1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái

121 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 7,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái có đặc điểm là địa hình có độ dốc lớn, đôthị nắm bám theo các triền sông, triền suối, các lưu vực phía trên thượng nguồnthường bị tình trạng người dân đố

Trang 1

-ĐỖ ĐỨC HỮU KHÓA: 2009 - 2011

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUẨN BỊ KỸ THUẬT PHÒNG TRÁNH LŨ QUÉT CHO THÀNH PHỐ YÊN BÁI – TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐÔ THỊ

MÃ SỐ: 60.58.22

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS PHẠM TRỌNG MẠNH

Hà Nội, năm 2011

Trang 2

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ CHUẨN BỊ KỸ THUẬT PHÒNG TRÁNH LŨ

QUÉT TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI 3

1.1 Khái niệm về lũ quét: 3

1.1.1 Định nghĩa lũ quét 3

1.1.2 Đặc điểm của lũ quét 3

1.2 Giới thiệu chung về thành phố Yên Bái: 4

1.2.1 Các điều kiện tự nhiên: 4

1.2.2 Hiện trạng kinh tế xã hội: 8

1.2.3 Hiện trạng Hạ tầng kỹ thuật 11

1.2.4 Tình hình đô thị hóa và các hoạt động phá vỡ bề mặt tự nhiên 16

1.3 Thực trạng lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc 19

1.3.1 Thực trạng chung 19

1.3.2 Diễn biến và tình hình thiệt hại do lũ quét hàng năm 20

1.3.3 Thực trạng một số trận lũ quét điển hình tại khu vực miền núi phía Bắc .23

1.3.4 Sơ đồ tai biến lũ quét khu vực Tây Bắc bộ 27

1.4 Thực trạng lũ quét tại Yên Bái 27

1.4.1 Thực trạng một số trận lũ quét điển hình tại Yên Bái 27

1.4.2 Thực trạng công tác phòng tránh lũ quét tại Yên Bái 32

CHƯƠNG II 35

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÒNG TRÁNH LŨ QUÉT Ở THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI 35

2.1 Sự hình thành và phân loại lũ quét 35

2.1.1 Sự hình thành lũ quét 35

2.1.2 Phân loại lũ quét 37

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành lũ quét: 40

2.1.4 Chỉ tiêu phân loại và tiêu chuẩn đánh giá lũ quét 46

2.2 Nguyên nhân của sự gia tăng lũ quét trong những năm gần đây 49

2.2.1 Các nguyên nhân tự nhiên 49

2.2.2 Các nguyên nhân do hoạt động của con người 53

2.3 Kinh nghiệm phòng tránh lũ quét 57

2.3.1 Kinh nghiệm từ các giải pháp công trình 57

2.3.2 Kinh nghiệm từ các giải pháp phi công trình 59

2.3.3 Ưu nhược điểm của các biện pháp phòng tránh lũ quét 60

2.4 Dự báo các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét cho TP Yên Bái 64

2.4.1 Cơ sở lý luận của việc dự báo nguy cơ xảy ra lũ quét 64

2.4.2 Thành lập bản đồ nguy cơ Tai biến lũ quét cho Thành phố Yên Bái 68

Trang 3

3.1 Quan điểm và định hướng cho sự an toàn đô thị 70

3.1.1 Các quan điểm ứng phó với tai biến lũ quét: 70

3.1.2 Quan điểm và định hướng phát triển bền vững cho TP Yên Bái 70

3.2 Phân vùng các lưu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét 72

3.2.1 Các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét sườn dốc 72

3.2.2 Các lưu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét nghẽn dòng 74

3.2.3 Giải pháp phòng tránh và ứng phó cho từng vùng trong lưu vực 77

3.3 Giải pháp về quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật phòng tránh lũ quét 79

3.3.1 Lựa chọn đất đai xây dựng đô thị: 79

3.3.2 Quy hoạch trị thủy các sông suối chính chảy qua đô thị 82

3.3.3 Quy hoạch thiết kế các công trình cầu, cống hợp lý 84

3.4 Giải pháp điều tiết lưu lượng lũ 86

3.4.1 Xây dựng hồ chứa điều tiết lũ 86

3.4.2 Xây dựng các đập tràn điều tiết, làm chậm lũ 88

3.4.3 Phân dòng lũ 90

3.4.4 Xây dựng bổ sung các tràn sự cố ở các hồ chứa nước 92

3.5 Giải pháp chống xói mòn, sạt lở 92

3.5.1 Tăng cường lớp thảm thực vật 92

3.5.2 Gia cố mái kè sườn dốc 93

3.5.3 Biện pháp kỹ thuật thủy lợi chống xói mòn sườn dốc 95

3.5.4 Xây dựng đê, tường chắn lũ quét 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

KẾT LUẬN: 98

KIẾN NGHỊ: 99

Trang 4

và của đối với nhân loại trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Trong một

số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, nhưtrận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khuvực thị xã Trong những năm gần đây, hiện tượng lũ quét xảy ra ngày càng phổbiến và nghiêm trọng đối với các tỉnh miền núi nước ta Mỗi năm có đến hàng chụctrận lũ quét, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, nhiều người thiệt mạng, nhà cửa vàgia súc, gia cầm bị cuốn trôi, cuộc sống của người dân vùng lũ bị xáo trộn

Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái có đặc điểm là địa hình có độ dốc lớn, đôthị nắm bám theo các triền sông, triền suối, các lưu vực phía trên thượng nguồnthường bị tình trạng người dân đốt phá rừng và khai hoang bừa bãi, là nơi có nguy

cơ xảy ra lũ quét cao

Vì vậy khi quy hoạch, xây dựng các đô thị miền núi nói chung và Thành phốYên Bái – tỉnh Yên Bái nói riêng thì vấn đề nghiên cứu các giải pháp phòng tránh

lũ quét, lũ bùn đá và phòng tránh trượt lở là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết

Mục đích nghiên cứu

Xác định hiện trạng, nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng và phân vùng dự báomức độ nguy hiểm dễ xẩy ra tai biến lũ quét

Đề xuất biện pháp khắc phục, đưa ra các khuyến cáo và các biện pháp chuẩn bị

kỹ thuật có hiệu quả nhằm phòng tránh, giảm thiểu hậu quả và rủi ro đối với tínhmạng và tài sản, góp phần đảm bảo môi trường sống an toàn và bền vững cho TPYên Bái – tỉnh Yên Bái

Nội dung nghiên cứu:

 Nghiên cứu tổng quan về lũ quét, sự hình thành và phân loại lũ quét,nguyên nhân của sự gia tăng lũ quét ở khu vực miền núi phía Bắc

 Phân tích, đánh giá đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu và

dự báo nguy cơ xảy ra lũ quét của khu vực Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái

 Tìm hiểu Các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do lũ quétgây ra ở Việt Nam và trên thế giới

Trang 5

Đối tượng và pham vi nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và dựbáo nguy cơ xảy ra lũ quét ở Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái

 Phạm vi nghiêm cứu: Thành Phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái và lấy một

số vị trí đặc biệt để nghiên cứu, đưa ra giải pháp cụ thể

Phương pháp nghiên cứu:

 Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tàiliệu, số liệu thực tế về lũ quét và đặc điểm, điều kiện hình thành lũ quét ở TP YênBái, tỉnh Yên Bái, từ đó đánh giá chung

 Phương pháp kế thừa: Kế thừa những lý luận khoa học của các tàiliệu, các công trình khoa học của các tác giả đi trước

 Phương pháp xử lý thông tin: Tổng hợp, phân tích và xử lý các thôngtin được thu thập làm cơ sở lý luận cho đề tài

 Phương pháp thực địa: Điều tra, khảo sát thực địa hiện trạng địa hình

TP Yên Bái và khu vực lân cận

Chương II Cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu Chuẩn bị kỹ

thuật phòng tránh lũ quét ở Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái

Chương III Đề xuất một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật phòng tránh

lũ quét cho Thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái

Trang 6

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ CHUẨN BỊ KỸ THUẬT PHÒNG TRÁNH LŨ QUÉT TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI

1.1 Khái niệm về lũ quét:

1.1.1 Định nghĩa lũ quét

Lũ quét là hiện tượng thiên tai, xảy ra khi có các nhân tố như: thời tiết có mưavới cường độ cao trên khu vực địa hình có độ dốc lớn, điều kiện lớp thảm thực vậtthưa thớt, độ ổn định của các lớp đất mặt kém sẽ tạo điều kiện tập trung, hình thànhdòng chảy dồn vào các sông suối thuận lợi, làm cho lượng nước tích tụ ngày càngnhanh và tạo ra thế năng rất lớn từ đó hình thành lũ quét

Lũ quét thường là những trận lũ lớn, xảy ra bất ngờ, tồn tại trong thời gianngắn, dòng chảy xiết và có sức tàn phá rất lớn trong phạm vi hẹp, cuốn theo mọichướng ngại vật trên dòng chảy tập trung của lưu vực

