MỞ ĐẦU Người Hy Lạp ngày nay thường tự hào rằng đất nước của họ là cái nôi của nền văn minh châu Âu. Niềm tự hào này thật chính đáng. Lịch sử đã từng biết đến một thời kì “Hy Lạp hóa” (334 TCN – 30 TCN) – thời kì mà sự truyền bá của văn hóa Hy Lạp không dừng lại ở châu Âu. Lịch sử cũng đã từng chứng kiến sự sửng sốt, ngỡ ngàng của không ít người châu Âu trong thời kì văn hóa Phục hưng, trước thành tựu văn hóa của những người đồng hương của mình trên bán đảo Bancăng vào khoảng hai nghìn năm trước đó. Thưở ấy, “những người khổng lồ” của thời đại Phục hưng đã tìm thấy ở nền văn minh Hy Lạp cổ đại không chỉ những công trình kiến trúc, điêu khắc tuyệt mĩ, những tác phẩm văn học đồ sộ, mà còn thấy ở đó chủ nghĩa duy vật cổ đại và những tư tưởng nhân văn làm cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa mới, trong thời đại mới – thời đại đấu tranh và chiến thắng của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến ở châu Âu. Văn minh Hy Lạp đã đánh dấu một thời kì vàng son trong tiến trình lịch sử thế giới. Ngày nay, về nhiều mặt, văn hóa Hy Lạp cổ đại vẫn còn để lại cho chúng ta những cảm hứng nóng hổi và những bài học bổ ích. Do vậy, tiếp tục đi sâu nghiên cứu, khai thác, phát hiện những thành tựu của văn minh Hy Lạp cổ đại là một việc làm thiết thực, làm phong phú thêm kho tàng văn minh nhân loại.
Trang 1MỞ ĐẦU
Người Hy Lạp ngày nay thường tự hào rằng đất nước của họ là cái nôi của nền văn minh châu Âu Niềm tự hào này thật chính đáng Lịch sử đã từng biết đến một thời kì “Hy Lạp hóa” (334 TCN – 30 TCN) – thời kì mà sự truyền bá của văn hóa Hy Lạp không dừng lại ở châu Âu Lịch sử cũng đã từng chứng kiến sự sửng sốt, ngỡ ngàng của không ít người châu Âu trong thời kì văn hóa Phục hưng, trước thành tựu văn hóa của những người đồng hương của mình trên bán đảo Bancăng
vào khoảng hai nghìn năm trước đó Thưở ấy, “những người khổng lồ” của thời
đại Phục hưng đã tìm thấy ở nền văn minh Hy Lạp cổ đại không chỉ những công trình kiến trúc, điêu khắc tuyệt mĩ, những tác phẩm văn học đồ sộ, mà còn thấy ở
đó chủ nghĩa duy vật cổ đại và những tư tưởng nhân văn làm cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa mới, trong thời đại mới – thời đại đấu tranh và chiến thắng của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến ở châu Âu
Văn minh Hy Lạp đã đánh dấu một thời kì vàng son trong tiến trình lịch sử thế giới Ngày nay, về nhiều mặt, văn hóa Hy Lạp cổ đại vẫn còn để lại cho chúng
ta những cảm hứng nóng hổi và những bài học bổ ích Do vậy, tiếp tục đi sâu nghiên cứu, khai thác, phát hiện những thành tựu của văn minh Hy Lạp cổ đại là một việc làm thiết thực, làm phong phú thêm kho tàng văn minh nhân loại
Trang 21 Cơ sở hình thành văn minh Hy Lạp cổ đại
1.1 Địa lý, dân cư
Ngày xưa, các bộ lạc Hy Lạp gọi bộ lạc của mình bằng những tên riêng Đếnkhoảng thế kỉ VIII –VII TCN, người Hy Lạp mới gọi mình là Hêlen và gọi đất nước mình là Hêla tức Hy Lạp
Lãnh thổ của Hy Lạp cổ đại rộng hơn nước Hy Lạp ngày nay rất nhiều: bao gồm miền Nam bán đảo Bancăng, các đảo trên biển Ê giê và miền ven biển phía Tây Tiểu Á, trong đó quan trọng nhất là miền Nam bán đảo Bancăng tức là vùng lục địa Hy Lạp
Nằm trên bán đảo Bancăng, Hy Lạp không có những vùng đồng bằng phì nhiêu, rộng lớn như ở các quốc gia cổ đại phương Đông Trái lại, đất đai ở đây ít, không thuận lợi cho trồng cây lương thực, địa hình lại bị chia cắt thành những vùng sinh thái nhỏ xen lẫn đồi núi, đồng bằng, ven biển, Bù lại, Hy Lạp có nhiều nguồn nguyên liệu, nhiều hải cảng rất thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp và thương nghiệp Điều kiện địa lý ấy đã làm cho người Hy Lạp quan tâm đến việc phát triển thủ công nghiệp và thương mại đường biển hơn là đi khai phá những vùng đất hẹp và cằn cỗi của mình Khuynh hướng phát triển kinh tế ấy lại được nảy nở trong điều kiện lịch sử mới - thời đại đồ sắt, làm cho nền kinh tế thủ công nghiệp và ngoại thương của Hy Lạp phát triển mạnh mẽ Hy Lạp đã trở thành trungtâm sản xuất thủ công nghiệp, trung tâm thương nghiệp lớn nhất châu Âu và có lẽ
là cả thế giới ở nửa sau thiên niên kỉ I TCN Trong những thế kỉ này, ở Hy Lạp cácxưởng thủ công đã sử dụng hàng trăm nô lệ, hoạt động nhộn nhịp ngày đêm, các thuyền buôn Hy Lạp chở đầy vũ khí, đồ trang sức, đồ gốm, đồ gỗ, đồ da, rượu nho,dầu ô liu, lênh đênh trên biển đi đến mọi miền xa xôi ven Địa Trung Hải Sự hưngkhởi của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ với những mối giao lưu rộng lớn ấy vừa là tiền đề, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền văn hóa Hy Lạp
cổ đại
Cư dân Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều tộc người: người Êôliêng, chủ yếu cư trú ở bắc bán đảo Bancăng và một phần Trung Bộ; người Iôniêng ở đồng bằng Áttích, vùng ven biển phía Tây Tiểu Á; người Akêăng ở vùng bắc bán đảo
Trang 3Pêlôpônedơ và người Đôniêng ở Bắc bán đảo Pêlôpônedơ, đảo Cret và các đảo khác ở phía Nam biển Êgiê.
