1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài soạn giảng BÀI 4 chủ nghĩa tư bản hiện đại

94 425 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 138,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Mục tiêu • Về kiến thức • Giúp học viên nắm vững được nguồn gốc, bản chất và những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. • Nhận thức rõ được những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, so sánh với các thời kỳ trước đó. • Thấy được xu hướng vận động cũng như những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản. • Về kỹ năng • Học viên phân tích và so sánh được các đặc điểm và bản chất của chủ nghĩa tư bản qua các giai đoạn CNTB độc quyền, CNTB độc quyền nhà nước và CNTB hiện đại. • Học viên nhận thức rõ bản chất của xã hội tư bản hiện đại và chứng minh được tư bản ngày nay vẫn là một xã hội dựa trên cơ sở chiếm đoạt giá trị thặng dư và những biểu hiện mới đó cũng chỉ là sự phát triển trong khuôn khổ của CNTB độc quyền và CNTB độc quyền nhà nước. • Học viên rút ra được những kết luận khách quan về vị trí và vai trò của CNTB đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. • Học viên chỉ ra được sự tác động của CNTB đối với nước ta trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực đồng thời, đề ra được các giải pháp đối phó. • Về thái độ Học viên nhận thức được chủ nghĩa tư bản ngày nay – với những thành tựu đáng kể của nó, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là không hề thay đổi, do vậy, tất yếu nó sẽ bị diệt vong. Qua đó, củng cố niềm tin, ý chí kiên định, lập trường vững vàng hướng tới mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội trong mọi tầng lớp nhân dân, đoàn kết giai cấp xóa bỏ áp bức bóc lột.

Trang 1

Bài 4: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

• Đối tượng học viên: Trung cấp lý luận chính trị

• Số tiết: 8 tiết

Kế hoạch bài giảng

Những kiến thức sinh viên đã biết có

liên quan đến bài học

Những kiến thức mới cần trang bị cho

sinh viên

• Giá trị thặng dư, quy luật kinh tế

cơ bản của chủ nghĩa tư bản

• Tích lũy tư bản, những hình

thức biểu hiện của giá trị thặng

• Chủ nghĩa tư bản độc quyền

• Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước

• Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại

• Xu hướng vận động của chủ nghĩa

• Nhận thức rõ được những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, so sánh với các thời kỳ trước đó

• Thấy được xu hướng vận động cũng như những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản

Về kỹ năng

Trang 2

• Học viên phân tích và so sánh được các đặc điểm và bản chất của chủ nghĩa

tư bản qua các giai đoạn CNTB độc quyền, CNTB độc quyền nhà nước và CNTB hiện đại

• Học viên nhận thức rõ bản chất của xã hội tư bản hiện đại và chứng minh được tư bản ngày nay vẫn là một xã hội dựa trên cơ sở chiếm đoạt giá trị thặng dư và những biểu hiện mới đó cũng chỉ là sự phát triển trong khuôn khổ của CNTB độc quyền và CNTB độc quyền nhà nước

• Học viên rút ra được những kết luận khách quan về vị trí và vai trò của CNTB đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

• Học viên chỉ ra được sự tác động của CNTB đối với nước ta trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực đồng thời, đề ra được các giải pháp đối phó

Về thái độ

Học viên nhận thức được chủ nghĩa tư bản ngày nay – với những thành tựu đáng kể của nó, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Bản chất bóc lột của chủ nghĩa

tư bản là không hề thay đổi, do vậy, tất yếu nó sẽ bị diệt vong Qua đó, củng cố niềm tin, ý chí kiên định, lập trường vững vàng hướng tới mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội trong mọi tầng lớp nhân dân, đoàn kết giai cấp xóa bỏ áp bức bóc lột

Chuẩn bị

Giảng viên

Trang 3

• Phương pháp bộ môn: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử; trừu tượng hóa; logic kết hợp với lịch sử; tổng hợp; thống kê kinh tế,

• Phương pháp dạy học chủ yếu: thuyết trình; nêu vấn đề; phát vấn: Hỏi – đáp; lấy ý kiến ghi lên bảng; thảo luận nhóm; giáo trình; tài liệu; kiểm tra; đánh giá

• Phương tiện dạy học: máy chiếu, máy tính, bảng, phấn,

• Tài liệu nghiên cứu:

• Tài liệu bắt buộc: Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính

“Những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Kinh tế chính trị Mác – Lênin” – NXB Chính trị - hành chính, Hà Nội – 2009

• Tài liệu tham khảo:

• Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, phần Kinh tế tư bản chủ nghĩa, khoa Kinh tế - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004

• Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2011

Sinh viên

• Nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp và chuẩn bị bài theo yêu cầu của giảng viên

Trang 4

Kết cấu bài giảng

• Giới thiệu tài liệu nghiên cứu

• Giới thiệu sơ lược nội dung bài học

10 phút

NỘI DUNG • Chủ nghĩa tư bản độc quyền

• Nguyên nhân hình thành, bản chất và các hình thức của chủ nghĩa tư bản độc quyền

