1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam

30 453 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 330,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo vàthực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá tr

Trang 1

"Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở VN".

I PHÂN TÍCH TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1 Khái niệm

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo vàthực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồngtiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế

Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theohai hướng: Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinhdoanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) Chính sáchtiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làmgiảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

2 Vị trí

Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trongnhững chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nócũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chínhsách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại

Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ làhoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia đượcthực hiện có hiệu quả hơn

3 Mục tiêu

3.1 Mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền

NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nướcmình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ sốgiá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình sovới ngoại tệ) Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phátbằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được Trong điều kiện nền kinh tế trì trệ

Trang 2

thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích thích tăng trưởngkinh tế trở lại.

3.2 Mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồnlực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế

Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng

3.3 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sáchkinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trịđồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêunày chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà

3.4 Ổn định thị trường tài chính

Tình trạng khủng hoảng tài chính có thể làm giảm khả năng của thị trường tài chính trongviệc tạo ra kênh dẫn vốn cho người có cơ hội đầu tư vào sản xuất, qua đó làm giảm quy mô hoạtđộng kinh tế Bởi vậy, việc tạo ra hệ thống tài chính ổn định hơn, tránh được các cuộc khủnghoảng tài chính là mục tiêu quan trọng của NHTW Sự ổn định thị trường tài chính được hỗ trợbởi sự ổn định của lãi suất, bởi vì sự biến động của lãi suất tạo ra sự bất định lớn cho các địnhchế tài chính Sự gia tăng lãi suất tạo ra các tổn thất lớn về vốn cho trái phiếu dài hạn và cáckhoản cho vay cầm cố, cũng như những tổn thất này có thể làm cho các định chế tài chính nắmgiữ nó sụp đổ

3.5 Ổn định thị trường hối đoái

Với tầm quan trọng ngày càng tăng của tỷ giá hối đoái trong thương mại quốc tế, ổn định tỷgiá trở thành mục tiêu mong muốn của CSTT Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến sức cạnh tranhcủa hàng hoá và dịch vụ trong nước so với nước ngoài Ngoài ra, ổn định tỷ giá giúp cho cácdoanh nghiệp và cá nhân trao đổi hàng hoá với nước ngoài dễ dàng lập kế hoạch hơn

3.6 Ổn định thị trường lãi suất

Trang 3

Sự biến động của lãi suất có thể tạo ra tính bất định trong nền kinh tế và khó khăn trong lập

kế hoạch cho tương lai Biến động của lãi suất ảnh hưởng tới lượng dự trữ, mức chi tiêu củangười dân và đồng thời ảnh hưởng tới khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp

Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời Nhưng xem xéttrong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫnnhau Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTTcần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác

II CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

1 Các công cụ chính sách tiền tệ

Để thực thi chính sách tiền tệ thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTW đã sửdụng hàng loạt các công cụ như : nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, chính sách táichiết khấu Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hành riêng và ưu nhược điểm khác nhau Do

đó tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền kinh tế để sử dụng nó một cách phù hợp, hiệuquả Nhìn chung, các công cụ này tác động đến hai đầu mối chủ yếu là ngân hàng trunggian và thị trường mở

3.7 Nghiệp vụ thị trường mở

3.7.1 Khái niệm:

Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mởnhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng Là công cụ linh hoạtnhất, quan trọng nhất

4.1.2 Chủ thể tham gia:

Chủ thể tham gia NVTTM rất đa dạng và phong phú Tuy vậy, cũng tuỳ thuộc vào quyđịnh riêng của mỗi nước mà các thành viên tham gia vào NVTTM là khác nhau Thôngthường chủ thể tham gia bao gồm : NHTW, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi tín dụng,doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân… nhưng không phải tất cả các chủ thể đều có thể thamgia mà phải có những điều kiện cần thiết Có 3 điều kiện để xem xét phạm vi thành viên, đólà:

Trang 4

- Thứ nhất: NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao gồm cả tiền mặt

và tiền gửi, về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán trong trường hợp này được mởrộng không những chỉ gồm các tổ chức tín dụng mà còn gồm cả các tổ chức khác, thậm chí

có thể cả các cá nhân nếu họ có tiền mặt và tiền gửi

- Thứ hai: Nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo hướng đa năngnhư hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì phạm vi thành viên tham gia mởrộng đến tổ chức tín dụng là đủ

- Thứ ba: Khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán Nếu cá nhân không có sec hoặctiền trên tài khoản gửi tại Ngân hàng trung ương thì không thể tham gia mua bán được trênthị trường mở, nếu tổ chức tín dụng không có mạng kết nối với NHTW trong điều kiện giaodịch trên mạng thì cũng không thể trở thành thành viên

+ Ngược lại với nghiệp vụ bán là nghiệp vụ mua, nếu NHTW muốn phát hành tiền vào lưuthông qua thị trường mở, nó đơn giản dùng tiền mặt mua chứng khoán trên thị trường thứcấp hoặc của các tổ chức tín dụng Khi cá nhân hay tổ chức bán chứng khoán cho NHTW,chứng khoán về tay NHTW ngược lại tiền mặt trong nền kinh tế tăng Như vậy khi mua

Trang 5

chứng khoán trên TTM, NHTW đã thêm một lượng tiền vào lưu thông làm tăng lượng tiềncung ứng và làm lãi suất thị trường giảm.

