1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008

127 584 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Diên Khánh 87,0% đối tượng nghiên cứu đã biết đúng cả 3 đường lây tuyền HIV, tại Ninh Hòa tỷ lệ này là 89,4% biết đúng cả 3 đường lây tuyền HIV HIV có thể lây truyền khi dùng chung b

Trang 1

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN

QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ

TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008

Lý Văn Sơn 1 , Dương Quang Minh 2 , Trần Thị Ngọc 1 , Nguyễn Văn Quý 4 ,

Lê Viết Khánh 3 , Nguyễn Đức Long 3 , Nguyễn Lê Tâm 1 , Thân Thị Mỹ Dung 1 , Lê Hữu Sơn 1 , Đặng Văn Tín 5

1 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế

2 Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Bệnh viện Trung Ương Huế

4 Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

5 Trung tâm Y tế thành phố Huế

Tóm tắt

Bằng phương pháp mô tả điều tra ngang với 646 nữ nhân viên tại một số cơ sở dịch vụ giải trí thành phố Huế đến khám chữa bệnh tại phòng khám STI - Trung tâm phòng, chống bệnh xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và khoa sản – Trung tâm Y tế thành phố Huế năm 2008 Kết quả cho thấy tỷ lệ 46,4%

nữ nhân viên mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Trong đó, 33,0% nhiễm nấm Candida sinh dục; 30,0% do lậu cầu; 27,0% viêm âm đạo vi khuẩn; 9,0% trùng roi sinh dục; 8,3% do Chlamydia; 3,0% do Herpes sinh dục; 2,0% giang mai và 1,0% sùi mào gà.

Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có liên quan đến: trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, sử dụng bao cao su đúng cách, uống bia rượu ( p<0,05) Chưa thấy mối liên quan theo độ tuổi.

Từ khóa: các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nấm Candida, viêm âm đạo, lậu.

Abstract

A cross- sectional study was conducted in 646 staffs of entertainment faccilities of Hue city that were checked up at STIs clinic - Thua Thien Hue Center of social diseases control and obstctrics Department of Hue city medical center in year 2008, results: 46,44% staffs infected with gynecological diseases; In there, 33,0% vaginal Candida; 30,6% gonorrhea; 27,1% vaginitis; 8,8 Trichomonas vaginal; 8,2% Chlamydia vaginal; 3,5% vaginal Herpes; 2,8% syphilis and 0,9% genital wart vaginal Sexually transmitted infections rate related to women's factors following:education level, jobs, dancing-girl, bar-girl; condom use correctly; drinking beer, wine; (the difference is statistical significant, p<0,05) There is unrelate by ages.

Key words sexually transmitted diseases, vaginal Candida, vaginitis, gonorrhea.

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ là vấn đề quan trọng của y tế công cộng, nếukhông được phát hiện và điều trị kịp thời thì có thể gây ra những hậu quả như vô sinh, ảnh hưởng chínhtrị, kinh tế, văn hoá, xã hội Thành phố Huế - thành phố Festival, thành phố du lịch, trong những nămgần đây xuất hiện nhiều cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí có những hoạt động mại dâm trá hình, giải phápcan thiệp theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BYT ngày 15/01/2007 của Bộ Y tế về chương trình hành độngphòng, chống các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010, chúng tôi tiến hành đề tài

"Nghiên cứu tình hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ nhân viên của một số cơ sở dịch vụgiải trí tại thành phố Huế năm 2008" với mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ hiện mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục nữ nhân viên của một số cơ sởdịch vụ giải trí (karaoke, massage, cắt tóc nam nữ, nhà hàng) đến phòng khám STI- Trung tâm phòng,chống bệnh xã hội tỉnh và khoa sản- Trung tâm y tế thành phố huế năm 2008

2 Một số yếu tố liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tất cả nữ nhân viên của một số cơ sở dịch vụ giải trí thành phố Huế được đội ngũ đồng đẳng viênĐội công tác mở rộng thành phố Huế đưa đến khám chữa bệnh tại phòng khám STI - Trung tâm

Trang 2

phòng, chống bệnh xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và khoa sản – Trung tâm Y tế thành phố Huế từ01/03/2008 đến 30/11/2008.

Phương pháp nghiên cứu mô tả điều tra ngang

Cở mẫu nghiên cứu:

Tất cả nữ nhân viên của một số cơ sở dịch vụ giải trí thành phố Huế (bao gồm: tiếp viên nhà hàng,massage, cắt tóc nam nữ, karaoke); ước tính có 640 đối tượng

Số liệu nghiên cứu được xử lý theo phần mềm thống kê EPI INFO 6.04

III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1.Tỷ lệ hiện mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bảng 1.Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục SL TL %

Biểu đồ 1 Tỷ lệ mắc các tác nhân

Về tác nhân, tỷ lệ cao nhiễm nấm Candida sinh dục 33,6%; lậu cầu 30,0%; viêm âm đạo do vikhuẩn 27,0%; tỷ lệ thấp nhiễm Herpes sinh dục, giang mai, sùi mào gà, không có nhiễm HIV/AIDS

Tỷ lệ nhiễm lậu 30,0% tương đương nghiên cứu Nguyễn Văn Khanh (2005) tỷ lệ nhiễm lậu 31,8%

ở 125 gái mại dâm tại Hà Nội [6]; cao hơn Võ Doãn Tuấn (2005) tỷ lệ nhiễm lậu 2,50% trong 201 nữnhân viên cơ sở vật lý trị liệu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng [9]

Tỷ lệ nhiễm giang mai 2,0% thấp hơn các tác giả khác, như Nguyễn Văn Khanh( 2005) (8,00%) [6].Nguyễn Vũ Thượng (2004), tỷ lệ nhiễm ở gái mại dâm Lai Châu (14,1%), Quảng Trị (17,0%), ĐồngTháp (9,7%), An Giang (14,1%), Kiên Giang (11,9%) [8]

3.2 Một số yếu tố liên quan

Bảng 2.Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục theo trình độ học vấn

8,2 3,5 2,8

31,9

Nấm Candida

Lậu Viêm ÂĐ do vi khuẩn Trùng roi sinh dục Chlamydia Herpes sinh dục Giang mai Sùi mào gà

Tỷ lệ %

Trang 3

Tỷ lệ mắc CBLTQĐTD ở nữ nhân viên học vấn lớp 10-12 (32,0% ), lớp 6-9 là 48,6%; lớp 1-5 là53,7% và mù chữ là 63,0%; (p< 0,01) Võ Doãn Tuấn (2005) nữ nhân viên có học vấn dưới lớp 3 là34,1%; lớp 4-10 là 16,7% [9].

Bảng 3.Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục theo nghề nghiệp

2=22,32 p<0,01

Bảng 5.Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục theo uống bia, rượu

Bảng 6.Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục theo sử dụng bao cao su

hệ phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục 70,36% [5] Theo Điều tra Quốc gia về vị thành niên

và thanh niên Việt Nam (2003), 98,5% thanh thiếu niên biết rằng dùng bao cao su có thể phòng chốngHIV và các bệnh lây qua đường tình dục [4]

Trang 4

Nữ nhân viên sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ tình dục là biện pháp can thiệp hữuhiệu dự phòng nhiễm HIV, các tác nhân gây mắc CBLTQĐTD ở nữ nhân viên và kế hoạch hoá giađình Hiểu rõ tầm quan trọng và lợi ích sử dụng bao cao su vẫn chưa đủ Việc phòng, chốngHIV/AIDS và phòng mắc CBLTQĐTD là vấn đề quan trọng trong công tác truyền thông cộng đồng,

có một số tác nhân như Herpes sử dụng bao cao su không có tác dụng bảo vệ nếu không che phủ hếtcác vết loét, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn Do đó cần có sự phối hợp, nâng cao chất lượng trongcông tác khám chữa bệnh, quản lý, chăm sóc, điều trị và tư vấn nữ nhân viên phòng chống các bệnhlây nhiễm qua đường tình dục

IV.KẾT LUẬN

1 Tình hình mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Tỷ lệ 46,4% nữ nhân viên ở một số cơ sở dịch vụ giải trí tại thành phố Huế mắc các bệnh lây truyềnqua đường tình dục Trong đó, 33,0% nhiễm nấm Candida sinh dục; 30,0% do lậu cầu; 27,0% do viêm

âm đạo vi khuẩn; trùng roi sinh dục chiếm 9,0%; 8,3% do Chlamydia; 3,0% do Herpes sinh dục; 2,0%giang mai và 1,0% sùi mào gà

2 Một số yếu tố liên quan đến mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có liên quan đến:

-Nữ nhân viên có trình độ học vấn từ lớp 10-12 (32,0%); thấp hơn nữ nhân viên lớp 6-9 (48,6%);lớp 1-5 (53,7%) và mù chữ (63,0%) ; (p <0,01)

- Nữ nhân viên massage (32,5%) thấp hơn nữ nhân viên nhà hàng (37,8%); cắt tóc nam nữ (51,4%);

nữ nhân viên chạy xô karaoke (56,9%); (p<0,01)

- Nữ nhân viên đang có chồng (33,3%) thấp hơn nữ nhân viên chưa có chồng (42,8%); đã từng cóchồng, góa chồng, ly dị ly thân (53,4%); (p<0,01)

- Nữ nhân viên sử dụng bao cao su không đúng cách (65,6%) cao hơn nữ nhân viên sử dụng bao cao

su đúng cách (42,4%); (p<0,01)

- Nữ nhân viên có uống bia rượu (69,8%) cao hơn nữ nhân viên không uống bia rượu (21,9%);(p<0,01)

KIẾN NGHỊ

- Tuyên truyền, chăm sóc và điều trị sớm nữ nhân viên mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

là một nhiệm vụ quan trọng của các ngành, các cấp, các địa phương

- Tăng cường công tác tư vấn, giáo dục - truyền thông cả nữ và nam giới, các đối tượng có hành vinguy cơ cao và khuyến khích sử dụng bao cao su ở nữ nhân viên tại các cơ sở dịch vụ giải trí trongquan hệ tình dục không an toàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2007), Chương trình hành động phòng, chống các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010, Hà Nội, tr 3-6.

2 Bộ Y tế, Ban phòng chống AIDS, Vụ Y tế Dự phòng (2002), "Các vấn đề chung, quản lý các

nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục", Hướng dẫn quản lý, xử trí các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr 7-13.

3 Bộ Y tế, Cục Y tế Dự phòng và Phòng, chống HIV/AIDS (2003), "Bệnh giang mai, bệnh lậu,nhiễm Chlamydia đường sinh dục tiết niệu, bệnh trùng roi đường sinh dục, bệnh nấm Candida đườngsinh dục, viêm âm đạo do vi khuẩn, bệnh hạ cam, bệnh Herpes sinh dục, bệnh sùi mào gà sinh dục,

nhiễm HIV và AIDS", Xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục, Nxb Y học, Hà Nội, tr 9-42.

4 Bộ y tế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (2005),

"Nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về sức khoẻ sinh sản", Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, Hà Nội, tr 54-57.

5 Bùi Thị Chi, Lê Thị Giỏ, Hoàng Thị Tâm (2008), "Tìm hiểu kiến thức thái độ thực hành vàhành vi về sức khoẻ sinh sản tình dục của phụ nữ Thừa Thiên Huế đến tại Trung tâm chăm sóc sức

khoẻ sinh sản năm 2006", Tạp chí Y học thực hành, Hội nghị khoa học kỹ thuật ngành y tế Thừa Thiên Huế lần thứ II năm 2008, ISSN 1859-1663, (596), tr 182-192.

6 Nguyễn Văn Khanh và cộng sự (2005), “Tình hình nhiễm HIV, HCV, HBV, giang mai, lậu cầu

và sử dụng ma tuý ở gái mại dâm tại Hà Nội”, Tạp chí y học thực hành, Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2000-2005, (528+529), tr 359-360.

Trang 5

7 Nguyễn Văn Quý, Trần Thị Ngọc, Trần Thị Nết (2005), "Nghiên cứu các nhiễm khuẩn lây

qua đường tình dục ở phụ nữ mại dâm tại thành phố Huế năm 2005", Tạp chí Y học thực hành, Hội nghị khoa học kỹ thuật ngành y tế Thừa Thiên Huế lần thứ II năm 2008 , ISSN 1859-1663, (596),

tr 119-125

8 Nguyễn Vũ Thượng và cộng sự (2004), “STI/HIV ở phụ nữ mại dâm trước và sau khi triển khai

dự án can thiệp cộng đồng hành động phòng chống HIV/AIDS, 5 tỉnh biên giới Việt Nam,

2002-2004”, Tạp chí y học thực hành, Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn

2000-2005, (528+529), Bộ Y tế, tr 68-70.

9 Võ Doãn Tuấn (2006), “Nghiên cứu tình hình bệnh lây truyền qua đường tình dục của nữ nhân

viên các cơ sở vật lý trị liệu quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại

học Y khoa Huế, tr 5-6, 39-51

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI

VỀ PHÒNG CHỐNG NHIỄM HIV/AIDS TRÊN NGƯỜI DÂN 15 – 49 TUỔI TẠI KHÁNH HÒA

Trương Tấn Minh * Trần Văn Tin, Nguyễn Vũ Quốc Bình **

về HIV/AIDS 88,2% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV 83,6% biết đúng 3 cách phòng lây nhiễm HIV Đa số có thái độ đúng khi vợ/chồng (73,3% dùng BCS khi quan hệ tình dục), bạn bè bị nhiễm HIV (87,3% động viên, an ủi) 8,8% độc thân, chưa có gia đình nhưng đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân, 28,6% chưa bao giờ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục 0,3% có sử dụng ma tuý 3,0% có xăm mình 38,3% biết tại địa phương mình đã triển khai phòng VCT

SUMMARY

The research: “Describe knowledges, attitudes, behaviors about preventing HIV / AIDS on people 15-49 years old in Dien Khanh and Ninh Hoa District, Khanh Hoa Province” was conducted

in Khanh Hoa In order to describe the knowledges, attitudes, behaviors on HIV/AIDS on people

15-49 years old in Dien Khanh and Ninh Hoa districts, since then provide them knowledge about HIV/AIDS and to guide how to prevention HIV transmission themselve Cross-section survey has been implemented with 1040 people 15-49 years old from June to December 2008 They were interviewed The analysis of data was displayed by EPI-INFO 2002 software program This study showed that 97,1% have heard about HIV/AIDS, 88,2% knew three ways to transmit HIV and 83,6% three ways to prevent HIV infection Almost of them were discrimination and stigmatization with the HIV infected persons 8,8% unmarried have had sexual intercourse, 28,6% of them have never used condom when sexual intercourse 0,3% using drugs 3,0% tattooing, 38,3% know exactly there are VCT rooms in district now /.

Trang 6

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây các nỗ lực toàn cầu trong việc ứng phó với đại dịch AIDS đã có nhiều tiến triểnkhả quan, trong đó bao gồm việc gia tăng tiếp cận với các phương pháp điều trị và các chương trình dựphòng có hiệu quả Tuy nhiên cả số người sống với HIV và số người tử vong do AIDS vẫn đang tiếp tụctăng lên Hình thái dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai đoạn dịch tập trung, các trường hợp nhiễmHIV/AIDS chủ yếu tập trung trong nhóm nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, mại dâm

Tại Khánh Hoà trường hợp nhiễm HIV đầu tiên dược phát hiện vào tháng 04/1993 tại Trung tâmphòng chống lạm dụng ma tuý Tỉnh Đến nay dịch HIV/AIDS ở Khánh Hoà đã chuyển sang giai đoạn

II, giai đoạn phát hiện nhiều bệnh nhân AIDS và có người tử vong do AIDS Theo thống kê của Trungtâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đến 31/12/2008 toàn tỉnh đã phát hiện 2210 người nhiễmHIV, 1089 đã tiến triển đến giai đoạn AIDS và đã có 818 người tử vong Nhiễm HIV không còn chỉ ởnhững người nghiện chích ma tuý mà dịch đã lây sang nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ thấp nhưTân binh, vợ/chồng, con của người nhiễm

Trước thực trạng tình hình nhiễm HIV/AIDS của Tỉnh Khánh Hoà như vậy, Nhằm mô tả kiến thức,thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS, trong người dân nhóm tuổi 15 - 49 tại huyện DiênKhánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa, Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “

Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS trên người dân 15 – 49 tuổi tại huyện Diên Khánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hoà “

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

1 Mô tả kiến thức, thái độ và hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS người dân trong nhómtuổi 15 - 49 tại huyện Diên Khánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa

2 Mô tả các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của người dân trong nhóm tuổi 15 - 49 tại huyện DiênKhánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa

3 Đánh giá hiệu quả các nội dung và hình thức truyền thông đang triển khai thực hiện đối vớingười dân trong nhóm tuổi 15 - 49 tại huyện Diên Khánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa

4 So sánh nhận thức về HIV/AIDS của người dân trong nhóm tuổi 15 - 49 tại huyện Diên Khánh

và huyện Ninh Hòa

Từ đó đưa ra những kiến thức kiến nghị nhằm nâng cao ý thức phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng tỉnh Khánh Hoà

II/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Người dân trong độ tuổi 15 - 49 tại huyện Diên Khánh và Ninh Hòa tỉnh Khánh Hoà Thời gianthực hiện 07 tháng (từ tháng 6-2008 đến tháng 12-2008)

Thiết kế nghiên cứu : Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả có phân tích với cuộcđiều tra cắt ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu cho 02 huyện Diên Khánh và Ninh Hòa là 1040người dân trong độ tuổi 15 – 49 Chọn mẫu theo phương pháp mẫu chùm nhiều giai đoạn (multi-stage cluster sampling)

Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu: Điều tra viên gặp từng đối tượng để phỏng vấnbằng bảng hỏi Các phiếu điều tra đều được xử lý thô, loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu, sau đónhập và xử lý phiếu theo chương trình phần mềm EPI-INFO 2002

III/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN:

Bảng 1: Người dân hiểu biết về HIV/AIDS

Trang 7

Kết quả bảng 1 cho thấy 97,7% đối tượng nghiên cứu tại Diên Khánh, 96,5% ở Ninh Hòa đã đượcnghe, biết về HIV/AIDS.