• Nguyên nhân hình thành của các tổ chức độc quyền

• Bản chất của độc quyền tư bản chủ nghĩa

• Các hình thức tồn tại của tổ chức độc quyền

• Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền

• Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền

• Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

• Xuất khẩu tư bản

• Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của các nhà tư bản

• Sự phân chia lãnh thổ thế giới giữa

85 phút

25 phút

60 phút

Trang 5

các cường quốc

• Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

• Nguyên nhân ra đời của chủ nghĩa

tư bản độc quyền nhà nước

• Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc

quyền nhà nước

• Những đặc điểm kinh tế của chủ

nghĩa tư bản độc quyển nhà nước

• Những biểu hiện mới của chủ nghĩa

tư bản hiện đại

• Những đặc điểm của chủ nghĩa tư

bản độc quyền hiện nay

Những biểu hiện mới của tích tụ và tập

trung tư bản

Tư bản tài chính hiện đại

Xuất khẩu tư bản hiện đại

Những biểu hiện mới trong hình thành các

liên minh độc quyền và phân chia thị trường

thế giới

• Những biểu hiện mới của chủ

nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

• Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư

bản

• Những ưu thế trong phát triển lực

lượng sản xuất do bùng nổ của cách mạng

khoa học – công nghệ của chủ nghĩa tư bản

• Sự thích ứng của quan hệ sản xuất

100 phút

120 phút

40 phút

Trang 6

tư bản chủ nghĩa trước sự bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ

• Những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện nay

KẾT LUẬN • Tổng kết nội dung bài học, định

hướng để học viên tiếp tục tự nghiên cứu

• Gợi ý câu hỏi để học viên thảo luận

và ôn tập

5 phút

Phần 1: MỞ ĐẦU

Trang 7

Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và

sự tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng hoàn thiện dần của các hình thái kinh tế - xã hội, là sự thay đổi hình thái kinh tế lạc hậu, lỗi thời bằng hình thái kinh

tế - xã hội tiến bộ, hiện đại hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất Nó là nền tảng, là cơ sở vật chất – kỹ thuật, là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế -

xã hội Mác viết: “tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Nối tiếp các hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến là hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa Đó

là một hình thái kinh tế - xã hội phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu, phôi thai và phát triển trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ XVIII Sau này nó lan ra khắp châu Âu và thế giới

Tiếp theo sau giai đoạn cạnh tranh tự do, CNTB phát triển lên đến giai đoạn cao hơn đó là CNTBĐQ và sau đó là CNTBĐQ nhà nước Giai đoạn độc quyền là

sự kế tục trực tiếp giai đoạn tự do cạnh tranh trong cùng một phương thức sản xuất TBCN Đây là những nấc thang mới trong quá trình phát triển và điều chỉnh của CNTB về cả LLSX và QHSX để thích ứng với những biến động trong tình hình thế giới từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX cho đến nay

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, Mác và Ăngghen đã chỉ ra rằng:

tự do cạnh tranh đưa tới tập trung sản xuất, tập trung sản xuất phát triển tới một trình độ nhất định sẽ dẫn tới độc quyền Và thực tiễn lịch sử của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng minh luận điểm đó

Trang 8

Dựa trên những tư tưởng của Các Mác và Ăng-ghen, dựa trên thực tiễn sinh động của thời đại lúc bấy giờ, đồng thời sử dụng có phê phán những số liệu và những tư tưởng của các nhà kinh tế tư sản, Lênin là người đầu tiên đi sâu phân tích một cách khoa học và thành công về chủ nghĩa tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) qua tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Người đã chỉ rõ những đặc điểm kinh tế cơ bản và địa vị lịch sử của nó Trên

cơ sở đó tiếp tục vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới

Cho đến nay, chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ với nhiều thành tựu to lớn song bản chất của nó không hề thay đổi Trong bối cảnh diễn ra khi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010, kéo theo các khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công ở châu

Âu, nhà sử học Marxist đương đại nổi tiếng, ông Eric Hobsbawm đã trả lời trong

bài phỏng vấn năm 2009 như sau:" Không có giải pháp nào là vĩnh cửu Chủ

nghĩa tư bản cũng thế, nó có sống dai đến đâu, có hiển hiện trong đầu óc người ta như một cái gì không thể thay đổi tới mức nào, rồi nó cũng sẽ biến mất, sớm hay muộn mà thôi Về vật chất thì với rất nhiều người, thế giới ngày nay đã được cải thiện Nhưng về tinh thần, chính trị và đạo đức thì người ta không tiến kịp, hiện tại

Trang 9

Phần II: NỘI DUNG

I Chủ nghĩa tư bản độc quyền

Thứ nhất, sự phát triển của lực lượng

sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa

học – kỹ thuật.

Theo Lênin: “Tự do cạnh tranh đẻ ra

tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định lại dẫn tới độc quyền”.

Như vậy, nguồn gốc sâu xa dẫn đến độc quyền dưới chủ nghĩa tư bản và sự ra đời các tổ chức độc quyền là tự do cạnh tranh dẫn đến tập trung sản xuất… Quá trình mang tính quy luật trên đã diễn ra do những nguyên nhân chủ yếu sau:

Trang 10

Thứ hai, cạnh tranh tự do tác động

mạnh đến tích tụ và tập trung tư bản.

Vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát đã tạo ra sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện

ra hoá chất mới như axít sunphuaric (H2SO4), thuốc nhuộm ; máy móc mới

ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay ; phát triển những phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thuỷ,

xe điện, máy bay và đặc biệt là đường sắt Những thành tựu khoa học kỹ thuật này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô lớn; mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất

Một mặt, nó buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích lũy để thắng trong cạnh tranh và giành lợi nhuận tối đa Mặt khác, kết quả trực tiếp của cạnh tranh tự do khốc liệt là nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải

Trang 11

Thứ ba, khủng hoảng kinh tế dẫn đến

một số xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản;

những xí nghiệp và công ty lớn phải đổi

mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng,

do đó, thúc đẩy quá trình tập trung sản

xuất Tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng,

Khi quan sát vận động thực tiễn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vào thời kỳ này, người ta nhận thấy, cứ 3 đến 5 năm lại diễn ra một cuộc khủng hoảng: 1900 –

1903, 1905 – 1907, 1911 – 1913 đến đại khủng hoảng 1929 – 1933 Trong các cuộc khủng hoảng này, cuộc khủng hoảng sau trầm trọng hơn khủng hoảng trước, số lượng các doanh nghiệp bị phá sản ngày một tăng lên, từ đó quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng mở rộng ra V.I

Trang 12

Thứ tư, những xí nghiệp và công ty lớn,

có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh

tranh với nhau vô cùng khốc liệt, khó

phân thắng bại, vì thế nảy sinh xu hướng

Quá trình các xí nghiệp lớn cạnh tranh thôn tính các doanh nghiệp thua cuộc trong các ngành kinh tế diễn ra liên tục, gay gắt và ác liệt bằng cả vũ khí kinh tế

và bạo lực cho đến khi quy mô và sức mạnh của doanh nghiệp lớn đến mức không thể thôn tính được nhau nữa thì xuất hiện khuynh hướng liên kết với nhau Từ đó đã ra đời các tổ chức độc quyền Lênin khẳng định rằng: “vì vài chục xí nghiệp khổng lồ có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác chính quy

mô to lớn của các xí nghiệp làm cho cạnh tranh ngày càng khó khăn và làm nảy sinh khuynh hướng đi tới độc quyền” và

“hàng vạn xí nghiệp thật lớn là tất cả, còn hàng triệu xí nghiệp nhỏ chỉ là con số

Trang 13

b Bản chất của độc quyền tư bản chủ

nghĩa

- Độc quyền là sự liên minh của các nhà

tư bản lớn nhằm khồng chế các điều kiện

của sản xuất và lưu thông của một hay

một số hàng hóa nhằm thu được lợi

nhuận độc quyền cao

Như vậy, độc quyền ra đời đã biến kiểu

sở hữu tư bản chủ nghĩa nhỏ về tư liệu

sản xuất của tư bản thuần túy tư nhân

không”

Tóm lại: Tất cả các nguyên nhân trên đã

dẫn đến nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ

đó hình thành các tổ chức độc quyền với nhiều hình thức, mức độ từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ phạm vi quốc gia đến tầm quốc tế Từ đó, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Xét về bản chất CNTB độc quyền là một nấc thang phát triển mới của CNTB

Nguồn gốc đích thực của độc quyền chính là sinh ra từ cạnh tranh tự do, nhưng lại không thủ tiêu cạnh tranh, chung sống cùng cạnh tranh, đẩy cho cạnh tranh ngày càng tăng cao và ác liệt làm nền kinh tế tư bản chủ nghĩa luôn vận động dưới hai nguyên tắc ngược chiều nhau Chính sự kết hợp giữa hai nguyên tắc mâu thuẫn nhau nhau là cạnh tranh và

Trang 14

thành sở hữu quy mô lớn của một nhóm

nhỏ nhà tư bản độ quyền kếch xù

Nếu quy luật giá trị trong CNTB cạnh

tranh tự do biểu hiện thành quy luật giá

cả sản xuất thì trong CNTB độc quyền

biểu hiện thành quy luật giá cả độc

quyền

Nếu quy luật giá trị thặng dư trong cạnh

tranh tự do của CNTB biểu hiện thành

quy luật lợi nhuận bình quân thì trong

độc quyền biểu hiện thành quy luật lợi

nhuận độc quyền cao

Trang 15

Định nghĩa vắn tắt: Chủ nghĩa đế quốc là

CNTB độc quyền hay là sự thống trị của

tư bản tài chính

“Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản

đạt đến một giai đoạn phát triển trong đó

sự thống trị của các tổ chức độc quyền và

của tư bản tài chính đã được xác lập;

việc xuất khẩu tư bản đã có một ý nghĩa

nổi bật; sự phân chia thế giới đã bắt đầu

được tiến hành giữa các tờ rớt quốc tế và

sự phân chia toàn bộ đất đai trên thế giới

giữa những nước tư bản lớn nhất, đã kết

thúc”.

