Câu 1. Kỹ năng lãnh đạo, quản lý là gì? Ý nghĩa của việc thực hành kỹ năng lãnh đạo, quản lý?a.Khái nỉệm kỹ năng lãnh đạo, quản lýTheo cách tiếp cận Chính trị học, lãnh đạo là nắm quyền lực, là sự chỉ đạo, là việc đề ra ý chí của mình và áp đặt cho người khác. Quản lý là thực thi quyền lực thông qua các chức năng chỉ đạo, giám sát, điều khiển. Chức năng của lãnh đạo là xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, đề ra chủ trương, chiến lược, điều hoà, phối hợp các mổi quan hệ và động viên, thuyết phục con người. Chức năng của quản lý lại thiên về hành chính, là tổ chức, điều khiển việc thực hiện những định hướng, đường lối, chủ trương của nhà lãnh đạo. Hoạt động quản lý là một quá trình bao gồm nhiều chuỗi hành vi và thao tác, tìr ban hành các văn bản và quyết định quản lý đến ra mệnh lệnh, điều khiển, kiểm tra, giám sát.Mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý là quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo và chủ thể quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng của lãnh đạo và quản lý. Đó có thể là quan hệ giữa các cơ quan lãnh đạo và các cơ quan quản lý, đồng thời cũng có thể là quan hệ giữa các cá nhân khi thực hiện các chức năng lãnh đạo và quản ỉý. Đó ỉà mối quan hệ hữu cơ gắn bó mật thiết với nhau. Trong lãnh đạo có yếu tố quản lý, trong quản lý có yếu tố lãnh đạo.về phương diện cá nhân, có thể người lãnh đạo đồng thời là người quản lý, hoặc người quản lý cũng là người lãnh đạo. Vì vậy, kỹ năng lãnh đạo và kỹ năng quản lý có những điểm khác nhau nhưng về cơ bản là giống nhau, đó là kỹ năng vận dụng những tri thức kinh nghiệm vào định hướng tổ chức, sắp xếp công việc vào một tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra.Như vậy, có thể hiểu, kỹ năng lãnh đạo, quản lý là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm vào định hưởng, tổ chức, sẳp xếp công việc của một tổ chức nhằm đạt đieợc mục tiêu đề ra.Kỹ năng lãnh đạo, quản lý bao gồm: Kỹ năng ra quyết định, tổ chức, thực hiện quyết định (triển khai kế hoạch, kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá). Kỹ năng sử dụng con người (nghệ thuật dùng người), kỹ năng đào tạo và giáo dục con người; kỹ năng giao việc, kỹ năng động viên và khen thưởng, kỹ năng xử phạt, kỹ năng nhờ cậy... Kỹ năng xử lý tình huống trong lãnh đạo, quản lý: kỹ năng điều hoà các quan hệ lợi ích, kỹ năng xử lý những mâu thuẫn trong tổ chức...Ý nghĩa của việc thực hành kỹ năng lãnh đạo, quản lý?Chìa khoá thành công trong mọi ngành nghề, đặc biệt là kinh doanh, chính là tài lãnh đạo; khả năng đối mặt với tình huống, đưa ra quyết định, và hoàn thành tốt và chính xác công việc. Thiếu những kỹ năng trên, bạn sẽ mau chóng bị bỏ lại trong cuộc đua thăng chức. Thật dễ dàng để thấy rõ những ai đã làm kinh doanh một thời gian và nhận thấy họ được sinh ra với tài năng lãnh đạo phi thường. Mặc dù đối với một số người, việc đạt được các kỹ năng này là khá dễ dàng thì việc rèn luyện, thực hành và trải nghiệm để phát triển và trau dồi các kỹ năng trên là rất cần thiết. Thực tế là một người thầy tuyệt vời, rút kinh nghiệm, học hỏi từ chính những kinh nghiệm của bản thân. Hãy tự đề xuất và sẵn sàng nắm bắt các cơ hội để trở thành những nhà lãnh đạo. Cách tốt nhất là khởi động bằng những bước nhỏ và dần dần tiếp cận những trách nhiệm lớn, quan trọng hơn. Hãy lưu lại những kinh nghiệm mà bạn đã học được qua từng tình huống – những việc bạn nên lặp lại và những việc bạn nên tiến hành khác đi. Phát triển kỹ năng lãnh đạo tốt là một thử thách; tuy nhiên, mọi nỗ lực đều được tưởng thưởng xứng đáng. Thậm chí gặp phải thất bại nhiều lần, đừng vội từ bỏ. Mỗi kinh nghiệm – dù cho là thành công hay thất bại – sẽ giúp bạn trở thành một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và ấn tượng trong tương lai.