Nguồn nhận thông tin nhiều nhất của các đối tượng nghiên cứu về HIV/AIDS là qua tivi, tại DiênKhánh là 94,3% và Ninh Hòa là 98,8%

Bảng 2: Người dân biết các đường lây truyền HIV

Nhận thức về đường lây truyền HIV

Dùng chung các vật dùng sinh hoạt 434 89,5 471 92,7 905 91,1

93,3% đối tượng nghiên cứu huyện Diên Khánh và 97,7% huyện Ninh Hòa biết đúng có thể phònglây truyền HIV từ người này sang người khác

Tại Diên Khánh 87,0% đối tượng nghiên cứu đã biết đúng cả 3 đường lây tuyền HIV, tại Ninh Hòa

tỷ lệ này là 89,4% biết đúng cả 3 đường lây tuyền HIV

HIV có thể lây truyền khi dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích là đường lây truyền các đốitượng nghiên cứu biết nhiều nhất, tại huyện Ninh Hòa và Diên Khánh 98,4% đối tượng nghiên cứu đãbiết đúng về con đường này có thể lây truyền HIV

Có đến 39,6% đối tượng nghiên cứu tại Ninh Hòa cho rằng muỗi đốt có thể lây truyền HIV, 12,6%đối tượng nghiên cứu tại Diên Khánh lại cho rằng HIV có thể lây truyền qua các giao tiếp thông thường

Bảng 3: Người dân biết cách phòng lây truyền HIV

Cách phòng nhiễm HIV nDiên Khánh% nNinh Hòa% nTổng cộng%

Bảng 4: Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV

Thái độ đối với người nhiễm

Trang 8

73,3% đối tượng nghiên cứu dùng bao cao su khi quan hệ tình dục khi vợ/chồng mình bị nhiễmHIV/AIDS Vẫn còn 8,9% ly hôn, ly thân khi biết vợ/chồng mình bị nhiễm HIV/AIDS

87,3% đối tượng nghiên cứu sẽ động viên, an ủi khi bạn mình bị nhiễm HIV/AIDS, vẫn còn 8,0%

xa lánh, tránh tiếp xúc hoặc đưa bạn mình đi ở riêng một nơi khác khi biết bạn mình bị nhiễmHIV/AIDS

60,9% đối tượng nghiên cứu không đồng ý quan điểm người nhiễm HIV/AIDS vẫn lập gia đình, khingười nữ bị nhiễm HIV/AIDS, 67,8% khuyên người nữ nhiễm không nên sinh con và 37,6% khuyênngười nữ nhiễm đến phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện để được tư vấn về HIV/AIDS

Bảng 4: Hành vi QHTD của đối tượng nghiên cứu

Lịch sử quan hệ tình dục Diên Khánh Ninh Hòa Tổng cộng

SD BCS khi QHTD trước hôn

Kết quả nghiên cứu theo các khu vực:

Tại thành thị 96,0% đối tượng nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS, trong khi đó vùng nôngthôn có đến 97,2%, khu vực miền núi 99,4% đối tượng nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS

99,4% đối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi, 98,1% tại khu vực nông thôn biết HIV có lâytruyền từ người này qua người khác Trong khi đó tại thành thị chỉ có 90,7% biết HIV có lây truyền từngười này qua người khác

Biết đúng về cả 03 đường lây truyền, cũng như trên, tại khu vực thành thị (chiếm 84,8%) thấp hơnvùng nông thôn (Chiếm 88,9%) và khu vực miền núi (Chiếm 93,6%)

98,1% đối tượng nghiên cứu tại thành thị cho rằng có khả năng lây truyền HIV khi sử dụng chungbơm kim tiêm khi tiêm chích, vùng nông thôn 98,3% đồng ý, tại khu vực miền núi thì có đến 99,4%đối tượng nghiên cứu cho rằng HIV có thể lây truyền qua đường này

87,8% đối tượng nghiên cứu tại thành thị cho rằng có khả năng HIV lây truyền khi quan hệ tình dụckhông dùng bao cao su, vùng nông thôn 93,5% đồng ý, tại khu vực miền núi thì có đến 97,1% đốitượng nghiên cứu cho rằng HIV có thể lây truyền qua đường này

98,1% đối tượng nghiên cứu tại thành thị cho rằng có khả năng HIV lây truyền từ mẹ bị nhiễm sangcon, vùng nông thôn 91,9% đồng ý, tại khu vực miền núi thì 96,0% đối tượng nghiên cứu cho rằngHIV có thể lây truyền từ mẹ sang con khi mẹ đã bị nhiễm HIV

Vẫn còn 34,4% đối tượng nghiên cứu ở vùng nông thôn cho rằng muỗi đốt có thể lây truyền HIV,26,3% ở thành thị và 21,4% đối tượng nghiên cứu ở khu vực miền núi cho rằng muỗi đốt có thể lâytruyền HIV

5,3% đối tượng nghiên cứu ở thành thị cho rằng HIV có thể lây qua các giao tiếp thông thường.8,7% đối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi và 13,7% vùng nông thôn cho rằng HIV có thể lâyqua các giao tiếp thông thường

96,7% đối tượng nghiên cứu tại thành thị biết có thể phòng lây truyền HIV từ người này sang ngườikhác Tại khu vực miền núi có đến 99,4% biết đúng có thể phòng lây truyền HIV, tuy nhiên tại vùngnông thôn chỉ có 92,9% đối tượng nghiên cứu tại thành thị biết có thể phòng lây truyền HIV từ ngườinày sang người khác

Trang 9

87,3% đối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi biết đúng cả 03 cách phòng lây truyền HIV từngười này sang người khác, Thành thị có 86,2% và vùng nông thôn chỉ có 79,8% đối tượng nghiên cứubiết đúng cả 03 cách phòng lây truyền HIV từ người này sang người khác.

Cách phòng lây truyền các đối tượng biết nhiều nhất là không dùng bơm kim tiêm chung khi tiêmchích, thành thị có 99,7%, nông thôn 99,1% và tại khu vực miền núi có 98,3% biết đúng không dùngbơm kim tiêm chung khi tiêm chích có thể phòng lây truyền HIV từ người này sang người khác

31,2% đối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi cho rằng nằm màn tránh muỗi đốt có thể lâytruyền HIV, vùng nông thôn tỷ lệ này là 26,7% và thành thị cũng vẫn có đến 20,5% đối tượng nghiêncứu cho rằng nằm màn tránh muỗi đốt có thể lây truyền HIV

40,9% đối tượng nghiên cứu vùng nông thôn cho rằng không sống chung với người nhiễmHIV/AIDS thì có thể phòng lây truyền HIV từ người này sang người khác

7,7% đối tượng nghiên cứu ở vùng nông thôn cho rằng chỉ cần nhìn bên ngoài có thể biết đượcngười đó có bị nhiễm HIV hay không Có đến 41,5% đối tượng nghiên cứu ở thành thị không biết lànhìn bên ngoài có thể biết được người đó có bị nhiễm HIV hay không, tỷ lệ này lên đến 48,3% ở cácđối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi

Kết quả nghiên cứu theo nhóm dân tộc:

97,1% đối tượng nghiên cứu người dân tộcKinhđã từng nghe, biết về HIV/AIDS, các dân tộc khácchỉ có 96,8% đã được nghe, biết về HIV/AIDS

Người Kinh nhận được thông tin về HIV/AIDS qua tivi rất cao (Chiếm 96,8%) 93,3% người dântộc khác đã nhận thông tin qua đài phát thanh, radio

Qua cán bộ y tế người dân tộc khác có đến 76,7% nhận được thông tin về HIV/AIDS, tỷ lệ này chỉ

có 37,3% ở người dân tộc Kinh

95,4% người dân tộc Kinh biết HIV có lây truyền từ người này qua người khác Người dân tộc khác

100,0% người dân tộc khác cho rằng có khả năng HIV lây truyền khi quan hệ tình dục không dùngbao cao su, nhóm dân tộc Kinh tỷ lệ này chỉ chiếm 91,8%

96,7% đối tượng nghiên cứu người dân tộc khác cho rằng có khả năng HIV lây truyền từ mẹ bịnhiễm sang con, còn dân tộc Kinh tỷ lệ này chỉ có 94,8%

Vẫn còn 53,3% đối tượng nghiên cứu người dân tộc khác cho rằng muỗi đốt có thể lây truyền HIV

Tỷ lệ rất cao đối tượng nghiên cứu cho rằng HIV có thể lây qua các giao tiếp thông thường, 96,7%người dân tộc Kinh và 90,0% người dân tộc khác đã cho rằng HIV có thể lây qua các giao tiếp thôngthường

95,47% người dân tộc Kinh, 96,8% người dân tộc khác biết có thể phòng lây truyền HIV từ ngườinày sang người khác

Người dân tộc khác, có đến 86,7% biết đúng cả 03 cách phòng lây truyền HIV từ người này sangngười khác, người dân tộc Kinh tỷ lệ này chỉ có 83,5%

Cách phòng lây truyền các đối tượng biết nhiều nhất là không dùng bơm kim tiêm chung khi tiêmchích, có

99,2% người dân tộc Kinh, 100,0% người dân tộc khác biết đúng có thể phòng lây truyền HIV khikhông dùng chung bơm kim tiêm chung

Đáng lưu ý, 24,3% người dân tộc Kinh, 50,0% người dân tộc khác cho rằng nằm màn tránh muỗiđốt có thể lây truyền HIV

23,9% người dân tộc Kinh và 10,0% người dân tộc khác cho rằng không sống chung với ngườinhiễm HIV/AIDS thì có thể phòng lây truyền HIV từ người này sang người khác

5,8% người dân tộc Kinh và 51,6% người dân tộc khác cho rằng chỉ cần nhìn bên ngoài có thể biếtđược người đó có bị nhiễm HIV hay không

KẾT LUẬN

Trang 10

97,7% đối tượng nghiên cứu tại Diên Khánh, 96,5% ở Ninh Hòa đã được nghe, biết về HIV/AIDS.Tivi là kênh nhận được thông tin nhiều nhất

93,3% đối tượng nghiên cứu huyện Diên Khánh và 97,7% huyện Ninh Hòa biết đúng có thể phònglây truyền HIV từ người này sang người khác

94,4% đối tượng nghiên cứu huyện Diên Khánh và 96,5% huyện Ninh Hòa biết đúng có thể phònglây truyền HIV từ người này sang người khác

87,3% đối tượng nghiên cứu sẽ động viên, an ủi khi bạn mình bị nhiễm HIV/AIDS, vẫn còn 8,0%

xa lánh, tránh tiếp xúc hoặc đưa bạn mình đi ở riêng một nơi khác khi biết bạn mình bị nhiễmHIV/AIDS

63,8% đối tượng nghiên cứu đã có quan hệ tình dục, trong số họ có đến 41,1% chưa bao giờ sửdụng bao cao su khi quan hệ tình dục

8,8% đối tượng nghiên cứu mặc dù là độc thân nhưng đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân Điềuđáng quan tâm là có đến 28,6% quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng không sử dụng bao cao su khiquan hệ tình dục

Tại thành thị 96,0% đối tượng nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS, trong khi đó vùng nôngthôn có đến 97,2%, khu vực miền núi 99,4% đối tượng nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS

99,4% đối tượng nghiên cứu tại khu vực miền núi, 98,1% tại khu vực nông thôn biết HIV có lâytruyền từ người này qua người khác Trong khi đó tại thành thị chỉ có 90,7% biết HIV có lây truyền từngười này qua người khác

96,7% đối tượng nghiên cứu tại thành thị biết có thể phòng lây truyền HIV từ người này sang ngườikhác Tại khu vực miền núi có đến 99,4% biết đúng có thể phòng lây truyền HIV, tuy nhiên tại vùngnông thôn chỉ có 92,9% đối tượng nghiên cứu tại thành thị biết có thể phòng lây truyền HIV từ ngườinày sang người khác

97,1% đối tượng nghiên cứu người dân tộc Kinh đã từng nghe, biết về HIV/AIDS, các dân tộc khácchỉ có 96,8% đã được nghe, biết về HIV/AIDS

Người Kinh nhận được thông tin về HIV/AIDS qua tivi rất cao (Chiếm 96,8%) 93,3% người dântộc khác đã nhận thông tin qua đài phát thanh, radio

95,4% người dân tộc Kinh biết HIV có lây truyền từ người này qua người khác người dân tộc khác

tỷ lệ này là 96,8%

95,47% người dân tộc kinh, 96,8% người dân tộc khác biết có thể phòng lây truyền HIV từ ngườinày sang người khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Huy Giang, Nguyễn Đình Đáng và CS (2000), “ Một số nhận xét về kiến thức, hành vi của

thanh niên Thái Bình về phòng chống HIV/AIDS ”, Y học thực hành-Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS từ năm 1997-1999

2 Nguyễn Thị Kim Tiến, (2003)“ Hiểu biết của học sinh, sinh viên về ma túy, HIV/STI và các hành

vi có liên quan tại một tỉnh đồng bằng sông cửu long ”

3 Nguyễn Trần Hiển, (2005) “Hành vi tình dục của nhóm nam thanh niên tuổi từ 16 - 29 có sử dụng ma tuý tại Hà Nội năm 2005 ”

4 Võ Minh Phúc (2000), “ Khảo sát kiến thức, thái độ, lòng tin và thực hành (KABP) về AIDS của

học sinh cấp III tỉnh Bạc Liêu ”, Y học thực hành-Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS

từ năm 1997-1999

5 Trường Đại Học Y Hà Nội (1998), “ Nghiên cứu ngang “, Phương pháp nghiên cứu khoa học.

6 AEGILE FER NANDEZ, ALI REMMELTS, IVAN WOLFFERS ET AL (1997), “ HIV/AIDS

knowledge of Philippines housemaids in Malaysia“, 4 th international congress on AIDS inAsia and the Pacific, October 25-29.

7 Christina P.Linda, Peter Lurie, Jeffrey S.Mandel et al (1997), Rising HIV infection rates in Ho Chi Minh City herald emerging AIDS epidemic in Vietnam, Viet Nam

8 ZHOU BAIPING, WU QIKAI, XU LIUMEL (1997), “ Survey on knowledge and attitude

among high school students in Shenzhen, P R China ”, 4 th international congress on AIDS inAsia and the Pacific, October 25-29.

Trang 11

ĐIỀU TRA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI

VỀ PHÒNG CHỐNG NHIỄM HIV/AIDS

VÀ ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NHIỄM HIV/AIDS TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI KHÁNH HÒA

Trương Tấn Minh * Trần Văn Tin, Nguyễn Vũ Quốc Bình, Trần Thị Kim Dung **

ra những kiến nghị nhằm nâng cao ý thức phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong nhóm có hành vi nguy

cơ cao tại địa phương Tiến hành điều tra trong vòng 6 tháng (từ tháng 7/2008 đến tháng 12-2008) Đối tượng nghiên cứu gồm 450 người Tiến hành phỏng vấn ghi bảng vấn lục và lấy máu xét nghiệm HIV Số liệu được phân tích và xử lý trên phần mềm EPI-INF0 2002 Kết quả thu được: 100,0% đối tượng nghiên cứu đã được nghe, biết về HIV/AIDS 97,6% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV; 96,4% biết đúng 3 cách phòng lây nhiễm HIV Đa số có thái độ đúng khi vợ/chồng (87,8% dùng BCS khi quan hệ tình dục), bạn bè bị nhiễm HIV (92,4% động viên, ủi) 74,7% độc thân, chưa có gia đình nhưng đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân 53,8% sử dụng ma túy khi chưa đến 20 tuổi Có 10,0% đối tượng nghiên cứu đã từng sử dụng BKT người khác đã dùng trong 6 tháng vừa qua Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu là 12,8%.

SUMMARY

The research: “Investigate the Knowledge, Attitudes, Behaviors about HIV/AIDS and evaluation

of HIV/AIDS in the IDU group in Khanh Hoa province” was conducted in Khanh Hoa In order to

describe the knowledge, attitudes, behaviors about HIV/AIDS and assessment rate of HIV / AIDS in the IDU groups in the province , after there to provide them knowledge about HIV/AIDS and to guide how

to prevention HIV transmission themselve Cross-section survey has been implemented with 450 IDUs from July to December 2008 They were interviewed The analysis of data was displayed by EPI-INFO

2002 software program This study showed that 100,0% have heard about HIV/AIDS, 97,6% knew three ways to transmit HIV and 96,4% three ways to prevent HIV infection Almost all of them had correct attitude when their wives/husbands (87.8% used condom when having sex) and friends infected with HIV (92.4% encouraged and consoled) 74,7% unmarried have had sexual intercourse, 53.8% had never used condom when having sex 13.3% had ever used needles and syringes that the other used in the last six months, 3.3% of them cleaned needles and syringes correctly when sharing.