Các nhà kinh tế tư sản cho rằng: Chủ nghĩa đế quốc chỉ là một chính sách của chủ nghĩa tư bản Lênin đã phê phán quan điểm trên và cho rằng: Chủ nghĩa đế quốc không phải chỉ là vấn đề chính trị và càng không phải là chính sách của CNTB Mà xét về mặt kinh tế, nét đặc trưng nhất, nổi bật nhất là vấn đề độc quyền thay thế tự

do cạnh tranh

Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nêu hết được những đặc điểm cơ bản và các mối quan hệ của chủ nghĩa đế quốc, do vậy,

Lênin đã nêu lên định nghĩa đầy đủ về

CNĐQ như sau:

Trang 16

c Các hình thức tồn tại của tổ chức độc

quyền

Các hình thức độc quyền:

Cácten là hình thức tổ chức độc

quyền giữa các nhà tư bản ký hiệp nghị

thoả thuận với nhau về giá cả, quy mô

sản lượng, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn

thanh toán Các nhà tư bản tham gia

cácten vẫn độc lập về sản xuất và thương

nghiệp

Sự ra đời của CNTB độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của CNTB Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư Để hiểu rõ điều đó, tiếp theo, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những đặc điểm kinh tế của CNTB độc quyền

Độc quyền tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, các hình thức này phát triển từ thấp tới cao, từ một ngành đến nhiều ngành Đó là các hình thức: cacten, xanhdica, torot, congxoocxiom

Cacten là hình thức đầu tiên của độc

Trang 17

- Xanhdica là hình thức tổ chức độc

quyền cao hơn, ổn định hơn cácten.Các xí

nghiệp tham gia xanhđica vẫn giữ độc lập

về sản xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông,

mọi việc mua, bán do một ban quản trị

chung của xanhđica đảm nhận

Tờ rớt là một hình thức độc quyền

cao hơn cácten và xanhđica, mang hình

thức công ty cổ phần

Côngxoócxiom là hình thức tổ

chức độc quyền có trình độ và quy mô

lớn hơn các hình thức độc quyền trên

Tham gia côngxoócxiom không chỉ có

quyền Tuy nhiên, đây là hình thức không

ổn định và dễ tan vỡ Các nhà tư bản tham gia cacten:

- Thỏa thuận với nhau về giá cả, kỳ hạn trả tiền

- Phân chia thị trường tiêu thụ

- Quyết định khối lượng hàng hóa bán trên thị trường

Ở Đức, 1896 có 20 cacten, 1905 lên tới

385 cacten

Mục đích của xanhđica là thống nhất đầu mối mua và bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao

Xanhdica phát triển rộng rãi ở Pháp

Các nhà tư bản tham gia tờrớt trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số

Trang 18

Ở Mỹ, 1900 có 185 tờ rớt, đến 1907 đã

có 250 tờ rớt

Sự liên kết này tạo ra các công ty độc quyền có tính linh hoạt cao và thích ứng với sự biến đổi của thị trường

Ngoài 4 hình thức độc quyền cơ bản trên đây còn tồn tại 2 hình thức độc quyền khác là congglomerat và Concern: là hình thức liên minh độc quyền cao nhất, như những công ty tư bản khổng lồ, bao gồm hàng tram hàng ngàn công ty, xí nghiệp thành viên liên kết đa ngành – trên tất cả các ngành thương nghiệp, ngân hàng, giao thông vận tải

Các Concern thường là các tập đoàn bao gồm các xí nghiệp sở hữu toàn phần,

Trang 19

2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của

chủ nghĩa tư bản độc quyền

chúng được hình thành bằng phương pháp các công ty lớn thôn tính các công

ty yếu hơn và biến chúng thành các chi nhánh của mình, các công ty yếu hơn này chỉ yếu hơn về mặt tài chính nhưng lại là những công ty có triển vọng, đáp ứng được yêu cầu phát triển của công ty lớn Conglomerate là hình thức tổ chức khác, rất hiệu quả Việc điều hành Conglomerate khá gọn nhẹ, linh hoạt, chủ yếu là kiểm soát hoạt động của các chi nhánh thông qua hệ thống tài chính và chỉ đạo hành chính kiểu mạng lưới Các Conglomerate chỉ thôn tính các công ty thông qua việc mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Chúng mua bất kể công ty nào, thuộc các ngành khác nhau nếu thấy có lợi

Theo định nghĩa, Lê nin đã chỉ ra 5 đặc điểm kinh tế của CNTB độc quyền Đó là:

• Sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới sự phát triển cao khiến nó tạo ra các tổ chức độc quyền có vai trò quyết định trong hoạt động kinh tế

Trang 20

Tập trung sản xuất và các tổ chức

độc quyền

Tập trung sản xuất:

Khái niệm: Tập trung sản xuất là sự tăng

thêm về quy mô sản xuất bằng cách kết

• Sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng với tư bản công nghiệp là xuất hiện tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

• Việc xuất khẩu tư bản khác với việc xuất khẩu hàng hóa, mang một

ý nghĩa quan trọng đặc biệt

• Sự hình thành những liên minh độc quyền quốc tế của bọn tư bản chia nhau thị trường thế giới

• Việc các cướng quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất chia nhau đất đai trên thế giới

Sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau đi phân tích các đặc điểm này

Đặt câu hỏi: Khi nghiên cứu về CNTB tự

do cạnh tranh, chúng ta đã nắm được những đặc điểm cơ bản của tích lũy, tích

tụ và tập trung tư bản Vậy, bạn nào có thể nhắc lại những khái niệm đó trước khi chúng ta nghiên cứu về tập trung sản xuất?

Tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng

dư hay đưa tiền quay lại làm chức năng

tư bản để mở rộng sản xuất

Trang 21

hợp nhiều xí nghiệp nhỏ thành xí nghiệp

lớn

Nguyên nhân dẫn đến tập trung sản xuất:

• Do sự tiến bộ của khoa học – kỹ

thuật đã thúc sản xuất phát triển, tạo năng

suất lao động cao nên bóc lột được nhiều

giá trị thặng dư dẫn đến tích lũy tư bản

tăng, do đó tích tụ và tập trung tư bản

tăng

• Sản xuất tăng làm cho cạnh tranh

tự do tăng, từ đó làm cho tập trung sản

Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất nhiều tư bản cá biệt sẵn có thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn

Tập trung sản xuất là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Nhưng chỉ đến cuối thế kỷ XIX thì quá trình tập trung sản xuất mới diễn ra một cách mạnh mẽ

Trong những năm 1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp đều có tình hình là các xí nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp nhưng chiếm hơn 3/4 tổng số máy hơi nước và điện lực, gần một nửa tổng số công nhân và sản xuất ra gần một nửa tổng số sản phẩm

Trang 22

Quá trình tập trung sản xuất không phải

diễn ra trong cùng một ngành mà còn

diễn ra ở nhiều ngành, hình thành nên

những xí nghiệp khổng lồ Lênin gọi đó

là chế độ liên hợp hóa

Đặc biệt là cuộc khủng hoảng 1873 và

1900 – 1903 góp phần đẩy nhanh quá trình tập trung sản xuất

Quá trình tập trung sản xuất làm cho hàng vạn xí nghiệp nhỏ biến đi để hình thành những xí nghiệp và công ty lớn Các xí nghiệp và công ty lớn này tuy chiếm một

tỷ trọng rất nhỏ nhưng lại có vai trò to lớn trong nền kinh tế, vì nó nắm được phần lớn lực lượng lao động, động lực và tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn

VD: - Ở Đức, những xí nghiệp lớn chỉ chiếm 0,9% trong tổng số các xí nghiệp nhưng lại chiếm 39,4% tổng số lao động, 75,3% sức hơi nước và 77,2% điện lực

Trang 23

- Các tổ chức độc quyền:

Khái niệm: Tổ chức độc quyền là tổ chức

liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập

trung vào trong tay phần lớn việc sản

xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nào

đó nhằm mục đích thu được lợi nhuận

độc quyền cao

• Ở Mỹ, các xí nghiệp lớn chiếm 1,1% tổng số các xí nghiệp nhưng chiếm ½ tổng sản lượng

Như vậy, sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền

Trang 24

Vị trí, vai trò: - Nhờ nắm được địa vị

thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu

thông, các tổ chức độc quyền có khả năng

định ra giá cả độc quyền

+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có

sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản

xuất:

+Vậy giá cả độc quyền là: Giá cả độc

quyền = chi phí sản xuất + P độc quyền

Như vậy, đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, độc quyền là cơ sở kinh tế, là cái vỏ vật chất trong đó quan hệ sản xuất TBCN tồn tại và vận động

+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTB- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ phần Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng ngành) dưới hình thức: Cácten, Xanhđica, Trớt

+ Sau đó là sự liên kết dọc Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica, Tờrớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau

về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom

+ Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình thành các công ty lớn như: Cônglômêrát, Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau

Trang 25

- Các loại cạnh tranh trong độc quyền:

+ Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền

với các xí nghiệp ngoài độc quyền

Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá

cả sản xuất đối với những hàng hóa bán ra

Họ định ra giá cả độc quyền thấp hơn giá

cả sản xuất đối với những hàng hóa mua vào, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền

Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì: Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi nhuận vẫn bằng tổng số giá trị thặng dư

Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa và nhỏ, nhân dân lao động ở các nước TB, thuộc địa mất đi

Trang 26

+ Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền

với nhau

+ Cạnh tranh giữa các xí nghiệp, công ty

trong nội bộ các tổ chức độc quyền

Với các hình thức tổ chức trên, độc quyền

đi vào mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và bằng đủ mọi cách Nó nắm các mạch máu kinh tế nên có sức mạnh rất to lớn Tuy vậy, độc quyền vẫn không thủ tiêu cạnh tranh, trái lại còn làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt

Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa những người sản xuất hàng hóa bằng nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau nhằm giành giật cho mình những điều kiện sản xuất và kinh doanh có lợi nhất

Đây là cạnh tranh cơ bản và diễn ra gay gắt bằng mọi thủ đoạn để tiêu diệt các xí nghiệp ngoài độc quyền như: độc quyền

về nguyên liệu, độc quyền về lao động, độc quyền về phương tiện giao thông, độc

Trang 27

Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài

chính

Cùng với quá trình tích tụ và tập trung

sản xuất trong công nghiệp cũng diễn ra

quá trình tích tụ, tập trung tư bản trong

ngân hàng, dẫn đến hình thành các tổ

chức độc quyền trong ngân hàng

quyền về tín dụng, độc quyền về thị trường tiêu thụ và độc quyền về giá cả Ngoài ra còn có thể dùng các biện pháp

ám sát kỹ sư giỏi, chuyên gia giỏi và ăn cắp kỹ thuật

Loại cạnh tranh này có nhiều hình thức: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trong một ngành, kết thúc bằng một sự thoả hiệp hoặc bằng sự phá sản của một bên cạnh tranh; cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quan với nhau về nguồn nguyên liệu, kỹ thuật

