Bạn đang tìm kiềm một bộ tài liệu phục vụ cho việc thuyết minh, giới thiệu đến du khách của bạn về tuyến điểm miền Tây? Bạn đang muốn tìm tài liệu giải đáp các thắc mắc của bạn về văn hóa, đời sống và về tuyến điểm cung đường Nam Bộ? Tài liệu này sẽ có thể giúp bạn điều đó.
Trang 1Tour Đồng bằng sông Cửu Long
CÀ MAU
Có diện tích tự nhiên 5.329 km2.
Hệ sinh thái rừng ngập nước có diện tích gần 100.000 ha được chia thành 2 vùng:
• rừng ngập lợ với đặc trưng cây tràm là chủ yếu nằm sâu trong đất liền ở vùng U Minh hạ
• rừng ngập mặn với đặc trưng cây đước, cây mắm là chủ yếu ở vùng Mũi Cà Mau và ven biển; trong rừng có nhiều loài động vật, thực vật phong phú với trữ lượng lớn là đặc sản của rừng ngập nước
• Rừng Cà Mau trở thành nổi tiếng trên thế giới và chỉ đứng sau rừng ngập mặn ở Cửa sông Amazôn (Brazil)
Bờ biển Cà Mau dài 254 km chạy từ phía biển Đông sang vịnh Thái Lan, bờ biển thấp, nền
đất yếu và bằng phẳng Diện tích vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km2, độ sâu trung bình từ 30 đến 35 mét; trong lòng biển có nhiều loài tôm cá, dưới thềm lục địa có trữ lượng dầu khí và khí đốt rất lớn, có khả năng khai thác trong nhiều năm Biển Cà Mau có
vị trí trung tâm đường biển trong vùng Đông Nam Á và sát với đường biển quốc tế, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.
Nguồn gốc xa xưa Cà Mau là vùng đất hoang vu, rừng rậm, mặt đất ẩm thấp, thiếu nước
ngọt, ruộng nhiều phèn, nhiều muỗi vắt nên vắng người sinh sống Đến cuối thế kỷ 17 Cà Mau là mảnh đất cuối cùng trên con đường của người Việt chinh phục hoang vu mở mang
bờ cõi Năm 1680 một số ấp ở ven sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Gành Hào được hình
thành Năm 1714 Mạc Cửu dâng phần đất Cà Mau cho chúa Nguyễn, Mạc Thiên Tứ là con
Mạc Cửu vâng lệnh triều đình lập ra đạo Long Xuyên mang tính chất quân sự để cai quản.
Năm 1882 Cà Mau tách khỏi Rạch Giá, Bạc Liêu tách khỏi Sóc Trăng thành lập ra tỉnh Bạc
Liêu, đây là hạt thứ 21 của Nam kỳ thuộc địa Sau nhiều lần thay đổi địa giới và tên tỉnh,
đến đầu năm 1976 Cà Mau-Bạc Liêu được đổi tên là tỉnh Minh Hải Đến ngày 01/01/1997 Minh Hải lại tách ra thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.
Ngay từ trước những năm 30 ở Cà Mau đã có nhiều cuộc nổi dậy của nông dân chống lại địa chủ, hương quản cướp bóc ruộng đất Năm 1930 các chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập để lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống áp bức Hưởng ứng cuộc khởi nghiã Nam Kỳ, năm 1940 Tỉnh ủy Cà Mau đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi, ghi vào
trang vẻ vang của tỉnh Từ đó ngày khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 trở thành ngày truyền
thống của Đảng bộ, quân dân tỉnh Cà Mau.
Sắc thái văn hóa của Cà Mau có sự dung hòa đa dạng và phong phú do được tiếp thu của
nhiều nền, nhiều miền văn hóa, nhiều tôn giáo khác nhau Những tập quán, thuần phong
mỹ tục của người Kinh là chủ đạo có ảnh hưởng qua lại với người Khơme, người Hoa tạo nên sự hài hòa chung cho nhiều dân tộc Do đặc điểm sống ở vùng sông nước, rừng biển sâu xa nên loại hình đàn ca cải lương trở thành nếp sinh hoạt văn nghệ phổ biến trong nhân dân; miền đất này có truyện cười dân gian của Bác Ba Phi đầy huyền thoại; có làn
Trang 2điệu thơ Bạc Liêu của nghệ sĩ Thái Đắc Hàng Hàng năm nhân dân tổ chức lễ hội Nghinh Ông ở cửa biển Sông Đốc và một số lễ hội dân gian khác.