1.1.2 Đặc điểm của lũ quét

Có thể tổng hợp các đặc tính của lũ quét như sau:

* Tính bất ngờ:

Thời gian từ khi xuất hiện đến khi kết thúc, lũ quét diễn biến rất nhanh (thườngchỉ từ 1h đến 3h sau khi có mưa lớn), đặc biệt là đối với loại lũ quét nghẽn dòng cóthể gây ra sóng lũ cao đột ngột Mặt khác, lũ quét thường xảy ra ở vùng núi hiểmtrở, việc đi lại đo đạc, thu thập tài liệu khó khăn, do vậy với các phương pháp thínhtoán dự báo thông thường khó có thể dự báo một cách có hiệu quả [9]

* Tính xảy ra trong thời gian ngắn:

Từ lúc bắt đầu có mưa đến lúc kết thúc, lũ quét thường không kéo dài quá 1ngày (trận lũ 27/6/1990, 27/7/1991 ở Nậm Lay, 27/7/1991 tại Nậm Pàn, Nậm Nachỉ từ 1h đến 3h ) Lũ quét ở suối Quận Cậy, tại Phúc Thuận Phổ Yên tỉnh Bắc Tháixảy ra lúc 23h45' ngày 20/10/1969, kết thúc lúc 1h ngày 21/10/1969, trận lũ này cóđường quá trình mực nước lũ lên và xuống rất dốc

* Tỷ lệ vật chất rắn trong lũ quét rất lớn:

Trang 7

thường tăng từ 1,1 đến 1,2 lần lượng nước lũ đã sinh ra nó Có thể nói nước lũ quét

là pha trung gian giữa vật thể lỏng và vật thể rắn nên ngoài sự phá hoại do lưu tốccủa dòng lũ gây ra hiện tượng xói mà còn làm bồi lắng đá cát sỏi trên dọc đường lũ

đi qua

* Tính khốc liệt.:

Do lũ có lưu lượng lớn và dòng chảy xiết, đặc biệt là khi nước lũ tích tụ tạo rasóng lũ lớn đột ngột nên có thế năng rất lớn, các vật thể rắn chuyển động va đập làmcho lũ quét có sức tàn phá lớn các công trình, cuốn đi mọi vật cản trên đườngchuyển động của nó [9]

1.2 Giới thiệu chung về thành phố Yên Bái:

1.2.1 Các điều kiện tự nhiên:

a Vị trí địa lý:

Thành phố Yên Bái là đô

thị miền núi phía Bắc, Tây

Bắc Việt Nam, có tọa độ

Trang 8

Địa hình đa dạng và bị chia cắt bởi sông Hồng là sông lớn nhất miền Bắc vàcác dãy đồi bát úp với độ dốc sườn đồi lớn, xen kẽ là các khe tụ thuỷ và các dảiruộng hẹp.

- Địa hình thung lũng: Nằm xen kẽ giữa các đồi, núi kéo dài theo thung lũngsuối, chiều rộng dải đất rất hẹp, có cao độ từ 28m-35m

- Địa hình đồng bằng: Là các dải ruộng dưới chân đồi, núi, dọc hai bờ sông

Hồng, có cao độ từ 28m-50m

- Địa hình đồi núi: Chiếm phần lớn diện tích của Thành phố Yên Bái, có độ

dốc lớn, cao độ nền >60m, bao gồm các dãy đồi và núi kéo dài theo hướng TâyBắc- Đông Nam, độ dốc nền >10% [17]

c Đặc điểm khí hậu:

Yên Bái có đặc trưng khí hậu vùng Tây Bắc nhiệt đới gió mùa và chịu ảnhhưởng nhiều của địa hình

* Nhiệt độ:

- Nhiệt độ trung bình năm: 22,7oC

- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 27,5oC

- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 20,05oC

* Mưa:

- Lượng mưa trung bình năm: 2057mm

- Lượng mưa năm cao nhất: 2705mm

- Lượng mưa năm thấp nhất: 1462mm

- Lượng mưa ngày lớn nhất: 349mm (6-9-1973)

- Số ngày mưa trung bình năm: 194 ngày

Mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9

* Nắng:

Tổng số giờ nắng trong năm: 1369h

Trang 9

- Lưu lượng nhỏ nhất 95m3/s, tốc độ min= 0,62m/s.

- Biên độ dao động mực nước năm nhiều nhất 7,53m, năm ít nhất 5,06m.Nước sông Hồng rất đục, nước mềm, rất bẩn về phương diện vi sinh Sau đây là một

số đặc trưng của sông Hồng

Bảng 1.1 Mực nước ứng với tần suất sông Hồng tại Yên Bái:

(Nguồn: Quy hoạch chung xây dựng TP Yên Bái đến năm 2020)

* Các nhánh sông suối khác:

Trang 10

- Ngòi Hiển Dương: Flv =18,5 km2 ; Q = 2m3/s

- Ngòi Âu Lâu: B = 40m ; Q =150 l/s

- Ngòi Yên Ninh: B =3m ; Q =70l/s

- Ngòi Yên Thịnh: B =12m ; Q = 40 l/s

- Ngòi Đại Đồng: B =2m ; Q =40 l/s

Chất lượng nước các suối kém, nước dạng mềm

+ Các hồ:

- Hồ Nguyễn Thái Học: Là hồ gắn với công viên Yên Hoà diện tích 10.000

m2 Chiều sâu hồ 3,3m Ngoài ra còn có một số hồ nằm ở trong các phường [17]

e Địa chất:

Khu vực Thành phố Yên Bái nằm trong vùng dự báo có động đất cấp 8 (Theotài liệu dự báo phân vùng động đất của Viện khoa học trái đất)

- Địa chất kiến tạo:

- Theo tài liệu nghiên cứu địa chất đô thị khu vực Yên Bái có nhiều đứt gãyđịa chất gọi là hệ thống đứt gãy sông Hồng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo rađịa hình sông Hồng được lấp đầy trầm tích Neogen và Đệ tứ

- Các đứt gãy theo hướng Tây Nam và Đông Nam là những đứt gãy nhỏ lôngchim tạo cho địa hình thành khối tảng

- Các đứt gãy đó tạo nên các khu vực nứt, trượt lở đồi núi ảnh hưởng đến xâydựng và mọi hoạt động của con người

Trang 11

sét pha, lớp dưới có lẫn sỏi sạn, đến lớp đá gốc Phân bố dọc hai bờ sông Hồng một

số khu vực ao hồ: lớp trên là bùn có lẫn xác động thực vật (mùn)

- Đất có nguồn gốc phong hoá: có các lớp cấu tạo: sét pha lẫn sỏi sạn, dămsạn lẫn đất đá phân bố theo các sườn đồi, núi, lớp dưới là đá gốc, hoặc đá biến chất.Nhìn chung, các lớp đất đá khu vực có khả năng chịu tải tốt Khu vực Thànhphố đã xây dựng nhiều nhà cao tầng trong nhiều năm tương đối ổn định

- Địa chất thuỷ văn:

- Tầng chứa nước lỗ hổng:

Phân bố dọc theo hai bờ sông Hồng ở Tuy Lộc - Bái Dương, tả ngạn sôngHồng, Âu Lâu, chiều dày lớp nước từ 1m - 11,1m ở độ sâu tầng chứa 3,2m - 12,8m.Diện phân bố hẹp có sự thay đổi hướng, lưu lượng 0,6-3,89l/s

- Tầng chứa nước khe nứt:

Phân bố rộng 1,5km - 2km, chiều dày tầng chứa 1000m, giàu nước, nằm sâudưới mặt đất chừng 2-3m, lưu lượng từ 0,1 - 9,37l/s Có khả năng cung cấp cho dânsinh và sản xuất công nghiệp [17]

f Nhận xét các điều kiện tự nhiên:

Qua các tài liệu tự nhiên và địa chất cho thấy khu vực Yên Bái chịu nhiều ảnhhưởng của các yếu tố:

- Động đất ở cấp cao, cấp 8

- Địa hình bị chia cắt do núi

- Ảnh hưởng hoạt động địa chất gây ra các hiện tượng nứt đất, lở núi

- Mưa lũ làm ngập lụt xói lở bờ sông, xói lở sườn núi do lũ [17]

1.2.2 Hiện trạng kinh tế xã hội:

a Hiện trạng cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng: Giảm tỷ trọng nông lâmnghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng, dịch vụ thương mại Tốc độ tăng

Trang 12

10,6 triệu đồng/năm, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2004

* Công nghiệp, TTCN:

- Nhiều cơ sở sản xuất sau khi được đầu tư, đổi mới công nghệ đã phát huyđược hiệu quả như Nhà máy sứ, Nhà máy xi măng, Công ty chè, Nhà máy gạchtuynel, Công ty chế biến lâm sản xuất khẩu, Xí nghiệp may xuất khẩu

* Dịch vụ- Thương mại, du lịch:

Là trung tâm Tỉnh lỵ nên ngành thương mại- dịch vụ đã có bước chuyển dịchkhá mạnh, đa dạng với nhiều thành phần kinh tế