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Mỗi năm trên toàn quốc phát hiện được trên 10.000 trường hợp nhiễm HIV Mặc dù đã có nhiều cốgắng trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS những đến nay dịch HIV vẫn chưa có dấu hiệu dừnglại Hình thái dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai đoạn dịch tập trung, các trường hợp nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung trong nhóm nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, mại dâm

Tại Khánh Hoà trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 04/1993 tại Trung tâmphòng chống lạm dụng ma tuý Tỉnh Đến nay dịch HIV/AIDS ở Khánh Hoà đã chuyển sang giai đoạn

II, giai đoạn phát hiện nhiều bệnh nhân AIDS và có người tử vong do AIDS Theo thống kê của Trungtâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đến 31/12/2008 toàn tỉnh đã phát hiện 2210 người nhiễmHIV, 1089 đã tiến triển đến giai đoạn AIDS và đã có 818 người tử vong Nhiễm HIV không còn chỉ ởnhững người nghiện chích ma tuý mà dịch đã lây sang nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ thấp nhưtân binh, vợ/chồng, con của người nhiễm

Trước thực trạng tình hình nhiễm HIV/AIDS của Tỉnh Khánh Hoà như vậy, nhằm đánh giá kiến thức,thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS nhóm đối tượng nghiện chích ma túy tại cộng đồng

tỉnh Khánh Hòa, Sở y tế tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Điều tra kiến thức,

Trang 12

thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS và đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nghiện chích ma túy tại tỉnh Khánh Hòa”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ và hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS/STI trên nhóm có hành vinguy cơ cao tại tỉnh Khánh Hòa

2 Đánh giá hiệu quả các nội dung và hình thức truyền thông phòng lây nhiễm HIV/AIDS/STI đangtriển khai thực hiện đối với nhóm có hành vi nguy cơ cao tại tỉnh Khánh Hòa

3 Mô tả các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV và bệnh LTQĐTD trên nhóm có hành vi nguy cơ caotại tỉnh Khánh Hòa

4 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm có hành vi nguy cơ cao tại tỉnh Khánh Hòa

II/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Người nghiện chích ma túy tại các huyện, thị, thành phố tỉnh Khánh Hòa Thời gian thực hiện 06tháng (từ tháng 7-2008 đến tháng 12-2008)

Thiết kế nghiên cứu : Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả có phân tích với cuộcđiều tra cắt ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu là 450 người Chọn mẫu theo phương pháp mẫu chùmnhiều giai đoạn (multi-stage cluster sampling)

Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu: Điều tra viên gặp từng đối tượng để phỏng vấnbằng bảng hỏi và tiến hành lấy máu xét nghiệm HIV Các phiếu điều tra đều được xử lý thô, loại bỏcác phiếu không đạt yêu cầu, sau đó nhập và xử lý phiếu theo chương trình phần mềm EPI-INFO

2002

III/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN:

Bảng 1: Nghe, biết về HIV/AIDS

Nguồn nhận thông tin về HIV/AIDS

100,0% đối tượng trong nhóm nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS, kiến thức về HIV/AIDS họ

có được chủ yếu nhận qua các kênh truyền thông là Tivi, Đài, báo, tạp chí Thông tin họ nhận nhiềunhất qua tivi và qua nghe truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ (Chiếm tỷ lệ 79,1%) Các kênh truyền thôngHIV/AIDS ngày càng phong phú, đa dạng, qua cán bộ y tế, tiếp cận tờ rơi, áp phích, pano đối tượngnghiên cứu đã nhận được nhiều thông tin về HIV/AIDS

Bảng 2: Biết các đường lây truyền HIV.

Nhận thức về đường lây truyền

Trang 13

Nhận thức về đường không lây truyền

100,0% số đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu biết HIV có thể lây truyền từ người này quangười khác Trong số họ 97,6% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV qua đó là qua đường máu, quan hệtình dục và mẹ nhiễm HIV truyền cho con Tất cả 100,0% biết đúng ít nhất một đường lây truyền HIV,lây truyền qua đường máu được nhiều đối tượng nghiên cứu biết nhất (99,6%), 99,1% biết HIV có thểlây truyền qua đường quan hệ tình dục và 98,0% biết HIV có thể do mẹ bị nhiễm truyền cho con Điềurất mừng, khẳng định hiệu quả của công tác thông tin giáo dục truyền thông phòng lây nhiễm HIV/AIDSđang triển khai tại Khánh Hòa là không có người nghiện chích ma túy nào trong nhóm nghiên cứu khôngbiết hoặc biết sai về các đường lây truyền HIV

Hơn 80,0% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu đã biết đúng các đường không lây truyềnHIV, tuy nhiên vẫn còn đến 11,8% không biết hoặc biết sai rằng muỗi đốt vẫn có thể lây truyền HIV,đặc biệt một kiến thức rất cơ bản về HIV/AIDS nhưng có đến 3,8% đối tượng nghiên cứu lại khôngnắm rõ, họ hoàn toàn không biết hoặc cho rằng HIV có thể lây qua các giao tiếp thông thường hàngngày như bắt tay, ôm hôn

Bảng 3: Biết các cách phòng lây nhiễm HIV

100,0% người nghiện chích ma túy trong nhóm nghiên cứu biết HIV có thể phòng tránh lây nhiễm

từ người này sang người khác Trong số họ 96,4% biết đúng cả 3 cách phòng lây nhiễm HIV, 99,8%biết đúng ít nhất một cách phòng nhiễm HIV, 99,3% biết đúng dùng bao cao su khi quan hệ tình dục

có thể phòng nhiễm HIV, liên quan đến hành vi nguy cơ mà đối tượng nghiên cứu có thể thực hiện,99,8% biết đúng không dùng chung bơm kim tiêm để phòng nhiễm HIV và 96,4% biết đúng nguời mẹnhiễm HIV không nên mang thai, sinh con để phòng lây nhiễm cho con Chỉ có 0,2% hoàn toàn khôngbiết hoặc biết sai về các cách phòng tránh lây nhiễm HIV từ người này sang người khác

Tuy nhiên vẫn còn 9,1% đối tượng nghiên cứu cho rằng nằm màn tránh muỗi đốt có thể phòng lâytruyền HIV từ người này qua người khác và 9,3% phòng lây nhiễm HIV bằng cách không sống chungvới người nhiễm HIV/AIDS

30,4% đối tượng nghiên cứu có hiểu biết về điều trị thay thế bằng methadone, Trong số họ 81,0%biết được lợi ích của phương pháp này là uống, không tiêm, chính điều này đã làm giảm sự lây truyềnHIV qua đường máu do tiêm chích ma túy, 67,2% cho rằng dùng methadone sẽ giảm tái nghiện và51,8% biết răng Methadone rẽ tiền hơn so với tiêm chích Heroin hiện nay của đối tượng

Trang 14

Bảng 4: Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV/AIDS

Khi vơ/chồng bị nhiễm HIV

Có đến 74,7% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu còn độc thân, chưa có gia đình nhưng

đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân 2,5% đã quan hệ tình dục lần đầu tiên khi chưa đến 18 tuổi.Trong 6 tháng qua, khi quan hệ tình dục có đến 12,9% số đối tượng nghiên cứu không sử dụng baocao su

Bảng 6: Tuổi lần đầu sử dụng ma túy

Trang 15

Bảng 10: Số đối tượng chuyển từ hút, hít sang tiêm chích

Trang 16

50,0% đối tượng nghiên cứu đã chuyển từ hút, hít sang tiêm chích 4,9% chuyển sang tiêm chíchchưa đầy 1 năm 15,6% đối tượng nghiên cứu sau hơn 10 năm hút, hít mới chuyển sang tiêm chích

Lý do chuyển sang tiêm chích 52,9% đối tượng nghiên cứu cho rằn là vì tiêm chích rẻ hơn cho vớihút, hít 49,8% cho rằng khi tiêm chích cảm hứng sẽ nhanh hơn và 40,4% cho rằn tiếp tục hút, hít cảmgiác không đủ phê nên phải chuyển sang đừng chích cho phê hơn

Bảng 11: Số lần tiêm chích ma túy trong 01 ngày

Số lần tiêm chích ma túy hiện tại trong 01 ngày Số người Tỷ lệ %

Bảng 14: Mối liên quan vê giới tính, nhóm tuổi, trình độ văn hoá của đối tượng nghiên cứu trong

nhóm nhiễm HIV và không nhiễm HIV

Trang 17

tỷ lệ 67,9% Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu là 29 tuổi.66,1% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu nhiễm HIV trình độ văn hóa chỉ từ lớp 9 trở xuống

Có sự khác biệt giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV và nhóm không phát hiện nhiễmHIV về giới tính, nhóm tuổi ( P < 0,05)

Không có sự khác biệt giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV và nhóm không phát hiệnnhiễm HIV về trình độ văn hoá ( P > 0,05)

Bảng 15: Mối liên quan về tình trạng hôn nhân và thời gian tiêm chích của đối tượng nghiên cứu

trong nhóm nhiễm HIV và không nhiễm HIV

78,6% người nhiễm HIV phát hiện được đã tiêm chích ma túy hơn 4 năm

Có sự khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê về thời gian tiêm chích ma túy giữa hai nhóm đối tượngnghiên cứu bị nhiễm HIV và nhóm không phát hiện nhiễm HIV (P < 0,05 )

IV/ KẾT LUẬN:

100,0% đối tượng nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS 100,0% biết HIV có thể lây truyền từngười này qua người khác 97,6% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV 100,0% đối tượng nghiên cứubiết HIV có thể phòng tránh lây nhiễm từ người này sang người khác 96,4% biết đúng cả 3 cáchphòng lây nhiễm HIV

30,4% đối tượng nghiên cứu có hiểu biêt về điều trị thay thế bằng methadone, 81,0% biết được lợiích của phương pháp này là uống, không tiêm 67,2% cho rằng dùng methadone sẽ giảm tái nghiện.87,8% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu có thái độ đúng khi vợ/chồng mình bị nhiễmHIV/AIDS 92,4% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu động viên, an ủi nếu bạn thân mình bịnhiễm HIV

74,7% đối tượng nghiên cứu còn độc thân nhưng đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân 2,5% đãquan hệ tình dục lần đầu tiên khi chưa đến 18 tuổi Trong 6 tháng qua, khi quan hệ tình dục có đến12,9% không sử dụng bao cao su

53,8% đối tượng nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng ma túy khi chưa đến 20 tuổi 69,6% đối tượngnghiên cứu sử dụng ma túy là do bạn bè rủ rê, 36,7% trải qua giai đoạn hút trước rồi mới chuyển sangtiêm chích 14,7% đối tượng nghiên cứu đã sử dụng ma túy hơn 10 năm 29,6% tiêm chích 2 lần trongngày 10,0% trong 6 tháng vừa qua vẫn dùng chung bơm kim tiêm người khác đã sử dụng

36,9% đối tượng nghiên cứu đã từng xăm mình 36,7% đã dùng chung dụng cụ khi xăm mình.45,9% không làm sạch dụng cụ khi xăm mình

Trang 18

Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 12,8% 67,9% ở nhóm tuổi 20 – 29 66,1%nhiễm HIV trình độ văn hóa chỉ từ lớp 9 trở xuống 50,0% người nhiễm HIV còn độc thân chưa có giađình 78,6% người nhiễm HIV phát hiện được đã tiêm chích ma túy hơn 4 năm 100,0% đều biết đúng

3 đường lây và cách phòng lây nhiễm từ người này qua người khác 4,9% đối tượng nghiên cứu trongnhóm nhiễm HIV chưa bao giờ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục 12,5% đối tượng nghiên cứutrong nhóm nhiễm HIV đã dùng chung bơm kim tiêmkhi tiêm chích ma túy 45,5% đã từng dùngchung dụng cụ khi xăm mình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đinh Sỹ Hiền, Đỗ Thái Hùng (1996), Nhận định hoạt động TGT phòng chống HIV/AIDS qua phân tích kết quả các cuộc điều tra KABP năm 1995 – 1996 ở miền Trung, Khánh Hoà.

2 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa (2009), Báo cáo hoạt động phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa năm 2008 và kế hoạch hành động năm 2009 Khánh Hòa

3 Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng Thành Phố Hồ Chí Minh (1998), Phương pháp thống kê dịch tễ học và phần mềm EPI-INFO 6.04, Thành Phố Hồ Chí Minh.

4 Vũ Thị Minh Hạnh và CS (2000), “ Nhận thức, thái độ, lòng tin và thực hành của các nhóm dân

cư tại 3 tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Cần Thôư đối với việc phòng chống HIV/AIDS ”, Y học thực hành-Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS từ năm 1997-1999.

5 Christina P.Linda, Peter Lurie, Jeffrey S.Mandel et al (1997), Rising HIV infection rates in Ho Chi Minh City herald emerging AIDS epidemic in Vietnam, Viet Nam

6 WHO (1999), STI, HIV/AIDS Surveillance report, Manila.

ĐIỀU TRA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS VÀ ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NHIỄM HIV/AIDS TRÊN

NHÓM GÁI MẠI DÂM TẠI KHÁNH HÒA

Trương Tấn Minh * Trần Văn Tin, Nguyễn Vũ Quốc Bình, Trần Thị Kim Dung **

* Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa.

** Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu khoa học:"Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS

và đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên nhóm gái mại dâm tại Khánh Hòa" được thực hiện tại tỉnh Khánh Hoà Với mục đích mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống HIV/AIDS AIDS và đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm gái mại dâm tại tỉnh Khánh Hoà từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao ý thức phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong nhóm gái mại dâm tại địa phương Tiến hành điều tra trong vòng 6 tháng (từ tháng 7/2008 đến tháng 12-2008) Đối tượng nghiên cứu gồm

470 người Số liệu được phân tích và xử lý trên phần mềm EPI-INF0 2002 Kết quả thu được: 100,0% đối tượng nghiên cứu đã được nghe, biết về HIV/AIDS 95,5% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV 93,0% biết đúng 3 cách phòng lây nhiễm HIV 86,8% dùng BCS khi quan hệ tình dục khi chồng bị nhiễm HIV và 93,4% động viên, an ủi khi bạn bè bị nhiễm HIV 100,0 gái mại dâm sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục trong 6 tháng qua Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu là 1,1%.

SUMMARY

The research:” Description the Knowledge, Attitude, Behavior about HIV/AIDS and evaluation of HIV/AIDS in the FSWs group in Khanh Hoa province” was conducted in Khanh Hoa In order to describe the knowledge, attitude, behavior about HIV/AIDS, after there to provide them knowledge about HIV/AIDS and to guide how to prevention HIV transmission themselve Cross-section survey has been implemented with 470 FSWs from July to December 2008 They were interviewed The analysis of data was displayed by EPI-INFO 2002 software program This study showed that 100,0% have heard about HIV/AIDS, 95,5% knew three ways to transmit HIV and 93,0% three ways to prevent HIV infection Almost of them were discrimination and stigmatization with the HIV infected persons 86.8% used condom when having sex with HIV-infected husbands and 93.4% encouraged friends who infected with HIV 100.0% of FSWs always use condom when having sex in the last six months HIV prevalence in the study group is 1.1%

Trang 19

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ những trượng hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên phát hiện tại Việt nam, mặc dù đã có nhiều cốgắng trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS những đến nay dịch HIV vẫn chưa có dấu hiệu dừnglại Hình thái dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai đoạn dịch tập trung, các trường hợp nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung trong nhóm nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, mại dâm

Tại Khánh Hoà trường hợp nhiễm HIV đầu tiên dược phát hiện vào tháng 04/1993 tại Trung tâmphòng chống lạm dụng ma tuý Tỉnh Đến nay dịchHIV/AIDS ở Khánh Hoà đã chuyển sang giai đoạn

II, giai đoạn phát hiện nhiều bệnh nhân AIDS và có người tử vong do AIDS Theo thống kê của Trungtâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đến 31/12/2008 toàn tỉnh đã phát hiện 2210 người nhiễmHIV, 1089 đã tiến triển đến giai đoạn AIDS và đã có 818 người tử vong Nhiễm HIV không còn chỉ ởnhững người nghiện chích ma tuý mà dịch đã lây sang nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ thấp nhưTân binh, vợ/chồng, con của người nhiễm

Trước thực trạng tình hình nhiễm HIV/AIDS của Tỉnh Khánh Hoà như vậy, nhằm đánh giá kiếnthức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS nhóm đối tượng nghiện chích ma túy tại cộng

đồng tỉnh Khánh Hòa, Sở y tế tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS và đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm gái mại dâm tại tỉnh Khánh Hòa”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ và hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS/STI trên nhóm gái mạidâm tại tỉnh Khánh Hòa

2 Đánh giá hiệu quả các nội dung và hình thức truyền thông phòng lây nhiễm HIV/AIDS/STI đangtriển khai thực hiện đối với nhóm gái mại dâm tại tỉnh Khánh Hòa

3 Mô tả các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV và bệnh LTQĐTD trên nhóm gái mại dâm tại tỉnhKhánh Hòa

4 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV và Giang mai trên nhóm gái mại dâm tại tỉnh Khánh Hòa

Từ đó đưa ra những kiến thức kiến nghị nhằm nâng cao ý thức phòng chống nhiễm HIV/AIDS và đề xuất mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS/STI phù hợp cho nhóm gái mại dâm tại tỉnh Khánh Hòa

II/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Gái mại dâm tại các huyện, thị, thành phố tỉnh Khánh Hòa Thời gian thực hiện 06 tháng (từ tháng7-2008 đến tháng 12-2008)

Thiết kế nghiên cứu : Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả có phân tích với cuộc

điều tra cắt ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu là 470 người Chọn mẫu theo phương pháp mẫu

chùm nhiều giai đoạn (multi-stage cluster sampling)

Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu: Điều tra viên gặp từng đối tượng để phỏng vấn

bằng bảng hỏi và tiến hành lấy máu xét nghiệm HIV Các phiếu điều tra đều được xử lý thô, loại bỏ cácphiếu không đạt yêu cầu, sau đó nhập và xử lý phiếu theo chương trình phần mềm EPI-INFO 2002

III/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN:

Bảng 1: Nghe, biết về HIV/AIDS

Nguồn nhận thông tin về HIV/AIDS

Trang 20

100,0% đối tượng trong nhóm nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS, kiến thức về HIV/AIDS họ

có được chủ yếu nhận qua các kênh truyền thông là Tivi, Đài, báo, tạp chí Thông tin họ nhận nhiềunhất qua nghe truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ (Chiếm tỷ lệ 83,8%) và qua tivi chiếm tỷ lệ 78,9% Cáckênh truyền thông HIV/AIDS ngày càng phong phú, đa dạng nên thông tin về HIV/AIDS đã đến vớiđối tượng nghiên cứu ngày càng nhiều hơn, qua cán bộ y tế, tiếp cận tờ rơi, áp phích, pano đối tượngnghiên cứu đã nhận được nhiều thông tin về HIV/AIDS

Bảng 2: Biết các đường lây truyền HIV.