1.2 Điều kiện lịch sử, xã hội
Lịch sử Hy Lạp cổ đại có thể chia làm các thời kì chính sau đây:
Thời kì văn hóa Cret – Myxen: Tại đảo Cret và Myxen, phía đông bán đảo
Ban căng, người ta đã tìm thấy dấu tích của một nền văn minh tồn tại từ khoảng thế kỉ III TCN đến thế kỉ XII TCN Chủ nhân của nền văn minh này là người Akêang Nền văn hóa Cret – Myxen còn để lại các dấu tích các thành cổ, cung điện
và một số đồ dùng bằng đồng thau Cuối thế kỉ XII TCN, người Đôriêng với vũ khíbằng sắt từ phương Bắc, tràn xuống tấn công, người Akêang chống đỡ không được
và các quốc gia của người Akêang đã bị tiêu diệt Thời kì Cret – Myxen kết thúc
Thời kì Home (thế kỉ XI – IX TCN): đời sau biết đến giai đoạn này chủ yếu
thông qua hai tác phẩm của Home nên người ta lấy tên ông để đặt cho thời kì này Qua hai tập thơ Iliat và Ôđixê, người ta nhận thấy xã hội Hy Lạp được mô tả trong giai đoạn này là một xã hội nguyên thủy đang trên đường tan rã, xã hội có nhà nước đang hình thành
Thời kì thành bang (thế kỉ VIII – IV TCN): Đây là thời kì hình thành ở Hy
Lạp hàng trăm nhà nước nhỏ mà người ta gọi là các thành bang Trong hàng trăm thành bang thời đó, quan trọng nhất là thành bang Aten và Spac Rất nhiều thành bang hồi đó sống bằng nghề công thương nghiệp Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sưh phát triển của văn minh Hy Lạp Thế kỉ V TCN, các thành bang Hy Lạp đã phải chống lại sự xâm lược của đế quốc Ba Tư và họ đã chiến thắng Nhưng cuối thế kỉ V TCN, thế giới Hy Lạp đã xảy ra cuộc nội chiến Cuộc nội chiến này đã làm cho tất cả các thành bang suy yếu Nhân cơ hội đó, một thành bang ở phía Bắc bán đảo Bancăng là Makêđônia đã bắt các thuộc thành bang khác phải thuần phục mình và Makêđônia cầm đầu thế giới Hy Lạp để tấn công Ba Tư
Thời kì Hy Lạp hóa (từ 337 – 30 TCN): Sau khi đánh bại đế quốc Ba Tư,
quân đội của Hy Lạp đã mang văn hóa của Hy Lạp truyền bá khắp vùng Tây Á và Bắc Phi Vì vậy, người ta gọi thời kì này là thời kì Hy Lạp hóa Đến thế kỉ I TCN,
Trang 4đế quốc La Mã đang phát triển hùng mạnh đã thôn tính các vùng đất quanh Địa Trung Hải, Hy Lạp trở thành một phần của đế quốc La Mã.