Những nhà tư bản tham gia cácten, xanhđica cạnh tranh với nhau để giành thị trường tiêu thụ có lợi hoặc giành tỷ lệ sản xuất cao hơn Các thành viên của tờrớt và côngxoócxiom cạnh tranh với nhau để chiếm cổ phiếu khống chế, từ đó chiếm địa vị lãnh đạo và phân chia lợi nhuận có lợi hơn

Như vậy, độc quyền do cạnh tranh sinh

Trang 28

Khái niệm: Độc quyền ngân hàng là

những hình thức tổ chức liên minh của

các tư bản ngân hàng nhằm chi phối các

hoạt động tài chính, tín dụng, ngân hàng

để thu lợi nhuận độc quyền cao

Vai trò:

- Độc quyền ngân hàng nắm phần lớn tư

bản tiền tệ của xã hội, lại nắm tài khoản

ra, độc quyền đối lập với cạnh tranh nhưng không thủ tiêu cạnh tranh, trái lại làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt, tạo nên một cơ chế quá độ hỗn hợp giữa độc quyền và cạnh tranh

Vậy, khi các tổ chức độc quyền thống trị

nền kinh tế, tất yếu sẽ thống trị hệ thống chính trị - xã hội, quân sự và ngoại giao, tạo ra thời đại độc quyền mà Lê nin gọi là chủ nghĩa đế quốc

Vì:

Khi độc quyền công nghiệp xuất hiện, nó cần phải có một số vốn lớn để kinh doanh,

do đó, những ngân hàng nhỏ không thể đáp ứng được, mà cần phải có những ngân hàng lớn và các độc quyền ngân hàng.Độc quyền công nghiệp xuất hiện đã thúc đẩy sản xuất phát triển, năng suất lao động cao, bóc lột được nhiều giá trị thặng dư,

Trang 29

và cho tư bản công – thương nghiệp vay

tiền, nên nắm chính xác tình hình kinh

doanh của các nhà tư bản này Từ đó, nó

có thể kiểm soát, chi phối và quyết định

số phận của tư bản công – thương nghiệp

- Đưa tới sự thâm nhập lẫn nhau giữa độc

quyền ngân hàng và độc quyền công

nghiệp Sự thâm nhập này được tiến hành

bằng 2 cách:

+ Một là, độc quyền ngân hàng bỏ tiền ra

mua cổ phiếu phát hành của các tổ chức

độc quyền công nghiệp

+ Hai là, độc quyền ngân hàng đưa người

của mình vào tham gia các ban quản trị

của độc quyền công nghiệp

Khái niệm tư bản tài chính: Tư bản tài

chính là kết quả của sự hợp nhất, sự hòa

vào nhau giữa độc quyền ngân hàng và

độc quyền công nghiệp

Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến

đưa tới tích lũy tư bản tăng Mặt khác, tiền nhàn rỗi trong xã hội chưa sử dụng đến nên gửi vào ngân hàng

Quá trình tập trung trong ngân hàng cũng diễn ra dưới tác động của cạnh tranh gay gắt, khốc liệt Kết quả, các ngân hàng lớn thôn tính ngân hàng nhỏ, hoặc biến thành các chi nhánh của ngân hàng lớn từ các ngân hàng lớn lại liên kết với nhau thành những ngân hàng lớn hơn và sau đó hình thành nên các độc quyền ngân hàng

Sự xuất hiện, phát triển của các độc quyền trong ngân hàng đã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò mới trước đây, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian giữa những người gửi tiền

và vay tiền đến nay độc quyền ngân hàng trở thành kẻ có quyền lực vạn năng

Trang 30

sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền

chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính

trị của toàn xã hội tư bản gọi là bọn đầu

sỏ tài chính

Bọn đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị

của mình thông qua “chế độ tham dự”

Ngoài "chế độ tham dự", bọn đầu sỏ tài

chính còn sử dụng những thủ đoạn như

lập công ty mới, phát hành trái khoán,

kinh doanh công trái, đầu cơ chứng khoán

ở sở giao dịch, đầu cơ ruộng đất để thu

được lợi nhuận độc quyền cao

• Kết quả của sự thâm nhập này đã đưa tới việc xuất hiện một loại tư bản mới

về chất – đó là tư bản tài chính

Theo V.I Lênin: "tư bản tài chính là kết

Trang 31

Xuất khẩu tư bản

Khái niệm: Xuất khẩu tư bản là đưa “tư

bản thừa” của các tổ chức độc quyền, của

tư bản tài chính, của nhà nước tư sản sang

các nước khác nhằm mục đích mở rộng

quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp”.

Thực chất của chế độ tham dự là một nhà tài chính lớn, hoặc một tập đoàn tài chính nhờ có số cổ phiếu khống chế mà nắm được một công tylớn nhất với tư cách là công ty gốc (hay là "công ty mẹ”); công

ty này lại mua được cổ phiếu khống chế, thống trị được công ty khác, gọi là "công

ty con”; "công ty con" đến lượt nó lại chi phối các "công ty cháu" cũng bằng cách như thế Nhờ có chế độ tham dự và phương pháp tổ chức tập đoàn theo kiểu móc xích như vậy, bằng một lượng tư bản đầu tư nhỏ, các nhà tư bản độc quyền tài chính có thể khống chế và điều tiết được một lượng tư bản lớn gấp nhiều lần

Trang 32

sự bóc lột của CNTB.