* Nông, lâm nghiệp:

Sản xuất nông- lâm nghiệp thành phố tiếp tục phát triển ổn định, cơ cấuchuyển dịch đúng hướng Diện tích lúa gieo cấy cả năm 2005 đạt 532,4 ha Tổngdiện tích cây rau, đậu cả năm 2005 đạt 207,3 ha Diện tích hoa phân tán năm 2005trên địa bàn hiện có là 5,3 ha; diện tích trồng hoa công nghệ cao là 4,5 ha đã vàđang cho thu hoạch với số lượng hoa lớn và có giá trị kinh tế cao Bước đầu đã hìnhthành vùng trồng rau ở xã Tuy Lộc với diện tích 20 ha

* Kinh tế nội thị:

Trên 90% cơ sở hạ tầng kinh tế của Thành phố Yên Bái tập trung ở nội thịnhư: cụm công nghiệp, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh, cụmbách hoá tổng hợp, hệ thống dịch vụ và thương mại song chưa được hình thành rõnét và phân khu hợp lý, chưa có được các trung tâm mạnh về kinh tế trong từng lĩnhvực Kinh tế nội thị chủ yếu là sản xuất CN, TTCN, dịch vụ và một phần nông lâmnghiệp [17]

b Hiện trạng dân số, lao động:

Theo niên giám thống kê năm 2004, dân số trung bình thành phố Yên Bái năm

2004 là: 78.041 người, trong đó dân số nội thị: 65.219 người, dân số ngoại thị:12.822 người

Trang 13

học là: 0,5% [17]

Nhận xét:-Biến động dân số TP Yên Bái tăng qua các năm không đáng kể.Điều đó chứng tỏ công tác KHHGĐ ở thành phố hoạt động có hiệu quả Tăng cơhọc không nhiều, sức thu hút của Thành phố về mọi mặt chưa cao

Bảng 1.2 Hiện trạng phân bố đất đai và dân cư của Thành phố Yên Bái

TT Tên phường, xã

Dân số (1000 người)

Diện tích đất tự nhiên (ha)

Diện tích đất chuyên dùng (ha)

Diện tích đất

ở (ha)

Mật độ cư trú netto (ng/ha đất ở)

d Hạ tầng xã hội:

* Nhà ở:

Nhà ở do nhà nước quản lý chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là nhà ở do dân tự xâydựng, 90% dân số nội thị đã có nhà xây

Trang 14

* Công trình thương mại, dịch vụ:

+ Tất cả các phường đều có chợ khu vực với tổng diện tích là 1ha

+ Hệ thống thương mại của Thành phố đã hình thành mạng lưới hoàn chỉnh, đadạng, phong phú

+ Thành phố hiện có 1 công viên 8 ha, 2 vườn hoa 1,8 ha, dự án Điều chỉnhquy hoạch chi tiết công viên Yên Hoà với diện tích 50 ha, trong đó mặt nước 3 ha.Cách trung tâm Thành phố 8km về phía Nam có khu du lịch Hồ Thác Bà, đây là khu

du lịch có nhiều tiềm năng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước [17]

- Thành phố Yên Bái với địa hình tự nhiên gồm: Các đồi bát úp, xen kẽ là cácthung lũng hẹp và dải đồng bằng ven sông Hồng Nhìn chung quỹ đất thuận lợi xâydựng và phát triển đô thị là rất hạn chế, địa hình có mấy dạng sau:

+ Địa hình núi, đồi ở độ cao 50-150m, có độ dốc lớn i>20% không thuận lợicho xây dựng phải san phá tạo mặt bằng xây dựng lớn

Trang 15

cho xây dựng

+ Địa hình ven sông có cao độ 31-32m thường bị ngập lụt với các tần suất như

đã ở phần thuỷ văn, khi xây dựng phải đắp nền 1-2m [17]

Hình 1.2 Ảnh hiện trạng nền TP Yên Bái

(Nguồn: Tác giả)

* Hiện trạng thoát nước mưa:

Toàn thành phố có hệ thống thoát nước chung (nước mưa và nước thải sinhhoạt) theo mạng đường giao thông của thành phố Hầu hết các đường trong nội thịmặt đường bê tông nhựa hoặc bê tông xi măng có làm hè và bó vỉa, hai bên đường

Trang 16

lại các đường đất mương hai bên là mương đất [17]

* Đánh giá hiên trạng đất xây dựng:

+ Căn cứ vào bản đồ địa hình, điều kiện thuỷ văn và các điều kiện tự nhiênđánh giá quỹ đất như sau

+ Đất loại Ia: Đất đã xây dựng diện tích F=1027,3ha, chiếm 17,70%

+ Đất loại I: Xây dựng thuận lợi, có cao độ nền 34-40, độ dốc i 10%, khôngngập úng Diện tích F=1096,2ha, chiếm 18,89%

+ Đất loại II: Xây dựng ít thuận lợi, có cao độ 31,5- 32m nằm ven sông,thường bị ngập lụt với tần suất P=20%, khi xây dựng phải đắp nền, Hđắp=1-2m: Diệntích F=46ha, chiếm 0,80%

+ Đất xây dựng ít thuận lợi do độ dốc ven sườn núi 10%< i < 20%, phải sanphá tạo mặt bằng xây dựng lớn Diện tích F=1276,44ha, chiếm 22%

Đất loại III: Xây dựng không thuận lợi do độ dốc quá lớn i>20% và có tai biếnđịa chất : nứt, trượt, xói, lở Diện tích F=1751ha, chiếm 30,18%

+ Mặt nước diện tích F=605,7ha, chiếm 10,43%.[17]

b) Hiện trạng giao thông:

* Giao thông đối ngoại:

Thành phố Yên Bái nằm giữa cung đường từ Hà Nội đi Lào Cai, có đầy đủ 4loại hình giao thông đối ngoại bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thuỷ (SôngHồng) và đường hàng không

Trang 17

Hồng

+ Quốc lộ 37 nối liền thành phố Yên Bái - Tuyên quang - Sơn La đường cấp

IV miền núi

- Bến bãi đỗ xe:

+ Hiện tại trong thành phố Yên Bái có 1 bến xe liên tỉnh có diện tích ~3200

m2, lưu lượng xuất nhập xe từ 95-100 xe/ngày Ngoài ra thành phố Yên Bái chưa cóbãi xe tập trung lớn nào, hầu hết các điểm đỗ xe đều nhỏ lẻ và tự phát

Trang 18

- Mạng lưới đường:

Mạng lưới đường thành phố Yên Bái được tổ chức chủ yếu dựa theo địa hình

tự nhiên, với khu vực là khu nội thị và khu trung tâm km5

+ Khu vực nội thị hiện tại ngoài đường Nguyễn Thái Học đã được xây dựngtheo quy hoạch còn lại các đường trong thành phố đều manh mún chưa có quyhoạch đồng bộ Quy mô mặt cắt các tuyến đường còn nhỏ từ 12-24 m, chiều rộngvỉa hè còn nhỏ chưa đủ chiều rộng cho người đi bộ Khu vực nội thị được nối vớikhu trung tâm qua đường Cao Thắng và Đinh Tiên Hoàng

+ Khu trung tâm đã được đầu tư nâng cấp, chiều rộng các tuyến đường từ

18-17 m, mặt đường rải bê tông nhựa [18-17]

- Chất lượng đường:

Tổng chiều dài mạng đường nội thị thành phố Yên Bái ~89 km trong đó có20,7 km mặt được rải bê tông nhựa, 35,7 km mặt đường rải nhựa, 2,5 km đường bánthấm nhập nhựa, 13,9 km đường bê tông xi măng, 16,2 km đường cấp phối đất đá

c) Hiện trạng cấp nước:

* Nhà máy nước mặt Yên Bái:

- Nhà máy nước mặt Yên Bái được xây dựng từ năm 1962 có công suất2400m3/ngđ, đến năm 1982 mở rộng nâng công suất lên 10.000 m3/ngđ Diện tíchnhà máy nước 1ha

* Nhà máy nước Yên Bình:

Nhà máy nước Yên Bình được đưa vào hoạt động 1/2002, công suất 12.000m3/ngđ hiện tại đang khai thác với công suất 5.000m3/ngđ do nhu cầu dùng nướccủa thành phố ít Diện tích nhà máy nước 2ha

*Mạng lưới cấp nước:

Trang 19

đường ống cấp nước là 29290m, tổng chiều dài đường ống cấp nước thô là 8.700mống d300mm và 4.200m ống d400mm.