Nếu như ở các quốc gia cổ đại phương Đông, sự thống trị của chế độ quân chủ chuyên chế và đi liền với nó là thế giới quan tôn giáo thần bí đã kìm hãm đáng
kể khả năng sáng tạo của con người, thì trái lại ở Hy Lạp cổ đại, chế độ dân chủ đã
mở đường cho sự phát triển của các tài năng
Những đặc điểm của điều kiện tự nhiên, lịch sử đã làm xuất hiện ở Hy Lạp các quốc gia - thành thị và một chế độ chính trị tiên tiến - chế độ dân chủ cổ đại, Mặc dù còn không ít hạn chế, chế độ dân chủ này là một bước tiến vượt bậc so với chế độ quân chủ chuyên chế phương Đông Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của văn hóa Hy Lạp Trong các thành bang theo chế độ dân chủ ở
Hy Lạp, những người nghệ sĩ, n hững nhà khoa học là những công dân tự do, do vậy năng lực sáng tạo của họ được phát triển, lao động của họ được trân trọng, tài nawg và những tác phẩm của họ trở thành niềm tự hào của một dân tộc yêu khoa học và nghệ thuật Có thể nói, không có chế độ dân chủ thì không có sự phồn vinh của văn hóa Hy Lạp cổ đại
Mặt khác, những thành tựu của văn hóa lâu đời của các dân tộc phương Đông mà người Hy Lạp tiếp thu được qua các mối giao lưu kinh tế, văn hóa cũng
là một trong những tiền đề thuận lợi cho sự phát triền của nền văn hóa Hy Lạp cổ đại Những tri thức thiên văn học, toán học của người Ai Cập, Lưỡng Hà, những kiểu dáng đền tháp ở Ai CẬp, nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc của người Atxiri, hệ thống chữ cái của người Pheenixi đã được người Hy Lạp tiếp thu, bổ sung, chỉnh
lí và nâng lên một trình độ mới hơn, cao hơn
Sự hội tụ của những tiền đề và điều kiện đó đã tạo thành nền móng vững chắc cho sự ra đời và phát triển rực rỡ của văn hóa Hy Lạp cổ đại, một nền văn hóa
đã để lại cho nhân loại những tác phẩm văn học tuyệt vời, những công trình kiến trúc, điêu khắc bất hủ, những tri thức khoa học mang tính khái quát cao và những
tư tưởng triết học sâu sắc Một nền văn hóa thấm đượm tính nhân văn trong nội dung và hình thức thể hiện
Trang 52 Những thành tựu chủ yếu của văn minh Hy Lạp cổ đại
2.1 Chữ viết và văn học
2.1.1 Chữ viết
Vào thế kỉ IX - VIII TCN, qua những mối quan hệ buôn bán với người Phênixi, người Hy Lạp đã làm quen với hệ thống chữ cái của họ Hệ thống chữ cái của người Phênixi, xuất hiện vào khoảng thế kỉ XII - TCN, có 22 chữ và chỉ biểu thị các phụ âm Trên cơ sở hệ thống chữ cái Phênixi, người Hy Lạp đã cải biến và
bổ sung để tạo thành một hệ thống các chữ cái mới gồm 24 chữ (với 18 phụ âm và
6 nguyên âm) Năm 403 TCN, hệ thống chữ cái này đã được chấp nhận chính thức
ở Aten So với hệ thống chữ tượng hình ở phương Đông có hàng trăm kí hiệu, hình
vẽ cực kì phức tạp, thì hệ thống chữ cái Hy Lạp đã đạt đến trình độ khái quát hóa rất cao Chỉ với hơn hai mươi chữ cái, với cách ghép linh hoạt, người ta có thể thể hiện trên mặt giấy mọi kết quả của tư duy Sáng tạo ra hệ thống chữ cái này là một cống hiến vô cùng to lớn cho nền văn hóa nhân loại của người Hy Lạp Hệ thống chữ Slavơ và chữ Latinh bắt nguồn từ chữ Hy Lạp phần lớn các dân tộc trên thế giới sử dụng
2.1.2 Văn học
2.1.2.1 Thần thoại Hy Lạp
Thuật ngữ "thần thoại" Mitôlôgia xuất phát từ chữ Hy Lạp Mythologos (mythos: truyền thuyết, huyền thoại; logos: lời nói, chuyện kể, học thuyết) THần thoại Hy Lạp hình thành chủ yếu trong thời kì tan rã của xã hội thị tộc, bộ lạc (thế
kỉ XI TCN - IX TCN) và phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh vào thế kỉ VIII TCN - VII TCN
Thần thoại là một hình thái ý thức xã hội, được thể hiện dưới dạng truyền thuyết, những câu chuyện hoang đường về thế giới, về xã hội và về con người trong thời kì con người vẫn còn chưa thoát khỏi vòng chi phối của sức mạnh tự nhiên "Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự
Trang 6nhiên trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng: vậy thần thoại sẽ không còn nữa, khi người ta thấy thật sự thống trị được những sức mạnh ấy".1