Thống trị về kinh tế là cơ sở để bọn đầu

sỏ tài chính thống trị về chínhtrị và các mặt khác Về mặt chính trị, bọn đầu sỏ tài chính chi phối mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, biến nhà nước tư sản thành công cụ phục vụ lợi ích cho chúng

Sự thống trị của bọn tài phiệt đã làm nảy sinh chủ nghĩa phátxít, chủ nghĩa quân phiệt và nhiều thứ chủ nghĩa phản động khác, cùng chạy đua vũ trang gây chiến tranh xâm lược để áp bức, bóc lột các nước đang phát triển và chậm phát triển

Do bản chất đó nên người ta gọi tư bản tài chính là bọn đầu sỏ tài chính “Như vậy là thế kỷ XX đánh dấu một bước ngoặt từ chủ nghĩa tư bản cũ sang chủ nghĩa tư bản mới, từ sự thống trị của tư bản nói chung sang thống trị của tư bản tài chính

V.I Lênin vạch ra rằng, xuất khẩu hàng

Trang 33

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất

khẩu tư bản trở thành tất yếu vì:

- Đến giai đoạn độc quyền, có nhiều

thành tựu khoa học – kỹ thuật được áp

dụng vào quá trình sản xuất, làm cho sản

xuất và trao đổi hàng hóa được phát triển

và mở rộng vượt phạm vị của mỗi quốc

gia -> tạo cơ sở khách quan cho việc xuất

khẩu tư bản

- Một số ít nước phát triển đã tích lũy

được một khối lượng tư bản lớn và có

một số "tư bản thừa" tương đối cần tìm

nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận hơn so với

đầu tư ở trong nước

- Nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi

cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới

nhưng lại rất thiếu tư bản, giá ruộng đất

tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu

rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn

đầu tư tư bản

Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới

hai hình thức chủ yếu: đầu tư trực tiếp và

đầu tư gián tiếp

Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức xuất

khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp

mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang

hoá là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa

tư bản tự do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền

”Tư bản thừa” ở đây là thừa tương đối.,

nghĩa là số tư bản này nếu đem đầu tư thì

sẽ mang lại một lợi nhuận rất thấp Do

đó, cần phải có nơi đầu tư để đem lại lợi nhuận cao hơn, chứ không phải thừa so với nhu cầu phát triển chung của nền kinh

àĐiểm khác:

Xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tư bản

- Là đem hàng hóa ra - Là mang tư bản

Trang 34

hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó

thành một chi nhánh của công ty mẹ ở

chính quốc

Đầu tư gián tiếp là hình thức xuất khẩu tư

bản dưới dạng cho vay thu lãi Đó là hình

thức xuất khẩu tư bản cho vay

nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư

- Là điển hình của giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh

- Mục đích: Thực hiện giá trị hàng hóa

đã sản xuất ra trong nước

đầu tư ở nước ngoài

để sản xuất

- Là điển hình của giai đoạn CNTB độc quyền

- Mục đích: Bóc lột giá trị thặng dư ở nước ngoài

Trang 35

Xuất khẩu tư bản nhà nước là việc nhà

nước tư bản độc quyền dùng nguồn vốn

từ ngân quỹ của mình, tiền của các tổ

chức độc quyền để đầu tư vào nước nhập

khẩu tư bản hoặc viện trợ có hoàn lại hay

không hoàn lại để thực hiện những mục

tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự

Điển hình là ở AnhNgười đầu tư trực tiếp quản lý vốn và tổ chức kinh doanh nên lỗ lãi tự chịu và phải nộp một phần lợi nhuận cho nước nơi mình đầu tư

Các lĩnh vực đầu tư thường là kết cấu hạ tầng kinh tế như: Đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giao thông vận tải…

Trong năm 2010, ba nền kinh tế dẫn đầu

về thu hút được nhiều FDI là Mỹ với 228

tỷ USD, Trung Quốc 106 tỷ USD và Hong Kong 69 tỷ USD

Trang 36

Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức

xuất khẩu do tư bản tư nhân thực hiện

Hình thức này có đặc điểm cơ bản là nó

thường được đầu tư vào những ngành

kinh tế có vòng quay tư bản ngắn và thu

được lợi nhuận độc quyền cao, dưới hình

thức các hoạt động cắm nhánh của các

công ty xuyên quốc gia

Đối với nước xuất khẩu tư bản:

• Tích cực:

+ Làm cho các tổ chức độc quyền

ngày càng giàu có lên

+ Thị trường, nền sản xuất tư bản

ngày càng mở rộng, khoa học kỹ thuật

ngày càng phát triển

Lượng FDI chảy vào các nước Đông Nam Á đã tăng 107% năm 2010, so với mức giảm 19% năm 2009 Trong số vốn chảy vào thị trường Đông Nam Á, Singapore thu hút trên 30%, Việt Nam 17%, Indonesia 16%, Thái Lan 13% và Maysia 10%