Nhận thức về đường lây truyền

Nhận thức cụ thể về đường lây truyền

Nhận thức về đường không lây truyền

100,0% số đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu biết HIV có thể lây truyền từ người nàyqua người khác Trong số họ 95,5% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV qua đó là qua đường máu,quan hệ tình dục và mẹ nhiễm HIV truyền cho con Lây truyền qua đường máu được nhiều đối tượngnghiên cứu biết nhất (98,7%), 98,1% biết HIV có thể lây truyền qua đường quan hệ tình dục và 97,4%biết HIV có thể do mẹ bị nhiễm truyền cho con

Hơn 79,0% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu đã biết đúng các đường không lây truyềnHIV, tuy nhiên vẫn còn đến 20,6% không biết hoặc biết sai rằng muỗi đốt vẫn có thể lây truyền HIV,đặc biệt một kiến thức rất cơ bản về HIV/AIDS nhưng có đến 3,2% đối tượng nghiên cứu lại khôngnắm rõ, họ hoàn toàn không biết hoặc cho rằng HIV có thể lây qua các giao tiếp thông thường hàngngày như bắt tay, ôm hôn

Bảng 3: Biết các cách phòng lây nhiễm HIV

Trang 21

Tuy nhiên vẫn còn đến 20,9% đối tượng nghiên cứu cho rằng nằm màn tránh muỗi đốt có thể hònglây truyền HIV từ người này qua người khác và 14,5% phòng lây nhiễm HIV bằng cách không sốngchung với người nhiễm HIV/AIDS

Bảng 4: Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV/AIDS

Khi vơ/chồng bị nhiễm HIV

sẽ báo cho nhiều người khác biết để phòng tránh lây lan cho mọi người

Trang 22

68,1% đối tượng nghiên cứu đã mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 6 tháng vừa qua, khimắc bệnh đa số đến khám và chữa bệnh tại phòng khám miễn phí do dự án DFID/MFA hỗ trợ (Chiếm

tỷ lệ 63,1%) Vẫn còn 25,6% tự đến quầy thuốc tây để mua thuốc uống, không đi khám để chẩn đoánchính xác bệnh của mình

Bảng 7: Hành vi tiêm chích ma túy và xăm mình.

1,1% gái mại dâm trong nhóm nghiên cứu có sử dụng ma túy 20,0% đối tượng nghiên cứu bắt đầu

sử dụng khi chưa đến 20 tuổi 80,0% bát đầu sử dụng ma túy khi chưa đến 30 tuổi

60,0% vì buồn gia đình nên đối tượng nghiên cứu đã tìm đến ma túy 20,0% đối tượng nghiên cứu sửdụng ma túy là do bạn bè rủ rê, vì tính tò mò, muốn thử cho biết hoặc vì tương lai bế tắt nên tìm đến matúy để giải sầu

100,0% đối tượng nghiên cứu tiêm chích ngay từ lần đầu tiên sử dụng ma túy không trải qua giai đoạnhút, hít, ngửi trước khi chuyển sang tiêm chích

60,0% đối tượng nghiên cứu tiêm chích ma túy 1 lần trong ngày, 40,0% còn lại đã tiêm chích 2 lầntrong ngày

100,0% đối tượng nghiên cứu chưa bao giờ sử dụng chung bơm kim tiêm chung với người khác khitiêm chích

4,5% đối tượng nghiên cứu đã từng xăm mình

Trang 23

Đa số gái mại dâm trong nhóm điều tra đã gặp khách hôm qua hoặc cách 2 ngày

Hơn 50,0% khách ở nhóm tuổi khoảng 36- 50 tuổi

Hơn 50,0% khách đến mua dâm là khách lạ, khoảng 40,0% là khách quen của gái mại dâm

Khoảng 60,0% khách đến với tâm trạng hơi say

Quan hệ tình dục theo nhu cầu của khách vẫn là đường âm đạo, khoảng 10,0% có nhu cầu quan hệtình dục theo đường miệng và khoảng 0,5% có nhu cầu quan hệ tình dục theo đường hậu môn

Khoảng 5,0% khách có nhu cầu thoa thêm chất nhờn khi quan hệ tình dục

Giá tiền mỗi lần đi khách khoảng 150.000 đ, thấp nhất là 20.000 đ và cao nhất lên đến 700.000 đ

Bảng 9: Thái độ về bao cao su

Luôn luôn SD BCS đúng cách khi QHTD thì có thể phòng lây nhiễm

Nếu bạn tình không chịu sử dụng BCS thì không cách nào thuyết phục anh ta

Phải ngừng để mang bao cao su thì sẽ giảm hứng thú trước cuộc giao hợp 147 31.3 BCS cũng chưa đáng tin cậy, chắc chắn trong phòng lây nhiễm

Giá bao cao su quá mắc để dùng thường xuyên 18 3.899,8% đối tượng nghiên cứu đồng ý bao cao su dễ dùng 23,8% cho rằng đi mua, nhận bao cao su làviệc ngượng ngùng

98,1% đồng ý bao cao su hiện nay dễ mua và dễ nhận ở nhiều nơi

96,2% đồng ý dùng bao cao su đúng cách có thể phòng được lây truyền HIV/AIDS từ người này sangngười khác

86,4% không đồng ý là không có cách nào thuyết phục được khách sử dụng bao cao su, khi kháchkhông đồng ý thì cố gắng thuyết phục khách sẽ chấp nhận sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục đểphòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS/STI

24,9% cho rằng bao cao su làm giảm hứng thú khi quan hệ tình dục

Trang 24

14,7% cho rằng bao cao su cũng chưa đáng tin cậy, chắc chắn trong phòng lây nhiễmHIV/AIDS/STIs, vì dễ bị tuột, rách

95,5% bác bở quan điểm là bao cao su quá mắc để dùng thường xuyên khi quan hệ tình dục

Bảng 10: Mối liên quan vê nhóm tuổi, trình độ văn hoá của ĐTNC nhóm nhiễm và không nhiễm

HIV

Kết quả XN Đặc điểm

Không có sự khác biệt giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV và nhóm không phát hiệnnhiễm HIV về nhóm tuổi ( P > 0,05)

Không có sự khác biệt giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV và nhóm không phát hiệnnhiễm HIV về trình độ văn hoá ( P > 0,05)

Bảng 11: Mối liên quan về nhận thức đường lây truyền và cách phòng nhiễm HIV của đối tượng

nghiên cứu trong nhóm nhiễm HIV và nhóm không nhiễm HIV

Kết quả XN Đặc điểm

IV/ KẾT LUẬN

 100,0% đối tượng trong nhóm nghiên cứu đã nghe, biết về HIV/AIDS

 83,8% biết được HIV/AIDS qua nghe truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ; 78,9 nhận thông tin vềHIV/AIDS qua Tivi

 100,0% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu biết HIV có thể lây truyền từ người nàyqua người khác 95,5% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV

 99,8% gái mại dâm trong nhóm nghiên cứu biết HIV có thể phòng tránh lây nhiễm từ người nàysang người khác 93,0% biết đúng cả 3 cách phòng lây nhiễm HIV

 86,8% đối tượng nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu có thái độ đúng khi vợ/chồng mình bị nhiễmHIV/AIDS 93,4% đối tượng nghiên cứu động viên, an ủi nếu bạn thân mình bị nhiễm HIV

 7,0% đã quan hệ tình dục lần đầu tiên khi chưa đến 18 tuổi Trong 6 tháng qua, khi quan hệ tìnhdục 100,0% số đối tượng nghiên cứu đều sử dụng bao cao su

 68,1% đối tượng nghiên cứu đã mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 6 tháng vừa qua

Trang 25

 63,1% khi mắc bệnh đã đến khám và chữa bệnh tại phòng khám miễn phí do dự án DFID/MFA

hỗ trợ 25,6% tự đến quầy thuốc tây để mua thuốc uống, không đi khám để chẩn đoán chính xác bệnhcủa mình

 1.1% gái mại dâm có sử dụng ma túy 60,0% vì buồn gia đình nên đối tượng nghiên cứu đã tìmđến ma túy 100,0% đối tượng nghiên cứu tiêm chích ngay từ lần đầu tiên sử dụng ma túy

 4,5% đối tượng nghiên cứu đã từng xăm mình

 Thông tin về 03 khách gần nhất: Hơn 50,0% khách đến ở nhóm tuổi khoảng 36 đến 50 tuổi.50,0% khách đến mua dâm là khách lạ 55,0% khách đến với tâm trạng hơi say 10,0% có nhu cầuquan hệ tình dục theo đường miệng 5,0% khách có nhu cầu thoa thêm chất nhờn khi quanhệ tình dục.Giá tiền mỗi lần đi khách khoảng 150.000 đ

 Thái độ đối với bao cao su: 99,8% đối tượng nghiên cứu đồng ý bao cao su dễ dùng 23,8% chorằng đi mua, nhận bao cao su là việc ngượng ngùng 98,1% đồng ý bao cao su hiện nay dễ mua và dễnhận ở nhiều nơi 96,2% đồng ý dùng bao cao su đúng cách có thể phòng được lây truyền HIV/AIDS

từ người này sang người khác 86,4% không đồng ý là không có cách nào thuyết phục được khách sửdụng bao cao su 24,9% cho rằng bao cao su làm giảm hứng thú khi quan hệ tình dục 14,7% cho rằngbao cao su cũng chưa đáng tin cậy, chắc chắn trong phòng lây nhiễm HIV/AIDS/STIs, vì dễ bị tuột,rách 95,5% bác bở quan điểm là bao cao su quá mắc để dùng thường xuyên khi quan hệ tình dục

 Tỷ lệ nhiễm HIV gái mại dâm trong nhóm nghiên cứu là 1,1%

 60,0% gái mại dâm trong nhóm nghiên cứu nhiễm HIV ở nhóm tuổi 20 – 29 Tuổi trung bình là

28 tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đinh Sỹ Hiền, Đỗ Thái Hùng (1996), Nhận định hoạt động TGT phòng chống HIV/AIDS qua phân tích kết quả các cuộc điều tra KABP năm 1995 – 1996 ở miền Trung, Khánh Hoà.

2 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa (2009), Báo cáo hoạt động phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa năm 2008 và kế hoạch hành động năm 2009 Khánh Hòa

3 Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng Thành Phố Hồ Chí Minh (1998), Phương pháp thống kê dịch tễ học và phần mềm EPI-INFO 6.04, Thành Phố Hồ Chí Minh.

4 Vũ Thị Minh Hạnh và CS (2000), “ Nhận thức, thái độ, lòng tin và thực hành của các nhóm dân

cư tại 3 tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Cần Thôư đối với việc phòng chống HIV/AIDS ”, Y học thực hành-Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS từ năm 1997-1999.

5 Christina P.Linda, Peter Lurie, Jeffrey S.Mandel et al (1997), Rising HIV infection rates in Ho Chi Minh City herald emerging AIDS epidemic in Vietnam, Viet Nam

6 WHO (1999), STI, HIV/AIDS Surveillance report, Manila.

Trang 26

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM HIV CỦA CÁC HỌC VIÊN NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC DẠY NGHỀ 05-06 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ đầu những năm 80 nhưng đã nhanh chóng lan ra toàn cầu,HIV tấn công mọi đối tượng như phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người có tuổi, làm các nghề khác nhau,

ở người đồng tính luyến ái, nghiện chích ma tuý Dịch liên tục phát triển cả về không gian, thời gian

và trở thành một đại dịch nguy hiểm Dịch không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ nhân dân,

mà còn gây tác hại lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội văn hoá, nòi giống và trở thành hiểm hoạ củaloài người

Tại thành phố Đà Nẵng kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 4/1993 thìđến 31.12.2007 toàn thành phố đã có 940 ca có xét nghiệm HIV dương tính, trong đó 392 ngườichuyển sang giai đoạn AIDS và 272 nguời tử vong do AIDS Nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu do tiêmchích ma tuý (49,5%), tuy nhiên lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý có xu hướng giảmdần qua các năm

Kể từ năm 2003, với chủ trương xây dựng thành phố “5 không”, một trong những chủ trương đó làkhông có người nghiện ma túy tại cộng đồng, tất cả những người nghiện ma túy tại cộng đồng nếuđược phát hiện đều được tập trung cai nghiện tại Trung tâm giáo dục dạy nghề 05 - 06, tuy nhiên trongthực tế các cuộc điều tra nghiên cứu về tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tại thành phố Đà Nẵng trongcác nhóm đối tượng chỉ điều tra nghiên cứu tại cộng đồng, các mẫu điều tra đều loại trừ đối tượngđang tập trung học tập tại Trung tâm giáo dục dạy nghề 05 - 06 (như nghiện chích ma túy, người hoạtđộng mại dâm), trong khi đó đối tượng nghiện ma túy đang học tập tại Trung tâm giáo dục dạy nghề

05 - 06 tương đối nhiều và ra vào Trung tâm thường xuyên

Để góp phần nghiên cứu vào bức tranh tổng thể của các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao tạiThành phố Đà Nẵng và đưa ra những hoạt động can thiệp phù hợp, chúng tôi tiến hành đề tài:

Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV của các học viên nghiện chích ma tuý tại Trung tâm giáo dục dạy

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Là những học viên nghiện chích ma tuý, đang tập trung học tập tại Trung tâm Giáo dục dạy nghề 05

- 06 thành phố Đà Nẵng từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 3 năm 2009

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang Điều tra toàn bộ học viên nghiện chích ma túy có mặt tạiTrung tâm trong thời điểm điều tra Thực tế số mẫu chúng tôi đã thực hiện điều tra là 435 mẫu

Trang 27

Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn được Bộ Y tế sử dụng trong giám sát hành vi cho nhóm đối tượng nghiệnchích ma tuý Trong quá trình tập huấn và điều tra thử, bộ câu hỏi đã được hiệu chỉnh về mặt ngôn từcho phù hợp và dễ hiểu đối với địa phương Bộ câu hỏi bao gồm có 60 câu và cần 20 - 30 phút để hoànthành phỏng vấn

Tham gia phỏng vấn là cán bộ Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Sau khi được sự đồng ý của đốitượng, cán bộ phỏng vấn tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi Khi kết thúc phỏng vấn, đối tượngphỏng vấn được mời sang lấy máu xét nghiệm Tại đây họ sẽ được tư vấn xét nghiệm HIV và kỹ thuậtviên sẽ lấy mẫu máu để xét nghiệm HIV nếu đồng ý xét nghiệm

Xét nghiệm HIV được thực hiện tại Trung tâm PC HIV/AIDS thành phố Đà Nẵng và được thựchiện theo phương cách III với các sinh phẩm xét nghiệm là Determin, Genscreen HIV-1/2 version 2,Vironostika Uniform II Ag/Ab

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu của chúng tôi đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới chiếm tỷ lệ 92% Đốitượng nghiên cứu tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 20-29 (61,8%) 85,9% đối tượng nghiên cứu có trình

độ học vấn là trung học cơ sở và phổ thông trung học

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 50,8% đối tượng nghiên cứu theo đạo Phật, 8,5%theo đạo Thiên chúa và Tin lành Như vậy tỷ lệ theo tôn giáo mà chủ yếu là Phật giáo ở Đà Nẵngtương đối cao, do đó việc vận động tôn giáo tham gia phòng chống HIV/AIDS sẽ có những tác độngtích cực đến việc hạn chế lây nhiễm HIV