Đặc điểm lớn nhất và cũng là giá trị của thần thoại Hy Lạp là ở chỗ nó phản ánh một thời kì quan trọng trong lịch sử Hy Lạp - thời đại chuyển tiếp từ thời đại nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước, Những quá trình lịch sử cơ bản của thời đại này: sự xuất hiện của công cụ kim loại, cuộc đấu tranh quyết liệt để giành giật ngôi thủ lĩnh liên minh bộ lạc và sự ra đời của gia đình phụ hệ đã được phản ánh sinh động trong thần thoại Hy Lạp Cũng theo thần thoại Hy Lạp, loài
người đã trải qua 5 thời đại nối tiếp nhau: Thời đại Vàng, Thời đại Bạc, Thời đại Đồng, Thời đại các anh hùng - nửa thần và Thời đại Sắt Ba thời đại sau gắn liền
với các cuộc chiến tranh cướp bóc, sự tan rã của tư tưởng cộng đồng, bình đẳng với sự đề cai quyền thế, thể hiện rõ nét quá trình tan rã của xã hội thị tộc
Do phản ánh một thời đại lịch sử nên thần thoại và anh hừng ca đã gắn bó mật thiết với nhau Anh hùng là thủ lĩnh có đức, có tài, có công trạng, nhưng chưa phải là vua, được huyền thoại hóa, do đó có thần linh xen lẫn anh hùng Có thể coi thời đại anh hùng và thời đại anh hùng ca vừa nối tiếp vừa đan xen với nhau, là thời đại chuyển tiếp từ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp ở Hy Lạp, trong đó thần thoại là khúc dạo đầu
Giới thần linh của Hy Lạp thật đông đảo Mỗi vị thần đại diện cho một hoặc nhiều hiện tượng tự nhiên, của xã hội hay của đời sống con người Dưới đây là những vị thần tiêu biểu trong hệ thống thần linh của người Hy Lạp cổ đại
Theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, vũ trụ lúc đầu là một khối hỗn mang gọi là Kaôs Từ Kaôs xuất hiện nữ thần đất Gaia Gaia sinh ra thần bầu trời Uranôs
Uranôs lấy Gaia rồi sinh ra mười hai thần Khổng lồ, gồm sáu thần nam và sáu thần nữ Trong thần thoại Hy Lạp, thế hệ thần này được gọi là "các thần già" Cuộc hôn nhân giữa các thần già nảy sinh ra một thế hệ các vị thần mới
1 C.Mác: Lời mở đầu phê phán kinh tế chính trị Trích trong cuốn Về văn học và
Trang 7Theo thần thoại Hy Lạp, các vị thần ở Ôlympiơ rất đông đúc, trong đó có 12 thần, tiêu biểu là thần Dớt và các anh chị em ruột cùng con cái của Dớt, một thần cai quản một lĩnh vực.
Dưới sự khéo léo của Prô - mê - tê nặn ra người từ đất sét và lấy trộm lửa của Hê - fai - xtốt đem đến cho loài người Đó là một trong những duyên cớ khiến Dớt, vua của các vị thần, thù ghét chàng, xiềng xích chàng trên núi Cô - ca và đầy đọa chàng trong ngục Tác - ta Dưới sự điều khiển của thần Dớt, các vị thần ở núi
Ô - lem - pơ quanh năm tuyết phủ đã hoạt động trong mọi lĩnh vực, can thiệp cả vào cuộc sống của con người Thần thánh không phải chỉ để thể hiện sức mạnh của tự nhiên, mà còn thề hiện hình ảnh lao động sáng tạo của con người, như : Thần trồng nho và chế rượu nho Đi - ô - ni - xốt, nữ thần nghề nông Đê - mê - tê, thần thợ rèn Hê - fai - xtốt A - pô - lông vị thần đẹp trai, hào hoa phong nhã, điều khiển các buổi nhảy múa của các vị thần nghệ thuật Đó là nữ thần anh hùng Ca - li
- ốp, nữ thần bi kịch Ơ - tec - pơ, nữ thần hài kịch TA - li,
Thần thoại Hy Lạp còn chứa chất lòng ước mơ, sức mạnh của con người trong cuộc chinh phục thiên nhiên Những kì công của Hê - ra - clét, Tê - zê tưởng như là việc làm dũng cảm, cần cù của tập thể người trong quá trình đấu tranh với những trở ngại của thiên nhiên
Thần thoại Hy Lạp xuất hiện ở giai đoạn đầu của thời đại văn minh Ở nhữngthế hệ sau, thần thoại được tất cả các ngành nghệ thuật dùng làm chất liệu để xây dựng nên những tác phẩm thể hiện tư tưởng của tác giả Mác đã nêu lên mối quan
hệ giữa thần thoại và các ngành nghệ thuật Hy Lạp: "Người ta biết rằng thần thoại
Hy Lạp không những là cái lò phát sinh mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng nghệ thuật
Hy Lạp nữa Vật liệu của nghệ thuật Hy Lạp là thần thoại Hy Lạp"1
1 C.Mác: Lời mở đầu phê phán kinh tế chính trị Trích trong cuốn Về văn học và nghệ thuật của Mác và Ăngghen, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, tr.109.