Trang 1CÂU HỎI MÔN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Câu 1 Kỹ năng lãnh đạo, quản lý là gì? Ý nghĩa của việc thực hành kỹ năng lãnh đạo, quản lý?
a Khái nỉệm kỹ năng lãnh đạo, quản lý
Theo cách tiếp cận Chính trị học, lãnh đạo là nắm quyền lực, là sự chỉ đạo, làviệc đề ra ý chí của mình và áp đặt cho người khác Quản lý là thực thi quyền lực thôngqua các chức năng chỉ đạo, giám sát, điều khiển Chức năng của lãnh đạo là xác địnhphương hướng, mục tiêu lâu dài, đề ra chủ trương, chiến lược, điều hoà, phối hợp cácmổi quan hệ và động viên, thuyết phục con người Chức năng của quản lý lại thiên vềhành chính, là tổ chức, điều khiển việc thực hiện những định hướng, đường lối, chủtrương của nhà lãnh đạo Hoạt động quản lý là một quá trình bao gồm nhiều chuỗi hành
vi và thao tác, tìr ban hành các văn bản và quyết định quản lý đến ra mệnh lệnh, điềukhiển, kiểm tra, giám sát
Mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý là quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo và chủ thểquản lý trong quá trình thực hiện các chức năng của lãnh đạo và quản lý Đó có thể làquan hệ giữa các cơ quan lãnh đạo và các cơ quan quản lý, đồng thời cũng có thể làquan hệ giữa các cá nhân khi thực hiện các chức năng lãnh đạo và quản ỉý Đó ỉà mốiquan hệ hữu cơ gắn bó mật thiết với nhau Trong lãnh đạo có yếu tố quản lý, trong quản
lý có yếu tố lãnh đạo
về phương diện cá nhân, có thể người lãnh đạo đồng thời là người quản lý, hoặcngười quản lý cũng là người lãnh đạo Vì vậy, kỹ năng lãnh đạo và kỹ năng quản lý cónhững điểm khác nhau nhưng về cơ bản là giống nhau, đó là kỹ năng vận dụng nhữngtri thức kinh nghiệm vào định hướng tổ chức, sắp xếp công việc vào một tổ chức nhằmđạt mục tiêu đề ra
Như vậy, có thể hiểu, kỹ năng lãnh đạo, quản lý là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm vào định hưởng, tổ chức, sẳp xếp công việc của một tổ chức nhằm đạt đieợc mục tiêu đề ra.
Kỹ năng lãnh đạo, quản lý bao gồm:
Trang 2- Kỹ năng ra quyết định, tổ chức, thực hiện quyết định (triển khai kế hoạch,kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá).
- Kỹ năng sử dụng con người (nghệ thuật dùng người), kỹ năng đào tạo vàgiáo dục con người; kỹ năng giao việc, kỹ năng động viên và khen thưởng, kỹ năng xửphạt, kỹ năng nhờ cậy
- Kỹ năng xử lý tình huống trong lãnh đạo, quản lý: kỹ năng điều hoà cácquan hệ lợi ích, kỹ năng xử lý những mâu thuẫn trong tổ chức
Ý nghĩa của việc thực hành kỹ năng lãnh đạo, quản lý?
Chìa khoá thành công trong mọi ngành nghề, đặc biệt là kinh doanh, chính là tàilãnh đạo; khả năng đối mặt với tình huống, đưa ra quyết định, và hoàn thành tốt vàchính xác công việc Thiếu những kỹ năng trên, bạn sẽ mau chóng bị bỏ lại trong cuộcđua thăng chức Thật dễ dàng để thấy rõ những ai đã làm kinh doanh một thời gian vànhận thấy họ được sinh ra với tài năng lãnh đạo phi thường Mặc dù đối với một sốngười, việc đạt được các kỹ năng này là khá dễ dàng thì việc rèn luyện, thực hành vàtrải nghiệm để phát triển và trau dồi các kỹ năng trên là rất cần thiết
Thực tế là một người thầy tuyệt vời, rút kinh nghiệm, học hỏi từ chính nhữngkinh nghiệm của bản thân Hãy tự đề xuất và sẵn sàng nắm bắt các cơ hội để trở thànhnhững nhà lãnh đạo Cách tốt nhất là khởi động bằng những bước nhỏ và dần dần tiếpcận những trách nhiệm lớn, quan trọng hơn Hãy lưu lại những kinh nghiệm mà bạn đãhọc được qua từng tình huống – những việc bạn nên lặp lại và những việc bạn nên tiếnhành khác đi Phát triển kỹ năng lãnh đạo tốt là một thử thách; tuy nhiên, mọi nỗ lựcđều được tưởng thưởng xứng đáng Thậm chí gặp phải thất bại nhiều lần, đừng vội từ
bỏ Mỗi kinh nghiệm – dù cho là thành công hay thất bại – sẽ giúp bạn trở thành mộtnhà lãnh đạo mạnh mẽ và ấn tượng trong tương lai
Trang 3Câu 2 Quyền lực là gì? Phân tích kỹ năng sử dụng quyền lực trong lãnh đạo, quản lý.