Hiện có 2 đài nước với dung tích tổng cộng là 1000m3

Trạm bơm tăng áp cách nhà máy nước Yên Bái 3,5km có công suất Q=175m3/

h [17]

d) Hiện trạng thông tin liên lạc:

- Thành phố Yên Bái đã hoà mạng quốc gia và quốc tế, tất cả các xã, phường,

cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn đều có điện thoại

- Tổng số máy điện thoại hiện có: 3.062 máy đạt tỷ lệ 3,82 máy/100 dân

- Hệ thống bưu chính: Thành phố Yên Bái hiện có 4 bưu cục, tất cả các cơquan, đơn vị trên địa bàn đã có báo trong ngày [17]

f) Hiện trạng thoát nước bẩn và vệ sinh môi trường:

- Hiện trạng hệ thống thoát nước bẩn của thành phố Yên Bái là hệ thống thoátnước chung (thoát chung cả nước bẩn và nước mưa) Trên các trục đường chínhtrong thành phố, hệ thống mương xây nắp đan đã được đầu tư xây dựng khá kiên

cố Còn lại trên các tuyến đường khác chỉ là các tuyến mương hở, rãnh đất

Trang 20

hoặc xử lý không đạt yêu cầu được xả vào hệ thống thoát nước chung gây nên tìnhtrạng ô nhiễm môi trường [17]

1.2.4 Tình hình đô thị hóa và các hoạt động phá vỡ bề mặt tự nhiên

Trong những năm gần đây tình hình đô thị hóa tại thành phố Yên Bái pháttriển ở mức cao, hàng loạt các khu đô thị, khu công nghiệp mọc lên đã ảnh hưởngnghiêm trọng đến bề mặt tự nhiên và môi trường sinh thái [17]

Bảng 1.3 Dự báo dân số thành phố Yên Bái

1999

HIỆNTRẠNG2004

ĐỒ ÁN ĐIỀUCHỈNH QH GIAIĐOẠN 2004-2020

(Nguồn: Quy hoạch điểu chỉnh Thành phố Yên Bái)

Các dự án ĐTXD chủ yếu trên địa bàn TP Yên Bái (xem phụ lục 1.2)

* Tổng diện tích đất xây dựng đô thị:

- Năm 2010 là 1760,8 ha - bình quân 160,1 m2/người, trong đó đất dân dụng là1145,7 ha - bình quân 104,2 m2/người;

Trang 21

ha - bình quân 101,3 m2/người [17]

Tổng hợp cân bằng đất quy hoạch xây dựng đô thị (xem phụ lục 1.3)

Trang 23

1.3 Thực trạng lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc

1.3.1 Thực trạng chung

Vùng núi phía Bắc được giới hạn về phía Bắc bởi đường biên giới Việt-Trung.Phía đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ Phía nam tiếp giáp với vùng đồng bằng sôngHồng

Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất.Phía đông thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lầnlượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều

Vùng núi phía Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông

Thao, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sôngThương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông BắcGiang, sông Kỳ Cùng thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng – Bằng Giang Với 3/4 diệntích là núi, đồi, có nhiều dãy núi cao ở phía Tây, đặc biệt dãy Hoàng Liên Sơn, chạydọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, ở phía Đông lại có những dãy núi cao chạytheo hình cánh cung, đồng thời có nhiều con sông, suối bắt đầu nguồn từ núi cao đổxuống phía đồng bằng làm cho địa hình của Đông Bắc chia cắt phức tạp Đất đai bịchia cắt, manh mún, không liền khoảnh, gây khó khăn lớn cho việc hình thành vùngsản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn Việc đi lại của dân cư và giao lưu kinh tếgiữa vùng này với vùng khác, đặc biệt là giữa các địa phương trong vùng, nhất là ởvùng cao, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn Đông Bắc còn là vùng có những trungtâm mưa nhiều nhất nhì cả nước, cộng với địa hình dốc nên dễ gây ra tình trạng lũquét, lở đất đá,

Theo số liệu thống kê do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, từ năm 1990đến năm 2004, các khu vực miền núi trong cả nước đã liên tục xảy ra các trận lũquét lớn ảnh hưởng đến các vùng dân cư, làm 965 người chết và mất tích, 628người bị thương, làm đổ, trôi 13.280 nhà, ngập và hư hỏng 114.849 nhà, phá huỷhàng nghìn ha đất canh tác và nhiều hệ thống công trình giao thông thuỷ lợi Chỉtính riêng năm 2004, các trận lũ quét tại các tỉnh miền núi phía Bắc đã làm 53 ngườichết và mất tích, thiệt hại vật chất gần 100 tỷ đồng [11]

Trang 24

Qua điều tra hiện trạng lũ quét của vùng núi phía Bắc cho thấy lũ quét đã gâykhông ít khó khăn cho sản xuất phát triển kinh tế của các vùng, tuy nhiên việcnghiên cứu về lũ quét chưa được chú trọng đến.

- Chưa xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ lũ quét chi tiết cho từng cấplưu vực sông, từng vùng (tối thiểu là bản đồ tỷ lệ 1:50.000) để giúp các nhà quản lýcấp Trung ương và địa phương (tỉnh, huyện) lập quy hoạch sơ tán dân cư khỏi cácvùng nguy hiểm và ảnh hưởng do lũ, lũ quét

- Về cơ bản, nước ta chưa có hệ thống cảnh báo lũ quét Sự chậm trễ này donhiều nguyên nhân có thể kể đến:

+ Chưa thiết lập được hệ thống thu thập số liệu cơ bản đủ để phục vụ cảnh báoxác định quan hệ mưa đỉnh lũ cho từng vùng, tình hình mặt đệm để xác địnhngưỡng mưa sinh lũ quét, dự báo tiến triển của các hình thế thời tiết gây mưa lớn….+ Thiếu các thiết bị cung cấp dữ liệu cho cảnh báo và thông tin trở lại chocộng đồng dân cư cho phòng tránh

+ Chưa cảnh báo được các hình thế thời tiết gây mưa lớn và các hình thế thờitiết đặc thù hình thành ở các kiểu địa hình khác nhau Nguyên nhân này chủ yếu dochưa có công nghệ đủ mạnh (phân tích ảnh vệ tinh, mạng lưới hệ thống radar hiệntại chưa phủ kín, tính năng kỹ thuật chưa thích hợp để thu thập sớm thông tin diễnbiến mây cho các khu vực miền núi) [7,9]

1.3.2 Diễn biến và tình hình thiệt hại do lũ quét hàng năm

Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương, diễn biến lũquét trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2007 trên toàn quốc nhưsau:

+ Năm 1990, có 04 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lai Châu (cũ), Bắc Cạn,Thái Nguyên, Bình Định, Đắc Lắc làm 147 người chết, 218 người bị thương, 1039nhà bị đổ trôi

+ Năm 1991, có 04 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lai Châu (cũ), Sơn La,Hòa Bình, Quảng Bình làm 21 người chết, 14 người bị thương, 9 người mất tích,

372 nhà bị đổ trôi, 928 nhà bị hư hại

Trang 25

+ Năm 1992, có 08 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lai Châu, Lào Cai,Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Thuận làm 46 người chết, 29người bị thương và mất tích, 54 nhà bị đổ trôi, 180 nhà bị hư hại.

+ Năm 1993, có 08 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, LạngSơn, Quảng Ninh, Quảng Bình, Phú Yên, Bình Thuận làm 59 người chết, 17 người

bị thương, 34 nhà bị đổ trôi, 45 nhà bị hư hại

+ Năm 1994, có 08 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, LaiChâu, Quảng Ninh, Kon Tum, Bình Thuận, Lạng Sơn, Ninh Thuận làm 37 ngườichết, 46 người bị thương, 429 nhà bị đổ trôi

+ Năm 1995, có 11 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Gia Lai, Thanh Hóa, HàGiang, Vĩnh Phúc, Sơn La, Lào Cai, Hòa Bình, Yên Bái, Bình Thuận, Ninh Thuậnlàm 10 người chết, 2 người bị thương, 470 nhà bị đổ trôi

+ Năm 1996, có 15 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Thái Nguyên, BìnhThuận, Sơn La, Cao Bằng, Lào Cai, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Lai Châu làm 116người chết, 29 người bị thương, 407 nhà bị đổ trôi

+ Năm 1997, có 14 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lai Châu, Hà Giang,Tuyên Quang, Thái Nguyên, Sơn La, Yên Bái, Bình Phước, Bình Thuận, KiênGiang, Điện Biên, Bắc Cạn, làm 16 người chết, 28 người bị thương, 225 nhà bị đổtrôi

+ Năm 1998, có 15 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lâm Đồng, Lai Châu,Lào Cai, Lạng Sơn, Yên Bái, Bình Thuận, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Tuyên Quang,

Hà Giang, Kiên Giang, làm 22 người chết, 9 người bị thương, 268 nhà bị đổ trôi.+ Năm 1999, có 14 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, BìnhThuận, Lào Cai, Cao Bằng, Phú Thọ, Bắc Cạn, Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắk Lắk,Quảng Ninh làm 55 người chết, nhiều người bị thương, 2001 nhà bị đổ trôi

+ Năm 2000, có 6 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lào Cai, Vĩnh Phúc, YênBái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu làm 97 người chết, 27 người bị thương, 129nhà bị đổ trôi

Trang 26

+ Năm 2001, có 14 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng,Gia Lai, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Hòa Bình, Kon Tum, Đồng Nai, Bình Phước, LâmĐồng, Đăk Lắk, Phú Thọ làm 27 người chết, 15 người bị thương, 33 nhà bị đổ trôi.+ Năm 2002, có 11 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Cạn,Cao Bằng, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Thái Nguyên, Nghệ An làm 78 người chết,hàng trăm người bị thương, 210 nhà bị đổ trôi.