4.1.4 Ưu –nhược điểm:

 Ưu điểm :

- Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHTW, trong đó NHTWhoàn toàn kiểm soát được khối lượng giao dịch Tuy nhiên việc kiểm soát này là giántiếp không nhận thấy được.Ví dụ trong nghiệp vụ chiết khấu NHTW có thể khuyếnkhích hoặc không khuyến khích các NHTM, chỉ thông báo lãi suất chiết khấu , màkhông kiểm soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khâú

- Nghiệp vụ thị trường mở tương đối linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức

độ nào Khi muốn thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ của các ngân hàng trung gian ởbiên độ nhỏ, NVTTM có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứngkhoán Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung gian ở biên

độ nhỏ, NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện thông qua việc mua hoặc bán một khốilượng lớn tương ứng các chứng khoán

- Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều : nếu NHTW có mắc sai sót nào trong quátrình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa sai sót đó bằngcác nghiệp vụ bán(nếu như trước đó mua vào quá nhiều) hay mua (nếu như lúc đó bán

ra quá nhiều )

- Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao: giao dịch trên thị trường mở hầu nhưkhông gặp rủi ro, xét trên cả góc độ của NHTW hay NHTM; vì cơ sở bảo đảm cho cácgiao dịch trên thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao,không rủi ro tài chính

- Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng không vấp phải sựchậm trễ của các thủ tục hành chính: khi NHTW muốn thay đổi lượng tiền cung ứng thìchỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán và sau đó việc mua bán sẽđược thực hiện ngay

Trang 6

1.1.3 Ưu- nhược điểm

Trang 7

- Rất khó khăn để thực hiện những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ.

- Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộcsẽ ảnh hưởng tới khả năng thu doanh lợi của cácNHTM Hơn nữa, nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ gây ra tìnhtrạng không ổn định cho các NHTM và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản củacác ngân hàng này khó khăn hơn Do đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần được nghiên cứu kỹlưỡng để đưa ra mức phù hợp

- Tính linh hoạt không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó

có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM

1.2 Chính sách tái chiết khấu

1.2.3 Ưu điểm, nhược điểm

 Ưu điểm :

Trang 8

- Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối

với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán, và có thể kiểm soát đượchoạt động tín dụng của các NHTM

- Đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông

qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể

 Nhược điểm :

- Hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt cho vay của các NHTM.

- Mặt khác, lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn

trên thị trường

- Là công cụ thụ động của NHTW vì yếu tố chủ động vay và không vay nằm ở NHTM

tức là NHTW phải chờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin táicấp vốn

- Nếu NHTW tăng lãi suất chiết khấu quá cao thì các NHTM có thể tìm đến các nguồn

vay khác với lãi suất thấp hơn như tại các ngân hàng khác của nước ngoài

1.3.3 Cơ chế tác động

Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng, việc quyđịnh pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nên kinh tế có quan hệ thuận chiều với quy

mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

Trang 9

1.3.4 Ưu điểm, nhược điểm

 Ưu điểm :

- Thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, lãi vay trả cho ngân hàng

thấp

- Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ khác kém

hiệu quả.Đặc biệt có tác dụng nhất thời cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,

tỷ lệ làm pháp quá cao của nền kinh tế

 Nhược điểm :

- Ngân hàng dễ bị ứ đọng vốn kinh doanh, thu nhập từ lãi cho vay thấp.

- Làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín

dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW

1.4 Lãi suất

1.4.1 Khái niệm :

Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo theo sự biến đổicủa chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng tín dụngtrong nền kinh tế Do đó, lãi suất là một trong các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ

Là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam trongngắn hạn

Theo luật Ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho đồng Việt Nam do ngânhàng nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh

Trang 10

Giúp NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ.