Để làm rõ khái niệm quyền lực, có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
- Theo tiếng Hán, thuật ngữ quyền lực được hình thành từ hai từ ghép lại: quyền
và lực Lực là sức mạnh, khái niệm chỉ một thuộc tính của bất kỳ hệ vật chất nào xét
trong tương tác với hệ vật chất khác, có khả năng duy trì sự tồn tại hoặc tạo nên sự biếnđổi; là cái vốn có của bất kỳ hệ vật chất nào (khách quan, phổ biến) nhưng lại hiện hìnhtrong các mối quan hệ tương tác (cơ - lý - hoá - sinh); khả năng duy trì sự tồn tại hoặctạo sự biến đổi Tương tự, các cộng đồng người cũng tiềm ẩn các lực, sức mạnh nhất
định Quyên là khái niệm chỉ mối quan hệ trong xã hội, là khả năng thực hiện những
hành vi, là cái người khác trao cho mình hay sự thừa nhận của người khác đối với mình;
là thế lực có thể định đoạt được việc này hay việc khác Trong quan hệ cộng đồng,quyền tồn tại với các điều kiện xã hội xác định, nhất là có sự thừa nhận của cộng đồng
Như vậy, quyền lực là sự thống nhất giữa “quyền” và “lực”, và nó chỉ được hìnhthành khi có đủ cả hai yếu tố này Trên thực tế, vẫn tồn tại hiện tượng có lực nhưngkhông có quyền (có thực mà chẳng có danh); hoặc có quyền nhưng không có lực (hữudanh vô thực) Quan hệ quyền - lực có sự chuyển hoá biện chứng: quyền sinh ra hoặctriệt tiêu lực, ngược lại lực tạo ra hoặc phủ định quyền Trong quan hệ cộng đồng,quyền lực được xác lập với các điều kiện xã hội nhất định: Đó là quyền được sử dụngsức mạnh phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của một người hay nhóm người nào đó; sự thừanhận của người khác là yếu tố có vị trí đặc biệt trong quan hệ quyền lực, (ví dụ, quyền
bất khả xâm phạm về cơ thể) Theo cách tiếp cận này, có thể hiểu quyền lực là “khả năng được bảo đảm bằng sức mạnh để thực hiện những hành vi hoặc buộc người khác phải thực hiện những hành vi nhất định theo ý chí của người có quyền hoặc được trao quyền”
- Từ thời kỳ cổ đại, Platon quan niệm quyền lực là cái mà người có nó có khả năng buộc người khác hành động theo ý chí của mình Vậy cái mà người có nó là
gì? Đó là trí tuệ, bạo lực Theo Platon, trí tuệ là quyền lực của người có khả năng chiphối, dẫn đắt người khác bằng sự thông tuệ của mình; quyền lực bạo lực ỉà dùng sức
Trang 4mạnh để bắt buộc người khác phải phục tùng ý chí cửa mình.
- Các quan niệm kỉnh điển coi quyền lực như đấng tối cao trong hiện thực
chính trị với tư cách là mục đích tối cao và là nguyên nhân đầu tiên của hành vi chínhtrị Mặt khác, quyền lực được nhìn nhận như là phúc lợi vật chất - có thể chiếm đoạt,chi trả, tăng lên hay giảm đi, là “tiền bạc của chính trị”- có thể chuyển nhượng, phânchia hoặc đền bù cho nhau Có thể xuất hiện trường họ’p trong cùng một mối quan hệ,
có kẻ ít quyền lực, có người nhiều quyền lực, có người lại không có gì Siêu quyền lực
là trong quan hệ xã hội, một nhóm ra mệnh lệnh, một nhóm
buộc phải chấp hành Trong quan hệ này thường tiềm ẩn những xung đột ở đây
không có quan hệ đồng thuận, theo đó, quyền lực tương ứng với khả năng của conngười không chỉ hành đông và tiếp nhận, mà còn liên kết với người khác, hành độngtrong sự đồng thuận vói người khác
Trong xã hội hiện đại quyền lực được định nghĩa như sau
Quyền lực là quyền hạn được giao cho một chức vụ chính thức do một nhàlãnh đạo có thẩm quyền quyết định Hay nói cách khác, quyền lực là một hình thức hợppháp của ai đó được phê chuẩn chính thức và dự liệu trước
Quyền lực trong tổ chức là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho mộtngười để tạo ra khả năng sử dụng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họquyền ra quyết định hay đưa ra các chỉ thị
- Quyền lực còn được hiểu là những giá trị xã hội được sử dụng bởi các chủ thể trong quá trình phối hợp hành động của các quan hệ xã hội, để tác động lên đối tượng, nhằm thay đổi ý chí, hành vi của đối tượng theo một mục đích nhất định.
Theo quan niệm này, quyền lực là một khái niệm rất quan trọng trong đờisống xã
hội nhưng rất phức tạp, gồm những dấu hiệu: 1) trước hết là một loại giá trị xã
hội còn gọi là nguồn lực hay cơ sở của quyền lực; 2) những giá trị đó được chủ thể sử
dụng trong phối hợp hành động của đời sống xã hội; 3) tác động vào đối tượng nhằmđiều chỉnh, thay đổi hành vi của đối tượng, vói mục đích cụ thể Giá trị xã hội, nguồnlực hay cơ sở của quyền lực được hiểu là của cải, vũ khí, trí tuệ, uy tín, kinh nghiệm, kỹ
Trang 5năng, chân, thiện, mỹ, quyền, tư liệu sản xuất, thể chế xã hội, tương lai, truyền thống
Ví dụ, kinh nghiệm lao động sản xuất, nếu không gắn với một tộc trưởng trong việc chỉhuy thị tộc của mình thì kinh nghiệm đó chỉ là giá trị (nguồn lực) mà không phải làquyền lực Nói cách khác, chúng chỉ là nguồn lực của quyền lực chứ chưa phải là quyềnlực Chủ thể phối hợp hành động trong đời sống xã hội, mà phối hợp hành động chỉ diễn
ra khi con người sống thành cộng đồng (từ hai cá thể trô lên) cùng hành động thực hiệnmột mục đích chung nào đó Đời sống cộng đồng là đặc trưng của con người, làm nênbản chất xã hội của con người
Quyền lực là công cụ của nhà quản lý, nghệ thuật sử dụng quyền lực đồng thời là nghệ thuật của sự thành đạt.