+ Năm 2003, có 04 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, ĐắkLắk làm 14 người chết, 3 người bị thương, 15 nhà bị đổ trôi

+ Năm 2004, có 10 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, LaiChâu, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bình Thuận làm 74 người chết, 41 người bị thương,

+ Năm 2007, có 14 trận lũ quét đã xảy ra tại các tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, HàGiang, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An làm 39người chết, 12 người bị thương, 92 nhà bị đổ trôi [9]

* Nhận xét:

Qua thống kê cho thấy, tình hình lũ quét ngày càng nghiêm trọng, số trận lũquét ở Việt Nam nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng ngày càngtăng qua từng thời kỳ

+ Từ năm 1970 – 1980 có 7 trận lũ quét xảy ra

+ Từ năm 1981 – 1990 có 8 trận lũ quét xảy ra

+ Từ năm 1991 – 2000 có 103 trận lũ quét xảy ra

+ Từ năm 2001 – 2007 có 87 trận lũ quét xảy ra

Trang 27

Hình 1.4 Diễn biến về số trận lũ quét hàng năm (1990-2007)

(Nguồn: Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương)

1.3.3 Thực trạng một số trận lũ quét điển hình tại khu vực miền núi phía Bắc

- Ở Việt Nam theo báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng tránh lụt bão Trung ương,

từ năm 1990 đến 2007, trên cả nước đã xẩy ra 25 trận lũ quét mạnh, gây ảnh hưởnglớn đến đời sống của nhiều vùng, hàng trăm người chết hàng vạn ngôi nhà bị lũcuốn trôi, tổng thiệt hại do các trận lũ quét này gây ra hàng nghìn tỷ đồng

* Trận lũ quét tại Thị xã Lai Châu ngày 27/6/1990

Thị xã Lai Châu trước đây là khu vực hợp lưu của 3 nhánh sông: Thượng lưusông Đà, sông Nậm Na và sông Nậm Lay Hầu hết thị xã phát triển dọc theo 2 bênsườn thung lũng của suối Nậm Lay Lúc đó các cơ quan đầu não và các cơ sở kinh

tế - xã hội chính của tỉnh Lai Châu đều tập trung dọc thung lũng có chiều rộngkhoảng 300m này

Từ sáng ngày 26 đến sáng ngày 27/6/1990 đã có mưa lớn, liên tục trên thượngnguồn sông Đà, sông Nậm Na, sông Nậm He Nước sông lên cao và chảy xiết Sángngày 27, tại một đoạn sông Nậm He bị nghẽn dòng, nước dâng lên rất nhanh và tạo

Số trận lũ quét

Năm

Trang 28

thành lũ quét đổ xuống hạ lưu Sau 1 giờ sóng lũ ập tới thị xã Lai Châu Đây là trận

lũ quét hỗn hợp có quy mô tập trung và cường suất lớn, sóng lũ cao, nước đặc bùnđất, cây cối ào ạt kéo qua phần thấp của thị xã làm cuốn trôi phần lớn thị xã Hơn

600 nóc nhà, 3 cầu treo, 2 cầu Bê tông cốt thép cùng toàn bộ kết cấu hạ tầng, khotàng, bến bãi, trường học bị cuốn trôi 104 người bị chết và trên 300 người bị lũcuốn trôi, thiệt hại lên đến nhiều tỷ đồng [9]

* Trận lũ quét tại Thị trấn Mường Lay tỉnh Lai Châu ngày 17/8/1996

Đây là trận lũ bùn đá rất đặc trưng, quy mô lớn, có sức tàn phá lớn

Thị trấn Mường Lay nằm ở phần thấp thoải của sườn núi Đông thung lũngNậm Lay đổ vào sông Đà, cách thị xã Lai Châu (cũ) khoảng 12Km Sườn núi này

có độ cao từ 700 đến trên 1000m, độ dốc 250-350, cấu thành chủ yếu từ đá phiếnSericit, phiến lục, bị đập vỡ mạnh Trên sườn núi cứ khoảng 500-1000m lại có mộtkhe suối nhỏ đổ ra dài từ 1,8 đến 3,8Km

Từ đầu tháng 8/1996 trên khu vực đã bắt đầu có các đợt mưa lớn kéo dài, đếnngày 17/8 lũ bắt đầu xuất hiện trên sông Nậm He và suối Huổi Lèng Lũ cuốn theođất đá từ các nhánh suối cuồn cuộn đổ xuống sông Hàng loạt cột bùn nước bắn vọtlên cao, có cột cao đến 30m với vận tốc lớn Đến sáng hôm sau cả thị trấn tan hoang

đổ nát Trận lũ quét đã cướp đi sinh mạng của 89 người, 26 người bị thương, 872nhà bị đổ trôi [9]

* Trận lũ quét tại Yên Minh – Hà Giang ngày 19/7/2004

Đêm ngày 18 rạng ngày 19/7/2004 tại các nhánh sông suối nhỏ thượng nguồnsông Gâm đã xảy ra trận lũ quét – lũ bùn đá lịch sử tại các xã Du Già, Du Tiến,Ngọc Long thuộc huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang gây thiệt hại nghiêm trọng vềngười và của Nguyên nhân của trận lũ quét này là do mưa đặc biệt lớn, tập trung từchiều ngày 18 đến 3h ngày 19/7/2004 Đây là trận mưa có tính địa phương rất rõ,lượng mưa ở các xã Du Già, Du Tiến lên đến 440mm trong khi đó ở thị trấn YênMinh (cách đó 25Km) đo được chỉ vào khoảng 60mm Lũ quét xuất hiện đồng thời

ở một số xã huyện Yên Minh đã gây thiệt hại lớn, trong đó 3 xã Du Già, Du Tiến vàNgọc Long bị thiệt hại nặng nề nhất Lũ quét cuốn trôi 1 bản, phá hủy hoàn toàn 1

Trang 29

trường tiểu học, 48 người chết và mất tích, cuốn trôi 38 ngôi nhà, sập đổ 19 nhà,phá hủy hàng nghìn Ha lúa và hoa màu cùng nhiều công trình giao thông, thủy lợikhác [9]

* Trận lũ quét tại Văn Chấn – Yên Bái ngày 19/7/2005

Do ảnh của cơn bão số 7, mưa to kéo dài đã làm nước lũ đã dâng lên rất nhanhtại khu vực ngòi Phà, ngòi Lao huyện Văn Chấn – Yên Bái Dòng nước lũ mạnh đãcuốn trôi nhiều ngôi nhà, công trình giao thông, thủy lợi, ảnh hưởng nặng nề đếncuộc sống của người dân, một nửa thị tứ Ngã Ba đã bị phá hủy hoàn toàn Lũ quét

đã làm thiệt mạng hơn 43 người, riêng xã Cát Thịnh hơn 24 người bị nước lũ cuốntrôi, nhấn chìm hơn 300 nhà dân, làm trôi, sập 50 ngôi nhà, làm thiệt hại toàn bộdiện tích ngô vụ đông ước tính khoảng trên 10.000 ha Nhiều đoạn đường trên quốc

lộ 32A đi Sơn La bị lở núi gây ách tắc giao thông, thiệt hại do trận lũ quét, lũ bùn đánày gây ra ước khoảng 65 tỉ đồng [8]

* Trận lũ quét tại Bát Xát, Bảo Yên tỉnh Lào Cai ngày 8-9/8/2008

Đêm ngày 8/8/2008 trên toàn tỉnh Lào Cai có mưa trên diện rộng, riêng vùngnúi có nơi mưa rất to Lượng mưa đo được phổ biến từ 50-100mm riêng tại trạmthủy văn Phúc Long (huyện Bảo Yên) lượng mưa lên đến 345,8mm Mưa to trêndiện rộng đã gây ra trận lũ quét, lũ bùn đá lớn gây thiệt hại nặng nề Đặc biệt là trận

lũ bùn đá đêm ngày 8/8 đã đổ xuống thôn Tùng Chỉn, xã Trịnh Tường huyện BátXát Theo số liệu thống kê thiệt hại do đợt lũ quét này gây ra là rất lớn, 66 ngườichết và mất tích, hầu hết các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ đều bị hư hại,nhiều công trình, nhà cửa, lúa và hoa màu bị cuốn trôi [9]

Bảng 1.4 Thống kê một số trận lũ quét điển hình khu vực miền núi phía

Thiệt hại Người (Chết/BT)

Tiền (Tỷđ)

Trang 30

3 23/07/ 1994 Mường Lay, LaiChâu Suối Nậm Lay 187 34 18

(Nguồn số liệu: Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương)