 Nhược điểm :

- Dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là giá

cả của vốn, do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nềnkinh tế

- Mặt khác, việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất làm cho các NHTM bị động, tốn

kém trong hoạt động kinh doanh của mình

1.5 Tỷ giá hối đoái

Là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồngnội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối

Tỷ giá hối đoái là công cụ là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuấtnhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước

Chính sách tỷ giá hối đoái tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhậpkhẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư,

dự trữ của đất nước

Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thayđổi lượng tiền lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nền kinh tế đangchuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ

2 Các giai đoạn áp dụng các chính sách tiền tệ của Việt Nam

Trang 11

2.1 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005

Nguồn: www.tradingeconomics.com [7], [8]

Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng và lạm phát Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005

Đặc điểm nổi bật của chính sách tiền tệ của giai đoạn này là để chống lại tình trạng giảmphát của nền kinh tế (lạm phát năm 2000 là -0,53%), Ngân hàng Nhà nước tiến hành nới lỏngtiền tệ thông qua việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngoại tệ từ 15% xuống còn 4% vào năm

2003

Ưu điểm: Điều này giúp lãi suất ngoại tệ giảm một cách nhanh chóng, từ đây hoạt động tín

dụng ở các ngân hàng thương mại gia tăng và làm giảm chi phí huy động vốn của các cơ sở kinhdoanh cũng như các tổ chức tín dụng

Nhược điểm: Song mặt trái của điều này là khiến lạm phát trở lại đạt mức 0,79% vào năm

2001; 4,04% vào năm 2002; 3,01% vào năm 2003 và đỉnh điểm là 9,67% vào năm 2004

Kết quả của kinh tế vĩ mô:

- Tình trạng lạm phát gia tăng một cách đột biến vào năm 2004 được giải thích chủ yếu thôngqua hai nguyên nhân chính là chi phí đẩy và sự mất cân đối của nền kinh tế vĩ mô ViệcNgânhàng Nhà nước điều chỉnh giảm giá Việt Nam đồng(VND) so với USD đã hỗ trợ cho hoạt

Trang 12

động xuất khẩu và giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô, mặt khác giúp thu hẹp chênh lệch giữa tỷgiá niêm yết và tỷ giá ngoài thị trường tự do Nhưng với việc đồng USD mất giá so với cácđồng tiền chủ chốt khác trên thế giới trong khi VND lại gắn chặt với USD đã làm cho giá cảcác mặt hàng nhập khẩu thiết yếu (sắt thép, phân bón, ) tăng lên Tổng hợp những điều này

đã làm gia tăng lạm phát

- Vậy nên, việc Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một hệ quả tất yếu, giúp tỷ

lệ lạm phát của năm 2005 giảm xuống chỉ còn 8,71%

2.2 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010

Giai đoạn 2006 - 2010,

Hình 2.3 Tình hình biến động của tốc độ tăng GDP, tăng trưởng tín dụng, lạm phát

giai đoạn 2006 - 2012

năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO),

Nguồn: www.vneconomy.vn[9] và www.gso.gov.vn [1]

Trang 13

thu hút mạnh các nguồn vốn từ bên ngoài, khiến cho nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, VNDtăng giá quá mạnh gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu Ngân hàng Nhà nước phản ứng bằng cáchhút ngoại tệ trong lưu thông vào dự trữ và bơm VND ra để giữ vững tỷ giá, gây gia tăng lượngcung tiền đồng trong nền kinh tế

khiến cho lạm phát năm 2008 tăng lên đến gần 20%

Tuy nhiên, đúng vào thời điểm này, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, khởi đi từMỹ và nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới 9/2008 Do các đối tác thương mại lớn của ViệtNam như Mỹ và các nước châu Âu gặp khủng hoảng đã thực thi chính sách thắt lưng buộc bụng,đương nhiên kéo theo sự sụt giảm hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam và làm cho giá cả trong nướcbắt đầu sụt giảm từ quý IV/2008 Chính phủ Việt Nam hỗ trợ hoạt động kinh tế và hàng loạt cácgiải pháp kích cầu bằng cách hỗ trợ cho vay VND, điều này làm cho làm gia tăng nhu cầu ngoại

tệ của các doanh nghiệp và dân chúng, người ta chuyển sang vay VND và dùng VND để muangoại tệ

Tình hình tương đối bất ổn khiến Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục ban hành các biện phápmang tính hành chính như kiểm soát giao dịch ngoại tệ, cấm niêm yết giá cả hàng hóa bằngngoại tệ, giảm lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ Những yếu tố trên gây tác động khiếnlạm phát trong giai đoạn này giảm chỉ còn 6,52% song tăng trưởng tín dụng lại tăng đến 37,53%.Đây chính là mối nguy tiềm ẩn sự gia tăng của lạm phát trong giai đoạn tới

Bên cạnh tỷ lệ lạm phát cao, Việt Nam còn phải đối mặt với sức ép VND liên tục mất giá,mức dự trữ ngoại hối sụt giảm, thị trường chứng khoán ảm đạm và mức lãi suất quá cao so vớicác nền kinh tế khác trong khu vực

Riêng tỷ giá hối đoái bắt đầu được điều chỉnh một cách linh hoạt hơn khi Ngân hàng Nhànước mở rộng biên độ dao động của tỷ giá chính thức trong tháng 3/2009 từ ± 3% lên ± 5% songcác ngân hàng thương mại vẫn luôn giao dịch ở mức trần của tỷ giá chính thức