Phân loại quyền lực
Có thể tạm phân chia ra làm hai loại quyền lực: quyền lực địa vị và quyền lực cánhân
Quyền lực địa vị là thứ do một tổ chức hoặc từ phía trên giao cho Nhà quản lý cóđược thứ quyền lực này nhiều hay ít là do sự tin cậy mà họ đạt được với tổ chức hoặccấp trên ấy Các nhà quản lý nên nhớ rằng quyền lực địa vị nhiều hay ít, lớn hay nhỏ là
do sự ủy quyền mà nên Vì thế, cấp trên có thể ủy quyền và cũng có thể rút lại tất cả haymột phần sự ủy quyền ấy
Quyền lực cá nhân là mức độ cấp dưới tôn trọng, quý mến và phục tùng cấp trên.Nguồn gốc của quyền lực này có thể xuất phát từ mục tiêu chung, có thể từ tài năng vàđức độ cá nhân của nhà quản lý Nói tóm lại, nó xuất phát từ cấp dưới, từ bên dưới
Phấn đấu có được cả hai loại quyền lực này là lý tưởng nhất Còn nếu đặt vấn đềgiữa hai loại quyền lực này, cái nào quan trọng hơn thì theo sự phát triển chung về vănhóa của loài người thì quyền lực cá nhân thường được coi trọng hơn
Vậy, mối quan hệ dựa trên sự quý mến từ quyền lực cá nhân tốt hơn hay dựa trên
sự sợ hãi từ quyền lực địa vị tốt hơn? Câu trả lời thật dễ dàng một khi nhà quản lý đượcmọi người vừa quý mến vừa sợ hãi Một số nhà khoa học đã chứng minh rằng mối quan
hệ chỉ dựa trên sự quý mến thường ít có hiệu quả trong điều hành công việc nếu không
Trang 6có sự sợ hãi Sự cố gắng của một nhân viên bị mòn mỏi nếu anh ta biết rằng sẽ không bịtrừng phạt khi công việc trễ nải.
Đối với cấp dưới, bạn có thể sử dụng cả quyền lực địa vị và quyền lực cá nhânnhưng đối với cấp trên, bạn chỉ có thể sử quyền lực cá nhân qua con đường thuyết phục
Mặc dù quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân độc lập và khác biệt nhau nhưngchúng có một điểm chung là thể hiện sự tác động giữa người này lên người khác vànguồn gốc của chúng đều xuất phát từ năng lực cá nhân của mỗi con người
Quyền lực thành phần của quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân
Sử dụng quyền lực là một nghệ thuật Mà đã là nghệ thuật thì vô cùng vô tận, phụthuộc rất nhiều vào tài năng bẩm sinh và sự tích lũy thông qua học hỏi, rèn luyện và độtừng trải của “nghệ sĩ quyền lực” Dưới đây, xin cung cấp thêm một số phân tích về cácloại quyền lực để các “nghệ sĩ quyền lực” tham khảo
Ta có thể chia quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân thành các loại quyền lựcthành phần:
Quyền lực địa vị bao gồm: quyền lực pháp lý, quyền lực khuyến khích, quyền
lực liên kết và quyền lực cưỡng bức
Quyền lực pháp lý là quyền lực có được do tổ chức trao cho dưới hình thức nàyhay hình thức khác Quyền lực khuyến khích là khả năng tạo ra động lực hành động ởđội ngũ thông qua việc thực thi các biện pháp khuyến khích như khen, thưởng, thăngcấp Quyền lực liên kết là quyền lực được tạo ra từ một mối quan hệ với một hoặc một
số thực thể nào đó Quyền lực cưỡng bức là quyền lực đạt được do khả năng quyết định
và thực thi các hình phạt đối với những người phạm lỗi
Quyền lực cá nhân bao gồm: quyền lực chuyên môn, quyền lực thông tin và
quyền lực tư vấn
Quyền lực chuyên môn là quyền lực đạt được do có học vấn, kinh nghiệm và kỹnăng chuyên môn của nhà quản lý Quyền lực thông tin là quyền lực có được do khảnăng cung cấp, chia sẻ thông tin hoặc khả năng chi phối việc cung cấp, chia sẻ thôngtin Quyền lực tư vấn thực chất là sức thuyết phục của một người do khả năng cung cấpcác lời khuyên sáng suốt và hữu ích với những người khác
Trang 7Quyền lực địa vị dẫu mạnh đến đâu cũng không bao giờ là đủ Luôn luôn phải cóquyền lực cá nhân đi kèm Quyền lực cá nhân của những người bản lĩnh đôi khi át cảquyền lực địa vị.