Điển hình là ở PhápThông qua các ngân hàng tư nhân hoặc trung tâm tín dụng quốc gia và quốc tế, cho nước khác vay theo các kỳ hạn như 1 năm, 3 năm, 10 năm theo các mức lãi suất khác nhau

• Theo Lê nin, điển hình cho hình thức đầu tư trực tiếp là nước Anh, còn điển hình cho hình thức đầu tư gián tiếp

là nước Pháp

Thực hiện các hình thức xuất khẩu tư bản trên, xét về chủ sở hữu tư bản, có thể phân chia thành xuất khẩu tư bản tư nhân

và xuất khẩu tư bản nhà nước

Trang 37

+ Làm cho nền kinh tế tư bản phát

triển mạnh

• Tiêu cực:

+ Thu hẹp sản xuất trong nước, dẫn

đến dư thừa lao động đời sống khó khăn

+ Đầu tư trong nước giảm, mâu

thuẫn trong xã hội tư sản nảy sinh phân

hóa giàu nghèo ngày càng tăng

Đối với nước nhập khẩu tư bản:

• Tích cực:

+Đối với các nước TBCN: tận

dụng được thế mạnh và lợi thế so sánh

của nhau; kích thích tập trung sản xuất,

đẩy mạnh cạnh tranh và phát triển kinh

tế, sản xuất ra được nhiều hàng hóa với

chất lượng cao, mở rộng thị trường

+ Đối với các nước kém phát triển:

được hỗ trợ kịp thời về vốn, thúc đẩy

nhanh quá trình chuyển từ nền kinh tế tự

tư bản viện trợ không hoàn lại cho nước nhập khẩu tư bản để ký được những hiệp định thương mại và đầu tư có lợi

Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản thường nhằm duy trì và bảo vệ chế độ chính trị "thân cận" đã bị lung lay ở các nước nhập khẩu tư bản, tăng cường sự phụ thuộc của các nước đó vào các nước

đế quốc, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho tư nhân xuất khẩu

tư bản

Về quân sự, viện trợ của tư bản nhà nước nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình

Trang 38

+ Lệ thuộc công nghệ, vốn và thị

trường vào các nước xuất khẩu tư bảncơ

cấu kinh tế bị lệ thuộcbị thâu tóm về mặt

chính trị

Xuất khẩu tư bản có thể đem lại nhiều tác động tích cực và tiêu cực cho cả nước xuất khẩu và nhập khẩu tư bản

Trang 39

Sự phân chia thế giới giữa các liên

minh của các nhà tư bản

Quá trình tích tụ và tập trung tư bản

phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng lên

cả về quy mô và phạm vi tất yếu dẫn tới

sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa

các tập đoàn tư bản độc quyền và hình

thành các tổ chức độc quyền quốc tế

Vậy, độc quyền quốc tế là sự liên minh

và thỏa thuận giữa các tổ chức độc quyền

kếch xù của các nước về phân chia thị

trường, giá cả và quy mô sản xuất Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư

bản đã chứng minh thị trường trong nước luôn luôn gắn với thị trường nước ngoài

Trang 40

Các tổ chức độc quyền quốc tế đóng vai

trò quan trọng trong việc đẩy nhanh quá

trình xã hội hóa sản xuất, ứng dụng khoa

học – kỹ thuật Mặt khác, nó là hình thức

bóc lột và nô dịch các dân tộc khác của tư

bản tài chính

Sự phân chia lãnh thổ thế giới

giữa các cường quốc

Khái niệm: Sự phân chia thế giới về

mặt lãnh thổ tức là các nước đế quốc đi

xâm chiếm thuộc địa, hình thành nên hệ

thống thuộc địa

Nguyên nhân:

Về kinh tế: do xuất hiện các tổ

chức độc quyền làm cho sản xuất phát

triển mạnh nên cần phải có thị trường tiêu

thụ hàng hóa và cung cấp nguyên vật

liệu

Về chính trị: do bản chất của độc

quyền và tư bản tài chính là thống trị và

Đặc biệt trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, thị trường ngoài nước còn có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đế quốc Một mặt, do lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi ngày càng phải có nhiều nguồn nguyên liệu và nơi tiêu thụ; mặt khác, do thèm khát lợi nhuận siêu ngạch thúc đẩy tư bản độc quyền tăng cường bành trướng ra nước ngoài để tạo thị trường ổn định thường xuyên

Sự đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền quốc gia có sức mạnh kinh tế hùng hậu lại được sự ủng

hộ của nhà nước "của mình"và các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết các hiệp định, để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế dưới dạng cácten, xanhđica, tờrớt quốc tế

Ngày đăng: 16/09/2016, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức này có đặc điểm cơ bản là nó - bài soạn giảng BÀI 4 chủ nghĩa tư bản hiện đại
Hình th ức này có đặc điểm cơ bản là nó (Trang 36)
Hình thành một tổng thể những thiết chế - bài soạn giảng BÀI 4 chủ nghĩa tư bản hiện đại
Hình th ành một tổng thể những thiết chế (Trang 54)
Hình   chính   trị   thiếu   ổn   định;   thiếu   môi - bài soạn giảng BÀI 4 chủ nghĩa tư bản hiện đại
nh chính trị thiếu ổn định; thiếu môi (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w