Nhược điểm

Tuy nhiên, điều này không mang lại nhiều hiệu quả vì sự chênh lệch giữa hai loại tỷ giá

Trang 14

(chính thức và trên thị trường tự do) vẫn lớn, các ngân hàng thương mại vẫn luôn phải giao dịch

ở mức trần

Nhìn chung, trong giai đoạn này Ngân hàng Nhà nước đưa ra các quyết sách tương đối chậm

so với thị trường, gây mất lòng tin cho người dân Việc sử dụng biên độ dao động tỷ giá kết hợpvới biện pháp hành chính thay cho việc điều chỉnh giá trị đồng nội tệ đã không mang lại kết quảnhư mong đợi, ngược lại còn khiến cho dự trữ ngoại hối quốc gia sụt giảm do phải bơm ra bênngoài nền kinh tế để ổn định tỷ giá

ngày 11/2/2010, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giá trị VND lần thứ hai trong chưa đầy batháng, tỷ giá mới từ mức 17.941 (VND/USD) thành 18.544 (tương đương mức điều chỉnh 3,3%).Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn thực thi các biện pháp hành chính khác như đóng cửa sànvàng, giảm tỷ lệ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, Điều này ngay lập tức làm tăng cung vàgiảm cầu ngoại tệ, do đó làm giảm chênh lệch tỷ giá trong sáu tháng giữa năm 2010

Tuy nhiên, các giải pháp này không thể có tác dụng trong dài hạn

- Thứ nhất, việc gia tăng cung ngoại tệ chỉ là tạm thời do người ta tận dụng sự chênh lệch lãisuất giữa tiền gửi ngoại tệ và nội tệ mà thôi

- Thứ hai, cầu ngoại tệ sẽ tăng mạnh khi các khoản vay ngoại tệ để hưởng chênh lệch lãi suấtđến hạn phải trả

- Và điều thứ ba, quan trọng hơn cả, là lòng tin của người dân vào VND đã bị sút giảm trầmtrọng

đã tác động ngay đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), khiến chỉ số này gia tăng đến cuối năm

2010 thì việc kiềm giữ tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước là không thể, do thâm hụt thương mại quácao và người dân vẫn chưa đặt niềm tin vào VND

3 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013

Đây là một giai đoạn ngắn, chỉ chưa đến ba năm, nhưng chính sách tiền tệ của nước ta đã cónhững bước thay đổi đáng kể

Trang 15

Tháng 2/2011 đánh dấu sự ra đời của Nghị quyết 11 của Chính phủ, đề ra những giải phápnhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Một trong những trọngtâm của những quyết sách lần này là bình ổn tỷ giá hối đoái

- Để thực hiện, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá rất mạnh, giảm đến 9,3% giá trịVND so với USD và giảm biên độ dao động xuống còn ± 1%, đồng thời sử dụng trần lãi suấtthấp cho ngoại tệ để làm tăng chênh lệch giữa lãi suất ngoại tệ và VND (với mức trần thời điểm

Chênh lệch giá USD tại các ngân hàng thương mại với thị trường tự do đã được thu hẹpđáng kể

Lần điều chỉnh giảm giá kỷ lục VND vào tháng 2/2011 giúp cho thị trường tiền tệ trở nên ổnđịnh hơn, song với việc Ngân hàng Nhà nước vẫn còn sử dụng rất nhiều các công cụ kèm theocũng cho thấy việc “hành chính hóa” trong công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàngNhà nước, nghĩa là Ngân hàng Nhà nước đã không sử dụng hiệu quả của các công cụ truyềnthống của chính sách tiền tệ

Ngày đăng: 16/09/2016, 22:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng và lạm phát Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng và lạm phát Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 11)
Hình 2.3. Tình hình biến động của tốc độ tăng GDP, tăng trưởng tín dụng, lạm phát - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.3. Tình hình biến động của tốc độ tăng GDP, tăng trưởng tín dụng, lạm phát (Trang 12)
Hình 2.4. Biến động tỷ giá (VND/USD) trong giai đoạn 2006 - 2013 - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.4. Biến động tỷ giá (VND/USD) trong giai đoạn 2006 - 2013 (Trang 16)
Hình 2.5. Lạm phát Việt Nam năm 2011 - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.5. Lạm phát Việt Nam năm 2011 (Trang 17)
Hình 2.6. Tình hình biến động tăng GDP, tăng trưởng tín dụng, CPI giai đoạn 2001 - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.6. Tình hình biến động tăng GDP, tăng trưởng tín dụng, CPI giai đoạn 2001 (Trang 19)
Hình 2.7. Biến động lãi suất trong giai đoạn 2010 - 2013 - Phân tích tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, và các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.7. Biến động lãi suất trong giai đoạn 2010 - 2013 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w