Để phát huy quyền lực của mình, trước hết, bạn nên tự xác định mình có nhữngđiều kiện nào để có được và thực thi được quyền lực này hay quyền lực kia Tuy nhiên,điều khó hơn là phải lượng hóa được nó, có thể không đo đếm được, nhưng phải cảmnhận được
Sử dụng quyền lực theo tình huống
Việc sử dụng quyền lực phụ thuộc rất nhiều vào phong cách quản lý của bạn(thường có bốn phong cách cơ bản: giao phó, tham dự, thuyết phục và ra lệnh) và mức
độ sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ (cả về tâm huyết và tài năng) của cộng sự
Với quyền lực cưỡng bức: Quyền lực này thường dùng để điều hành những cấp
dưới có “mức độ sẵn sàng” thấp (R1), cần có hành vi quản lý mạnh để tạo ra hiệu quảcao Với con người như vậy, những hình phạt như sa thải, thuyên chuyển, giáng cấp
sẽ là một biện pháp quan trọng để tạo ra sự phục tùng của họ Nhà quản lý bắt buộc phảidùng phong cách “ra lệnh” trong trường hợp này Tuy nhiên, cũng có những nhà quản
lý có thói quen dùng phong cách "ra lệnh" một cách tràn lan Đó là sai lầm lớn
Với quyền lực liên kết: Nếu người ta biết bạn là thông gia với Chủ tịch Hội đồng
quản trị công ty thì chắc chắn quyền lực của bạn đã tăng lên Tuy nhiên, loại quyền lựcliên kết chỉ có tác dụng hỗ trợ khi cấp dưới ở mức độ sẵn sàng vừa phải (R2) Còn vớinhững người ở dạng R1 thì họ không quan tâm tới việc bạn có họ hàng với ai, thưởngxuyên đứng cạnh VIP nào trong những bức ảnh Các phong cách quản lý “ra lệnh”,
“thueyét phục” phù hợp với cơ sở quyền lực này
Với quyền lực khuyến khích: Một cấp dưới ở mức độ R2 thường cần có những
tác động nâng đỡ, khuyến khích ở mức độ cao Họ luôn luôn muốn sớm đạt được nhữngthành công cụ thể để được cấp trên biết tới, và kèm theo đó là các phần thưởng, các lờingợi khen Phong cách quản lý “thuyết phục” sẽ được tăng cường bởi quyền lực khuyếnkhích
Trang 8Với quyền lực pháp lý: Phong cách quản lý theo kiểu "thuyết phục" và “tham
dự” thường có hiệu quả cao trong trường hợp này Khi đó, cấp dưới đang ở cả hai mức
độ sẵn sàng vừa phải (R1 và R2) Nhà quản lý có khả năng tạo ra sự phục tùng nhờquyền lực đã được hợp pháp hóa từ vị trí của mình trong tổ chức
Với quyền lực tư vấn: Khi cấp dưới ở mức độ R3 họ có xu hướng ít cần sự
hướng dẫn nhưng vẫn cần sự tiếp cận và hỗ trợ của nhà quản lý cấp trên Trong trườnghợp này, phong cách quản lý theo kiểu “tham dự” sẽ phát huy hiệu quả nếu nhà quản lý
có năng lực tư vấn Nguồn quyền lực tư vấn dựa trên cơ sở những mối quan hệ cá nhântốt với cấp dưới, tạo cho cấp dưới một sự ngưỡng mộ và phục tùng
Với quyền lực thông tin: Các phong cách quản lý "tham dự” và "giao phó" có tác
dụng kích thích cấp dưới ở vùng R3 và R4 Họ luôn luôn chờ đợi ở nhà quản lý thôngtin để duy trì và nâng cao hiệu quả công việc Họ sẽ được hỗ trợ khi nhà quản lý có mặtkịp thời để giải thích hoặc đưa ra các số liệu, báo cáo làm rõ các vấn đề Thông quaquyền lực thông tin, nhà quản lý sẽ có tác động tích cực với những nhân viên vừa cónăng lực, vừa có tâm huyết
Với quyền lực chuyên môn: Một cấp dưới phát triển tới mức độ sẵn sàng cao R4
thường ít đòi hỏi hướng dẫn hoặc hỗ trợ Họ rất phù hợp với phong cách quản lý “giaophó” và quyền lực chuyên môn Một nhà quản lý có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng
và kinh nghiệm phong phú sẽ thuận lợi khi tác động với cấp dưới “vùng” này
Trang 9Câu 3 Khái niệm tổ chức? Trình bày bốn đặc tính thiết yếu trong phân tích
tổ chức và ý nghĩa của nó trong lãnh đạo quản lý?
Khái niệm tổ chức là gì?