Trang 82.1.2.2 Thơ ca
Thơ ca là thể loại văn học xuất hiện sớm và được người Hy Lạp yêu thích
Hai tập anh hùng ca Iliat và Ôđixê, ra đời vào khoảng thế kỉ IX - VIII TCN, là hai
tập thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là những tác phẩm lớn nhất của thơ ca Hy Lạp Tương truyền Hôme là tác giả của hai tập thơ nổi tiếng này
(Nhà thơ mù Hô-me-rơ)
Iliat gồm 15.693 câu thơ, chia làm 24 ca khúc Iliat kể về một giai đoạn ngắn
49 ngày trong năm thứ mười - năm cuối cùng của cuộc chiến tranh giữa người Hy Lạp với người ở thành Iliông (một tên gọi khác của thành Tơroa), một thành bang nằm bên bờ Tiểu Á Chủ đề của Iliat là mối bất hòa giữa Asin, một vị tướng xuất sắc của quân Hy Lạp với chủ tướng Agamenmông - là người đã cậy quyền thế để cướp đoạt người nữ tì xinh đẹp Bridêis của Asin Mối bất hòa đã khiến các thần Ôlympơ phải can dự và làm cho cục diện cuộc chiến diễn biến phức tạp Cuối cùng, người Hy Lạp đã hạ được thành Tơroa Kết thúc tập thơ là lễ hỏa táng Hécto,chủ tướng của quân Tơroa
Ôđixê gồm 12 tập và cũng được chia làm 24 khúc ca Ôđixê kể về cuộc
hành trình của Uylit (tức Ôđixê) trên đường trở về quê hương sau khi quân Hy
Trang 9Lạp đã hạ được thành Tơroa Sau mười năm phiêu bạt gian nan, Ôđixê - người anh hùng của quân Hy Lạp, mới về tới quê hương bên người vợ thủy chung của mình là Pêlênôp.
Iliat và Ôđixê là những tác phẩm xuất sắc của văn học Hy Lạp cổ đại Hai
tập anh hùng ca này tập trung ca ngợi những con người dũng cảm, thông minh, những người anh hùng như Asi, Uylit, Hecto, đề cao sự thủy chung của người phụ
nữ là Pêlênôp là đại diện Iliat và Ôđixê cũng phê phán những thói hư tật xấu trái với truyền thống của thị tộc như Agamemnông cậy quyền thế làm càn, còn Asin vì
tư thù mà quên nghĩa lớn Tất cả những điều đó làm cho Iliat và Ôđixê trở thành những tác phẩm văn học mang tính nhân văn sâu sắc Sau đó, truyền thống thơ ca càng được phát huy trong các thể loại thơ tự sự, thơ trữ tình và bi kịch
Vào cuối thế kỉ VIII đầu thế kỉ VII TCN, nhà thơ Hê - zi - ốt, với loại thơ trữtình của mình, là một tài năng lỗi lạc nhất của lục địa Hy Lạp Hê - zô - ốt nổi tiếng
với hai tập thơ lớn: Gia hệ về thần, trình bày các thế hệ thần thánh và truyền thuyết
về các anh hùng Hy Lạp, và Công việc tháng ngày nói về sự phá sản, nghèo khổ
của nông dân dưới ách thống trị của quý tộc Là nhà thơ gắn liền với cuộc sống lao động nông nghiệp, tác giả ca ngợi sức lao động "không có thứ lao động nào là nhụcnhã, chỉ có ăn không ngồi rồi mới xấu xa".Tác giả đúc kết lại nhiều kinh nghiệm
sản xuất nông nghiệp trong tác phẩm của mình Ngay trong Gia hệ về thần, Hê - zi
- ôt cũng đã mượn thế giới thần thánh để vẽ nên sự bất công của thế giới trần gian
Vào thế kỉ VII, VI TCN, trong lĩnh vực văn học, thơ trữ tình nảy sinh và phát triển rực rỡ Nó vốn bắt nguồn từ dân ca Thơ trữ tình đi sâu khai thác những khí cạnh của tình cảm cá nhân, thể hiện sâu sắc cuộc sống tư tưởng con người Sự xuất hiện của thơ ca trữ tình gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu tài sản, với cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kì hình thành Nhà nước Trong số những nhà thơtrữ tình, nổi bật tên tuổi của Ác - ki - lốc, Xô - lông, Tê - ô - nhít, Tiếc - tê, Xáp -
fô, Panh - đa, A - na - crê - ông Trong những bài thơ trữ tình, nỗi khổ cực về vật chất, sự dằn vặt về tâm hồn đều toát ra rất rõ nét Đặc biệt những nhà thơ trữ tình
đã giành nhiều tác phẩm ca ngợi tình yêu và những khoái lạc cá nhân Phong cách
Trang 10sáng tác và hình thức thơ trữ tình của Hy Lạp đã gây được ảnh hưởng quan trọng trong thơ ca thế giới.