48% đối tượng nghiên cứu không có nghề nghiệp ổn định 73,3% đối tượng nghiên cứu chưa có giađình, ly dị, ly thân và góa

55,9% đối tượng nghiên cứu nghiện ma túy là do bạn bè rủ rê, 19,3% là do ham vui và 14,9% là thửcho biết 89,2% đối tượng nghiên cứu sử dụng heroin khi mới bắt đầu sử dụng ma túy Nghiên cứu chothấy 51,3% là hút, 23,4% là hít khi bắt đầu sử dụng ma túy và chỉ có 19,5% là tiêm chích ma túy ngay

từ đầu 50,6% học viên cho là lý do chuyển sang chích là do hút, hít không đủ phê, 20,9% cho là chích

rẻ hơn hút, hít 29,2% đối tượng nghiên cứu đã đi cai nghiện từ lần thứ 2 trở lên

3.2 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV

Trong nghiên cứu này tỷ lệ hiện nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu là 7,1% Các nghiên cứukhác trên đối tượng nghiện chích ma túy tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướnggiảm rõ rệt theo thời gian, cụ thể tỷ lệ này trong nghiên cứu của Trần Văn Nhật (2000) là 28,6%,nghiên cứu của Trương Thị Bích Ngọc (2007) là 9,3% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đối tượngnghiện chích ma túy có xu hướng giảm qua các năm cũng phù hợp với kết quả giám sát trọng điểm tạithành phố Đà Nẵng qua các năm từ 2000 đến nay

3.3 KIẾN THỨC, NHẬN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG HIV

3.3.1 Kiến thức phòng chống HIV

98,9% đối tượng nghiên cứu đã nghe nói về HIV Kênh thông tin tiếp cận của đối tượng nghiên cứucao nhất là truyền hình (76,7%), đài (56,7%), báo chí (56,5%), pano, áp phích (50,2%), gia đình, ngườithân và bạn bè (27,9%), chỉ có 16,5% là từ đồng đẳng viên

Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Đà Nẵng, kênh thông tin tiếp cận với đối tượng tốt nhất là truyềnhình do đó việc chọn kênh tuyên truyền cho đối tượng nghiện chích ma túy và cộng đồng sẽ có hiệuquả hơn

97,4% đối tượng nghiên cứu cho rằng chúng ta có thể phòng tránh được HIV tuy nhiên tỷ lệ tintưởng về cách bảo vệ bản thân khỏi bị nhiễm HIV lại khác nhau, 94,2% cho rằng tiêm chích bằng bơmkim tiêm sạch, 95,8% dùng bao cao su và 77,8% chung thủy với một bạn tình là có thể bảo vệ bản thânkhông bị nhiễm HIV, 76,6% là trả lời đúng cả 3 biện pháp nêu trên

Chỉ có 27,9% cho rằng bản thân có nguy cơ bị nhiễm HIV và nguy cơ mà đối tượng nghiên cứu tựđánh giá ở đây thì 70,8% cho là do bản thân đang tiêm chích ma túy, 52,5% là do không dùng bao cao

su khi quan hệ tình dục và 30,8% là do có nhiều bạn tình

3.3.2 Thực hành phòng lây nhiễm HIV

73,1% đối tượng nghiên cứu đã từng đi xét nghiệm HIV, chỉ có 60,1% là biết kết quả xét nghiệmHIV của mình trước nghiên cứu này và 5,2% là biết có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV

Trang 28

Chỉ có 60% đối tượng nghiên cứu khi biết mình bị nhiễm HIV đã thực hành phòng lây nhiễm HIVcho gia đình và cộng đồng và có đến 40% là không thực hiện gì cả

Trong nghiên cứu của chúng tôi 67,8% đối tượng nghiên cứu đã từng sử dụng bao cao su khi quan

hệ tình dục 28,3% đối tượng nghiên cứu có quan hệ tình dục với gái mại dâm, chỉ có 66,1% đối tượngnghiên cứu có quan hệ tình dục với gái mại dâm luôn luôn sử dụng bao cao su và 33,9% sử dụng baocao su không thường xuyên, đây chính là nguy cơ lây nhiễm HIV cho đối tượng khi quan hệ tình dụcvới gái mại dâm nhiễm HIV hoặc có thể làm lây nhiễm HIV từ đối tượng nghiên cứu cho gái mạidâm.Vì vậy cần một chương trình can thiệp có hiệu quả, khuyến khích đối tượng đảm bảo 100% quan

hệ tình dục với gái mại dâm phải sử dụng bao cao su mới có thể ngăn chặn dịch HIV đang có xuhướng lây lan cho cộng đồng

74,5% đối tượng nghiên cứu không bao giờ dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, 25,5% có sửdụng chung bơm kim tiêm nhưng ở mức độ khác nhau 80,2% đối tượng nghiên cứu sử dụng chungbơm kim tiêm là do không có sẵn bơm kim tiêm hoặc không có tiền mua bơm kim tiêm, 9% dùngchung bơm kim tiêm với lý do khác nhau trong đó lý do tin tưởng ở bạn tình, người thân, bạn chích làchủ yếu Tỷ lệ có lý do dùng chung bơm kim tiêm do không có sẵn bơm kim tiêm trong nghiên cứunày là tương đối cao Đây là vấn đề mà thành phố cần quan tâm trong việc triển khai chương trình traođổi bơm kim tiêm, cung cấp bơm kim tiêm sạch trong nhóm nghiện chích ma túy để đảm bảo cho đốitượng nghiện chích ma túy có thể tiếp cận dễ dàng với bơm kim tiêm sạch để thực hiện tiêm chích antoàn nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV lẫn nhau trong nhóm đối tượng này

Chỉ có 21,8% đối tượng nghiên cứu là không sử dụng rượu, bia, trong khi đó 78,2% là có sử dụngrượu bia với tần suất khác nhau.Việc sử dụng rượu, bia ít nhiều có ảnh hưởng đến hành vi trong quátrình sử dụng ma túy, khi uống rượu bia người nghiện chích ma túy có thể không làm chủ được hành vicủa mình và có thể dùng chung bơm kim tiêm hoặc không sử dụng bơm kim tiêm sạch khi tiêm chích

ma túy hoặc có quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su và đó chính là nguy cơ có khả năng lâynhiễm HIV trong nhóm đối tượng này

Đối tượng nghiên cứu đều có tiếp cận với chương trình can thiệp phòng lây nhiễm HIV tại địaphương nhưng với các mức độ khác nhau, trong đó 78% là nhận được tờ rơi, 77,5% nhận được từ lờikhuyên của cán bộ y tế, chỉ có 13% nhận được bao cao su phòng lây nhiễm HIV và 3,7% là nhận đượcbơm kim tiêm, 12,5% được giới thiệu đến khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục

3.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG LÂY NHIỄM HIV

3.3.1 Liên quan giữa Kiến thức và tình trạng nhiễm HIV.

7,9% đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV có kiến thức dùng bao cao su có thể phòng được HIV(p<0,05)

Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm có kiến thức hạn chế quan hệ tình dục bừa bãi có thể phòng được HIV là8,4% (p<0,05)

Chỉ có 4,4% đối tượng nghiên cứu nhiễm HIV cho là mình có nguy cơ nhiễm HIV, 15% cho rằngmình không có nguy cơ nhiễm HIV(p<0,05) Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng mặc

dù tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã bị nhiễm HIV nhưng vẫn cho là mình không có nguy cơ bị nhiễmHIV là thấp (15%) nhưng đây vẫn là một nguy cơ có thể làm lan truyền HIV cho cộng đồng do nhậnthức không đúng về tình trạng nhiễm HIV của mình và vì thế sẽ không có biện pháp thực hiện hành vi

an toàn để phòng lây truyền HIV cho gia đình và cộng đồng

3.3.2 Liên quan giữa thực hành và tình trạng nhiễm HIV

Tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng nghiên cứu sử dụng ma túy trên 10 năm (13,7%) cao hơn nhóm cóthời gian sử dụng ma túy dưới 10 năm (p<0,05) Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian tiêm chích matuý càng lâu thì nguy cơ nhiễm HIV càng cao Do đó việc thường xuyên tuyên truyền các biện pháptiêm chích an toàn và thực hiện hành vi an toàn vẫn cần phải thường xuyên quan tâm

Nhóm dùng chung bơm kim tiêm có tỷ lệ nhiễm HIV (24,5%) cao hơn so với nhóm không bao giờdùng chung bơm kim tiêm (1,2%) (p<0,01) Nguy cơ lây nhiễm HIV từ việc dùng chung bơm kim tiêm

là đã rõ, tuy nhiên còn đến ¼ nhóm tiêm chích ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm trong khi đó tại

thành phố Đà Nẵng không có chương trình can thiệp cho nhóm tiêm chích ma túy Vì thế cần mộtchương trình can thiệp giảm tác hại toàn diện hơn nữa để đối tượng nghiện chích ma túy nói chung thựchiện hành vi an toàn để phòng lây nhiễm HIV cho nhóm quần thể sử dụng ma túy và cho cộng đồng

Trang 29

Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm làm sạch bơm kim tiêm bằng nước lạnh (23,3%) cao hơn nhóm khônglàm sạch bằng nước lạnh (5,3%) (p<0,05) Trong nghiên cứu này cho thấy mặc dù đối tượng nghiêncứu đã có ý thức làm sạch bơm kim tiêm khi sử dụng chung bơm kim tiêm nhưng chỉ làm sạch bơmkim tiêm bằng nước lạnh (làm sạch không đúng cách) nên vẫn có nguy cơ lây nhiễm HIV

Nhóm có đưa bơm kim tiêm vừa dùng cho người khác dùng lại có tỷ lệ nhiễm HIV (23,6%) cao hơnnhóm không bao giờ đưa cho người khác dùng lại (4,7%), (p<0,01) Việc đưa bơm kim tiêm vừa dùngxong cho người khác dùng lại là hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng rất lớn đặc biệt làvới nhóm đã bị nhiễm HIV Vì vậy tuyên truyền dùng riêng bơm kim tiêm cần được đưa vào kế hoạchtruyên truyền và thực hiện can thiệp giảm tác hại trong nhóm nghiện chích ma túy ngay từ khi còn ởTrung tâm cai nghiện và cả khi đối tượng trở về cộng đồng

3,9% đối tượng nghiên cứu bị nhiễm HIV luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với gáimại dâm, 15,3% dùng không thường xuyên hoặc không dùng bao cao su khi quan hệ tình dục với gáimại dâm (p<0,05) Ở đây tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm sử dụng bao cao su thường xuyên là thấp trongnhóm đối tượng nghiên cứu tuy nhiên trong chương trình truyền thông thay đổi hành vi vẫn cầnthường xuyên nhấn mạnh thông tin luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để góp phần làmgiảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng

4 KẾT LUẬN

Tỷ lệ nhiễm HIV của các học viên nghiện chích ma túy tại Trung tâm giáo dục dạy nghề 05- 06thành phố Đà Nẵng là 7,1%

- 98,9% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe nói về HIV

- Nguồn thông tin tiếp cận HIV: truyền hình 76,7%, báo, đài, pa nô, áp phích từ 50,2% - 56,7%

- 97,4% cho rằng có thể phòng tránh được HIV

- Tỷ lệ hiểu đúng các biện pháp phòng tránh HIV là 76,6% và tỷ lệ hiểu đúng các đường khônglây truyền HIV là 60,7%

- 73,1% đối tượng nghiên cứu đã từng đi xét nghiệm HIV trước nghiên cứu trong đó 60,1% biếtkết quả xét nghiệm HIV Chỉ có 60% đối tượng nghiên cứu khi biết mình bị nhiễm HIV có thực hànhphòng lây nhiễm HIV cho gia đình và cộng đồng

- 72,2% đối tượng nghiên cứu đã từng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục 28,7% có quan

hệ tình dục với gái mại dâm, trong đó chỉ có 66,1% là luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tìnhdục với gái mại dâm

- 25,5% đối tượng nghiên cứu có sử dụng chung BKT khi tiêm chích ma túy, trong đó 80,2% sửdụng chung BKT là do không có sẵn BKT

- Chỉ có 13% đối tượng nghiên cứu nhận được hỗ trợ bao cao su và 3,7% nhận được bơm kimtiêm từ chương trình phòng chống HIV

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG NHIỄM HIV

* Hiểu biết: Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm đối tượng nghiên cứu có hiểu biết dùng bao cao su có thể

phòng được HIV (7,9%) cao hơn nhóm không hiểu biết (1,5%) và ở nhóm hiểu biết không quan hệtình dục bừa bãi có thể phòng được HIV (8,4%) cao hơn nhóm không hiểu biết (4,7%)

* Nhận thức: Nhóm cho rằng bản thân có nguy cơ nhiễm HIV có tỷ lệ nhiễm HIV (4,4%) thấp hơn

nhóm cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm HIV (15%)

Trang 30

- Quan hệ tình dục với gái mại dâm: Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm có sử dụng bao cao su khi quan hệtình dục với gái mại dâm thấp hơn (3,9%) nhóm không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục vớigái mại dâm (15,3%).

5 KIẾN NGHỊ

- Thành phố cần triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại trong nhóm đối tượng NCMT đểngăn chặn nguy cơ lây nhiễm HIV từ đối tượng này ra cộng đồng trong đó cần chú ý đến việc xâydựng nhóm giáo dục đồng đẳng trong nhóm NMT và thực hiện đồng thời chương trình 100% bao cao

su và trao đổi, cấp phát bơm kim tiêm sạch

- Thông tin về truyền thông thay đổi hành vi phải cụ thể, đặc biệt là hành vi tiêm chích an toàn

và tình dục an toàn phải thực hiện một cách thường xuyên thì mới có ý nghĩa bảo vệ bản thân khỏinguy cơ lây nhiễm HIV

- Dành thời lượng tuyên truyền trên đài truyền hình vì đây là phương tiện mà nhóm đối tượngnghiên cứu tiếp cận nhiều nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đào Thị Minh An, Nguyễn Văn Huy (2007) “Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện

chích ma tuý cho cộng đồng”, Tạp chí y học thực hành, Bộ Y tế xuất bản, số 575 +576, trang 111 -113.

2 Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Việt Hưng (2006), “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của học viên Trung tâm giáo dục lao động xã hội số 6 thành phố Hà Nội năm 2005 và các yếu tố

liên quan”, Báo cáo toàn văn Hội nghị khoa học công nghệ tuổi trẻ các trường Đại học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII, trang 115 - 120.

3 Lưu Minh Châu, Trần Như Nguyên, Mai Thu Hiền (2005), “Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và nguy cơlây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy tại Hải Phòng và Hà Nội kết quả từ nghiên cứu RDS”,

Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y tế xuất bản, số 528+529, trang 352 - 357.

4 Nguyễn Văn Hải (2004), Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV/AIDS trên người sử dụng ma túy tại tỉnh Khánh Hòa năm 2003, Luận án chuyên khoa II, Trường Đại học Y dược Huế

5 Nguyễn Trần Hiển, Nguyễn Minh Sơn, Đào Thị Minh An và cộng sự (2005), “ Hành vi tình dục

của nhóm nam thanh niên tuổi từ 16 - 29 có sử dụng ma tuý tại Hà Nội năm 2005”, T¹p chÝ y häc thùc hµnh, Bé Y tÕ xuÊt b¶n, sè 528+529, trang 136-141.

6 Trần Quốc Hùng, Hồ Bá Do (2005), “Thực trạng nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS ở một trại

tạm giam thành phố Hà Nội (1996 – 2000)”, Tạp chí y học thực hành, Bộ Y tế xuất bản, số 528+529,

trang 52-55

7 Nguyễn Thanh Long (2008), “ Nghiên cứu tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các yếu tố hành vi nguy cơ

lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý tại một số huyện thị của tỉnh Lai Châu - 2007”, Tạp chí y học dự phòng, Tæng héi Y häc ViÖt Nam xuÊt b¶n, số 4 (96), trang 80-84.

8 Nguyễn Anh Quang (2006), “ Kiến thức và thái độ về PC HIV/AIDS của nhóm NCMT tại tỉnh

Điện Biên và Đồng Tháp”, Tạp chí y học dự phòng, Tæng héi Y häc ViÖt Nam xuÊt b¶n, tập XVII, số

2 (87), trang 55-58

9 Phan Văn Tường (2006), “Kiến thức và thực hành PC HIV/AIDS của đối tượng NMT ở phường

Cửa Nam, tỉnh Nghệ An và một số yếu tố liên quan”, T¹p chÝ y häc thùc hµnh, Bộ Y tế xuất bản, số

577+578, trang 111 -113

Trang 31

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH

PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS Ở NGƯỜI HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN TẠI VIỆN HUYẾT HỌC – TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG NĂM 2008

Ngô Mạnh Quân (1) , Nguyễn Đức Thuận (2) , Nguyễn Văn Nhữ (1) ,

Bạch Khánh Hoà (1) , Nguyễn Anh Trí (1)

(1) Viện Huyết học -Truyền máu TW (2) Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

TÓM TẮT

Điều tra mô tả cắt ngang ở 839 người hiến máu tình nguyện (HMTN) tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương về nhận thức, thái độ và thực hành phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS qua đường truyền máu, chúng tôi nhận thấy: 59% người hiến máu (HM) có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS, 83,7% người HM biết HIV có thể lây qua đường truyền máu; trong đó, 72,4% biết rằng do HIV có

“giai đoạn cửa sổ” Có 17,3% người HM chưa lập gia đình đã từng QHTD; chỉ có 28% QHTD ngoài hôn nhân thường xuyên sử dụng BCS 17% số người HM đã từng nghi ngờ mình nhiễm HIV; 21,1% ĐTNC đã từng làm xét nghiệm HIV Không có sự khác biệt mức độ nhận thức về HIV/AIDS giữa người HM lần đầu và HM nhắc lại; việc HM nhắc lại nhiều lần chưa làm tăng lên nhận thức của người HM về HMTN Điều này bước đầu cho thấy vai trò của NVTY trong việc tư vấn, giáo dục cho người HM về HIV/AIDS còn khá hạn chế.