Hình 1.5 Một số hình ảnh minh họa về lũ quét:

Trang 31

(Nguồn số liệu: Viện khí tượng thuỷ văm quốc gia)

1.3.4 Sơ đồ tai biến lũ quét khu vực Tây Bắc bộ

1.4 Thực trạng lũ quét tại Yên Bái

1.4.1 Thực trạng một số trận lũ quét điển hình tại Yên Bái

Tại Yên Bái, Theo thống kê của Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm

Hình 1.6 Sơ đồ tai biến lũ quét – lũ ống vùng Tây Bắc

Việt Nam

Trang 32

kiếm cứu nạn tỉnh Yên Bái, từ năm 1977 đến nay, trên toàn tỉnh Yên Bái đã xảy rakhoảng 60 trận lũ quét lớn nhỏ trên địa bàn hầu hết các huyện thị Trong đó có cáctrận lũ quét xảy ra ngày 23-24 tháng 12 năm 1996 tại các huyện Nghĩa Lộ, Thànhphố Yên Bái, huyện Lục Yên gây thiệt hại lớn ; Trận lũ quét lịch sử của tỉnh xảy rangày 28-29 tháng 9 năm 2005 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các huyện VănChấn, Mù Cang Chải, thị xã Nghĩa Lộ [19]

Các trận lũ quét lịch sử điển xảy ra tại Yên Bái được ghi nhận trong cácvăn liệu tham khảo như sau:

* Lũ quét ở Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái ngày 22 tháng 6 năm 1977.

Do tác động của đường đứt và vùng xoáy thấp phát triển từ tầng thấp đến tầngcao, từ 1h10' đến 12h35' ngày 22 tháng 6 năm 1977 tại Tú Lệ, Than Uyên, MùCăng Chải đều có mưa vượt 200mm Mưa lớn đã gây ra lũ quét lớn chưa từng thấy

ở vùng này trong vòng từ năm 1946 đến 1977, gây ra nhiều thiệt hại [19]

* Lũ quét tại Thị xã Yên Bái năm 1995.

Ngày 16 tháng 8 năm 1995 xẩy ra lũ quét tại khu vực Thị xã Yên Bái làm 6người chết, 2 người bị thương

* Lũ quét tại huyện Lục Yên, Yên Bái năm 1997.

Ngày 13 tháng 7 năm 1997 xảy ra lũ quét tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.Tổng giá trị thiệt hại là 5 tỷ đồng

* Lũ quét tại huyện Yên Bình, Yên Bái năm 1997.

Ngày 9 thngs 10 năm 1997 xảy ra lũ quét tại huyện Yên Bình tỉnh Yên Báilàm chết 1 người Tổng thiệt hại ước tính 500 triệu đồng

* Lũ quét tại huyện Mù Cang Chải, Yên Bái năm 1998.

Từ 20 đến 26/6/98, trên địa bàn huyện Mù Cang Chải đã xảy ra mưa lớn, gây

ra lũ quét, lũ bùn đá gây thiệt hại về người, nhà cửa, hoa màu, gây ách tắc nhiềuđoạn đường quốc lộ 32 đi Than Uyên, tỉnh Lào cai (Lai Châu hiện nay) Trận lũquét đã làm 4 người thiệt mạng, bị thương 7 người, 42 ngôi nhà bị đổ và 11 nhà bịcuốn trôi, nhiều công trình giao thông thủy lợi bị phá hủy Thiệt hại ước tính trên 5

tỷ đồng [19]

Trang 33

* Lũ quét tại Yên Bái năm 1999.

Từ ngày 31/8 đến ngày 5/9 trên địa bàn tỉnh có mưa to nhiều nơi, ở Cát Thịnh– huyện Văn Chấn chỉ trong 4 giờ đêm 31/8 lượng mưa tới 140,3mm Tại khu vực

TX Yên Bái ngày 4/9 mưa 97mm, đã gây ra lũ quét ở Cát Thịnh (Văn Chấn),Yên Hưng, Yên Thái, Yên Hợp (Văn Yên), Tân Nguyên (Yên Bình) Làm chết 01người (TX Yên Bái); 504,4ha lúa mùa bị ngập úng; sập đổ 4 nhà dân; trên 20 nhàdân bị ngập sâu 1m ; trôi 6 cầu liên thôn ở Cát Thịnh - Văn Chấn, 1 cầu Ngòi A -Văn Yên Một số điểm bị sạt thuộc tuyến đường Hợp Minh - Việt Hồng ách tắcgiao thông 2-5 ngày ; khối lượng kênh mương cần nạo vét 4000m3 Tổng thiệt hạiước tính gần 3 tỷ đồng [22]

* Lũ quét tại Yên Bái năm 2000.

Từ 15 đến 25/7, hầu hết các nơi trong tỉnh đều có mưa vừa mưa to, có nơimưa rất to Lượng mưa phổ biến từ 120 đến 240mm; đặc biệt khu vực Thác Bà cómưa to chỉ trong 3 giờ đêm 22/7, lượng mưa đo được 175m Do mưa to, hơn nữa

do ảnh hưởng của lũ thượng nguồn dồn về nên các sông suối trong tỉnh đều có lũ,sông Hồng xấp xỉ BĐII; riêng các suối khu vực thị xã Yên Bình, Bạch Hà (huyệnYên Bình) mức lũ lịch sử năm 1971 Thiệt hại khoảng 2 tỷ đồng

* Thảm hoạ lũ quét Yên Bái năm 2005

Do ảnh hưởng của cơn bão số 7, mưa to kéo dài làm cho nước lũ dâng nhanhtại các con suối trên địa bàn tỉnh Yên Bái Đặc biệt, vào lúc 9 giờ sáng ngày28/9/2005, nước suối Lao và suối Phà tại địa phận xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấndâng cao gây ra lũ quét dữ dội làm hơn 50 người thiệt mạng và mất tích, 346 ngôinhà bị lũ cuốn trôi, nhiều đoạn đường bị sạt lở nghiêm trọng gây ách tắc giaothông…

+ Đêm 11/7/2005 mưa lớn kéo dài trên diện rộng tại Yên Bái đã gây lũ lớn,gây thiệt hại nặng về người và tài sản tại thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình.Tại phường Yên Thịnh - thành Phố Yên Bái có 5 người chết do taluy sập vào nhà,

lũ cuốn trôi Lượng mưa đo được tại thành phố Yên Bái là 150mm, suối CườngThịnh và Hào Gia nước dâng cao 5m gây ngập úng nặng Tại thành phố Yên Bái

Trang 34

và huyện Yên Bình có 50 ngôi nhà bị sập, cuốn trôi, 4000 nhà bị ngập nước QL.70sạt lở mạnh, 156ha lúa bị vùi lấp, 37ha ao cá bị phá Thiệt hại ước tính khoảng 2 tỷđồng.

+ Lũ quét gây thiệt hại ở huyện Lục Yên : Vào lúc 21 giờ ngày 8/10/2005 tạihai xã Động Quan và Trúc Lâu mưa to và kéo dài gây ra lũ lớn tại suối Nà Hiên vàBản Lầu Tại xã Động Quan, cầu treo vào thôn 3 và thôn 4 bị sập hoàn toàn, cầutreo vào bản 9 bị hư hỏng nặng Mưa lũ làm hỏng cột và đường dây điện củađường dây 35KV và các đường điện vào thôn 14 và 15, thiệt hại 10ha hoa màu,nhiều ao bị vỡ, nhiều cống bị sập Có 3 nhà dân bị đổ hoàn toàn Ở xã Trúc Lâumưa to và lũ làm sạt lở 1km kênh mương, ruộng canh tác ở các thôn 1, 2, 3, 4 vàthôn 7 bị đất cát vùi lấp, hơn 6ha ao cá bị mất trắng, đường điện bị hư hỏng nặng.+ Lũ quét kèm dòng bùn đá và trượt, sạt lở đất kinh hoàng xảy ra tại CátThịnh, huyện Văn Chấn vào tháng 9 năm 2005: [19]

Nguyên nhân: Mưa to kéo dài do ảnh hưởng cơn bão số 6/2005, nước dồn từcác khe về, địa hình dốc, đất đá tại sườn bị phong hoá mạnh, vỡ vụn, khi mưa totrượt lở trôi theo dòng nước và việc bố trí công trình thủy lợi và giao thông khônghợp lý

Vị trí trận lũ: Toạ độ X: 21027'31'' Y: 104042'50'' Địa điểm: Suối Ngòi Lao, xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Thời tiết, khí hậu tại thời điểm xảy ra lũ quét: Mưa to trên diện rộng (từ 150

mm đến trên 200mm kéo dài 3 giờ)

Dòng nước chảy nhanh, mạnh mang theo đất đá, thân cây gỗ, cành cây

Diện tích vùng bị ảnh hưởng: Dọc theo Ngòi Lao

Đặc điểm địa mạo - cảnh quan, địa hình, thực vật: Đồi núi phân cắt, sườn dốc45-500 Thực vật là cây trồng (Lúa, keo, bồ đề, xoan …), cây bụi

Địa chất, vỏ phong hoá, thổ nhưỡng: Đá gốc: Ryokit, trachit có cấu tạo khốirắn chắc Vỏ phong hoá dày 1-1,2m màu xám vàng thành phần sét bột lẫn mảnhvụn đá Lớp đất trồng màu xám đen

Hiện trường sau lũ: Dọc theo Ngòi Lao lúa, hoa màu bị dập nát, đường, cầu

Trang 35

cống bị phá huỷ, nhà cửa bị cuồn trôi.

