Tuấn
Nhà XB: Nxb Thành phố Hổ Chí Minh
Năm: 1996
11. Trần Thanh Đạm (1992), Bàn về khế ước xã hội, Nxb Thành phố Hổ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khế ước xã hội
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Thành phố Hổ Chí Minh
Năm: 1992
12. Đăng Đức Đạm (2002), Phân cấp quản lý kinh tế, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp quản lý kinh tế
Tác giả: Đăng Đức Đạm
Nhà XB: Nxb Chính tri quốc gia
Năm: 2002
15. Đảng Cộng sản Yiệt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Yiệt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấphành Trung ương VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Yiệt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Banchấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấphành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Đevit Âuxbơt và Tetgheblo (1997), Đổi mới hoạt động của Chính phủ, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động của Chính phủ
Tác giả: Đevit Âuxbơt và Tetgheblo
Nhà XB: Nxb Chính tri quốc gia
Năm: 1997
20. Trần Ngọc Đường (1999), Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Đường (1999), Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
21. Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992 (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992 (2003), Nxb Chính trị quốc
Tác giả: Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc"gia
Năm: 2003
22. Nguyên Ngọc Hiến (2000), Một số thuật ngữ hành chính, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thuật ngữ hành chính
Tác giả: Nguyên Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2000
24. Mai Hữu Khuê - Bùi Văn Nhơn (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ hànhchính
Tác giả: Mai Hữu Khuê - Bùi Văn Nhơn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w