Key words: người hiến máu, HIV/AIDS, giai đoạn cửa sổ, tự sàng lọc, truyền máu

ABSTRACT

A cross-sectional study was conducted to assess the knowledge, attitude and practice on HIV/AIDS prevention among 839 donors, who were randomly selected by multi-stage sampling at the collection sites in Hanoi Results: A majority of the donors knew blood transfusion was one of the ways to transmit HIV (83.7%); however, 27.6% did not know about “window period” There were still 41% of participants who had a limited level of knowledge There were 17.3% of single participants having sexual activities; the percentage of condom use was 25% in extra-marital sex; 15.6% had blood related accidents with sharp instruments 21.1% of donors took HIV test before There were no significant differences of awareness level between first and repeat donors; level of knowledge was not improved through blood donations

Key words: blood donation, HIV/AIDS, sefl-defferal, window period, HIV test, transfusion

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ năm 1982, khi phát hiện ra HIV/AIDS có thể lây qua đường truyền máu, các nước trên thế giới

đã đề cập và ngày càng thúc đẩy việc giáo dục, truyền thông và tư vấn về phòng chống (PC)HIV/AIDS ở những người hiến máu (HM) tiềm năng [6,9] Họ là đối tượng đặc biệt, bởi nguy cơ lâynhiễm HIV ở đối tượng tham gia HM khó kiểm soát và nguy cơ này có thể mang đến hậu quả xấu chongười bệnh được nhận máu và đe dọa an toàn truyền máu [4] Năm 2007, Viện Huyết học -Truyềnmáu TW (Viện HHTM T.Ư) thu được 78.250 đơn vị máu, trong đó, tỷ lệ người HM tình nguyện(HMTN) đạt 68% Xét nghiệm sàng lọc cho thấy, 57 trường hợp người HM được phát hiện có HIVdương tính hoặc nghi ngờ, chiếm 0,11% Tuy nhiên, ở nước ta hiện chưa có công trình khoa học nàonghiên cứu thực trạng về hiểu biết, thái độ thực hành (KAP) cũng như yếu tố hành vi nguy cơ lâynhiễm HIV ở người HM

Đề tài được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính:

1 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS ở người HM tình nguyện

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS ởngười HM tình nguyện

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu: Người HM tình nguyện tại Viện HHTM T.Ư, tự nguyện tham gia

nghiên cứu

Trang 32

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2008 đến tháng 8/2008.

- Địa điểm nghiên cứu: tại các điểm thu gom máu lưu động của VHHTM T.Ư tại Hà Nội Bao

gồm: điểm HM tại các trường ĐH/CĐ/THCN, các địa bàn dân cư (quận/huyện, xã phường), các cơquan/doanh nghiệp

2 3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh.

Với các tham số nêu trên, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là: n = 844

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn (multistage sampling), kết hợp nhiều kỹ thuật chọnmẫu khác nhau Quy trình tiến hành chọn mẫu qua 3 giai đoạn: chọn điểm HM dựa trên lịch HM; chọnnhóm đối tượng và chọn đối tượng

2 5 Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi thiết kế trước; Các câu hỏi được soạn thảo dựa trên mục tiêunghiên cứu, chủ yếu là câu hỏi đóng; có tham khảo Bảng hỏi của Tổng cục thống kê và Viện Vệ sinhdịch tễ trung ương [8], tham khảo ý kiến chuyên gia và sửa đổi cho phù hợp với mục tiêu, đối tượngnghiên cứu

2 6 Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch, nhập và quản lý bằng phần mềm Epi Info

6.04, xử lý bằng SPSS 16.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Các đặc trưng nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC):

Trong số 839 đối tượng tham gia phỏng vấn, 50,2% là nam, 49,8% là nữ; đa số ở tuổi thanh niên,tuổi trung bình là 22,8; lứa tuổi chủ yếu là 18 - 24 tuổi (75,9%) Số đối tượng nghiên cứu ở trình độ tốtnghiệp THPT chiếm 61,2%, tốt nghiệp Đại học trở lên chiếm 17,2%, tốt nghiệp Cao đẳng/Trung họcchuyên nghiệp chiếm 16,1% và có 4,6% ở trình độ dưới THPT Tỷ lệ HSSV chiếm 59,2%, 23,6% làcán bộ/công chức, còn lại là lực lượng vũ trang (6,6%), công nhân (4,3%) và lao động tự do (6,3%).Toàn bộ số đối tượng cho biết đã từng nghe nói về HIV/AIDS

3.2 Kết quả KAP về PC HIV/AIDS

3.2.1 Kiến thức về PC HIV/AIDS

Hầu hết (89,2%) ĐTNC đều có nhận thức đúng về ba biện pháp cơ bản phòng lây nhiễm HIV/AIDS(không dùng chung BKT, luôn sử dụng BCS mỗi khi sinh hoạt tình dục và sống chung thủy chỉ có mộtbạn tình) Có 83,7% người HM biết HIV có thể lây qua đường TM; trong đó, 72,4% biết rằng do HIV

có “giai đoạn cửa sổ”, 64,1% biết đúng rằng người HM có thể có hành vi nguy cơ lây truyền HIV cho

người bệnh nhận máu

Đánh giá mức độ nhận thức về HIV/AIDS dựa vào các câu hỏi về nhận thức đúng cả ba cách phòngtránh nhiễm HIV cơ bản, nhận thức đúng và không chấp nhận hai quan niệm sai phổ biến về lây truyềnHIV/AIDS Kết quả cho thấy tỷ lệ người HM có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS là 59%, trong đó, tỷ

lệ này ở nam là 65,5%, cao hơn so với ở nhóm nữ (52,4%) có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Trang 33

Bảng 3.1: T l ỷ lệ đạt kiến thức đầy đủ về PC HIV/AIDS ệ đạt kiến thức đầy đủ về PC HIV/AIDS đạt kiến thức đầy đủ về PC HIV/AIDS t ki n th c ến thức đầy đủ về PC HIV/AIDS ức đầy đủ về PC HIV/AIDS đầy đủ về PC HIV/AIDS đủ về PC HIV/AIDS ề PC HIV/AIDS y v PC HIV/AIDS

Giới Mức độ Nam (n=421) Nữ (n=418)

Chung

(n=839) Giá trị pĐầy đủ (%) 65,6 52,4 59,0 2 1 = 14,49 p <

0,001

3.2.2 Thái độ về phòng chống HIV/AIDS

Có 94% người HM sẵn sàng chăm sóc người thân ngay tại gia đình khi họ bị nhiễm HIV/AIDS;

39,9% cho rằng không cần phải giữ bí mật về việc một thành viên trong gia đình bị nhiễm HIV/AIDS.

Có 71,4% sẵn sàng mua rau tươi/đồ dùng từ người bán hàng mà họ biết là đã bị nhiễm HIV, 88% ủng

hộ việc một giáo viên đã bị nhiễm HIV/AIDS tiếp tục được giảng dạy ở trường

3.2.3 Thực hành PC HIV/AIDS

Trong số 839 ĐTNC, 732 người HM chưa lập gia đình, chiếm 87,2%, trong đó 17,3% đã từngQHTD, hầu hết là QHTD với người yêu; tỷ lệ này ở nam là 28,8%, ở nhóm nữ là 6,6% Đáng chú ý có

07 người đã từng có QHTD với gái mại dâm; 01 trường hợp có QHTD với người đồng giới (nam) Chỉ

có 28% số người HM có QHTD ngoài hôn nhân thường xuyên sử dụng bao cao su (BCS), 63,6% thỉnhthoảng sử dụng và 8,3% không bao giờ sử dụng BCS 21,1% ĐTNC đã từng làm xét nghiệm HIV(không kể xét nghiệm qua việc HM); tỷ lệ HM lần đầu là 65,7%, HM nhắc lại là 34,3%

3.3 Một số yếu tố liên quan đến KAP phòng chống HIV/AIDS

Tỷ lệ có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS ở người HM lần đầu là 57,4%, ở người HM nhắc lại là68,3%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Ngược lại, nhận thức đúng rằng TM làđường lây nhiễm HIV có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm này, 88,5% ở người HM nhắc lại và 81,1%

ở người HM lần đầu, tỷ xuất chênh là 0,56 (0,37- 0,85), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Ở người HM nhắc lại, không có đủ bằng chứng về mối liên quan giữa số lần HM tăng lên với tăng

điểm kiến thức, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Những người đã QHTD có nguy cơ nghi ngờ rằng mình nhiễm HIV cao hơn so với nhóm chưaQHTD là 2,13 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,001; Nhóm đã từng xăm trổ trên mình cónguy cơ có tỷ lệ nghi ngờ nhiễm HIV cao hơn nhóm chưa từng xăm trổ là 3,93 lần, có ý nghĩa thống

kê với p< 0,001; Nhóm không thường xuyên/không sử dụng BCS có tỷ lệ nghi ngờ mình nhiễm HIVcao hơn so với nhóm thường xuyên dùng, có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Nhóm nhận được thông tin về HIV qua nhân viên y tế có tỷ lệ nhận thức đầy đủ và tỷ lệ nghi ngờnhiễm HIV cao hơn ở nhóm không nhận được thông tin qua nhân viên y tế, có ý nghĩa thống kê với p

< 0,05 và p < 0,001

IV BÀN LUẬN

1 Về KAP PC HIV/AIDS ở người HMTN:

Kiến thức chung về PC HIV/AIDS ở người HMTN chưa thực sự cao, mặc dù 100% đã từng nghenói về HIV/AIDS Tỷ lệ người HMTN có nhận thức đầy đủ về phòng chống HIV/AIDS là 59%, mức

độ này thấp hơn so với nghiên cứu cộng đồng tại Hà Nội và cao hơn so với mức kết quả chung trêntoàn quốc [8] Bảng sau đây so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với nghiên cứu VPAIS cho thấy

Trang 34

Người HM có thể có tất cả các hành vi nguy cơ giống như các đối tượng khác có 16,6% người HM

đã từng nghi ngờ mình nhiễm HIV do trước đây đã có hành vi nguy cơ nào đó Tỷ lệ này tương đươngvới một số nghiên cứu gần đây Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Huy, 16% đối tượng nhận thứcrằng họ có nguy cơ nhiễm HIV do đã từng QHTD không an toàn với GMD (58%), QHTD với nhiềubạn tình (33%), đã từng được TM (15%), từng sử dụng ma túy (12%) [3]

2 Về các yếu tố liên quan tới KAP PC HIV/AIDS

Tỷ lệ có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS ở người HM lần đầu và HM nhắc lại không có sự khác biệt

có ý nghĩa Điều này cho thấy việc tuyên truyền và tư vấn về HIV/AIDS trước và sau HM chưa đượcchú trọng đúng mức Ngược lại, hiểu biết rằng TM là đường lây nhiễm HIV ở người HM nhắc lại sovới người HM lần đầu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 88,5% người HM nhắc lại có nhận thứcđúng, trong khi chỉ có 81,1% người HM lần đầu trả lời đúng câu hỏi này Đây là kết quả tích cực, cóthể trong quá trình tham gia HM, trong thời gian giữa các lần HM, người đã từng HM có quan tâm và

có ý thức hơn trong việc nâng cao hiểu biết về HIV/AIDS, bao gồm cả qua các thông tin, tài liệu vềHIV liên quan tới HMTN

Tuy nhiên, nghiên cứu trong nhóm 288 người HM nhắc lại cho thấy, điểm nhận thức về HIV/AIDSkhông có mối liên quan với sự tăng lên của số lần HM, điều này lại một lần nữa khẳng định, công tác

tư vấn về HIV tại các điểm HM còn chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức Đây cũng là vấn đề rấtcần được quan tâm bởi sự cần thiết phải tuyên truyền về việc phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua conđường truyền máu, theo tinh thần Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đến năm 2020 đã đềcập (điểm II.B.2.b) và yêu cầu về đảm bảo ATTM theo chỉ đạo của Chính phủ [1,7]

Về vai trò của nhân viên y tế (NVYT) tới KAP PC HIV/AIDS, nhóm nhận được thông tin về HIVqua NVYT có tỷ lệ nhận thức đầy đủ và tỷ lệ nghi ngờ nhiễm HIV cao hơn ở nhóm không nhận đượcthông tin qua NVYT, cho thấy vai trò quan trọng của NVYT trong việc tư vấn nâng cao hiểu biết củacộng đồng về PC HIV/AIDS Điều này cho phép đánh giá sơ bộ rằng, vai trò của NVYT tại điểm HMtrong việc tư vấn về PC lây nhiễm HIV qua đường máu để người HM tự sàng lọc chưa được phát huy

Có thể do NVYT chưa chú trọng nội dung này, có thể do điều kiện phương tiện, địa điểm, thời gian chưacho phép NVYT thực hiện tốt nội dung này

V KẾT LUẬN

Người HMTN có tỷ lệ nhận thức đầy đủ về phòng chống HIV/AIDS chưa cao, 59% người có nhậnthức đầy đủ, 41% ở mức độ hạn chế Có 83,7% người HM biết HIV có thể lây qua đường truyền máu;trong đó, 72,4% biết rằng do HIV có “giai đoạn cửa sổ” Có 17,3% người HM chưa lập gia đình đãtừng QHTD; chỉ có 28% QHTD ngoài hôn nhân thường xuyên sử dụng BCS 21,1% ĐTNC đã từnglàm xét nghiệm HIV

Không có sự khác biệt về mức độ nhận thức PC HIV/AIDS giữa người HM lần đầu và HM nhắc lại;việc tham gia HM nhắc lại nhiều lần không làm tăng lên nhận thức của người HM về HMTN Điều nàybước đầu cho thấy vai trò của NVYT trong việc tư vấn, giáo dục cho người HM về HIV/AIDS còn kháhạn chế Những người có hành vi nguy cơ như: đã QHTD, đã từng xăm trổ, đã từng dùng chung dao cạorâu, đã từng dùng chung dụng cụ cắt tỉa có nguy cơ nghi ngờ rằng mình nhiễm HIV cao hơn so với cácnhóm không có hành vi nguy cơ tương tự

KIẾN NGHỊ

1 Cần tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức của người HM về PC HIV/AIDS, coi

đây là nhóm đối tượng ưu tiên trong tuyên truyền PC HIV/AIDS

2 Chú trọng và đẩy mạnh công tác tư vấn về HIV/AIDS người HM, khuyến khích người HM

tự sàng lọc và vận động, chia sẻ người khác tự sàng lọc trước khi HM

3 Thường xuyên tiến hành điều tra nhắc lại để đánh giá sự thay đổi KAP PC HIV/AIDS; đây

là hoạt động có ý nghĩa quan trọng cho việc thúc đẩy các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn truyền máu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2004), Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020

2 Phạm Thị Phương Dung (2006), “Kiến thức, thực hành phòng chống STDs và HIV/AIDS của

nữ sinh viên một trường cao đẳng tại Quận Tây Hồ, Hà Nội, năm 2006”, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng, 15 - 22, 32-45, 55- 59, 85 - 85

Trang 35

3 Nguyễn Đức Huy (2006), “Kiến thức, thái độ, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan

trong phòng chống HIV/AIDS của lái xe ôm tại Quận Cầu Giấy - Hà Nội, năm 2007”, Luận văn thạc

sỹ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng, 2007, 48- 95.

4 Đỗ Trung Phấn (2000), An toàn truyền máu, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 46-92

5 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Trần Hiển, Trịnh Quân Huấn, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn

Thị Thanh Hà, Vũ Bích Diệp, Nguyễn Lê Hải, Bùi Đức Thắng, Phan Thu Hương, Phạm Hồng Thắng, Hoàng Thanh Hà, Lâm Thanh Thủy (2005), “Tỷ lệ nhiễm và các chỉ số AIDS trong nhóm

quần thể dân cư bình thường 15-49 tuổi ở vùng thành thị và nông thôn Việt Nam”, Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2000 -2005, Y học thực hành 528+529, 319-323.

6 Nguyễn Anh Trí (2004), “An toàn truyền máu và những biện pháp để đảm bảo truyền máu an

toàn”, Một số chuyên đề Huyết học - Truyền máu (tập I), NXB Y học, 87- 93

7 Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 198/2001/QĐ-TTg ngày 25/12/2001, về việc phê

duyệt Chương trình an toàn truyền máu.