Vào thế kỉ thứ VI TCN, đã xuất hiện các loại văn xuôi Đó là những chuyện
kể về lịch sử, địa lý, hoặc đúng sự thật, hoặc pha màu sắc hoang đường Văn xuôi còn được dùng để kể chuyện ngụ ngôn Nhà văn ngụ ngôn đầu tiên của Hy Lạp là
Ê - zốp Tác phẩm của ông khá nhiều và có ảnh hưởng đối với văn học thế giới
Bi kịch hay hài kịch đều ra đời trong quá trình chuyển biến lớn lao của xã hội - Nhà nước xuất hiện - và trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị gaygắt Chính nghệ thuật kịch cũng phản ánh cuộc sống xã hội và chính trị ấy
Nghệ thuật kịch trực tiếp ra đời từ những khúc ca và cách nhảy múa trong đám rước thần rượu nho Đi - ô - nô - xốt Nhưng bên trong những nghi thức tôn giáo ấy chất chứa những hạt nhân của cuộc sống lao động sản xuất hiện thực, gửi gắm niềm vui, nguồn hi vọng của những người lao động Tính chất hiện thực muônmàu, muôn vẻ, trình độ nghệ thuật điêu luyện của kịch đã thu hút được một số lượng công chúng đông đảo Người ta phải xây dựng những nhà hát ngoài trời rất lớn nhà hát ở A - ten có thể chứa tới 17.000 người xem, nhà hát ở Mê - ga - lô - pô
- lít có thể chứa tới 44.000 người xem Ban đầu nhà hát được xây dựng bằng gỗ, vềsau được xây dựng bằng đá theo hình nửa mặt trăng có bậc cao thấp Nghệ thuật diễn xuất càng trở nên sinh động vì có sự phối hợp của hội họa Chính quyền đứng
ra tổ chức những cuộc thi diễn kịch, ban cấp cho công dân nghèo mua vé xem một buổi (ở thế kỉ V TCN) cấp cho đủ tiền mua vé xem cả ba buổi Tất nhiên những chính sách văn hóa ấy không thể tách rời đường lối chính trị của Nhà nước nô lệ là xoa dịu mâu thuẫn giữa kẻ giàu, người nghèo
Trang 11Bi kịch phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt của xã hội Hy Lạp trong quá trình hình thành Nhà nước Bằng những hình tượng nghệ thuật, bi kịch đã dựng lên khung cảnh đấu tranh quyết liệt giữa thế lực lạc hậu và tiến bộ, cuối cùng phần thắng thuộc về thế lực tiến bộ Nghệ thuật kịch đã đạt đến trình độ sâu sắc về cách thể hiện tâm lý nhân vật, các sự kiện riêng lẻ được nâng lên mức khái quát Đặc biệt sự gọt rũa của ngôn ngữ phối hợp với hình thức thể hiện điêu luyện càng làm cho bi kịch có một sức sống mãnh liệt.
Những tài năng của bi kịch Hy Lạp nở rộ ở thế kỉ V TCN, trong đó ngời sáng tên tuổi của Ét - sin, Xô - fô - clơ và Ơ - ri - pi - đơ
Ét - sin (525 - 456 TCN) là con một gia đình quý tộc, ông đã từng tham gia
cuộc chiến tranh vĩ đại của người Hy Lạp chống quân xâm lược Ba Tư, và chứng kiến sự chiến thắng của phe dân chủ Đó là vốn sống quý báu có tác dụng rất lớn trong sự nghiệp sáng tác của Ét - sin Quan điểm chính trị của Ét - sin là bảo thủ Ông đã sáng tác 90 vở kịch, nhưng chi còn 7 vở truyền đến ngày nay Mặc dù hầu hết các đề tài của Ét - sin là thần thoại, nhưng trong đó chứa đựng vấn đề nóng hổi
của thời đại Bộ ba kịch Ô - re - xti đã nêu lên sự thắng lợi của phụ quyền đối với
mẫu quyền Ô - re - xtơ đã giết chết mẹ và tình nhân của mẹ vì hai người đã giết cha y Ô - re - xtơ đã bị các thần hình rắn đuổi bắt nhưng y được các thần A - pô -
lông, A - tê - na cứu giúp và tuyên bố Ô - re - xtơ không có tội gì Vở Prô - mê - tê
bị xiềng đã dựng lên hình ảnh đấu tranh kiên cường của các vị anh hùng chống
thần linh, mang lại hạnh phúc cho loài người Ngoài những đề tài thần thoại, Ét -
sin còn lấy đề tài lịch sử để dụng lên vở Quân Ba Tư mô tả thắng lợi của người A
-ten và sự thất bại nặng nề của đế quốc Ba Tư Giá trị tư tưởng, nghệ thuật thơ ca vàphong cách diễn xuất cảu các tác phẩm đã nâng Ét - sin lên bậc thầy của bi kịch
Sau Ét - sin là nhà bi kịch nổi tiếng Xô - fô - clơ (497-406 TCN), sinh ra
trong một gia đình công thương nghiệp giàu có, sống ở thời kì Pê - ri - clét cầm quyền Ông vừa là nhà bi kịch, vừa là nhà hoạt động xã hội Xô - fô - clơ sáng tác rất nhiều có tới 123 vở bi kịch, nhưng số tác phẩm mà ta biết rõ là 7 bi kịch, 1 kịch
trào phúng, trong đó nổi tiếng nhất là những vở Ơ - đíp làm vua, Ăng - ti - gôn.