Những địa danh lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh có sức thu hút du khách như Mũi
Cà Mau, đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, rừng đước Năm Căn, rừng tràm U Minh hạ, bãi Khai Long, Giá Lồng đèn, các sân chim, công viên Văn hóa, đầm Thị Tường v.v Tên tuổi của những danh nhân văn hóa như nhà giáo Phan Ngọc Hiển, nhà báo Nguyễn Mai, bác Ba Phi, v.v đã để lại trong lòng người sự mến yêu, ngưỡng mộ về cảnh vật hữu tình, con người dũng khí của đất Cà Mau.
Huyện Năm Căn
Huyện Năm Căn tỉnh Cà Mau được thành lập trên cơ sở chia tách huyện Ngọc Hiển và đi vào hoạt động từ đầu năm 2004 Huyện Năm Căn có diện tích tự nhiên 53.291,4 ha
- Phía Đông tiếp giáp Biển Đông
- Phía Tây tiếp giáp Vịnh Thái Lan
- Phía Bắc tiếp giáp 3 huyện: Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi
- Phía Nam tiếp giáp với huyện Ngọc Hiển
Huyện Năm Căn có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Hàm Rồng, Đất Mới, Hàng
Vịnh, Hiệp Tùng, Tam Giang, Tam Giang Đông, xã Lâm Hải và thị trấn Năm Căn
- Khí hậu thời tiết: Mang đặc trưng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nên nhiệt độ quanh năm cao, nhiệt độ trung bình 26,90C
Tương ứng với 2 mùa là 2 hướng gió thịnh hành khác nhau:
+ Mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trong mùa khô biển tương đối lặng, thời tiết tốt, thuận lợi cho khai thác biển, nuôi trồng thuỷ sản, đẩy mạnh các hoạt động xây dựng,
+ Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa lớn, trong mùa mưa thỉnh thoảng xuất hiện áp thấp gần bờ, giông, lốc, gió xoáy, ảnh hưởng đối với nghề khai thác biển, đi lại khó
khăn, các dịch vụ, sinh hoạt văn hoá thể thao vaứ du lũch bị hạn chế
Mũi Cà Mau:
thường được coi là điểm cực Nam trên đất liền của Việt Nam Mũi đất này còn có tên
là Mũi Bãi Bùng.
Vị trí
Mũi Cà Mau hướng về phía tây, thuộc địa phận xóm Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, cách thành phố Cà Mau hơn 100 km Bên trái mũi là biển Đông, bên phải là biển Tây, tức Vịnh Thái Lan.
Hiện nay nếu xét về mặt địa lý thì mũi Cà Mau không phải là điểm cực Nam trên đất liền của Việt Nam, mà chỉ nằm ở vùng cực Nam của Việt Nam Điểm cực nam trên đất liền của
Trang 3tỉnh Cà Mau nằm ở xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, có độ vĩ 8°30' Bắc Mũi Cà Mau là điểm cực Tây của tỉnh Cà Mau.
Trước đây một số tài liệu nói rằng điểm cực Nam trên đất liền của Việt Nam là xóm Rạch Tàu, cũng thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, ở tọa độ 8°34' (hoặc 8°30') độ vĩ Bắc, 104°40' (hoặc 104°50') độ kinh Đông.
Đặc điểm
Tại đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú Và còn có các công trình như cột mốc toạ độ quốc gia, biểu tượng Mũi Cà Mau.
Vùng đất này hằng năm lấn ra biển hàng chục mét, do sự bồi đắp rất lớn.
Sông Cửa Lớn
Còn có tên gọi khác là Đại Môn Giang là một con kênh dài 58 km, rộng 600 m và sâu 12
m ở tỉnh Cà Mau, nối biển Đông vớibiển Tây Con kênh này đầu bên biển Đông là cửa Bồ
Đề Còn đầu bên biển Tây là cửa Mũi Ông Trang, gần mũi Cà Mau Đoạn từ ngã ba sông Đầm Dơi và sông Cửu Lớn đến cửa Bồ Đề còn được gọi là sông Bồ Đề.
Đại Môn Giang là ranh giới tự nhiên giữa huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển, tách khu vực cuối cực nam của bán đảo Cà Mau thành một đảo, hiện chưa có cầu bắc qua đây.