8 Tổng cục thống kê, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương (2006), Điều tra mẫu các chỉ tiêu dân số

và AIDS 2005, Hà Nội, 36-61.

9 Busch M (2008), "HIV: A global problem with ongoing implications for transfusion medicine",

Vox Sanguinis, Volume 95, Supplement 1, July 2008, 55

“TIÊM NƯỚC”: XỬ TRÍ QUÁ LIỀU HEROIN TRONG NHÓM TIÊM CHÍCH MA TUÝ TẠI CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

Hồ Thị Hiền, Trần Hữu Bích, Stephen Koester Tóm tắt

Quá liều Opioid là một nguyên nhân tử vong hàng đầu trong nhóm người sử dụng heroin Các số liệu

và dịch vụ cấp cứu các trường hợp quá liều heroin còn rất hạn chế Bài viết này báo cáo một phần củanghiên cứu lớn hơn về đối tượng TCMT tại Chí Linh, Hải Dương, với mục tiêu: Tìm hiểu quan niệm củangười TCMT tại Chí Linh về nguyên nhân quá liều Heroin; Tìm hiểu quan niệm của người TCMT tạiChí Linh về cơ chế quá liều Heroin; Tìm hiểu cách xử trí và lý giải về cách xử trí trong các trường hợpquá liều heroin của nhóm đối tượng này

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đều cho rằng tiêm một ‘lượnglớn’ heroin vào cơ thể sẽ tác động đến hệ thống tim mạch, gây ‘ép tim’ Vì vậy, họ cho rằng ‘chíchnước’ sẽ làm loãng, hoặc tan lượng ma tuý trong cơ thể Chích nước cùng với hô hấp nhân tạo là haibiện pháp mà ĐTNC cho rằng có hiệu quả Không đối tượng nào tìm sự hỗ trợ từ phía y tế do sợ liênluỵ, cho rằng dịch vụ y tế sẽ không kịp thời và kém hiệu quả hơn hai biện pháp nêu trên

Nghiên cứu cho thấy cần cung cấp thuốc Narcan và dịch vụ điều trị cấp cứu quá liều heroin chongười TCMT Cần tăng cường các chương trình giáo dục truyền thông cho người dân về cơ chế quáliều heroin Đồng thời, cần cung cấp thông tin cho các đối tượng về cách hồi sức tim phổi

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá liều Opioid là nguyên tử vong hàng đầu trong nhóm sử dụng Heroin[1] Kết quả phân tích tổnghợp các nghiên cứu dọc về người sử dụng Opioid cho thấy, tỷ suất tử vong của nhóm sử dụng Opioidgấp 13 lần nhóm cùng tuổi và giới tính [2] Cứ 10 ca tử vong tại Úc tuổi từ 15-44 thì một trường hợp là

do quá liều Opioid [3]

Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ cao những người TCMT bị quá liều Heroin Theo nghiên cưú củaPowis và cộng sự tại Luân đôn, 38% đối tượng TCMT trong nghiên cứu đã từng bị quá liều Heroin.Phần lớn các trường hợp quá liều Opioid xảy ra khi có sự chứng kiến của một người khác, và khônghay xảy ra tức thì [4] Tỷ lệ tử vong do quá liều Heroin cao được giải thích là do người sử dụng Heroin

và người chứng kiến không tìm kiếm sự hỗ trợ [5] Một nghiên cứu đã báo cáo có đến 79% các trườnghợp tử vong do quá liều không được can thiệp gì [6] Các yếu tố nguy cơ chủ yếu dẫn đến tử vong doopiate bao gồm: nam giới trung niên, chưa lập gia đình, thất nghiệp, có lịch sử phụ thuộc heroin,

Trang 36

không được điều trị cai nghiện, sử dụng bằng đường tiêm chích và cùng với các chất có cồn, và/hoặcchất thuộc nhóm benzodiazepines [3].

Tại Việt nam, hầu như chưa có số liệu thống kê chính thức nào về quá liều Heroin tử vong và không

tử vong Tìm hiểu về hiểu biết, quan niệm và cách xử trí các trường hợp quá liều Heroin trong nhómtiêm chích ma túy (TCMT) là rất cần thiết nhằm tìm ra các giải pháp dự phòng có hiệu quả, giảm tỷ lệ

tử vong do quá liều Heroin và lây nhiễm HIV/AIDS Bài viết này báo cáo kết quả của một nghiên cứulớn hơn tìm hiểu thực trạng nguy cơ lây nhiễm và môi trường nguy cơ lây nhiễm HIV trên đối tượngTCMT tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Đại dịch HIV ở tỉnh Hải Dương và huyện Chí Linh dường như tuân theo xu hướng của toàn quốc

Tỷ lệ nhiễm HIV trong đối tượng TCMT ở Hải Dương là rất cao, chiếm 61,3% chỉ sau thành phố HồChí Minh với 73,6% Theo báo cáo của Bộ y tế, năm 2008 so với 2007, toàn quốc đã có thêm 337xã/phường có người nhiễm, trong đó Hải Dương đứng thứ 8 với 10 xã [7] Chí Linh là một huyệnthuộc tỉnh Hải Dương, nằm trong khu vực tam giác kinh tế, giáp với Hà nội, Hải Phòng, và QuảngNinh là những thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao đặc biệt trong nhóm TCMT Huyện Chí Linh có sốlượng người nhiễm HIV cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh với 350 người nhiễm trong tổng số150,000 dân, chiếm tỷ lệ khoảng 0,23%, 194 trường hợp đã chuyển sang AIDS và 155 trường hợp tửvong Tất cả các xã và thị trấn của Chí Linh đã có báo cáo về tình trạng nhiễm HIV từ 2007

Mục tiêu

1 Tìm hiểu quan niệm của người TCMT tại Chí Linh về nguyên nhân quá liều Heroin

2 Tìm hiểu quan niệm của người TCMT tại Chí Linh về cơ chế quá liều Heroin

3 Tìm hiểu cách xử trí và lý giải cho cách xử trí trong các trường hợp quá liều heroin của nhómđối tượng này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cưú được thực hiện trên 26 đối tượng TCMT tại Chí Linh Các đối tượng được tiếp cận trựctiếp theo chuỗi, chọn mẫu có chủ đích Tiêu chí lựa chọn cho nghiên cứu sẽ là các đối tượng đangTCMT (TCMT trong 6 tháng trước), tuổi từ 18 trở lên và đang là thành viên cư trú của huyện ChíLinh Có 26 cuộc phỏng vấn sâu và 2 thảo luận nhóm tập trung (TLNTT) với các đối tượng TCMT đãđược thực hiện Các đối tượng được chọn có xem xét đến các yếu tố giới tính, tuổi và thời gian sửdụng ma túy

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Thông tin chung

Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều là nam giới, tuổi trung bình là 28 Các đối tượng có trình độhọc vấn thấp, trung bình là hết phổ thông cơ sở Một số đối tượng trẻ tuổi chưa lập gia đình tham giavào nghiên cứu (10 người), một số khác đã có gia đình và đã li dị, số còn lại là đã có gia đình Hầu hếtcác đối tượng tiêm chích không có việc làm, một số đối tượng làm các nghề tự do như làm xe ôm, làmmộc, chăn nuôi tại nhà

Phần lớn các đối tượng này đã có thời gian tiêm chích khá dài, dao động từ 1 đến 26 năm Hơn mộtnửa đối tượng đã tiêm chích trên 3 năm và đã từng vào trung tâm giáo dục lao động xã hội của địaphương Hiện tượng tái nghiện đã xảy ra 100% trên các đối tượng này Heroin là loại ma túy được sửdụng Một số đối tượng có báo cáo đã sử dụng heroin phối hợp heroin với một số thuốc khác (Valium(Seduxen, Diazepam), Novocain, Pipolphen) Không có đối tượng nào nói rằng sử dụng các ma túykhác như Cocain, Amphetamine Tại thời điểm nghiên cứu, chưa có đối tượng nào tham gia chươngtrình cai nghiện thay thế bằng Methadone

Nguyên nhân quá liều

"Chơi" nhiều quá

Hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng nguyên nhân gây quá liều heroin, hay vẫn đượcngười dân gọi là ‘sốc thuốc’, là do sử dụng liều quá cao so với khả năng chịu đựng của cơ thể

Chọc nhiều quá liều thôi 2 ,3 ngày không chơi ra thèm quá mà lại dùng quá liều thì bị sốc Chứ vẫndùng liều cũ thì sao mà sốc được, uống rượu cũng chẳng sốc được chỉ mỗi cái là quá liều Bình thườngchọc một quả nhưng lại chọc hai quả nó ép tim sốc quá liều, không chịu được nên nó chết thôi (Nam

39 tuổi)

Một số người khác cho rằng, bất kể đối tượng tiêm chích là ai, nếu họ dùng liều quá cao thì vẫn bịsốc thuốc

Trang 37

Do sử dụng quá liều, trước mình chỉ chơi một quả về sau mình chơi thêm một quả nữa thì bị sốc.(Nam, 36 tuổi).

Một điểm đáng chú ý là, người sử dụng ma túy thường lấy tiền mua heroin hoặc trọng lượng của matúy để ước lượng liều lượng ma túy mà họ sử dụng Trong trường hợp mua của người quen, họ chorằng chất lượng thuốc ‘tốt’ hơn, và vì vậy ‘chơi’ sẽ ‘say’ hơn

Người quen thì nó tốt hơn Không quen thì chắc là nó cũng bán ít đi tí Nếu ví dụ như là nó ít quá,nhiều thì đáng lẽ 6 tiếng sau mình mới phải dùng thuốc Nếu liều nó ít quá thì mình chỉ được bốntiếng thôi đã phải đói thuốc rồi Người quen thì người ta bán cân thịt thì người ta cân đủ là một cân

Ví dụ người không quen người ta bán cho tám lạng Anh thì cứ quy ra thịt hết (cười) Như đi chợ ý.(Nam, 46 tuổi)

Heroin là một loại thuốc bất hợp pháp Vì vậy, quá trình pha chế, bán, và tiêu thụ là không tuân theomột tiêu chuẩn nào cả Không có một hướng dẫn về liều lượng hay cảnh báo nào cả với người sử dụng.Hầu hết các đối tượng nghiện chích đều không có khả năng đo lường chính xác liều heroin họ sử dụng

Ở địa bàn nghiên cứu, đo lường heroin vẫn thường được tính bằng "quả" hay "tép", thường đi kèm nó

là giá heroin và kích thước heroin Đây là những đặc điểm chính giúp người sử dụng ma túy biết đượcliều của họ Đáng chú ý là kích thước, khối lượng, giá thành là khác nhau đối với từng thị trường matúy Như trên đã trích dẫn, có sự khác biệt về chất lượng ma túy khi mua của người quen và người lạ

Lâu không "chơi"

Có quan niệm cho rằng, khả năng dung nạp thuốc là khác nhau tùy đối tượng Vì vậy, với đối tượnglâu ngày không sử dụng ma túy, ví dụ như bỏ lâu hay phải vào trại cai nghiện, thường dễ bị sốc do khảnăng dung nạp thuốc của bản thân giảm Khả năng dung nạp ma túy thay đổi theo thời gian và ảnhhưởng bởi tần suất sử dụng ma túy, cân nặng, và số lượng ma túy sử dụng Phần lớn người tham gianghiên cứu đều hiểu rằng những người mới từ trại cai nghiện, nhà tù, hay sau một thời gian không sửdụng ma túy đều giảm khả năng dung nạp ma túy, vì vậy dễ dẫn đến quá liều heroin

Nó bỏ hơn một năm rồi cơ thể nó đang thiếu Bây giờ anh nói nôm na mỗi lần anh chích một quảthuốc 100, nếu chơi bình thường thế này thì ngày nào làm quả 100 cũng được Còn anh bỏ một tuầnanh chơi quả 100 thì có thể anh bị sốc ngay Cơ thể lúc đó là như người không nghiện Có người chơiliền một lúc 3 quả 4 quả liều của người ta như thế rồi, một quả không ăn thua Người không nghiện màchọc một quả vào chết luôn Dùng một liều như buổi sáng của bọn anh như em là khỏi phải cứu rồi.Tim có thể ngừng đập luôn Các mạch máu vỡ (Nam, 33 tuổi)

Ngoài ra, nhiều khi thuốc phiện có thể bị trộn bởi những tạp chất có thể gây ảnh hưởng đến sứckhỏe

Thuốc nào ngon thì nó bốc, không ngon thì không bốc, tỉ lệ pha nhiều thì thuốc nó nhẹ Một quả bìnhthường bằng cái đầu đũa đã thấy phê phê nhưng đây một quả mà chả thấy gì cả Ngày xưa nó thườngtrộn với thuốc cảm Cái bọn buôn thuốc nó mua một bánh về sau đó nó trộn thêm thuốc khác vào xong

nó ép lại thành hai bánh Nó trộn thêm thuốc B1 hay thuốc cảm vào Tự nhiên thuốc giảm 50% Nó trộnvào để nó ăn lãi (Nam, 25 tuổi)

Ảnh hưởng của rượu

Một số người cho rằng, sử dụng ma túy cùng với rượu sẽ làm tăng nguy cơ gây quá liều Quan niệmnày phù hợp với một số nghiên cứu kết luận rằng rượu là một yếu tố làm tăng nguy cơ gây quá liềuheroin Mối quan hệ giữa ma túy và các chất có cồn đã được ghi nhận, vì vậy sử dụng ma túy và rượu

sẽ làm tăng nguy cơ quá liều heroin Một số đối tượng gọi đây là hiện tượng ‘công thuốc’

Đa số một là rượu say rồi chích, hai là bình thường chơi nửa quả thôi nhưng hôm nay có tiền chơi mộtmình một quả, chơi tham chơi cả quả nữa cơ Thế là sốc dễ chết Bình thường chơi một quả thuốc không

có vấn đề gì nhưng hôm nay uống hết một vại rượu mà chơi một quả thuốc thì công thuốc ngay Hoặcbơm đầy xy lanh nhưng đang bơm thì phải dừng lại xem nó bốc lên đầu chưa Thuốc vào một cái là đưalên não ngay (Nam, 24 tuổi)

Theo cơ chế sinh học, sử dụng quá liều opioid thường gây ra ức chế trung tâm hô hấp gây nên hiệntượng thiếu oxy và tử vong và đây là cơ chế chính của quá liều opioid Ức chế trung tâm hô hấp là dodẫn truyền từ hệ thống thần kinh trung ương bị ức chế Tuy nhiên, các đối tượng tham gia nghiên cứuthường đề cập đến hiện tượng "ép tim", cho rằng cơ chế tác động của heroin là trước hết tác động vàomáu thông qua con đường tiêm chích, và từ đó, heroin đi thẳng vào buồng tim và gây nên hiện tượng sốc

Trang 38

thuốc do tim bị ảnh hưởng Từ đây có thể thấy mô hình giải thích hiện tượng quá liều của đối tượngTCMT có sự khác biệt với cách giải thích của y học

Một số đối tượng nghiên cứu khi được hỏi về cơ chế gây sốc thuốc đều cho rằng heroin đi vàođường máu và lên thẳng tim Quan điểm này cũng đồng nhất với nghiên cứu trên đối tượng tiêm chíchheroin người Việt tại Sydney, với kết quả điều tra cho rằng 60% đối tượng tiêm chích heroin cho rằngtim là cơ quan bị ảnh hưởng bởi quá liều heroin nhiều nhất trong cơ thể [9]

Chọc cái này tất cả đường máu là đi vào tim Bộ não không hoạt động tim không đập nữa là chết.Chủ yếu là tim, tim không đập nữa, nó ép tim Người bị sốc thuốc nếu biết thì chỉ có day tim hô hấpnhân tạo cho quả tim có nhịp đập máu nhồi ra khỏi thì mới sống (Mạnh, 39 tuổi)

Xử trí quá liều heroin và cách giải thích

Tiêm nước vào mạch máu

Các biện pháp cứu chữa không hiệu quả đang áp dụng chủ yếu là do truyền miệng trong nhómTCMT Như một đối tượng TCMT lâu năm đã nói "Thường thì các con nghiện truyền miệng nhaucách xử trí đó chứ thực tế chẳng có lớp đào tạo nào" Nhiều đối tượng nói rằng họ thường sử dụng haiphương pháp là "day ngực" và tiêm nước vào mạch máu khi xử lý các trường hợp quá liều heroin

Thế nhưng mà theo anh cứu bằng cách nào? Chỉ có day ngực song bắt đầu thở, hô hấp song rồi

tiêm nước cất vào (Nam, 38 tuổi)

Chơi song cái là phê, nó không biết cái gì nữa Có lẽ là nó đã tắt thở, mình lao vào hô hấp nhân tạo,tiêm 4-5 lọ nước cất vào trong da để cho máu loãng ra cho đỡ độc (Nam, 19 tuổi)

Cách tiêm nước vào mạch máu

Tiêm nước vào lòng mạch để xử lý những trường hợp bị quá liều heroin là khá phổ biến trong nhómđối tượng tiêm chích của nghiên cứu này Cách xử lý quá liều này được truyền miệng từ những ngườicùng tiêm chích ma túy "anh em truyền miệng nhau thôi" Thông thường, người chứng kiến nạn nhânquá liều vừa kết hợp cả “tiêm nước” và hô hấp nhân tạo Đối tượng TCMT đã nói rằng, họ có thể sửdụng nước cất nhưng nếu không có thì dùng nước đun sôi để nguội để ‘phóng thẳng vào ven’ cũng được