Trang 12Trong những tác phẩm của Xô - fô - clơ, cuộc đấu tranh giữa số mệnh với đạo đức, nghị lực của con người diễn ra gay gắt Điều đó thể hiện rất rõ trong vở kịch Ơ - đíp làm vua Nội dung tóm tắt của vở Ơ - đíp làm vua như sau: Thần Đen-
fơ báo cho Lai - út, vua thành Te - bơ, biết rằng sau này con trai của y sẽ giết cha
để lấy mẹ Tin lời tiên đoán của thần, nên khi Ơ - đíp mới ra đời, Lai - út liền sai người vứt đứa con trai ấy của mình đi Ơ - đíp được một người mang về nuôi, và sau này do sự tình cờ, éo le, Ơ - đíp đã giết cha đẻ của mình và lấy mẹ làm vợ 15 năm sau, khi Ơ - đíp đã có 4 con, chàng mới biết rõ sự thật đau lòng ấy của đời mình Lúc đó, mẹ Ơ - đíp tự sát Khi mẹ hấp hối, chàng đã gục lên vai mẹ , lấy kim
tả con người vốn là như vậy" Câu nói ấy của Xô - fô - clơ đã thể hiện tư tưởng sáng tác của ông Con người trong những tác phẩm của Xô - fô - clơ là "con người thông minh, đã làm được cái lưới kì diệu vây bủa vạn vật" (Xô - fô - clơ) Tại sao con người làm được điều ấy? Vì "trong tự nhiên có nhiều sức mạnh, nhưng không
có một sức mạnh nào bằng sức mạnh của con người" (Xô - fô - clơ)
Trong số ba thiên tài lỗi lạc nhất của bi kịch Hy Lạp, Ơ - ri - pi - đơ
(484-406 TCN) là ngôi sao sáng cuối cùng Ông là một người có trình độ học vấn sâu
rộng, ủng hộ phái dân chủ Ông đã viết tới 92 vở kịch, nhưng chỉ còn lại 18n bi kịch và 1 vở kịch trào phúng Trong những tác phẩm của mình, Ơ - ri - pi - đơ đã
đề cập tới rất nhiều vấn đề, như mối quan hệ giữa thần và người, vấn đề quyền lợi của phụ nữ và nô lệ, vấn đề gia đình mặc dù đề tài bi kịch đều lấy trong kho tàng thần thoại Hy Lạp, Ơ - ri - pi - đơ đã có nhiều quan niệm mới về thần linh Trong
vở kịch Ê - lếch - tơ - rơ, ông đã tỏ ra nghi ngờ việc thần Dớt làm thay đổi đường
đi của mặt trời, tinh tú Dưới con mắt của nhà bi kịch, các vị thần không có gì là
Trang 13linh thiêng, cao quý khác người cả, trái lại, là những kẻ tham lam tàn ác, dâm
đãng Mượn lời của một nhân vật trong vở bi kịch Ben - lơ - rô - fông, Ơ - ri - pi -
đơ đã cho rằng:
Mọi người đều nói trên trời có thần,
Không! Không! Tuyệt đối không có chúng!
Chỉ cần có một chút thông minh,
Anh sẽ không thể nào tin được
Truyền thuyết cũ rích ấy.
Nhà thơ đã đề cập tới cuộc sống khổ cực và vai trò của nô lệ trong xã hội
"Người nô lệ suốt đời khốn khổ làm sao! Họ chịu đựng những điều nhục nhã và bị cưỡng bức bằng sức mạnh" và "chúng ta những người tự do, chúng ta sống được
do những người nô lệ" Ơ - ri - pi - đơ đã nói lên được cuộc sống đấu tranh đòi quyền tự do của phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội, tuy ông chưa đề ra được cách giải quyết đúng đắn vấn đề ấy Qua những tác phẩm của mình, Ơ - ri - pi - đơ
tỏ ra là một người yêu nước nhiệt thành vá cực lực chống phái Spác bảo thủ, phản động
Trên kia, chúng ta đã nói đến ba nhà bi kịch lớn của Hy Lạp Nghệ thuật kịch của Hy Lạp không phải chỉ có bi kịch phát triển mà hài kịch cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đề tài của bi kịch là thần thoại, còn để tài của hài kịch hoàn toàn do tác giả sáng tạo Mọi tình tiết, sự phát triển và cách giải quyết mâu thuẫn đều thuộc về nghệ sĩ Hài kịch mang nội dung chính trị, đề ra và giải quyết những vấn để nóng hổi của thời đại, của cuộc sống Người đại biểu xuất sắc nhất
của hài kịch là A - ri - xtô - fan (446 - 385 TCN) Ông đã để lại cho gia tài hài kịch
44 vở, hiện nay chỉ còn giữ được 11 vở Nội dung hài kịch của A - ri - xtô - fan mang tính chiến đấu sắc mạnh Ông ủng hộ nhiệt liệt nguyện vọng hòa bình của nông dân vùng đồng bằng Át - tích vì chiến tranh mà trở nên khổ cực, đồng thời ông cũng công kích những thói hư, tật xấu của xã hội và chính quyền A - ten
Những hài kịch nổi tiếng của A - ri - xtô - fan là Kỵ sĩ, Hòa bình, Chim, ra-ta, Ếch A - ri - xtô - fan là một nhà hài kịch có cái nhìn hiện thực sâu sắc Ông