Có nhiều định nghĩa khác nhau về "Tổ chức", một định nghĩa có ý nghĩa triết họcsâu sắc: "Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại màkhông có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy làthuộc tính của bản thân các sự vật" Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hộiloài người Thái dương hệ là một tổ chức, tổ chức này liên kết mặt trời và các thiên thể
có quan hệ với nó, trong đó có trái đất Bản thân trái đất cũng là một tổ chức, cơ cấuphù hợp với vị trí của nó trong thái dương hệ Giới sinh vật cũng có một tổ chức chặtchẽ bảo đảm sự sinh tồn và thích nghi với môi trường để không ngừng phát triển Từkhi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức ấykhông ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại Theo nghĩahẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm
vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó
Mặt khác, theo Chester I Barnard thì tổ chức là một hệ thống những hoạt độnghay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức Nói cáchkhác, khi người ta cùng nhau hợp tác và thoả thuận một cách chính thức để phối hợpnhững nỗ lực của họ nhằm hoàn thành những mục tiêu chung thì một tổ chức sẽ đượchình thành
Những đặc điểm chung của tổ chức
Theo các nhà tâm lý học tổ chức thì có 4 đặc điểm chung đối với tất cả các tổchức là:
Thứ nhất, kết hợp các nỗ lực của các thành viên
Như chúng ta thường thấy, khi các cá nhân cùng nhau tham gia và phối hợpnhững nỗ lực vật chất hay trí tuệ của họ thì nhiều công việc phức tạp và vĩ đại có thểđược hoàn thành Chẳng hạn , việc xây dựng các Kim tự tháp, việc đưa con người lênmặt trăng là những công việc vượt xa trí thông minh và khả năng của bất cứ cá nhânnào Sự kết hợp nỗ lực nhân lên đóng góp của mỗi cá nhân
Trang 10Thứ hai, có mục đích chung
Sự kết hợp các nỗ lực không thể thực hiện được nếu những người tham gia khôngnhất trí cùng nhau phấn đấu cho những quyền lợi chung nào đó Một mục tiêu chungđem lại cho các thành viên của tổ chức một tiêu điểm để tập hợp nhau lại
Thứ ba, phân công lao động
Bằng cách phân chia một cách hệ thống các nhiệm vụ phức tạp thành những côngviệc cụ thể, một tổ chức có thể sử dụng nguồn nhân lực của nó một cách có hiệu quả.Phân công lao động tạo điều kiện cho các thành viên của tổ chức trở nên tài giỏi hơn dochuyên sâu vào một công việc cụ thể
Các tổ chức kinh doanh mưu lợi
Là các tổ chức hoạt động với mục đích tạo ra lợi nhuận trong điều kiện pháp luậtcho phép và xã hội có thể chấp nhận được Loại tổ chức này không thể tồn tại được nếukhông tạo ra được lợi nhuận thông qua con đường sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụthoả mãn nhu cầu của xã hội
Các tổ chức cung cấp dịch vụ phi lợi nhuận
Các tổ chức này thường cung cấp một số loại dịch vụ nào đó, cho một khu vựcnào đó của xã hội không vì mục đích tìm lợi nhuận Các nguồn ngân quỹ phục vụ chohoạt động của loại tổ chức này chủ yếu dựa vào sự hiến tặng, trợ cấp, tài trợ mang tính
Trang 11từ thiện hay nhân đạo
Các tổ chức hoạt động vì quyền lợi chung của tập thể
Những tổ chức này được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cácthành viên của nó Những tổ chức loại này bao gồm các nghiệp đoàn, các hiệp hội, các
tổ chức chính trị
Các tổ chức cung ứng các dịch vụ công cộng
Những tổ chức loại này được thành lập nhằm cung cấp cho xã hội những dịch vụcông cộng, mục tiêu của chúng là đảm bảo cho sự an toàn hay các lợi ích chung củatoàn xã hội
Khái niệm, cách hiểu về phân tích tổ chức.
Phân tích tổ chức là để nhận biết “chân tơ kẽ tóc” của một tổ chức đang tồn tại
1 Phân tích tổ chức là để hiểu rõ tổ chức
-Tô chức mong muôn đi đên đâu (qua phân tích đê nhận biết)
-Tổ chức làm những gì để đi đến đích đó?
- Những kết quả cụ thể của từng hoạt động đó là gì?
Sở, Phòng, ủy ban Nhân dân là tổ chức (cơ quan) hành chỉnh nhà nước, hảy thử phân tích “mục tiêu” của tố chức đó?
2 Phân tích tổ chức là để hiểu cách thức hoạt động của tổ chức \
Phân tich tổ chức la phân tích cơ cấu tổ chức hiện nay đang tồn tại Loại mô hình,
cơ cấu
Tính phù hợp của mô hình cơ cấu đó và môi trường hoạt động của tổ chức
Những hạn chế của mô hình đó trong điều kiện cụ thể của môi trường hoạt động?Tinh huyen xa
3 Phân tích tổ chức là xác định điểm mạnh, yếu/ thời cơ, thách thức
Phân tích tổ chức để nhận biết văn hóa tổ chức Văn hóa hành chính nhà nước hiệnnay được nhìn nhận từ dưới giác độ văn hóa tổ chức
Những biểu hiện “có văn hóa” của các tổ chức hành chính nhà nước? Nhữngbiểu hiện “phi văn hóa”
Trang 124 Phân tích tổ chức là phân tích sự đáp ứng nhu cầu bên ngoài.
Phân tích tô chức là phân tích các mô hình lãnh đạo và quản lý trong tổ chức.Các mô hình lãnh đạo, quản lý hiện nay trong các tổ chức?