Nước ở đây là nước lợ vì có một số sông nhỏ là sông Đầm Dơi, sông Đầm Chim và sông Cái Ngang đổ nước ngọt vào lẫn nước biển ở kênh này Sông Bồ Đề là một phân lưu ra biển của sông Cửa Lớn.
Đại Môn Giang là một nơi khai thác các loại thủy sản nước lợ của cư dân sống quanh khu vực này Cảng Năm Căn nằm trên sông Cửa Lớn, phía tả ngạn gần thị trấn Năm Căn.
Cồn Ông Trang & sông ông Trang
Cồn Ông Trang có 2 cồn nằm trong và ngoài cửa sông Ông Trang Cồn Trong hình thành năm 1960 có diện tích 122 ha, ban đầu chỉ có mắm trắng là cây tiên phong, tạo điều kiện cho các loài khác phát tán trên đảo, có 22 loài cây ngập mặn sinh sống, động vật ở đây cũng phong phú Cồn Ngoài hình thành muộn hơn (năm 1980), có diện tích 149 ha, đang phát triển với diễn thế nguyên sinh rừng ngập mặn tự nhiên, là nơi
có tính đa dạng sinh học điển hình của rừng ngập mặn.
Phủ trên cồn là thảm rừng ngập mặn xanh biết với các loài cây đặc trưng như: mắm trắng, bần trắng, như một bức tranh nổi lên giữa sóng nước bao la Nối liền với cồn Ông Trang
là bãi bồi phía Tây Mũi Cà Mau, hàng năm đất được bồi lấn ra biển từ 50 – 80 m.
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
là một vườn quốc gia tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Được thành lập ngày 14 tháng 7 năm 2003 trên cơ sở nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi (thành lập ngày 9 tháng 8 năm 1986).
Trang 4Ngày 26 tháng 5 năm 2009, cùng với cù lao Chàm, vườn quốc gia này được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển.
Rừng U Minh
Sông Trẹm chia U Minh thành hai vùng thượng và hạ U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang Rừng U Minh (U Minh Thượng và U Minh Hạ) là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quí hiếm trên thế giới.
Vườn quốc gia U Minh Hạ
thuộc tỉnh Cà Mau Địa giới hành chính nằm trên hai huyện U Minh và Trần Văn Thời Được thành lập ngày 20 tháng 1 năm 2006, trên cơ sở nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi Đây là khu vực có hệ động thực vật đặc trưng vùng đất ngập nước trên lớp than bùn do xác thực vật tích tụ lâu năm tạo thành Thực vật đặc hữu ở đây là các loài: tràm, móp, trảng năn, sậy Động vật đặc trưng là: rái cá lông mũi, tê tê, nai, khỉ đuôi dài, lợn rừng, rùa, rắn, trăn, các loại cá nước ngọt, chim, côn trùng Đây là một trong hai vườn quốc gia tại tỉnh Cà Mau, Việt Nam Số liệu kiểm kê năm 1995 cho thấy diện tích rừng ở đây là là 4.200 ha.
Ngày 26 tháng 5 năm 2009, cùng với Cù Lao Chàm - Quảng nam, vườn quốc gia Mũi Cà Mau và U Minh Hạ được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
Vườn quốc gia U Minh Thượng
là một vườn quốc gia của Việt Nam, được nâng cấp từ khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng lên thành vườn quốc gia theo ngày 14 tháng 1 năm 2002.
Do nhiều nguyên nhân tác động, rừng tập trung ở U Minh Thượng nhiều hơn và loại rừng
nguyên sinh chiếm phần lớn ở đây Diện tích 8.053 hécta Rừng nằm trong địa giới của
các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận của tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng bán đảo Cà Mau Vườn quốc gia U Minh Thượng nằm trong địa giới của huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Tiền thân của rừng U Minh Thượng là rừng úng phèn U Minh, vốn được người bản địa đặt tên từ lâu đời là “Hồ rừng”, hình thành tập trung ở phía Tây bán đảo Cà Mau, tiếp giáp với dải rừng ngập mặn ven biển vịnh Thái Lan, trên địa bàn hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang Diện tích rừng vào những năm trước 1950 là khoảng 400.000 ha, đến năm 1970 còn gần 200.000 ha và ở thời điểm 1990 còn khoảng 100.000 ha U Minh là kiểu rừng đặc thù được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới.