Li-zi-xtơ-đã kế thừa những di sản quý báu của các loại thơ cổ Hy Lạp, học tập cách sử dụng
Trang 14ngôn ngữ của các nhà bi kịch, kết hợp với ngôn ngữ bình dân của nhân dân Chính
vì vậy, nên thiên tài của A - ri - xtô - fan vẫn mãi mãi ngời sáng trên văn đàn thế giới
2.2 Sử học
Hêrôđốt, Tuyxiđit và Xênôphôn là những người đặt nền móng cho sử học
Hy Lạp, các tác phẩm của họ là những bộ sử thành văn đầu tiên ở châu Âu
Hêrôđốt (khoảng 484 - 425 TCN) - người khai sinh nền sử học Hy Lạp, sinh
ở Halicacnat, một thành phố bên bờ tây - nam Tiểu Á Sau đó, vì tham gia cuộc đấu tranh chống lại giới cầm quyền ở đáy, ông buộc phải rời đến đảo Xamôt Trong vòng mười năm, từ 455 - 445 TCN, Hêrôđốt đi du lịch nhiều nơi Ngoài khuvực Tiểu Á, Hy Lạp, ông còn đến Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư,
Makêđônia Hêrôđốt đã sống thời gian dài ở A - ten, ông là bạn của những người hoạt động chính trị và văn hóa nổi tiếng như Pêricơlet, Xôphôclơ, Xôcrat
(Tượng cẩm thạch Herodotos tại Bảo tàng Athene) Hêrôđốt đê lại tập Tóm tắt các sự kiện viết bằng thổ ngữ vùng Iôniôs (một khu vực ở phía tây Tiểu Á), mà sau này thường được gọi là bộ Lịch sử Bộ Lịch sử
gồm hai phần Phàn thứ nhất kể về lịch sử của người Liđi, người Ba Tư, người Babilon, người Ai Cập và người Hy Lạp Phần thứ hai nói về cuộc khởi nghĩa ở Iôniôs, về cuộc hành quân của Đaria và cuộc tấn công của Xecxet vào Hy Lạp Bộ
"Lịch sử" được kết thúc với đoạn mô tả việc người Hy Lạp chiếm lĩnh thành phố Xect (năm 478 TCN) - một thành phố cảng đối diện với thành phố Abiđôs Vào thế
kỉ II TCN, các nhà bác học ở Alêchxanđri chia công trình của ông thành 9 tập, mỗi
Trang 15tập mang tên một vị thần bảo trợ nghệ thuật và khoa học Bộ "Lịch sử" được viết trên cơ sở những nguồn tài liệu phong phú: các biên niên lịch sử, các truyền thuyết,các truyện truyền miệng và những điều tai nghe, mắt thấy qua những chuyến du lịch dài ngày của tác giả Nguyên tắc sáng tác của ông là truyền lại tất cả những điều người ta nói, song không tin tất cả Ông bài bác những chuyện hoang đường nhưng ông cũng chưa hoàn toàn tránh được những lời tiên tri , bói toán, Hêrôđốt còn cho rằng, thần thánh ghen tị với người trần, số phận bức hại những người có quá nhiều hạnh phúc.
Bộ "Lịch sử" của Hêrôđốt là một nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu lịh sử
Hy Lạp, lịch sử các dân tộc phương Đông và cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư Hêrôđốt chẳng những là nhà sử học mà còn là nhà dân tộc học, nhà tư tưởng Ông cho rằng nhà sử học không chỉ là người kể chuyện mà còn phải là một nhà triết học, phải đưa ra được câu trả lời cho những vấn đề chính của cuộc sống: cuộc sốngcủa con người phụ thuộc vào cái gì? Nguyên nhân của các cuộc chiến tranh, của sựchiến thắng và thất bại bắt nguồn từ đâu? Theo Hêrôđốt, người Hy Lạp "đã chiếnthắng người Ba Tư bởi vì họ là người dũng cảm Họ dũng cảm bởi vì họ tự do và chỉ phục tùng pháp luật"
Ở thời cổ đại, công trình của Hêrôđốt được đánh giá rất cao Xixêrông (nhà hùng biện, nhà văn, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Rôma) gọi Hêrôđốt là
"người cha của sử học" Năm 1502, lần đầu tiên bộ "Lịch sử" được in ở Italia
Sau Hêrôđốt là nhà sử học nổi tiếng Tuyxiđit (460-396 TCN) Tuyxiđit sinh
ra trong một gia đình quý tộc giàu có, được hưởng nền giáo dục tiến bộ trong "thế
kỉ vàng" của nền dân chủ Aten Tuy nhiên về quan điểm chính trị, Tuyxiđit đại diện cho tầng lớp quý tộc bảo thủ, đối lập với lãnh tụ của nền dân chủ cấp tiến Pêricơlet
Tuyxiđit là người chứng kiến mâu thuẫn chính trị ngày càng căng thẳng giữa Aten và Spac Ông cũng là người đã tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh Pêlôpône Năm 424 TCN, Tuyxiđit được bầu vào hội đồng 10 viên tư lệnh và đượcgiao nhiệm vụ chỉ huy hạm đội Aten bảo vệ thành phố Amphipôlit Trong các cuộc