Thiệt hại: Xã Cát Thịnh 17 người chết, 60 hộ bị trôi nhà cửa, 7 cầu, 8 cộtđiện bị hỏng, 10ha lúa, hoa màu bị phá huỷ (thiệt hại khoảng 3 tỷ đồng)

Toàn tỉnh Yên Bái trong đợt lũ quét này có 52 người chết và mất tích, 660ngôi nhà bị ảnh hưởng, QL.32 từ Ba Khe đi Mù Căng Chải sạt lở khoảng16.000m3, 11 cầu bị cuốn trôi, 1.500 ha lúa, hoa màu bị mất, 10 công trình thuỷ lợi

bị hỏng

* Lũ quét ở Yên Bái năm 2006.

Do ảnh hưởng của dải áp thấp nhiệt đới và hoạt động mạnh của xoáy thấptrên khu vực Bắc bộ, từ ngày 16 đến ngày 19/8/2006 trên địa bàn tỉnh Yên BáiMưa rất to và kéo dài gây thiệt hại nặng về người và tài sản Trận lũ quét đã làm 4người chết, 28 ngôi nhà bị ngập sâu trong nước, 71 nhà bị sạt lở taluy, 80 nhà phải

di dời đến nơi an toàn QL 32, QL 37, các tuyến đường liên huyện, liên thôn, liên

xã bị sạt lở mạnh Ngoài ra còn nhiều cầu cống nhỏ, cầu tạm ở nông thôn bị lũ pháhỏng Mưa lũ còn làm ngập úng và hư hỏng 190ha lúa, 5 công trình thuỷ lợi bị hưhỏng nặng … Ước tính thiệt hại về kinh tế do mưa lũ gây ra hàng chục tỷ đồng

* Lũ quét ở Yên Bình năm 2007.

Ngày 8 và 9/7/2007, mưa lớn gây lũ quét tại huyện Yên Bình, Lục Yên vàthành phố Yên Bái Mưa lũ đã khiến nhiều điểm giao thông trên QL.70 bị ách tắccục bộ do lún sụt và ngập nước, mưa lũ làm đổ 1 cầu máng ống thép dài 12m, 5cầu kết cấu gỗ Tại xã Tân Lập (huyện Lục Yên), lũ lớn làm đổ 1 cầu thép dài10m, vùi lấp hoa màu, vỡ 3 ao cá (3.600m2), vùi lấp 18,8ha lúa Tổng thiệt haị ướctính khoảng 100 triệu đồng [22]

* Lũ quét kèm trượt, sạt lở đất ở Yên Bình, Yên Bái, năm 2007

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài trong đêm 24 và ngày 25/8/2007, tại các

xã vùng sâu của huyện Yên Bình đã xảy ra lũ quét cục bộ Lũ quét đã làm mộtngười bị thương và một người bị nước lũ cuốn chết, làm trôi 2 nhà gỗ ở xã CảmNhân, chìm 2 thuyền máy tại xã Mỹ Gia, 3ha lúa bị vùi lấp Mưa lũ gây sạt lở đấttrên tuyến QL.171 làm ách tắc giao thông, trường THPH xã Cảm Nhân bị gần

Trang 36

100m3 đất đá vùi lấp… [22]

* Lũ quét và ngập lụt ở 9 huyện, thị, thành phố năm 2008

Do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 4 (ngày 9 đến 10/8/2008) nên hầu hếtkhắp các khu vực trong tỉnh Yên Bái đều có mưa vừa, có nơi mưa rất to Mưa lũ đãgây ngập lụt trên diện rộng, đặc biệt là huyện Trấn Yên và thành phố Yên Bái Chođến ngày 11/8/2008, tổng số trên toàn tỉnh có 33 người chết, 4 người mất tích.Trong đó huyện Lục Yên 7 người, thành phố Yên Bái 2 người, huyện Yên Bình 12người, Văn Yên 10 người và huyện Trấn Yên 2 người, (trong đó có 20 người chết

là do sạt lở đất) Nước sông Hồng dâng cao khiến giao thông trên QL.70 ngừng trệ,nhiều nhà dân và cơ quan ở thành phố Yên Bái bị ngập, ga Yên Bái chìm trongnước Các công trình thuỷ lợi và phúc lợi của các huyện vùng cao Văn Yên, LụcYên bị hư hỏng nặng, huyện Mù Cang Chải bị cô lập hoàn toàn do sạt lở tayluyđường khối lượng đất đá lớn [22]

1.4.2 Thực trạng công tác phòng tránh lũ quét tại Yên Bái

Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của BĐKH thì các loại hìnhthiên tai như lũ quét, trượt lở đất đang có xu hướng gia tăng trên địa bàn tỉnh YênBái Lũ quét không chỉ gây thiệt hại nặng nề về người và của mà còn gây một tâm

lý hoạng mang, lo lắng cho nhân dân Yên Bái Chính vì vậy vấn đề phòng tránh vàgiảm thiểu thiệt hại do lũ quét gây ra ở Yên bái là nhiệm vụ hết sức quan trọng đãđược các cấp chính quyền và nhân dân thực hiện

* Các đề tài nghiên cứu khoa học:

+ Tỉnh đã thực hiện thành công đề tài NCKH cấp tỉnh về phòng tránh thiên tai

lũ quét : " Điều tra, nghiên cứu các hiện tượng tai biến trượt đất và lũ quét trên

địa bàn tỉnh Yên Bái; đề xuất biện pháp phòng tránh và giảm thiểu hậu quả do

chúng gây ra" do Sở Khoa học & Công nghệ Yên Bái chủ trì thực hiện.

+ Xây dựng "Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tại tỉnh Yên

Bái" do Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái chủ trì thực hiện.

+ Ngoài ra có dự án Xây dựng hệ thống cảnh báo lũ quét tại Yên Bái, lắp đặtcác thiết bị đo đo đạc trên địa bàn các huyện trong tỉnh

Trang 37

* Về công tác tuyên truyền, giáo dục : Thường xuyên có các công điện vềcảnh báo đề phòng lũ quét khi thời tiết có biến động đặc biệt là mưa lớn Xây dựngcác chương trình, kế hoạch tuyên truyền, hội thi, diễn tập về phòng tránh thiên tai

lũ quét Công tác di dân tái định cư, di dời các hộ dân nằm trong các khu vựcthường xuyên bị thiệt hại do mưa lũ, sạt lở đất

* Năng lực ứng phó với lũ quét:

Hiện nay, Ban CHPCLB&TKCH của tỉnh Yên Bái thực hiện việc quản lý,triển khai các công tác về phòng chống lụt bão và cứu hộ chung của toàn tỉnh,trong đó bao gồm việc ứng phó với các đợt lũ quét Trong những năm qua Ban đãthực hiện tốt công tác phóng chống lụt bão, thiên tai, khắc phục các hậu quả củathiên tai, hoàn thiện cơ cấu tổ chức đến các huyện, xây dựng các kế hoạch phòngchống lụt bão hàng năm, ra các văn bản thông báo kịp thời, tổ chức thực hiện côngtác phòng chống lụt bão và thiên tai kịp thời [19]

* Về công tác di dân tái định cư:

Với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, các khu vực dân cư phân bốsinh sống dọc theo các sông suối nên số hộ dân có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng từ

lũ quét, sạt lở đất của tỉnh là rất lớn Ước tính có khoảng 7000 hộ dân đang sinhsống và sản xuất tại các khu vực có nguy cơ cao xảy ra và chịu ảnh hưởng của lũquét, sạt lở đất Trong những năm qua, tỉnh đã thực hiện được trên 30 dự án di dờikhoảng 1000 hộ dân cư từ vùng có nguy cơ cao đến các khu vực an toàn hơn vớichi phí trên 120 tỷ đồng Tuy nhiên cho đến nay con số này chưa đáng kể, còn rấtnhiều hộ dân cần phải di dời, kinh phí thực hiện là rất lớn

* Về công tác quy hoạch sử dụng đất:

Do thiếu quy hoạch theo định hướng phòng tránh thiên tai hoặc do nguồn lợitrước mắt mà các hoạt động khai thác, sử dụng đất đai vô tình đã tạo nên nhữngđiều kiện phát sinh và tăng cường lũ quét Tình trạng đốt nương làm rẫy khôngtheo quy hoạch đã làm thu hẹp diện tích rừng đầu nguồn Các hình thức sản suấtnông nghiệp trên sườn dốc thiếu các biện pháp chống xói mòn Do điều kiện quỹđất bằng ít và do thói quen của người dân tộc thiểu số nên nhiều hộ dân đã làm nhà

Trang 38

tại các triền sông, suối làm mất hành lang thoát lũ.