Thời chiến tranh, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà chia rừng U Minh thành hai khu vực: phần phía trên gọi là U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang; phần dưới gọi là U Minh Hạ, thuộc tỉnh Cà Mau; hai cánh rừng ngăn cách với nhau bởi dòng sông Trẹm
Rừng ngập mặn:
Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái phong phú nhất trên thế giới
1 Rừng ngập mặn là loại rừng gì?
Trang 5Cây rừng ngập mặn là những loài cây thân gỗ, có hạt và những loài cây bụi mọc chiếm
ưu thế dọc theo những bờ biển được che chở ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Trên thế giới có gần 70 loài cây rừng ngập mặn với chiều cao thay đổi từ 1,5 m đến 50 m(1)
Rừng ngập mặn có thể được thấy ở hầu hết mọi quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới Tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế giới vào khoảng 11 – 18 triệu hecta(2)
Rừng ngập mặn mọc đặc trưng ở những khu vực nước nông và lầy lội ở vùng cửa sông, các vịnh, bến cảng hoặc đường bờ biển không chịu tác động thường xuyên của sóng lớn Tại những khu vực này, rừng ngập mặn nhận nguồn dinh dưỡng pha trộn của cả nước ngọt (từ sông ngòi) và nước mặn (từ biển)
1.1 Các đặc tính của cây rừng ngập mặn
Những điều kiện tự nhiên nơi cây rừng ngập mặn sinh sống như tại các khu lầy lội và
có môi trường nước lợ được coi là đầy thử thách vì:
• Mức ôxi trong đất bùn/lầy thường thấp;
• Khu vực thường xuyên bị ngập;
• Nước ngọt khan hiếm;
• Độ mặn có thể rất cao
Tuy nhiên, cây rừng ngập mặn đã đặc biệt phát triển những khả năng để cho phép chúng phát triển trong những điều kiện như vậy
Trang 6BẠC LIÊU
Phía bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, tây bắc giáp Kiên Giang, tây và tây nam giáp Cà Mau, đông và đông nam giáp biển với 56 km bờ biển Tỉnh lỵ hiện nay là Thành phố Bạc Liêu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 280 km
Diện tích tự nhiên 2.520,6 km²
Nhà Thờ Tắc Sậy
10/6/1925: Chính thức thành lập Họ đạo Tắc Sậy
3/1930: Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP nhận chức Cha Sở Tắc Sậy Ngài là cha sở thứ hai của
Họ đạo
12/3/1946: Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP chịu chém đầu tại Cây Gừa, chết thay cho
giáo dân cùng bị lùa bắt đi với cha Ngay đêm hôm đó, giáo dân tản mác Họ đạo tan tác, nhà thờ bị phá đổ tang hoang Do đó, xác Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP được giáo dân Khúc Tréo vớt về an táng tại Nhà Thờ Khúc Tréo, họ lẻ của Tắc Sậy
1956: Họ đạo được tái lập dước sự dẫn dắt của Cha Sở Luois Marcello Đặng Tuấn Anh
1969: Cha Sở Giuse Nguyễn Văn Tịch di dời hài cốt Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP từ Nhà
thờ Khúc Tréo về an táng trước Nhà thờ Tắc Sậy
1980: Cha Anntôn Vũ Xuân Vinh dịch dời mộ Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP sang
phía hông Nhà thờ và mộ Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP được xây dựng cao ráo vì đã có nhiều người đến khấn nguyện nơi mộ Cha
21/01/1997: Tắc Sậy được Đức Giám Mục Cần Thơ Emmanuel Lê Phong Thuận chính thức
nâng lên thành Trung Tâm Hành Hương
24/02/2004: Đức Giám Mục Emmanuel Lê Phong Thuận đặt viên đá xây dựng nhà thờ mới
04/3/2010: Di dời mộ Cha FX TRƯƠNG BỬU DIỆP sang nhà mồ mới
03/12/2010: Cung hiến Thánh Đường Tắc Sậy
Tiểu sử cha Phanxicô Trương Bửu Diệp
Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897, được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Ðức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, Chợ Mới, Tỉnh An-Giang
Cha ngài là MICAE TRƯƠNG VĂN ÐẶNG (1860-1935)
Mẹ ngài là LUCIA LÊ-THỊ-THANH
Gia-đình sinh sống tại họ đạo CỒN PHƯỚC
Năm 1904, lúc ngài lên 7 tuổi thì mẹ mất Theo cha, gia đình dời lên BACTAMBANG
CAMPUCHIA, sinh sống bằng nghề thợ mộc
Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là
Trang 7Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hoà, huyện Thanh Bình, tỉnh Ðồng Tháp
Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền cho ngài vào tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới An Giang Mãn Tiểu Chủng Viện, ngài lên Ðại Chủng Viện Nam Vang, Campuchia (lúc đó các họ đạo khu vực Ðồng bằng sông Cửu Long trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia)
Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong Linh mục tại Nam Vang, thời Ðức Cha Gioan Chabalier Lễ Vinh Quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước
Năm 1924-1927, được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia
Năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng
Tháng 3 năm 1930, ngài về nhậm họ đạo Tắc Sậy Trong những năm làm cha sở, ngài
quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Ðốc, Cam Bô, An Hải, Ðầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Ðồng Gò, Rạch Rắn
Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân
di tản, Cha Bề Trên địa phận Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng gọi ngài lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: "Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên Tôi không đi đâu hết."