Phân tích tổ chức là phân tích cách bố trí người làm việc trong tổ chức
Cách thức bô trí người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước?
Trang 13Câu 4 Phân tích bốn yếu tố cơ bản trong điều hành tổ chức và ý nghĩa thực tiễncủa quá trình lãnh đạo điều hành tổ chức hiện nay.
a Nguyên tắc công bằng và tín nhiệm
Để thực hiện nguyên tắc công bằng, nhà lãnh đạo, quản lý cần có thái độ bìnhđẳng khi đối xử với cấp dưới, không phân biệt đối xử với từng người trong tổ chức.Công bằng trong tạo cơ hội làm việc, trong phân phối lợi ích, làm nhiều hưởng nhiều,làm ít hưởng ít Công bằng trong bình xét các danh hiệu, trong đề bạt, cất nhắc cán bộ.Nguyên tắc công bằng là tiền đề xây dựng môi trường làm việc tích cực, tạo được sự tintưởng của đội ngũ nhân viên với cấp trên
Nhà lãnh đạo, quản lý chỉ khi nào tin tưởng khi giao việc cho cấp dưới thì mới cóthể phát huy tính năng động sáng tạo của họ Tín nhiệm cấp dưới thực chất là quan tâm
và ủng hộ họ cần giữ thái độ chân thành, gần gũi với cấp dưới Khi họ gặp khó khăn hoặc mắc khuyết điểm, phải động viên, khích lệ và giúp họ tháo gỡ, không nên nghi ngờ khả năng của họ mà không tiếp tục giao việc như trước
b Am hiểu nhãn vỉên
- Am hiểu cách ứng xử của nhân viên: Đối với nhân viên, nhà lãnh đạo,
quản lý không nên ứng xử tự nhiên theo bản năng ở nơi làm việc Hãy chú ý xây dựngphong cách làm việc chuyên nghiệp, hướng đến tinh thần hợp tác thiết thực và có hiệuquả trong đội ngũ nhân viên Luôn cố gắng tác động lên hành vi hơn ià thay đổi tínhnếi, biết khích lệ và khen ngợi hành vi ứng xử có tính xây dựng Càng nhiều người cótinh thần tập thể, đoàn kết thì sự hợp tác làm việc, tính cởi mở và tự tin trong công việccàng được nâng lên
- Am hiểu nhu cầu của nhân viên: Mọi nhu cầu của nhân viên cũng không
ngoài những điểm thiết yếu như: điều kiện làm việc tốt, lương thích hợp, chế độ bảohiểm y tế, chế độ nghỉ ngơi Nếu nhà lãnh đạo, quản lý không đáp ứng được nhữngnhu cầu căn bản thì khó có thể đáp ứng được những nhu cầu cao hơn của họ như: niềm
tự hào trong công việc, sự hãnh diện khi được tham gia vào những mục tiêu chung
d Nguyên tắc áp lực
Nguyên tắc áp lực là nhà lãnh đạo, quản lý thông qua việc phân công, giao nhiệm
Trang 14vụ, tạo áp lực cho cấp dưới, buộc họ phải nỗ lực, cố gắng đến mức cao nhất để hoànthành đúng tiến độ, đạt chất lượng cao Đe tạo áp lực cho nhân viên cấp dưới, nhà lãnhđạo, quản lý cần thực hiện mấy kỹ năng sau:
- Đòi hỏi cao về chất lượng công việc khi thực hiện mục tiêu: buộc nhânviên phải nỗ lực làm việc
- Khen thưởng thích đáng: bất kể khen thưởng vất chất hay tinh thần đều cóthể tăng cường cảm nhận trách nhiệm và cảm nhận áp lực cho cấp dưới
cấp dưới, nếu iàm tốt sẽ được thưởng, nếu ỉàrn sai sẽ bị phạt
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát: khiến cho cấp dưới không dám lơi lỏng
ỷ lại
đ Nguyên tắc kiểm tra
Khi thực hiện tốt nguyên tắc kiểm tra, đánh giá, nhà lãnh đạo, quản lý hiểu rõmức độ hoàn thành công việc của cấp dưới, những khó khăn mới nảy sinh và kịp thời cóphương án giải quyết, nó tạo thuận lợi trong đánh giá năng lực, phẩm chất của cấp dưới
Trong hoạt động iãnh dạo, quản iý, nêu không kiêm tra, giám 3ỐÍ tôt, sẽ nảy sinhquan liêu, tham nhũng, có thể ngăn trở nghiêm trọng những thông tin, liên lạc và làm vôhiệu hóa dây chuyền hoạt động của tổ chức, cơ quan, giảm năng
suất và tinh thần làm việc Tuy đôi khi cần thiết phải có vài hình thức hành chính giấy tờ trong công tác điều hành quản lý, song điều quan trọng là phải kiểm soát
nghiêm ngặt các quy định sử dụng mẫu đơn từ, mẫu báo cáo Nhà lãnh đạo, quản lý cần tránh mất thời gian để chờ đợi một đề xuất được duyệt máy móc, không suy xét khi quyết định đó có thể được thông qua trong một cuộc họp nhanh gọn không hình thức nhưng đạt hiệu quả
Trang 15Câu 5 Trình bày kỹ năng nhận diện tính cách và làm việc với các loại tính cáchtrong lãnh đạo quản lý?