* Về công tác quy hoạch xây dựng và các công trình phòng tránh lũ quét:

Cho đến nay TP Yên Bái chưa xây dựng được công trình phòng tránh lũ quétnào có quy mô lớn và mang tính chiến lược Quy hoạch chung xây dựng Thànhphố Yên Bái đến năm 2020 đã được phê duyệt song dường như phương án quyhoạch chưa tính toán đến vấn đề thiên tai lũ quét, chưa có các biện pháp cụ thể vềcông tác phòng tránh lũ quét Công tác quản lý quy hoạch xây dựng còn nhiều hạnchế, các suối dẫn nước tự nhiên qua TP Yên Bái chảy xuống sông Hồng bị lấndòng làm nhà ; các cầu qua suối xây dựng không đảm bảo khả năng thoát lũ dẫnđến việc nghẽn dòng khi có mưa lớn [22]

Hình 1.7 Công tác phòng tránh lũ quét ở một số lưu vực suối chính tại TP

Trang 39

Hiện tương tự nhiên gây lũ quét, lũ bùn đá là điều kiện khí hậu và vi khí hậu;liên quan với chúng là mưa rào lớn; điều kiện địa hình, địa mạo; địa chất và lớpphủ thực vật

* Về tổng quan, một lưu vực lũ được chia thành 3 vùng:

+ Vùng sinh lũ: Là vùng ở thượng lưu nơi tập trung dòng chảy từ mưa đượchình thành từ các sườn dốc Vùng này thường chiếm khoảng 2/3 diện tích lưu vực.Tại đây, các quá trình hình thành dòng chảy mặt, xói mòn, rửa trôi mặt đất xảy ramạnh nhất Quá trình tập trung dòng lũ cũng xảy ra đồng thời song chưa xảy ramạnh mẽ

+ Vùng tập trung dòng lũ quét: Là nơi xảy ra mạnh mẽ quá trình xói sâu, sạt

lở đất đá, cuốn trôi cây cối gây ứ tắc tạm thời sau vỡ hàng loạt Khu vực này baotrùm trung lưu có cao độ thấp hơn (thường là phần chân dốc, chân các sườn núi)của thượng lưu, các đoạn sông suối phần trung tâm lưu vực nơi độ dốc lòng dẫncòn rất lớn, hợp lưu của nhiều sông suối trước khi dòng lũ đổ vào thung lũng.Dòng chảy lũ đã được tập trung nên đủ mạnh để cuốn theo đất, đá, cây cối, để đổvào sông suối

+ Vùng chịu ảnh hưởng lũ quét: Là nơi thường xảy ra mạnh mẽ nhất quá trình

"quét", trong đó hiện tượng xói sâu, sạt trượt còng xảy ra ở cường độ cao trên đoạnđầu của thung lũng, hiện tượng quét, bồi lấp xảy ra mạnh mẽ nhất ở đoạn cuối củathung lũng trước khi lũ quét thoát được ra dòng chính Khu vực hạ lưu các sông,suối liền kề cửa sông Dòng chảy có năng lượng rất lớn do đã được tập hợp cácdòng chảy lũ, bùn đá thành phần từ các tiểu lưu vực Do vậy, dòng chảy lũ có khảnăng tàn phá rất mạnh những chướng ngại trên đường đi như nhà cửa, công trìnhthủy lợi, đường giao thông Thường ở khu vực này là nơi tập trung khu dân cư nênthiệt hại ở khu vực này sẽ rất lớn và trở thành thảm họa khi xảy ra lũ quét cường

độ lớn [14]

* Những giai đoạn chính hình thành lũ quét

+ Mưa lớn hình thành dòng lũ mặt lớn và đặc biệt lớn tràn ngập trên mặt lưuvực nhỏ của vùng núi dốc, nơi có độ che phủ thảm thực vật nhỏ do bị khai thác

Trang 40

mạnh mẽ Nước mưa hình thành dòng chảy mặt xói mòn và rửa trôi bề mặt lưu vựclàm tăng đáng kể lượng bùn, cát, rác trong dòng nước lũ.

+ Nước lũ tập trung hầu như đồng thời, đổ về rất nhanh từ các sườn dốc lưuvực (thường có độ dốc trên 20-30%) đổ vào lòng dẫn (thời gian tập trung chỉ 1-3giờ cho đến dưới 6 giờ); Dòng lũ có tốc độ xói mạnh, tàn phá mọi vật cản trênđường chuyển động, có thể tạo ra lòng dẫn mới, bồi lấp lòng dẫn cũ, làm cho tốc

độ truyền lũ về phía hạ du nhanh hơn

+ Dòng lũ xói sâu ở những khu vực cao, bồi lắng bùn, cát, đá, rác ở các vùngtrũng dọc đường đi như các bãi lầy, đồng ruộng, vườn tược, thậm chí cả những khudân cư

Như vậy, lũ quét là một hiện tượng thiên tai thường xảy ra ở những lưu vựcnhỏ (diện tích không quá 300-400 km2) ở miền núi nơi có độ dốc lớn (trên 15-30%), mức độ khai thác lưu vực lớn chỉ còn lớp phủ thực vật không đáng kể (dưới10-15%) [7]

Về sự hình thành và phát triển lũ quét được nêu tóm tắt trong sơ đồ sau:

Hình 2.1 Mô hình sự hình thành và phát triển lũ quét

Trên mô hình trên có 3 tổ hợp, tổ hợp 1 là động lực bao gồm tác động của tựnhiên và nhân sinh ảnh hưởng đến cả nguồn nước và mặt đệm, tổ hợp hai bao gồmtương quan giữa mặt đệm và nguồn nước là tập khó xác định Nó thể hiện nguyênnhân hình thành và phát triển lũ quét Tổ hợp 3 là hệ quả, đó là diễn biến của lũquét

Lũ quét thường gây hoạ cho các sông nhỏ và vừa nhưng ít đối với sông

(Vỏ phong hóa-thổ nhưỡng, địa

hình, mạng sông suối, thảm thực

vật)

Nguồn nước(Tuyết tan, hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, mưa rào)

Lũ quét

Ngày đăng: 16/09/2016, 18:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Sơ đồ vị trí TP Yên Bái - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí TP Yên Bái (Trang 7)
Bảng 1.2 Hiện trạng phân bố đất đai và dân cư của Thành phố Yên Bái. - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 1.2 Hiện trạng phân bố đất đai và dân cư của Thành phố Yên Bái (Trang 13)
Hình 1.2 Ảnh hiện trạng nền TP Yên Bái - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.2 Ảnh hiện trạng nền TP Yên Bái (Trang 15)
Bảng 1.3 Dự báo dân số thành phố Yên Bái. - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 1.3 Dự báo dân số thành phố Yên Bái (Trang 20)
Hình 1.4 Diễn biến về số trận lũ quét hàng năm (1990-2007) - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.4 Diễn biến về số trận lũ quét hàng năm (1990-2007) (Trang 27)
Hình 1.5 Một số hình ảnh minh họa về lũ quét: - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.5 Một số hình ảnh minh họa về lũ quét: (Trang 30)
Hình 1.6  Sơ đồ tai biến lũ quét – lũ ống vùng Tây Bắc Việt  Nam - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.6 Sơ đồ tai biến lũ quét – lũ ống vùng Tây Bắc Việt Nam (Trang 31)
Hình 1.7 Công tác phòng tránh lũ quét ở một số lưu vực suối chính tại TP. - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 1.7 Công tác phòng tránh lũ quét ở một số lưu vực suối chính tại TP (Trang 38)
Hình 2.1. Mô hình sự hình thành và phát triển lũ quét - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Hình 2.1. Mô hình sự hình thành và phát triển lũ quét (Trang 40)
Bảng 2.1  Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại Yên Bái - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại Yên Bái (Trang 44)
Bảng 2.2 Đặc trưng lưu vực một số sông đã xảy ra lũ quét. - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.2 Đặc trưng lưu vực một số sông đã xảy ra lũ quét (Trang 45)
Bảng 2.3 Đặc trưng mực nước một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2008: - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.3 Đặc trưng mực nước một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2008: (Trang 46)
Bảng 2.4 Đặc trưng mực nước một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2009: - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.4 Đặc trưng mực nước một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2009: (Trang 47)
Bảng 2.5  Đặc trưng lưu lượng một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2008: - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.5 Đặc trưng lưu lượng một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2008: (Trang 47)
Bảng 2.6 Đặc trưng lưu lượng một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2009: - Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Chuẩn Bị Kỹ Thuật Phòng Tránh Lũ Quét Cho Thành Phố Yên Bái Tỉnh Yên Bái
Bảng 2.6 Đặc trưng lưu lượng một số sông chính tại tỉnh Yên Bái năm 2009: (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w