Ngày 12-3-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, bị lùa đi và
nhốt chung với bổn đạo tại lẫm luá của ông giáo Sự ở Cây Dừa Do sự tranh chấp giữa các giáo phái, vì bênh vực quyền lợi của giáo dân, ngài đã chết thay thế cho những người
bị bắt chung
Ngài mất trong khi thi hành nhiệm vụ chủ chăn Xác ngài được vớt lên từ một cái ao của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá
Thi hài ngài được chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo Ðến năm 1969, hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong 16 năm Ngôi nhà mồ cũ của ngài tại Tắc Sậy, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989 Hiện phần mộ của Ngài được di dời sang phần mộ mới ngày 4/3/2010
Ngài là Cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.
Công tử Bạc Liêu
Vốn thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20 Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này Thời đó dân gian đã có câu
"Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam
Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy Về sau,
thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về
khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.
Trang 8Trần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là Ba Huy) con trai ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch [2] một người xuất thân là thư ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì, người có đất ruộng nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ là "Vua lúa gạo Nam Kỳ" Ông Trạch là người Triều Châu lai, chí thú làm ãn Có người viết:
Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh
Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu
Trần Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa, gần 100.000
ha ruộng muối Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của cha sở và một lô của dân thường Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.
Khu lưu niêm nhạc sỹ Cao Văn Lầu Trên diện tích 2.772m², khu di tích đã được xây
dựng gồm 10 hạng mục với chi phí hơn 6,3 tỷ đồng
Qua khỏi cổng tam quan, khu mộ gia đình cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu nằm ở bên tay phải, gồm
4 ngôi mộ xây gạch tô đá mài, được bố trí nằm hai cặp sóng đôi: Bà Trần Thị Tấn (vợ nhạc
sĩ Cao Văn Lầu) - Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Bà Thạch Thị Tài - Nhạc sĩ Cao Văn Giỏi (thân sinh nhạc sĩ Cao Văn Lầu).
Chếch về phía trái chừng mươi thuớc là nhà trưng bày hiện vật Ngay tại gian giữa nhà trưng bày là trang thờ với tượng nhạc sĩ Cao Văn Lầu, hai bên tường có hai bản “Dạ cổ hoài lang” (nhịp 2 – phần lời và phần nhạc) cùng vài tác phẩm khác được minh họa bằng nét bút thư pháp trên nền vải hoa.
Phòng trưng bày còn giới thiệu nhiều tư liệu qúy gồm ảnh chụp một số tham luận về việc bảo tồn và phát huy giá trị bản “Dạ cổ hoài lang”, một số nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu của quê hương Bạc Liêu, một số phục trang sân khấu cải lương của các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng, một số nhạc cụ cổ nhạc trong đó có cây đờn cò của giáo sư Trần Văn Khê, cây đàn guitar phím lõm của nhạc sĩ ưu tú Văn Giỏi sử dụng từ năm 1976, cây đàn guitar phím lõm của ông Hai Ngưu mà nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã mượn khi đến Sài Gòn vào năm 1963, dàn nhạc lễ gồm cò, gáo, tranh, trống, trống cơm, tum, chập chõa… nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã từng sử dụng, bút tích nhạc sĩ Cao Văn Lầu… đặc biệt nơi đây còn phục dựng cảnh đờn ca tài tử bằng mô hình sáp rất sinh động.