Nhận diện tính cách
Tính cách là thuộc tính tâm lý tương đối ổn định của cá nhân, nó thể hiện cường
độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái trong hành vi cử chỉ, cách nóinăng của cá nhân
Tính cách làm cho hoạt động tâm lý của mỗi cá nhân thể hiện sắc thái riêng khiếncho cá nhân này khác với cá nhân kia trong hành vi, trong phản ứng đối với các tìnhhuống xuất hiện, trong cách tham gia và thực hiện công việc, cách đối xử với nhữngngười xung quanh Theo L F Pavlov con người có bốn tính cách chủ yếu, ứng với mỗikiểu tính cách đó có đặc điểm cơ bản
Người có tính cách hăng hái (linh hoạt) là người nhanh nhẹn, năng nổ, hoạt bát,năng động, dễ thích nghi với điều kiện thay đổi của lao động và cuộc sống Đây làngười có khả năng làm việc tốt nếu công việc hấp dẫn và thích thú đối với họ Còn nếukhông có công việc như vậy, họ thường chán nản, buồn rầu Trong tập thể người có tínhlinh hoạt thường là những con người vui tính, yêu đời, cảm xúc biểu hiện rõ ràng Họthường không thích công việc đơn điệu Do đó con người có tính linh hoạt thích hợp vớihoạt động sôi nổi, đòi hỏi mưu trí, linh hoạt
Những người có tính hăng hái thường là những người hay hấp tấp, vội vàng,thiếu tính kiên trì, nhẫn nại Đặc biệt trong công việc cần sự tỉ mỉ, thận trọng, bình tĩnhthì ở những con người có tính linh hoạt thường đạt kết quả không cao Trong cuộc sống
và quan hệ xã hội họ chưa tính toán kỹ lưỡng, lường hết tinh huống sự việc đã hứa hẹn
- Người có tính cách bình thản họ thường là những con người bình tĩnh,điềm đạm, kiên trì Trong công việc họ thường thận trọng, nhẫn nại Họ cũng có thể làmnhững công việc không hấp dẫn lắm Trong ứng xử họ thường điềm đạm, đúng mực.Khi đưa ra các ý kiến, quyết định của mình họ không vội vàng, hấp tấp thường cânnhắc, suy xét nên những hành động của họ rất chắc chắn Song bên cạnh đó người cótính cách rất ngại giao tiếp trong môi trường mới và khó thay đổi từ loại công việc nàysang công việc khác Sức ỳ tâm lý và kém linh hoạt, nhạy bén là nhược điểm nổi bật ở
Trang 16người có tính cách bình thản.
- Người có tính cách nóng nảy biểu hiện ở sự hăng hái, nhiệt tình say mêcông việc Mọi hoạt động tâm lý của họ bộ lộ mạnh mẽ Họ là những con người có nghịlực, sống chân thành, có trước có sau, dùng lòng nhiệt tình của mình để lôi cuốn ngườikhác Những người thuộc loại tính cách này thường dễ nổi nóng, hay cáu giận, dễ phátkhùng, hay va chạm trong tập thể Ở họ thường khó kiềm chế cảm xúc của bản thân,quá nóng vội và khi không đạt được mục đích thì thường dẫn đến sự chán nản
- Người có tính cách ưu tư là những người dịu dàng, sâu sắc, nhạy cảm,thường cân nhắc, suy nghĩ, thận trọng trước công việc Tuy nhiên, trong quan hệ họ ítcởi mở, không thích giao tiếp, sống khép kín, ngại ồn ào Người có tính ưu tư khó thíchnghi với những biến đổi của môi trường, sức chịu đựng kém Khi thực hiện công việcthường không tin vào sức mình, thường nhút nhát, mất bình tĩnh khi xuất hiện tìnhhuống mới
Trên đây là ưu và nhược điểm của từng loại tính cách của con người Trong thực
tế tính cách thường ít khi xuất hiện ở dạng thuần khiết của nó, thường là ở trong mỗicon người các loại tính cách này thường pha trộn với nhau
- Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý không nên khẳng định tính cách nào làtốt, tính cách nào là xấu vì mỗi loại tính cách đều có mặt mạnh, mặt yếu Không nêndựa vào tính cách để đánh giá con người, vì đằng sau lớp sơn tính cách là năng lực, là
xu hướng của mỗi con người Tính cách không xác định đạo đức xã hội của con người
- Người lãnh đạo, quản lý cần phải tìm hiểu tính cách của các thành viêntrong tập thể của mình để thấy rõ mặt mạnh, mặt yếu ở họ, nhằm phân công nhiệm vụcho phù hợp và lựa chọn hình thức giao tiếp thích ứng đối với họ
- Người lãnh đạo, quản lý cần hiểu rõ tính cách của mỗi thành viên từ đónhằm phát huy những đặc điểm tính cách thích hợp, hạn chế những nhược điểm để thúcđẩy những nỗ lực của các thành viên đạt tới mục tiêu của tổ chức