Tiêm vào ven, tiêm thẳng vào mạch máu chính Chỗ chích hay chỗ nào? Chỗ nào cũng được Tiêm bao nhiêu thì đủ? Em cũng không biết số lượng nhưng nó cũng không cần thiết có cái mức độ giới hạn

là bao nhiêu Cứ tiêm, vừa tiêm vừa hô hấp đến khi nó tỉnh Nó thở hoặc tim nó đập (Nam, 28 tuổi)Khi được hỏi về lượng nước tiêm vào, có người cho rằng chỉ cần tiêm một vài ống nước cất là đủ,tuy nhiên có quan điểm lại cho rằng "càng nhiều càng tốt":

Theo anh dùng cách đó có tác dụng gì? Nó sẽ giảm được chất ma tuý, nó hoà tan và làm nồng độ

ma tuý loãng nhiều đi Chẳng hạn như cơ thể mình đang chứa 3 lít nước trong người, cộng tác với chất

ma tuý vào nữa, nếu mình đưa thêm một lít nước nữa vào trong người thì ma tuý đó sẽ loãng ra (Nam,

42 tuổi)

Thông thường, do tính chất khẩn cấp và nguy hiểm của điều trị quá liều heroin, kim tiêm mà nạnnhân tiêm chích mới sử dụng thường được sử dụng để tiêm nước cất vào cho chính nạn nhân Đối vớingười cứu, họ sử dụng kim chích đã qua sử dụng trong hoàn cảnh khẩn cấp như vậy có thể gây ra hậuquả lây nhiễm cho bản thân họ nếu không may nạn nhân đó có HIV và người cứu vô tình châm kimvào cơ thể họ

Đấy lại là chính cái xy lanh của người bị sốc đấy Người ta vừa mới chơi song người ta để thì tiêm.(Nam, 46 tuổi)

Hiệu quả của tiêm nước

Quan điểm về hiệu quả của việc tiêm nước vào lòng mạch cũng khác nhau Có đối tượng cho rằngphương pháp này hiệu quả, có đối tượng còn nói là “Chưa vụ nào là chưa chữa được”

Kịp thời cứu được hết Có chết nửa tiếng vẫn cứu được Mua một chai nước cất như của em rồichọc vào ven cho nó loãng cái đấy ra Nước sạch khử trùng rồi Lúc cấp cứu thì phải nước sạch chứđúng ra phải mua nước cất (Nam, 39 tuổi)

Đối tượng khác lại cho rằng không hiệu quả khi so sánh với biện pháp "day tim", hay “day ngực” Nói chung là day ngực vẫn hiệu quả hơn là tiêm nước Có những trường hợp tôi chữa thì có khi phảinhờ một người xe ôm đi mua nước cất rất xa trong khi đó cứ giận ngực với day ngực thì gần như đượckhoảng 40% Đến khi phóng vài lọ nước cất vào cũng chỉ để làm cho nó nhanh hơn thôi chứ thực tếcũng không cần Bởi vì lúc ấy tim nó không hoạt động, không tuần hoàn được máu thì mình làm chotim nó hoạt động, thay một bộ máy tim khác (TLNTT 2)

Trang 39

Cơ chế tiêm nước

Tiêm nước vào lòng mạch được cho là một biện pháp điều trị quá liều heroin Các đối tượng tiêmchích trong nghiên cứu cho rằng heroin ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, đặc biệt là mạch máu và tim.Những người tham gia nghiên cứu đưa ra một số giải thích cho biện pháp này Những giải thích nàyđều phù hợp với quan niệm về cơ chế của quá liều ma túy của họ

Có lẽ cơ chế quan trọng nhất mà người TCMT cho rằng biện pháp tiêm nước có hiệu quả đó là donước vào lòng mạch có tác dụng "làm loãng" lượng heroin đã được tiêm vào cơ thể trước đó Có đốitượng cho rằng tiêm thuốc sẽ “làm tan” heroin Tuy nhiên, nhiều đối tượng nghiên cứu cho rằng biệnpháp này cần được thực hiện trong thời gian ngắn sau khi tiêm chích thuốc

Mình chỉ nghe nói là đưa cái ý vào để nó loãng cái chất thuốc ở trong người ra Quá liều thì thườngdùng liều nó nhiều quá, nhiều cái chất ma tuý thì nó mới sốc Khi đã sốc rồi mình muốn làm loãng nó

ra thì mình chỉ có cho thêm nước vào (Nam, 28 tuổi)

Thì nó sốc nó ép tim Rút kim tiêm ra cái là nó chạy thẳng vào tim Rồi ép tim, tim ngừng đập rồikhông biết gì nữa Có những người người ta biết về cái sốc này thì người ta tiêm nước lọc vào ven đểcho tan Hoặc người ta hô hấp tay chân, cử động tất cả mọi cái để hoạt động, day ngực day tim Nếu

mà biết cứu ngay thì sống nếu để lâu quá thì chết (Nam, 41 tuổi)

Thực hành tiêm nước vào lòng mạch với lý do làm giảm mức độ ảnh hưởng của ma túy vừa đượctiêm chích vào nạn nhân quá liều heroin lên hệ thống tim mạch của đối tượng tiêm chích tham gianghiên cứu tương đối giống với quan niệm này trên đối tượng tiêm chích người Việt tại Sydney theobáo cáo của Ho và Maher Trong nghiên cứu này, các đối tượng TCMT người Việt cho rằng ma túyảnh hưởng đến hệ thống tim mạch và do vậy họ đã rút máu để giảm liều heroin tác động lên tim Trongnghiên cứu này chỉ có một đối tượng đề cập đến hút máu khi quá liều [8,9]

"Day ngực"

Hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều nói rằng họ biết cách xử lý trong trường hợp người khác bịquá liều heroin là "day ngực" "day tim" "giận ngực", để làm tim co bóp trở lại Chỉ có một người đềcập đến biện pháp hô hấp nhân tạo, tuy nhiên qua mô tả, về thực chất cũng chỉ là "day ngực" mà thôi Theo kinh nghiệm của mọi người nói, nếu mà người bị sốc thuốc thì cứ giận ngực, cứ giận như thếđều đặn thì sẽ tỉnh lại (TLNTT 2)

Trong trường hợp cấp cứu quá liều heroin, nếu không có Narcan kịp thời thì sử dụng biện pháp hôhấp nhân tạo là đúng Vì vậy, tầm quan trọng của hướng dẫn những người TCMT và cộng đồng thựchiện hô hấp nhân tạo đúng cách là rất cần thiết, đặc biệt khi mà những đối tượng này thường không có ýđịnh tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía y tế

Không tìm kiếm hỗ trợ từ y tế

Tất cả đối tượng TCMT đều nói rằng họ không bao giờ gọi cán bộ y tế hay xe cứu thương khi gặpngười bị quá liều thuốc phiện Tuy nhiên, ở tuyến huyện, gọi xe cứu thương là rất hãn hữu vì hầu nhưdịch vụ này hoạt động rất hạn chế vì đến chậm Hơn nữa, cứu thương thường không có Narcan để giảiđộc trong trường hợp quá liều heroin Không đối tượng nào đề cập đến tác dụng của Naloxone(Narcan) trong điều trị quá liều heroin

Thời gian, đưa từ đây đến đấy là chết rồi Bởi vì khí ép tim tất cả các mạch máu nó ngừng, tim nóngừng đập Đưa được từ đây ra viện tim ngừng đập quá lâu thì còn cứu gì nữa Thường thường là bạncùng nghiện chứ gọi cứu thương thì thời gian không còn để mà chữa nữa vì là cái này sốc rất nhanh màchữa cũng rất nhanh tỉnh Trong vòng 15 phút nếu tỉnh thì tỉnh ngay còn nếu không thì chết ngay.(Nam, 42 tuổi)

Ngoài ra, trong hoàn cảnh một địa phương nông thôn đang trong giai đoạn đô thị hóa, gọi xe cứuthương không phải là dễ chút nào

Vì mình là những con nghiện, mình gọi cứu thương, tôi nói đúng ra, nói thật sự ở những cái cộngđồng gọi cứu thương ở đây thì chưa có những cái điều kiện như thế Tại vì mình phải mang ra viện cơ.Chứ gọi cứu thương vào đây thì không có Ở ngay thị trấn này gọi cứu thương vào tận nơi thì không

có (Nam, 41 tuổi)

Một quan điểm thống nhất giữa nhiều đối tượng nghiên cứu giải thích tại sao họ không gọi hỗ trợ từphía y tế là vì lý do thời gian Trong trường hợp quá liều heroin, cần phải cấp cứu kịp thời Rất nhiềuđối tượng lo ngại rằng nhân viên y tế sẽ không kịp đến cứu nạn nhân bị quá liều heroin trong khi thờigian đi gọi nhân viên y tế họ có thể thực hiện các biện pháp khác mà họ cho là hiệu quả

Trang 40

Nếu sốc thuốc chỉ có hô hấp và tiêm nước mà không được nữa thì thôi chứ biết nó chết rồi mà còngọi bác sỹ đến làm gì nữa (Nam, 29 tuổi)

Một nỗi lo sợ khác khiến các đối tượng tiêm chích không gọi cứu thương là vị họ sợ bị công an bắtlây hay có người nói rằng sợ bị "vồ" khi có người quá liều heroin Họ lo sợ rằng công an sẽ nghi ngờchính những người cứu này là người TCMT và vì vậy sẽ bị bắt hoặc bị theo dõi sau đó

Không, gọi làm gì Bây giờ gọi chưa thằng này thì mai cũng vào còng luôn (Nam, 27 tuổi)

Một số người không tin tưởng vào sự hỗ trợ của y tế Rõ ràng là trên thực tế, các xe cấp cứu không

có sẵn Narcan và trong bệnh viện tuyến dưới xử lý cấp cứu quá liều heroin còn có nhiều bất cập cầngiải quyết kịp thời Có đối tượng nói rằng họ sẽ bỏ nạn nhân vì sợ liên lụy

Nói chung là nếu như mình không cứu được thì mình cũng bỏ luôn chứ mình không dám gọi ai?

Sao vậy? Lúc đó là công an ập tới thì người ta sẽ mình vì mình đầu độc người khác (Nam, 42 tuổi)

Trên thực tế, dịch vụ cấp cứu như 115 tại địa phương thường không được sử dụng phổ biến đặc biệttại địa bàn cấp huyện, xã Các thuốc cấp cứu trong xe cứu thương thường sơ sài, và không có thuốc điềutrị đặc hiệu quá liều heroin như Narcan Cùng với những lo ngại từ phía người TCMT khi gọi sự hỗ trợ y

tế đã trình bày ở trên cho thấy sự cần thiết cải thiện dịch vụ điều trị quá liều heroin giúp giảm tỷ lệ tửvong do quá liều heroin tại địa phương

Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu này đã cố gắng tìm hiểu thực trạng quá liều heroin trong nhóm TCMT tại Chí Linh, HảiDương Nghiên cứu cũng cố gắng tìm hiểu và giải thích các quan niệm về quá liều heroin và cách xửtrí trong trường hợp quá liều của các đối tượng này

Nghiên cứu cũng cho thấy phần lớn đối tượng TCMT trong nghiên cứu đã từng bị hoặc chứng kiếntrường hợp bị quá liều heroin Họ cho rằng quá liều heroin thường là do tiêm một ‘lượng lớn’ ma tuývào cơ thể Khái niệm ‘lượng lớn’ có thể được hiểu là lớn hơn so với khả năng dung nạp ma túy củatừng cá nhân hay bản thân lượng ma tuý vào cơ thể là quá lớn Một số đối tượng cũng nói đến vai trò

‘công thuốc’ của rượu đối với ma tuý Các quan điểm này là đúng theo cách giải thích y học, đồng thời

nó cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Ho và Maher [8,9] trên cộng đồng người ViệtTCMT tại Sydney và nghiên cứu cũng trên đối tượng này của Nguyễn Thị Tuyết Mai tại Hà nội [10] Nhiều đối tượng có kiến thức ít ỏi về cơ chế quá liều heroin Họ cho rằng ma tuý ảnh hưởng đến hệtim mạch hơn là ảnh hưởng đến hệ hô hấp và thần kinh trung ương Với quan niệm đó, hành vi tiêmnước vào lòng mạch là phổ biến Các đối tượng cũng đề cập đến hô hấp nhân tạo, thường là để hỗ trợcùng với biện pháp ‘tiêm nước’, tuy nhiên họ chỉ dừng lại ở việc “day ngực” mà thôi Không đối tượngnào nói rằng họ đã từng hay có ý định tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía y tế do không tin tưởng vào cán bộ y

tế, hay do thời gian cấp cứu đòi hỏi rất nhanh, nhiều đối tượng lại lo ngại nhất vì sợ bị liên luỵ haydính líu đến cơ quan công an khi tìm kiếm hỗ trợ y tế Hầu hết các đối tượng chưa biết đến vai trò chủđạo của Narcan trong điều trị quá liều heroin Đây cũng là do dịch vụ này chưa đến được với ngườidân tại địa bàn tuyến huyện

Không có đối tượng NC nào báo cáo rằng họ sử dụng dịch vụ cứu thương trong trường hợp quáliều Họ cho rằng dịch vụ này không có tại địa bàn, hoặc đến không kịp thời Có nhiều đối tượng nóirằng họ sợ bị dính líu, liên luỵ đến cơ quan chức năng như y tế, cảnh sát, nhất là khi nạn nhân quá liều

tử vong

Đào tạo nâng cao cho các cán bộ y tế về kỹ năng xử lý các trường hợp quá liều là rất cần thiết.Những người TCMT cũng cần được cung cấp thông tin về cơ chế quá liều heroin Đồng thời họ cũngcần được cung cấp thông tin về cấp cứu như hồi sức tim phổi và cách ứng phó trong các trường hợpquá liều có hiệu quả Cung cấp thuốc và dịch vụ cấp cứu quá liều heroin tại địa phương là rất cần thiếttrong giai đoạn tới

Tài liệu tham khảo

1 Darke, S, Degenhardt L, Mattick R: Mortality amongst illicit drug use: Epidemiology, cause and intervention Cambridge: Cambridge University Press, 2006

2 Hulse GK, English DR, Milne E, Holman CDJ: The Quantification of mortality resulting from the regular use of illicit opiates Addiction 1999, 94: 221-229

3 Warner-Smith M, Darke S, Lynskey M, Hall W: Heroin overdose: Causes and consequences Addiction 2001, 96: 1113-1125

Ngày đăng: 16/09/2016, 19:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Người dân hiểu biết về HIV/AIDS - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 1 Người dân hiểu biết về HIV/AIDS (Trang 6)
Bảng 4: Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV. - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 4 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV (Trang 7)
Bảng 1:  Nghe, biết về HIV/AIDS - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 1 Nghe, biết về HIV/AIDS (Trang 12)
Bảng 4: Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV/AIDS - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 4 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với người nhiễm HIV/AIDS (Trang 14)
Bảng 6: Tuổi lần đầu sử dụng ma túy - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 6 Tuổi lần đầu sử dụng ma túy (Trang 14)
Bảng 10: Số đối tượng chuyển từ hút, hít sang tiêm chích - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 10 Số đối tượng chuyển từ hút, hít sang tiêm chích (Trang 15)
Bảng 1:  Nghe, biết về HIV/AIDS - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 1 Nghe, biết về HIV/AIDS (Trang 19)
Bảng 3: Thái độ về chăm sóc tại nhà của người thân nhiễm HIV/AIDS - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 3 Thái độ về chăm sóc tại nhà của người thân nhiễm HIV/AIDS (Trang 52)
Bảng 3.1: Đặc trưng của mẫu nghiên cứu - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 3.1 Đặc trưng của mẫu nghiên cứu (Trang 84)
Bảng 3.4: Số khách hàng đến tư vấn, xét nghiệm và quay lại nhận kết quả - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 3.4 Số khách hàng đến tư vấn, xét nghiệm và quay lại nhận kết quả (Trang 85)
Bảng 1: Thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 1 Thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu (Trang 88)
Bảng 1 cho thấy nhóm tuổi 20 - 29 tuổi chiếm đa số (47,7%); 30 - 39 tuổi (23,7%) và ít nhất là trên - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 1 cho thấy nhóm tuổi 20 - 29 tuổi chiếm đa số (47,7%); 30 - 39 tuổi (23,7%) và ít nhất là trên (Trang 89)
Bảng 3: Kết quả xét nghiệm của đối tượng nghiên cứu - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 3 Kết quả xét nghiệm của đối tượng nghiên cứu (Trang 90)
Bảng 4: Tỉ lệ khách hàng có kết quả xét nghiệm HIV (+) theo giới - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Bảng 4 Tỉ lệ khách hàng có kết quả xét nghiệm HIV (+) theo giới (Trang 90)
Hình thức sử dụng ma túy bằng đường chích là 83,3%; hút là 12,2% và hít là 4,5% - NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NỮ NHÂN VIÊN CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ DỊCH VỤ GIẢI TRÍ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2008
Hình th ức sử dụng ma túy bằng đường chích là 83,3%; hút là 12,2% và hít là 4,5% (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w