Cạnh nhà trưng bày là một sân khấu lộ thiên dành tổ chức các buổi lễ Qua khỏi sân khấu
là nhà bán hàng lưu niệm, nơi đây còn có một sân khấu nhỏ dành làm nơi biểu diễn đờn ca tài tử khi các “tài tử” về thăm khu lưu niệm này và có nhã hứng phục vụ công chúng.
Cao Văn Lầu, thường gọi Sáu Lầu, (22 tháng 12 năm 1892 - 13 tháng 8 năm 1976) là một
nhạc sĩ và là tác giả bài "Dạ cổ hoài lang", một bài ca độc đáo và nổi tiếng nhất trong nghệ thuật cải lương Việt Nam.
Trang 9Cao Văn Lầu sinh tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành
xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An.
Khi Cao Văn Lầu được bốn tuổi (năm 1896), ông Chín Giỏi (chưa rõ tên thật, cha Cao Văn lầu) vì nghèo, vì bị áp bức nên đã cùng vợ và sáu đứa con nhỏ xuống ghe, tìm đất khác sinh sống.
Buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở Gia Hội ( Bạc Liêu) Sau
9 tháng đi làm mướn cật lực mà không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng.
Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm có tật ở chân, nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện.
Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh,
cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.
Năm 1912, ông bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ đại oán Bùi Kiệm thi rớt.
Năm 21 tuổi ( 1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn,
một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh).
Khoảng thời gian này, ông sáng tác được một bản ngắn mang tên Bá điểu, sau đổi lại Thu phong, gồm tám câu nhịp bốn Sau nữa, bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và có tên mới là Mừng khi gặp bạn.
Năm 1917, ông sáng tác thêm một khúc gồm 22 câu, theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị
đề xướng là "Chinh phụ vọng chinh phu" (chủ đề được rút ra từ bản Nam ai "Tô Huệ chức cẩm hồi văn") nhưng chưa kịp sửa chữa và trình thầy thì gặp nghịch cảnh đau lòng Vợ ông đã ba năm mà vẫn chưa có dấu hiệu thai nghén, theo tục xưa, cha mẹ buộc ông phải trả vợ về nhà cha mẹ ruột.
Khoảng một năm sau, trong tâm trạng nhớ thương vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại Nghe bạn đồng môn tên Ba Chột góp ý, ông bỏ bớt 2 câu trùng lắp, bài nhạc còn chẵn
20 câu nhịp đôi.
Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ (năm 1918), ông cùng các bạn đến thăm thầy, luôn tiện
trình bày bản nhạc chưa có tên trên Nghe xong, thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi.
Đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng tham dự, thầy Nhạc Khị liền nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc Nhà sư nói:" tuy nhạc và lời ca còn vài điểm bất nhất, nhưng cái chung vẫn
diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ Vậy cứ theo tích này mà đặt tên cho bài là "Dạ cổ hoài lang" (Nghe tiếng trống đêm nhớ chồng) Kể từ đêm đó, bài ca này được loan truyền
nhanh chóng.
Năm 1919, ông Lầu làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu).
Trang 10Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia Mặt trận Liên Việt ở ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Từ 1918 đến năm 1974, ngoài bản "Dạ cổ hoài lang", mà sau này phát triển thành bản
"vọng cổ", làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương; ông Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 bản nữa, nhưng đa phần chỉ lưu hành ở Bạc Liêu.
Ông mất năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi.
Đờn ca tài tử Nam Bộ
Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã hình thành và phát
triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian[1] Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Đờn ca tài tử là nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông
thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm
trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và độc huyền cầm (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền
cầm bằng cây guitar phím lõm Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn
bè, chòm xóm với nhau Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.
Loại âm nhạc này đúng ra là một loại nhạc thính phòng thường trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các
lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng.
Nguồn gốc của nhạc tài tử là ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi Loại nhạc này mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại nhạc lễ.
Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn Khi nào diễn ởđình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc các trang phục biểu diễn.
Một số người nói rằng từ nghiệp dư có nghĩa là tài tử Trong thực tế, từ này có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không có hiệu quả hoạt động của đời sống âm nhạc của họ, chỉ để cho vui hoặc những người khác Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không phải là chuyên gia Ngược lại, để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài.
Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bình đẳng Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài
tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.
Cải lương
Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên
cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ .