VỀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC VẢN HỌC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA "NHẬT KÝ TRONG TÙ'' Tôi sẽ không nói ở đây quan niệm của Bác Hồ về văn nghệ nói chung, mà chỉ phá t biểu về quan điểm của Người
Trang 1VỀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC VẢN HỌC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA
"NHẬT KÝ TRONG TÙ''
Tôi sẽ không nói ở đây quan niệm của Bác Hồ về văn nghệ nói chung, mà chỉ phá t biểu về quan điểm của Người về chính hành vi sáng tác văn thơ của mình
Vì sao vậy? Vì không đủ căn cứ Người chưa bao giờ có điều kiện, vả lại Người cũng không quan tâm lắm đến sự phát biểu về văn chương nghệ thuật nói chung như một hoạt động tinh thần có những đặc trưng riêng biệt, độc đáo của con người Người từng nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em (văn nghệ sĩ -NĐM) là
chiến sĩ trên mặt trận ấy” Trong Nhật ký trong tù, Người
cũng nói: “Nay ở trong thơ nên có thép” Trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước, mọi hoạt động của dân tộc đều phải doc cá vào chiên trường, tất nhiên văn học nghệ thuật không thể đứng ngoài cuộc Đây là truyền thống văn chương đuổi giặc (thoái lỗ thi) lâu đời của một dân tộc luôn
ì T h ư gửi các họa sĩ n hãn dịp triển lăm hội họa 1951.
Trang 2N g u y ễ n D ă n g M ạ n h
luôn phải đứng lên chống giặc ngoại xâm Đó là quan điểm
văn học của Trần Hưng Đạo khi viết Hịch tướng sĩ uăn, cùa Nguyễn Trãi khi soạn Bình ngô đại cáo, của Nguyễn Đình Chiêu; “Chở hao nhiêu đạo thuyền không khằnĩ, Dăm
mấy thằng gian bút chẳng tà”, của Phan Bội Châu: “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyển trông gió cũìiiỊ gai ghê; Một ngòi lông uừa trống vừa chiêng, cửa dẫn chủ
k h êu đèn t hêm s á ng chỏi” U.U.
Nhung phát biếu trên của Bác Hồ về chức năng chiến đấu 'của văn nghệ chính là phát huy truyền thông đó.Chúng ta biết, Người từng hoạt động lâu năm ở Luân Đôn, ở Paris, từng bầu bạn với nhiều nghệ sĩ lớn trôn thê giới, từng đọc Shakespeare, A France, E Zola, L Tolstoi, LỖ Tấn t ấ t nhiên Người phải có quan niệm hết sức toàn diện, tinh vi và hiện đại về văn chương nghệ thuật Trong bức thư trả lời tác giả một bản luận
văn chính trị mà Bác có ý phê bình, Người viết: “ô n g
nói, phải giúp dồng hào làm quen với những từ mà nay
họ chưa hiểu, lảu rồi họ cũng sẽ hiểu Có thể làm ngơ như vậy được, nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ một tác
ph ẩ m văn học Cồn nếu tác ph ẩ m của ông lại định dùng đ ể tuyên truỵền thì đó phải là một tác phẩm ai dọc cũng hiểu dược” Nội một câu nói này thôi cũng cho
thấy Bác không hề có quan niệm đơn giản về văn học.Nhưng đây là một vấn đề r ấ t rộng lớn và phức tạp, từng làm tốn biết bao giấy mực Người không bỏ sức vào dây làm gì, klìi nhiệm vụ giải phóng dán tộc mới là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu
1 Trích thoo Tống tập văn học Việt Nam , tập 36 - NXB Khoa học
xă hội, HN 1980, tr.436.
Trang 3Q u a n d ie m và phư <tng p h á p n g h iê n cứu
Vì thế, ở đây, tôi chí phát biểu về quan điểm của Hồ Chí Minh về chính những sáng tác văn thơ của mình
Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một khôi thống nhất vĩ đại Thống nhất ở mục đích, ở lý tưởng: “Không có gì quý hơn độc lập tư do” Người goi là
“ham muốn tột bậc” của mình Vậy sáng tác văn thơ
của Người cũng không thể ở ngoài mục đích ấy Có nghĩa
là, sáng tác văn thơ đôi với Người trước hết là h à n h vi chính trị, hành vi cách mạng Không hiểu như t h ế thì không thể giải thích được vì sao, hồi ở Pác Bó, Người lại viêt những bài ca, bài vè, lời lẽ hết sức dễ hiểu như bài
H()n đá, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca đội tự vệ Gọi
đây là sáng tác văn chương, là hành vi nghệ thuật được sao? Có thể lấy tiêu chí văn chương nghệ t huật mà đánh giá được sao? Làm như thế, tôi e rằng sẽ vô tình hạ thấp, tầm thường hóa tài năng nghệ thuật của Bác Hồ - người đã từng viết nên những thiên truyện đáng gọi là
kiệt tác như Varen vă Phan Bội Châu, Vỉ hành và những áng thơ tuyệt đẹp như Mộ, Tảo giải, Tân xuất
ngục học đăng sơn, Nguyên tiểu, Báo tiệp
Những bài nhxiHòn đá, Ca dân cày nói trên Người viết nhằm vận động đồng bào Việt Bắc - hồi ấy trình độ
văn hóa rất thấp, hầu hết là mù chữ - tham gia vào Mặt trận Việt Minh đê đoàn kết đánh Pháp, đuổi Nhật:
Trang 4Khán thư sơn điểu thê song hãn
Phê trát xuân hoa chiếu nghiền trì.
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân thi
(Tặng Bùi Công)Đôì với một trí thức như cụ Bùi thì chĩ nói nửa câu
là đã hiểu, cần gì phải giải thích “Hòn đá to, hòn đá nặng ” Mà phải làm thơ hay, phải viết bằng chữ Hán, theo phong cách Đường thi mới t h ậ t phù hợp với đối tượng thuộc thế hệ lão t hàn h này
Tóm lại, đối tượng vận động chính trị và mục đích
chính trị khác nhau (Viết cho aiĩ Viết đ ể làm gi?) quyết định nội dung và hình thức khác nhau (Viết cái gl? Viết
như thế nào?) của văn thơ Hồ Chí Minh Bác đã nhiều lần
phát biểu quan (liếm viết văn làm tliơ này của mình Và quan điểm sáng tác rất nhất quán này dã tạo nên cho Bác
N g u y ễ n Đ ă n g M ạ n h
tr.239-240.
Trang 5Q u a n đ iể m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
một sự nghiệp văn thơ hết sức phong phú đa dạng từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến thể loại, phong cách ngoài ý định của Người
Trong sự nghiệp văn học của Bác Hồ, N hật ký trong
tù là một tác phẩm nghệ thuật lớn, chứa đựng nhiều bài
thơ bất hủ
N h ậ t ký trong tù viết cho ai? Viết để làm gì?
Mở đầu tập N hật 'ký, Bác đã nói rõ:
Ngâm thơ ta uốn không ham
Nhưng ngồi trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Vậy là đã rõ, Người viết cho chính mình đọc và để giải khuây trong thời gian bị tù Năm 1973, giáo sư Huỳnh Lý có tổ chức cho chúng tôi gặp gỡ họa sĩ Diệp Minh Châu ở nhà riêng của ông Họa sĩ đã được Bác
cho ở cùng tại chiến khu Việt Bắc trong 6 tháng, thời
kỳ kh án g chiến chống Pháp, ô n g nói: “Nơi Bác ở trong
một khu rừng cây to, có con đường dốc đi xuống, qua hai con suối Con suối thứ hai rất đẹp, như là chảy nghiêng, nước trong vắt Đêm đêm, nghe tiếng nước chảy, tiếng cọp gầm Vào những đêm trăng sáng, Bác cháu thường ngồi câu cá bên bờ suối, k ể chuyện ngày xưa Bác ít nói về mình Chỉ trong quan hệ rất thân mật mới nói dôi chút.
Bác nói, hồi ở tù tại Quảng Tây, buồn quá, nhàn rỗi quá - Bác không muốn trí óc nhàn rỗi, phải bắt nó làm ưiệc Nhưng làm gi được? Bác nói, một là săn rệp Trong
tù, gì chứ rệp, muỗi thì ưô số Săn rệp chán, lại nằm ngửa đêm ngói trên mái nhà, rồi phân loại ngói lành
Trang 6N g u y ễ n D ă n g M ạ n h
ngái vỡ Và làm thơ Làm thơ dối với Người chí đ ế giải trí và giêt thì giờ như đếm ngói và săn rệp ưậy thôi”.
Vì là thơ viết cho mình đê thưởng thức nên Nhật ký
trong tù thuộc loại thơ nghệ thuật Và đã là nghệ thuật
thì dù là đế' giải trí vẫn có khả năng thế hiện sâu sắc tâm hồn nhà thơ (Ngày xưa Tản Đà chia văn thơ của mình ra làm mấy loại: văn thuyết lý, văn vị đời, văn chơi (Hầu trời) Nhưng chính “văn chơi” của ông lại rất
có giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật Kết hợp những bài thơ phần lớn thuộc loại cảm hứng trữ tình này lại, ta
sẽ hình dung đưực bức chân dung tinh t h ầ n tự họa hết sức cụ thể, sinh động của Bác Hồ Thơ này gọi là thơ nghệ t huậ t để phân biệt với những bài ca, bài vè đã nói
ở trên Sự khác biệt giữa hai sáng tác này t h ậ t ra rất dễ
dăng báo là đ ể nói vè một vấn dề gì đó cho người ta dễ nhớ, dễ làm, nghĩa là đ ể tuyên truyền, cổ dộng phong trào cách mạng Bác không muốn làm thơ d ể trở thành nhà thơ” Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nói: “Theo tôi, có lúc Bác làm thơ rất thanh cao, rất nên thơ Nhưng củng có khi thơ Bác như diễn ca ấy, Bác dọc thơ của mình cho tôi nghe, có bài tôi thích, nhưng củng có bài còn ép vần, tôi không thích lắm, song Bác bảo nó dễ đi vào quần chúng”
Nói chung thơ nghệ thuật Bác làm r ấ t ít Người chí
làm để giải trí, hoặc cho mình (Nhật ký trong tù), hoặc
rộn g hơn cho một số đồng chí cán hộ tru n g ương Rống và
làm việc gần gũi với Người (những bài thơ như Nguyên
1 Tim hiếu tha ca chiến khu ciia Chủ tịch Hổ Chí Minh, Sđd tr.231.
2 T ìm hiểu tha ca chiến khu tr.240.
206
Trang 7Q u a n d iê m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
tiêu, Thu dạ, Báo tiệp, ('anh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc làm ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp)
Tập N hật ký trong tù gồm hơn một trăm bài thơ sở dĩ ra
đời chẳng qua là do hoàn cảnh đặc biệt cúa N^ười mà giáo sư Đặng Thai Mai gọi là “Vạn bất đắc dĩ”
Nếu đọc N h ậ t ký trong tù theo đúng t r ậ t tự n h ậ t ký
của các bài thơ, ta sẽ càng thấy rõ hoàn cảnh bất đắc dĩ này của nhà thơ
Tổng sô' bài trong N hật ký trong tù là 134 bài làm
trong 14 th áng (bao gồm cả bài ghi ở bìa sách, có người
gọi là bài đề từ “Thân thế tại ngục trung, Tinh thần tại
ngục ngoại; Dục thành đại sự nghiệp, tinh thần cánh yếu đ ạ i”).
Nhưng bốn t hán g đầu, Người đã làm đến 103 bài
(Bài Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi) là bài thứ 103)
Và mấy t h án g sau, Người chỉ làm tiếp có 31 bài Vì sao vậy? Vì bốn t h án g đầu Người hoàn toàn không có điều kiện hoạt động chính trị, đành phải làm thơ cho khuây
khỏa, đúng như Bác nói trong bài Khai quyển Nhưng từ
đầu tháng 2 năm 1943, biết Bác không phải là Hán gian
hay gián điệp của Nh ật (Túc Vinh mà d ể ra mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm hước mình, Bịa chuyện tình nghi là gián điệp, Cho người vô cớ mất thanh danh - BỊ hắt giữ ở Túc Vinh) mà là lãnh tụ cách mạng Việt Nam Chính
quyền Quô'c dân Đảng Trung Quốc bèn chuyển Bác sang một chế độ nhà Lù khác gọi là chế độ “quản lý chính trị” (tại nhà giam của Cục Chính trị độ tứ chiến khu Quôc
d f u Đảng Trung Quốc đặt ơ Liễu Châu): có đủ cơm ăn,
1 N h ậ t ký írong tù vả những lời binh NXB Văn hóa T hông tin
1997 tr.]26.
Trang 8N g u y ễ n Đ ă n g M ạ n h
không bị gông, bị xích Buổi sáng và buổi chiều đều có
15 phút đi vệ sinh có lính gác và thỉnh thoảng được đọc sách báo ơ đây Người còn tìm được cách thông tin về nước bằng cách gửi những tờ báo có ghi kèm vài tin tức Người còn có điều kiện dịch một số tài liệu của Trung
Quô'c ra tiếng Việt như cuốn Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên, hay cuốn Trung Quốc đích mệnh vận của
Tưởng Giới Thạch
Từ đây, N h ậ t ký trong tù không chỉ có thơ mà xen
vào những bài thơ còn có những trang ghi chép về những sách báo Người đọc được trong tù - cụ thể là, sau bài thứ
132 (Cảm tưởng đọc thiên gia thi), từ trang 47 đến trang
52 của nguyên bản N h ậ t ký trong tù, Người dành để ghi những điều đọc được ở sách, gọi là “Độc thư lan”, và sau bài cuối cùng, số 134 (kết luận) lại dành 10 tr an g ghi những tin tức lượm lặt trên báo chí, gọi là “Khán báo
lan” Những ghi chép này hết sức tỉ mỉ, nội dung bằng
chữ Hán, số liệu thì ghi theo chữ số Ả rập, các địa danh
ở châu Âu thì phiên âm theo tiếng Pháp, như Stalingrad,
Karkov, Jtalie, Sicile Có một số danh từ lại ghi hẳn
bằng tiếng Pháp, như Batteries, avions, croiseurs Nội dung ghi chép r ấ t phong phú, quân sự có, chính trị có, văn hóa có, đặc biệt là tin chiến sự quốc tế Thí dụ:
“Qua ba năm kháng chiến, m ất Bắc Bình, Thiên Tân 4- 8-1937, Trương Gia Khẩu 25-8-1937, Thạch Gia Trang 20- 10-1937, đại doanh Thái Nguyên 9-11-1937 ”, “2-10
G ă n g d i t u y ệ t thự c, 1-1-1943 L i ê n Xô t ấ n công
Virikyroky 3-1 tấn công Motole Đầu tháng 2-43 quét
sạch quân Đức ở Stalingrad Quân địch bị b ắ t gồm 2
nguyên soái, 24 tướng lĩnh, 2500 sĩ quan cao cấp, 9 vạn binh lính, 760 máy bay, 15000 xe tăng” “Ngày 26-7-1941
N h ậ t đố' bộ lên Sài Gòn, ngày 25-7-1943 Ý đảo chính
Trang 93-Q uan đ i ế m v à p h ư ư n g p h á p n g h i ê n cứu
9 Đồng minh vào Ý ”; “Ngày 1-10 Mỹ ném bom Hải Phòng, bắn rơi 29 máy bay N h ậ t ” Có chỗ lại ghi cả tình hình đời sống xã hội râ t chi tiết, như “cắt tóc ở Quế Lâm 30 đồng, thịt lợn 45 đồng Lương một gái bán vui của nhà chứa mỗi tháng 30 vạn đồng”
Qua những trang ghi chép trên đây, ta thấy rõ vì sao Bác Hồ trong mười tháng, từ khi được chuyển sang chế
độ “quản lý chính trị” tại trại giam của Cục Chính trị đệ
tứ chiến khu tại Liễu Châu cho đến lúc được trả tự do, lại chỉ làm có 30 bài thơ, trong khi có thể sáng tác hơn
100 bài trong bốn tháng trước đó Đúng là chiến đấu giải phóng dân tộc là “ham muốn tột bậc” của Người Nếu có điều kiện được làm việc cho cách mạng, cho cuộc chiến đấu ấy, lập tức Người không còn để tâm đến văn chương thơ phú nữa Người rất yêu thơ và th ật sự có tâm hồn nghệ sĩ, nhưng không hề có ý định làm nghệ sĩ, không hề có ý muốn xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương Bởi vì như Người từng nói: “Hơn sáu mươi năm nay, đê quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu hơn 20 triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa Phải kêu to
làm chóng để cứu lấy giông nòi” (Đường Kách mệnh).
Ta hiểu vì sao một tài thơ lớn như t h ế mà phải đợi đến hơn 50 tuổi mới viết tập thơ đầu Mà chắc chắn Người sẽ không cho ra đời tập thơ ấy, nếu không bị bắt,
bị tù Ta cũng hiểu vì sao, kể từ khi ra tù cho đến lúc mất, suốt 25 năm trời (từ 1944 đến 1969), Người chỉ làm vẻn vẹn có khoảng hơn 20 bài thơ thuộc loại thơ nghệ
1 Những tư liệu trê n rút từ Hồ Chi M inh hiên niên tiểu sứ, tậ p II -
GS Đặng Xuân Ký và PGS Song T h à n h chủ biên -^NXB C hính trị quôc
gia HN.1993, và tài liệu chung quanh nguyên b ả n Ngục trung N h ậ t kỷ
do thạc sĩ Vũ Thị Kim Xuyến sưu tầm.
209
Trang 10N g u y ễ n Đ ă n g M ạ n h
thuật, cũng hầu hết viết bằng chữ Hán, thế tuyệt cú cổ điển, là thể thơ phù hợp với sở trường và sở thích của Bác Hồ - nghệ sĩ
Tóm lại, đối với sáng tác văn thơ của mình, quan điểm nh ấ t quán của Người: Coi đó trước hết là hành vi chính trị, hành vi cách mạng Không hiểu điều đó sẽ không thể hiểu được thấu đáo bất cứ tác phẩm nào của Người từ nội dung đến hình thức
Quan Hoa, 2000
Trang 11TRUYỆN NGẮN NGUYỄN á i QUỘC
- NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
PHONG PHÚ, ĐỘC ĐAO
Bác Hồ có một sự nghiệp văn học hết sức đa dạng -
đa dạng về thể loại, đa dạng về bút pháp, phơng cách
Có thể tìm thấy trong khối tác phẩm đồ sộ của Người hầu như đủ mọi thể văn, thể thơ: truyện ngắn, truyện dài, phóng sự, bút ký, văn chính luận, kịch bản sân khấu, ca, vè, thơ nghệ thuật , cả phê bình văn học, phê bình điện ảnh nữa
Người viết văn làm thơ để vận động cách mạng Vì
t h ế Người đặt lên hàng đầu vấn đề đối tượng tiếp
nhận (viết cho ai'?) và mục tiêu thiết thực của mỗi bài viết (viết d ể làm gì'?) Đối với Người, đấy là hai điều kiện quyết định viết cái gỉ? (nội dung) và Viết thê nào?
(hình thức).
Quan điểm sáng tác ấy đã tạo nên tinh thần n hấ t quán của sự nghiệp văn thơ của Người, đồng thời đem đến cho sự nghiệp ấy tính phong phú, đa dạng ít thấy ở những cây bút khác
Trang 12N g u y ễ n Đ ă n g M ạnh
Trải qua hơn nửa thê ký hoạt động từ Ảu sang Á, yêu cầu cách m ạn g từng nơi, từng lúc đã đặt ra cho Người biết bao n hi ệm vụ cụ thể phải giải quyết biết bao hạ ng người kh ác nhau phải đấu tranh hay thuyết phục Mỗi bài viết của Người, vì thế, không thể rập theo một khuôn, một kiểu nào, mà phải luôn luôn thay đổi cho phù hợp với từng đôì tượng, từng mục tiêu cụ thể Và ngay đôi với một đôi tượng, Người cũng không muô'^n cung câp cho người ta trở đi trở lại
chỉ có một món “Cần làm cho món ăn tinh thẩn được
phong phú, kh ô n g nên bắt mọi người chi dược ăn có một món thôi C ủng n h ư vào ưườn hoa, cần cho mọi người dược thấy nhiều loại hoa đ ẹ p ” - Người từng nhắc
nhở những người cầm bút như vậy và tự mình đã thực hiện đúng như thế Thời Mặt t r ậ n Việt Minh, nhiều bài ca, bài vè Người làm để tuyên truyền cách mạng, chỉ nói chuyện đoàn k ế t đánh Pháp, đuôi Nhật, nhưng khi thì Người ví với những sợi chỉ mỏng manh dệt nên
tấm vải bền chắc, khi thì mượn chuyện “Con cáo và tổ
ong”, khi lại so sá n h với việc khiêng đá: “Hòn đá to - Hòn đá nặng, Chỉ m ột người - N hắc không d ăng v.u.”
Văn chính luận cũng thế Bản Tuyển ngôn độc lập
đọc trước t h ế giới, đôi thoại với bọn đế quô'c đang lăm le chiếm lại nước ta, Người phái dùng những lời
lẽ th ật đanh thép, những luận cứ th ật hùng hồn, không
ai có t h ể bác bế được Nhưng Lời kêu gọt toàn quốc
kháng chiến, nói với đồng bào, Người lại có cách diễn
đ ạ t h ế t sức nôm na, giản dị: “Ai có súng dùn g súng,
ai có gươm d ù n g gươm, không có gươm thi dùng cuốc thuổng, gậy gộc ” v.v.
Hồi đầu những n ă m 20, khi h oạ t động ở Pháp, Người có viết một sô' truyện ngắn đăng trên các tờ
Trang 13Quan d i e m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
N h ă n đạo và Người cùng khổ v ẻ n vẹn chỉ có sáu, bảy
truyện mà không truyện nào giông truyện nào Đôì tượng chung của những tác phẩ m này là n h â n dân
P h á p và những người biết tiế ng Pháp , nên t ấ t nhiên phải viết bằng tiếng Pháp và theo phong cách Pháp Ông P h ạ m Huy Thông, người dịch những truyện này
sang t iến g Việt, đánh giá tác giả là “một ngòi bút
phương Tây sắc sảo, điêu luyện, rất P h á p ” Bút pháp
chung, phong cách chung thì đúng là như thế Nhưng
hã y đọc mà xem, mỗi truyện mộ t cách viết riêng, dù
cũng n h ằ m vào một đích Như truyện Lời than vãn
của bà Trưng Trắc và truyện Vi hà n h chẳng hạn
Cùng lèn á n tên vua bù nhìn Khải Định khi h ắ n sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mácxây (1922) nhằm quảng cáo cho chế độ thực dân Phá p, nhưng mỗi tác
phẩm có lôi dựng truyện khác ha n nhau Lời than vãn
của bà Trưng Trắc vẽ ra một cản h tượng rùng rợn
diễn tả cơn ác mộng của Khải Định đêm trước cuộc khởi h à n h của hắn thực hiện chuyên “Tây du” nhục nhã Người Pháp ai mà không biết cái cảnh tượng tương tự như t h ế trong vỏ kịch nổi tiếng của sếchxpia Một đ ằn g là hồn ma vị hoàng đ ế Đan Mạch bị hãm hại hiện lẽn đòi người con - hoà ng tử Hă m lét - phải trả thù, một đằng là hồn th iê n g của vị nữ vương aph hùng dán t-ộc hiện về để m ắn g nhiếc tên vua hèn mạt
bị “tổ tiền từ bỏ, nhân dân ruồng r ẫ y ”, ớ đây, yếu tố^
huyền thoại được sử dụng một cách khéo léo, vừa gợi
được không khí trang nghiêm lịch sử rất cần th iết khi
Bà Trưng xuất hiện và lên tiếng, vừa đôi lúc có thể
/ Mấy lời nói đầu giới tliiệu Truyện vả kỹ Nguyễn Á i Quốc NXB
Văn học, Hà Nội 1974 - tr.7.
Trang 14N g u yễ n D ă n g M ạnh
phóng ra được những đòn r ấ t hiểm đánh vào tên vua
bù nhìn bằng tiếng cười mỉa mai giễu cợt: ‘'Nỉia vua
kinh hoàng run lèn lập cập, vỉ không phái vua chúa nào củng đểu can đâm nìiư Hăinlét, và thông minìi như thể lại càng k h ô n g ” u.v.
Cũng đả kích Khải Định, nhưng Vi hành lại sáng tạo
ra một tình huống rấ t vui, có thê’ gọi lả tình huống
nhầm lẫn: trong một chuyến tàu điện ngầm ở Paris,
nhân vật “tôi” - người kể chuyện - bị một đôi trai gái Pháp tưởng nhầm là Khải Định Đối với người Tây, người Việt Nam nào chả mũi tẹt da vàng, cũng như đối với người Việt Nam, người Tây nào chả mắt xanh, mũi lõ Rất có thể nhầm lẫn lắm chứ! Với tình huống này, thiên truyện đã đạt được những hiệu quả nghệ thuật rất thú vị: Khải Định hoàn toàn vắng mặt trong tác phẩm, vậy
mà y lại hiện lên rấ t đậm nét như một nhân vật chính Giả sử tác giả trực tiếp châm biếm tên vua bù nhìn thì chắc sức thuyết phục đối với độc giả Pháp sẽ giảm đi nhiều; một đảng viôn Cộng sản tất nhiên là râ't căm ghét bọn vua chúa rồi, làm sao có thái độ khách quan được Không, tôi chỉ là người tình cờ nghe lỏm được cuộc chuyện trò thầm lén của đôi trai gái Pháp đấy chứ! Té
ra, vị quốc vương An nam, trong con mắt người dân Pháp, lại thảm hại như t hế đấy:
Dổi xe ở đây chứ, anh yêu (ỉi?
- Không, ga sau Đúng lúc dó thì có một anh vua đến I>ớị c h ú n g ta.
- Eni thì an thích Sác lô hơìi Với lại, vua thì tốn
l ắ n i
- Đâu có! Thê em còn nhớ buổi dạ hội thuộc dịa ở Nhà hát Ca Vũ đấy chứ! Phải trả những nghìn rưới
Trang 15Q u a n d i ế m và p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
phrãng dể xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo treo nhào lộn của sư thảnh xứ Công Gô; hôm nay thì chúng ììiình có ììiât tí tiềìi nào đãu mà được xem vua dang nqay cạn/i? Nghe nói ông bầu Nhà hát Múa Rối có định ký giao kèo thuê đấy ”.
Cũng phải nói thêm điều này: Có qua con mắt của người Pháp thì Kliải Định mới trở nên kỳ quái và lố bịch đến thế Đối với người Việt Nam, cái nón (trên đầu Khải Định) chỉ là cái nón, có gì lạ mắt đâu Nhưng đôì với người Pháp, cái nón lại trở thành cái chụp đèn Và
có gì ngô hơn là đội một cái chụp đèn lên đầu!
Truyện Vi hàn h được t h u ậ t kê dưới hình thức
viết thư (cho một cô em họ ở quê nhà) Đây cũng là
mộ t dụng ý nghệ t h u ậ t đặc sắc của tác giả Thư là một lôi văn h ế t sức tự do, phóng túng Nó tạo điều kiện cho người viết tha hồ liên hệ t ạ t ngang từ chuyện
nà y sang chuyện khác, dùng lô'i so sá nh , đôi chiếu
đê mỉa mai giễu cợt từ t ên vua b ù nhìn đến bọn thực dán và cả chính phủ Pháp Ngoài ra dùng lôì viết thư, tác giả có thề luôn luôn thay đổi giọng t r ầ n
th u ật , từ giọng khá ch quan khi tường t h u ậ t cuộc trò chuyện của đôi t h a n h niên Pháp, đến giọng trữ tình
t h â n m ậ t khi hồi tưởng lại những kỷ niệm thời thơ
âu với cỗ em họ: “Tôi n hư còn trông thấy cái ngày
mà cỏ với tôi, dôi chúng ta, nh ư đôi chim ấy thôi, đậu vắt vẻo trên đ ắ iig ô i õng hác thân yêu, nghe bác ké' cỉiuyện cô líc h ”.
Trong sô mấy truyện ngẩn của Nguyễn Ai Quô"c
viết đầu những năm 20, theo tôi Pari và N hững trò lố
hay là Varen và P h a n Bội Châu là những thiên truyện
xuất sắc nhất
Trang 16N g u yễ n D ă n g M ạn h
Pari rất giàu chất phóng sư - không phải ngẫu nhiên
mà tác giả gọi đó là một bài phóng sự Thực ra Pari
là một truyện ngắn có sức khái quát r ấ t lớn: một Pari, hơn nữa một nước Pháp thu nhỏ, dồn nén trong lòng
nó những mâu thuẫn giai cấp h ế t sức gay gắt, bức xúc
và tàn nhẫn Tác giả đi từ cái nhìn bao quát cả một vùng phô^ xá Pari với ba hạng người sống cách biệt và đối lập với nhau về thân phận sang hèn, sướng khổ, đến cái nhìn cận cảnh, nhập sâu vào sô' phận bi thảm đến tuyệt vọng của một nhân vật thuộc tầng lứp dưới đáy cùng của xã hội Pháp Ngòi bút t rầ n th uật h ết sức linh hoạt, giọng văn thì đi từ mỉa mai, chua chát đến căm giận xót xa
Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu lại
trình diễn trước mắt người đọc như một cuốn phim tài liệu nóng hổi tính thời sự, tường thuật cuộc hà nh trình của viên toàn quyền Varen từ Macxây đến Sài Gòn, và
từ Sài Gòn qua Huế, đến Hà Nội để gặp Phan Bội Châu trong nhà lao Hỏa Lò - thực ra, đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú đến kỳ lạ của tác giả ô n g kính điện ảnh trong tay Nguyễn Ái Quốc, khi thì lùi xa,
quay toàn cảnh t hàn h phố Sài Gòn “Thật là lộn xộn,
thật là nhốn nháo”, đầy màu sắc “bản x ứ”, khi thì dí sát
đối tượng, đặc tả từ tấm Bắc đẩu bội tinh trên ngực một
1 T ron g bài báo v iết cho tờ Văn học íL iê n Xô) s ố ra n g à y 19-11-
1960, n h án kỷ niệm 50 nãm ngày m ấ t cúa nhà văn Nga L Tònxtôi, Hồ Chú tịch viết; “Trong bài phóng sự cua tôi (tức truyện Pari), tôi kế những diều m ắ t thấy tai nghe ở phố tôi ở là khu phố nghèo khổ cùa những công
n h â n và những người t h ấ t nghiệp trong t h à n h phố Pari lộng lầy, giàu
có” {Tổng tập văn học Việt Nam, tậ p 36-NXB Klioa học xã hội, Hà Nội
1980; tr.90)
Trang 17Quan d i ê m vcì phu'(fng p h á p n g h i ê n cứu
L o à n q u y ề n , từ n h ữ n g n g ó n t a y d à i “l ấ p lánh châu ngọc
dỏ x a n h ” của Đức vua Khải Định, hay cái cử chí của
Varen ‘7ay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay
trái thi năng cái gông to kếch xù đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm đ ạ m ”, đến “đôi ngọn râu mép người tù nhêch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay” -
một nụ cười kín đáo “như cánh ruồi lướt qua” tỏ thái độ
khinh bí trước những lời lẽ bẩn thỉu của Varen ớ tác phẩm này, thủ pháp đôi lập đã được khai thác triệt đế’
và đầy Lài nghệ, làm nổi bật hai nhân cách: Varen thì bắng nhắng, ba hoa và ti tiện, Phan Bội Châu thì uy nghi, lẫm liệt sừng sững như trái núi
Một nhà triết học Pháp có viết một cuốn sách luận
về tiếng cười Ông cho rằng chỉ có con người mới biết cười, và cũng chỉ có con người mới đáng cười Ây là khi anh ta đánh mất vẻ tự nhiên, sinh động của một sinh vật
có ý thức, có trí tuệ, có linh hồn, nghĩa là bị đồ vật hóa, hoạt động, nói năng một cách máy móc, vô nghĩa lý, như con rối bị giật dây, như con vẹt biết nói vậy Hây đề' ý mà xcm, có phải Nguyễn Ái Quốc đã dùng đúng thủ pháp ấy đê’ mô tả Varen, biến hắn thành một thằng hề, một con
rối trên sân khấu hài kịch: “Đức kim Thượng Khải Định
sẽ thính ông Varen thăm hoàng cung, và ông Varen sẽ uào Hoàng thượng Khải Định sẽ thính ông Varen dự yến,
và ông Varen sẽ ăn ( ) Ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của Hoàng Triều: Nam Long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay ”
Tính chất máy móc, vô nghĩa lý đạt tới chỗ hài hước nhất khi Varen tự hắn phát ra những lời lẽ chẳng đem lại
danh giá gì cho hắn cả: “Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi
này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thi tòi làm Toàn quyển !”.
Trang 18N g u y ễ n D ă n g M ạnh
Truyện Con người biết mùi hun khói cũng là sản
phẩm đặc biệt của trí tưởng tượng Một tác phẩm có thể gọi là thuộc loại “viễn tưởng chính trị” Truyện viết năm
1922, nhưng nhìn thấy trước những sự kiện chính trị sẽ
xảy ra năm 1998: “Thành p h ố Hauxa cờ xí tưng bừng, kỷ
niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi ( ) Từng đoàn học smh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca ( ) Trên quảng trường Xô Viết, một cụ già hô hào dám dông ( ) Cụ Kimengô tuổi đã chín mươi, là rnột cựu chiên sĩ của quăn đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen ( ) Cụ Kimengô không những đã ra sức thức tinh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan inọi thành kiến dân tộc uà chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da írong cuộc đấu tranh chung”.
Năm 1998 kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi, vậy ngày ây là ngày nào, năm nào? Khó
gì mà không tính được: ấy là một ngày của năm 1948 Nhưng Nguyễn Ái Quôc đã tính ra được ngay từ 26 năm
về trước (1922) thì tài quá, giỏi quá! Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ỏ' châu Phi quả đã diễn ra gần đúng như thế, nghĩa là ngày càng phát triển mạnh từ sau đại chiến thê giới lần thứ hai, tức là từ 1945 trở đi Và từ
1955 đến 1966 thì hầu hết các thuộc địa của Pháp và của Anh đều đã giành được độc lập Như vậy thì gọi là
truyện “viễn tưởng khoa học” cũng được chứ sao! Khoa
học chính trị, khoa học Mác Lênin
Ra đời cùng loạt truyện nói trên, có hai tác phẩm
viết theo một lối rấ t khác: truyện Con rùa và truyện
Đồng tâm ìihẩí trí Có một cái gì rấ t đậm màu sắc dân
tộc học của người Việt Có vẻ như người viết lại muốn
Trang 19Quan d ìế m v à p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
dọn cho độc giả Pháp nếm thử một vài món ăn đặc sản
của Việt Nam chăng? Đồng tăm nhất trí có dáng dấp
m ộ t t r u y ệ n n g ụ n g ô n , d ư ờ n g n h ư đ ể c h â m b iế m lố i tư
duy giáo điều máy móc, còn Con rùa lại tựa như một thứ
truvện cười dân gian của người Việt nhằm đả kích bọn quan lại thực dân tham lam, độc ác bằng lối chơi chữ
dám xin quan lớn Ìiìĩận cho, của mọn thôi ợ! Cái inỏn Ca ca ” (tiếng Pháp Cadeau nghĩa là quà biếu, ông xã
Lrưởng sợ hãi run rây, nói ỉắp bắp thành “ca ca” Tiếng Pháp, ca ca nghĩa là cứt)
Bác Hồ quả là một nghệ sĩ tài năng nhiều mặt Nhưng
đúng như Pham Huy Thông nói, “Ngư(JÌ không hề hao
giờ niuỏìì cỏ một sự Ìiíịìiiệp văn chương” Chắng qua vì
nhận thấy văn chương có thể là một vũ khí lợi hại, nên Người liền nắm lấy, mài cho sắc đề chiến đấu Coi văn chương như một hành vi cách mạng, tất nhiên Người đặc biệt quan tâm đến người đọc Cho nên những truyện ngắn đầy nghệ thuật, viết bằng tiếng Pháp theo phong cách Âu châu hiện đại như đã nói trên kia, Người không viết nữa khi trơ về nước Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ớ Việt Bắc, Người cũng viết truyện, thường là
truyện dài, như Các/ỉ đánh du kích, Kinh nghiệm du kích
Trang 20NịỊuyễn D ă n g Mạnh
văn r ấ t ngắn và tương đối độc lập, xâu chuỗi với nhau, tựa như lối kết cấu chương hồi của tiểu thuyết cổ Mỗi đoạn thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu lục bát lẩy Kiều hóm hỉnh Người chẳng làm văn vì văn đâu Chẳng qua người đọc giờ đây là đại chúng công nông binh nên phải viết như thế Quan điểm sáng tác văn thơ của Bác Hồ trước sau là vậy
Q uan H o a 10-8-2000
Trang 21MỌNG MANH Áo VẢI
Đoc N hât ký trong tù ta thấy đúng như Chế Lan Viên nhận xét, thơ Bác có đủ cả “mắm, muối, tương, cà” Đó
là nghĩa bóng mà cũng là nghĩa đen nữa:
N hà Lao mà giống gia đình
Muối, dầu, gạo, củi tự mình phải lo
Phòng riêng mỗi cửa một lò
Cưrn c a n ìi ỉ /iọí I h ứ n ã u k ìio SUÔI n g à y
(Nhà lao Quả Đức)
1 Hồi ký Bác Hồ, Nxb Văn học 1960, tr.81 N h ữ n g hùi học lớn trong thơ Bác, Báo Văn học số 95, 1960.
Trang 22N g u y ễ n D ă n g M ạnh
Ngày nay, các nhà thơ không ai còn khinh “mắm,
muối, tương, cà" Nhưng đưa được nó vào thơ như một
đề tài chính h ế t sức thoải mái như thế, có lẽ chỉ có Hồ Chí Minh
Có những sự thật, hình như chỉ có Bác mới dám đưa vào thơ
Dau khổ chi bằng mất tự do
Đến buồn di ỉa củng không cho
Cửa tù khi mở, không đau bụng
Đau bụng thì không mở cửa tù.
(Bị hạn chế)
Ông Nguyễn Lương Bằng nói: “Tôi không ngờ Bác
lại giản dị quá đến như vậy” Bác độc đáo chính ở chỗ
giản dị rấ t mực của mình Xét ra, giản dị là cả một vấn
đề bản lĩnh
Và cứ thế, bài tiếp bài, có gì nói vậy, chất phác, thật thà như chính cuộc sống: một hàng cháo bên đường, một cảnh nông thôn được mùa hay đại hạn, một tốp phu đường cặm cụi làm việc, một hiện tượng lạ lùng bên
chiếc cùm nhà lao “cùm chân sau trước củng tranh nhau”, chuyện “chia nước”, chuyện muỗi rệp, chuyện ghẻ lở,
chuyện bắt rận Cảnh đánh bạc trong tù, cảnh sinh hoạt
tự túc của tù nhân, một tiếng khóc trẻ thơ trong ngục, một người đàn bà đi tù thay chồng, một người tù chết, lai một người nữa, những luật lệ vô lý của bon quản
ngục: Cấm hút thuốc lá, Tiền công, Tiền đèn, Tiền vào
nhà giam Toàn những bài thơ chẳng có gì cả.
1 Hồi ký Bác Hồ, Nxb Văn học, 1960, tr.81.
Trang 23Q u a n diểrn VCI p h ư ttn g p h á p n g h iê n cứu
Nhưng đọc hết một lượt, ta bỗng n hậ n ra: đó chính
là giá trị độc đáo của N h ậ t ký trong tù Thơ tù xưa nay
không ít Văn học ta có cả một truyền thống thơ tù
đủ như thế, tỉ mỉ như thế, bộ m ặt của những cái địa ngục trần gian, do bọn đế quốc, phong kiến dựng lên? Mà đâu
phải chỉ là một cái nhà ngục, Đó là cả “một phần bộ mặt
xã hội Trung Quốc củ khoảng 1942, 1943” (Quách Mạt
Nhược) Còn về m ặt bút pháp, đó chẳng phải là “tinh
chát lọc lõi hiện thực của thơ ca hiện đ ạ i” hay sao?
Xưa nay thơ tù thường vẫn hướng vào nội tâm hơn là
ngoại cảnh, n h ấ t là ngoại cảnh “tầm thường nhạt nhẽo”
trong nhà tù Không chịu bó buộc tâm trí mình trong giới hạn của một không gian chật hẹp, nhà thơ thường mượn cánh trữ tình để bay theo một ước vọng, ấp ủ một triết lý, hoặc tìm về một kỷ niệm nào đó của quãng đời qua Cuộc vượt ngục về tinh th ần ấy cũng là nội dung
đặc sắc của N hật ký trong tù Sự gắn bó của tác giả với
lý tưởng cao cả, với phong trào cách mạng, với Tổ quốc mình, đồng bào mình, với đất trời, hoa cỏ, ngục tù nào
có thể ngăn cấm được
Thân th ể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Nhưng lý tưởng chân chính bao giờ cũng là một lý tương vừa cao cả vừa thiết thực, lòng n h â n đạo chân
t hà nh phải là lòng n h â n đạo vừa rộng rãi, mông mênh vừa có nội dung và đối tượng cụ thể Cho nên Bác Hồ
1 Nay ở trong thơ nên cỏ thép T ạp chi Văn học, số 12, 1960.
2 Báo Vãn học Pháp C huyên d ẫ n theo T ạ p chí văn học, số 12,
1960.
Trang 24N g u y ễ n D ă n g M ạ nh
không vì những mục đích xa mà quên những mục tiêu gần, không vì chú *^rọng lợi ích lâu dài mà bỏ qua lợi ích trước m ắt của quần chúng, không vì quan tâm đến cái nhân loại lớn mà thờ ơ với cái nh ân loại nhỏ hẹp quanh mình mà những vui buồn, sướng khổ hà ng ngày
đã dệt nên những cuộc đời cụ thế' Y nghĩa của những bài thơ tự sự đơn giản, tả thực t h ậ t thà, những bài thơ
gọi là “m ắm muối tương cà” của Bác trên kia phải
chăng còn có thể giải thích như vậy? Sinh thời Chủ
tịch Hồ Chí Minh chẳng đã từng nói như thế sao; “Đảng
vừa lo tinh công việc lớn n h ư đổi nền kinh tê và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến việc nhỏ như tương cà m ắm muối cần thiêt cho đời sống hàng ngày của nhân dân Cho nên Đảng ta vĩ đại
uì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi trong Lòng của mỗi đồng bào ta”
Hồ Chí Minh không thích tượng đồng bia đá Đối với Người danh là danh Tổ quốc, lợi là lợi nhân dân Bác chẳng nhận riêng làm gì Song đó cũng là đức khiêm tốn đặc biệt của Người, suốt đời quên mình vì nước, vì dân,
mà vẫn băn khoăn chưa làm tròn trách nhiệm: “Hễ còn
môt người Viêt Nam bi bóc lôt, bi nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm v ụ ”
Cho nên hình ả n h Hồ Chí Minh trong N h ậ t kỷ
trong tù một mặt là một hình ả n h sảng khoái, tự hào
c ủ a n g ư ời c h i ế n sĩ k i ê n c ư ờ n g coi t h ư ờ n g m ọ i g i a n
nan thử thách:
1,2 Trích iheo N hản dân ta rát anh hùng, Nxb Văn học, H à Nội,
1960, tr.8.
Trang 25ỉỉóm nay xiếiìg xích thay cỉcĩy trói,
Mồi bi/ớc lcnq kvnq tiêììg ngọc rung;
Tuy hi tình nghi 1(1 gián điệp
Má như khanh tướng vẻ ung dung.
(Đi Nam Ninh)
Cỏ khi đứng trên đinh cao của lịch sử, ôm trùm cả
t h ế gi(ýi hao la:
ì^i dường mới bíêt gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
N úi cao lên dẽiì t(in cùng
TÌIU ưào tầm ìììắt, muôn trùng nước non.
(Đi đường)Nhưng đồng thời cũng là hình ảnh một con người không bao giờ thỏa mãn với mình
Hơn ba mưưi năm trời đi hầu khắp thê giới, vượt qua muòn trùng sóng gió, vẫn khiêm tốn trước cuộc đời:
Vốn biết ở đời không phải dễ.
(Đường đời khó khăn)
Gạo dem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông.
S n n g ở t r p ì i d ờ i ì i g ì í ỉ y ị n l n g v ậ y ,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
(Nghe tiếng giã gạo)
Tư thế t hậ t hào hùng, nhưng không ưa ngắm nghía chính cái hiên ngang, khí phách của mình;
Q uan d ie m vct p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
Trang 26Mơ thấy cưỡi rồng lẽn thượng giới
Tỉnh ra, trong ngục vẫn nằm trơ.
(Buổi truầ)Vượt qua những thử thách kinh người mà vẫn điềm đạm nhẹ nhàng;
Dĩ nhiên chí là cách vui đùa, hóm hỉnh khi nhà thơ
ví mình với công kha nh sang trọng, quan võ oai phong:
Tua vai quan võ hằng kim tuyến,
Tua của ta là một cuộn gai.
(Dây trói)Nếu cần mượn sự vật đế nói chí mình, Người không câu nệ như người xưa, n hấ t thiết phải chon tùng cao bách cả, cọp gió rồng mây mà sẵn sàng mượn cái gậy
để nói sự thẳng ngay (Lính ngục dánh cắp mất chiếc
gậy), mượn cái răng để tỏ lòng bất khuất (Rụng m ấ t m ộ t
cái răng), mượn h ạ t gạo hiền lành đế nói chuyện luyện
tài, đúc chí (Nghe tiếng giã gạo), v.v.
N g u yễ n D ă n g M ạn h
Trang 27Mộl mạt, Người đánh giá rấ t cao vai trò của người chiến sĩ tiên phong đối với nhân dân trong việc chỉ lôi, dẫn đường;
Ngưài nhờ anh chí lối
Di đúng hướnq, dúnq dường
Anh chí cho người biết
Nào dặm ngắn, dặm trường
(Cột cây số)Trong việc thức tỉnh quần chúng, phát động phong trào:
Một tiếng toàn dân hừng tính mộng
Công mi đâu có phải là thường.
(Nghe tiếng gà gáy)Nhưng mặt khác, Bác hiểu hơn ai hết đó vô'n là những người bình thường nhũn nhặn, từ nhân dân mà ra
và luôn luôn gắn bó với nhân dân
Như chiếc cột cây sô' kia:
Chang cao củng chẳng xa
Không đé củng không vương
Hay con gà nọ:
Mi tuy chí một giống gà thường
Đó là quan điếm cách mạng về con người mới, về
chủ nghĩa anh hùng mà Bác đã từng phát biểu; “Đảng
viên chún^ ta là những người rất tầm thường, vì chúng
ta đểu là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao dộìig, cìiúng ta chí biết trung thành với giai cấp vô sản, quyêt lâm dấu tranh cho nìiăn dán Thê thôi”
Q uan d i ê m I'à p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
1 Nhán (lárt la rát anh hùng, (,r,l5.
Trang 28Cho nên đôi V(')’i quản chúng, Người hỏL sức lin y('u, trân t.rọng, dù đó là nhừng quần chúng bình thuừng nhấL, Cùng bị giam với Bác ò' nhà ngục Quang Táy, không phải là những nhà chính trị, nhũ’ng nhà cách mạn»', mà
là những người dân thường, phần đóng đã bị lụ'u manh
từ đáy lòng, vỊ lãnh tụ vẫn chan hòa với họ Bác gọi họ
là bạn, là người “cùnq hội cù?ig iìiuvển’' Bác vần L'im
thấy trong tình cảm Iran hòa đó, một niềm vui chân thành, chất phác:
CAÌng hội cùng thuyền ìĩên phái lịiúp
Viêt thay báo cáo dám từ nan
“Chiều theo”, “thừa lệnìi” nay vừa học
Dã dược hao lời bạn ccíììỉ 07?.
(Viết hộ báo cáo cho các bạn trong tù)Cũng trên tình bằng hữu, Bác an ủi, động viên họ:
Khuyên anh hãy gắng ăn no bụng,
Khổ lắm ắt là dến lúc vui.
(Buối só;ni)Người chia sẻ những khổ đau với họ:
Thăn anh dn học lấy xương,
K hổ đau, đói rét hết phương sống rồi
Đêm qua còn ngủ hên tôi
Sáng nay anh dã vê nơi suôi ưà)ig!
(Một người tù cờ bạc bị chết)
Nịỉiivền D ă n g Mạnh
I Trần Dân Tiời! - Những mẩu chuyện về đời lioạt động cua n ồ
Chú tịch Nxb Vãn học, lỉà Nội 1970 Tr.91.
Trang 29Q uan (ỉiêm rà p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
Tin yêu quần chúng, Bác thường tìm hiểu phía tích cực, pliía ánh sáng của tâm hồn con người, kế ca những con ngiíời mà nghề nghiệp buộc phải hàng ngày hít thớ trong không khí ô uế cua chế dộ bạo tàn Và khi nhận thấy một chút lương tâm đang cố ngoi lên trên bùn lầy rác ru()i, Người liền vội vàng chào đón nâng niu:
Tn(ớng ban họ Mạc người hào hiệp
Dóc túi mun cơm qiúp phạm nhản
Dêm đên cới thừng cho họ ìĩíịií,
Chcinq dùnq quyền thè, chí dùng án.
(Chưởng ban họ Mạc)
Mà đâu phải chí là chuyện một ông Quách, một ông Mạc Đó là những bằng chứng càng làm sáng tỏ thêm niềm tin chắc chắn của Hồ Chí Minh ở sự bất vong bất diệt của chính nghĩa, cua lương tâm quần chúng mà tác động tiêu cực của chế độ thống trị dù ghê gớm đến thế nào cũng không bóp chết được
Tôi nghĩ hồ Chí Minh chưa bao giờ làm thơ nhân danh một người có nghề nghiệp và muốn đô lại cho đời những sáng tạo nghệ thuật t h ậ t sự
Khòng phai người khinh nghề văn “Lập thân tối hạ
tììị văn chư(f/ĩfĩ”, Bác tán thành ý kiến đó của Viên Tử
Tài là tán thành thái dộ xem thường những ke đặt văn
mà lừ bo nhiệm vụ xã hội Người tuyệt đôi không khinh
thường một nghề gì, một việc gì: “Mỗi một người bất cứ
làìiì công tác gì, ở đơn vị nào, (lều là quan trọng Công
229
Trang 30N g u y ễ n D ã iig Mạnh
việc qỉ có ích cho Đáng CÌIO cách mạng củng Lìé vang"
Huỏng chi “Văn hóa nghê tìiiiát cũng là môt niât trâ n ”
Hồ Chí Minh không coi mình là nghệ sì, không nghĩ mình t h ậ t sự làm thơ Bác đã nói thê' khi có
người hỏi Bác về N h ậ t ký trong tù: “Các chú kìiông
nhắc thi Bác không nhớ đến nữa Bác không p h ả i là người hay tha, inà thơ của Bác củng không hay Mười mấy tháng bị nhôi trong cái phòng u áni ưà qiiạnìi hiu một mình một bóng, không được nói chuyện vớì ai, không có việc gì làm Muốn “du lịc h ” thì di dọc chí năm bước, đi ngang chỉ bôn bước Để “tiêu k h iế n ” ngày giờ, chỉ có cách nghêu ngao vắn tắt ghi lại sinh hoạt của người tù, cho khuây khỏa th ế thôi, ph ả i thơ phú
gì đâu ”
Thái độ khiêm tốn đó của Bác cũng bộc lộ rõ ngay
trên sáng tác của Người N hật ký trong tù chắng phải bao gồm những bài thơ “vắn tắ t” ghi chép những hiện
tượng có thế’ gọi là vụn vặt trong nhà tù đó sao? Đúng
là những mẩu nhật ký viết bằng một bút pháp hồn nhiên, không có dấu vết của một dụng công nào từ nội dung đến hình thức Thơ làm ra đê’ giải trí, mà là sự giải trí của một người rất mực giản dị, nên hầu như vượt ra ngoài mọi thứ quy phạm của văn chương truyền thông; văn ngôn có thể xen tiếng lóng của người tù, tiếng Anh, tiếng Đức, liền với Hán ngữ, độ số của câu, của chữ nếu
1 Nhăn dân ta rút anìi liùiiiỊ, tr.l6
2 T h ư g ứ i các họa sĩ nhãn trien lãm hội họa 195 ì.
3 T Lan - Vừa đi dường vừa k ế chuyện, Nxb Sự th át, Hà Nội,
1962, tr.73.
Trang 31Q uan d iê m và ph ư (/n g p h á p n g h iê n cứu
cáu thúc quá thì cứ việc vượt qua v.v Rút cục đây là thứ văn cua một người đứng trên quyền lực của văn chương Một thứ văn trực tiếp, trực tiếp với đối tượng phản ánh, trực tiếp với đôi tượng truyền đạt Một thứ văn trần trụi kliiỏn người đọc có thể đọc luôn vào tư tưởng, vào cuộc sống
Nhưng điều thú vị là Hồ Chí Minh không làm văn inà vãn vẫn đến với Người Bởi vì, xét đến cùng, tâm hồn cao đẹp, biêu hiện chân thật vẫn là thứ văn cao nhất xưa nay Mà tâm hồn Bác thì là cả một công trình nghệ tliuật tuyệt vời, nơi gặp gỡ những tinh hoa nhân loại từ cô trí kim, từ Đông sang Tây, trên cơ sở một lý tương đẹp đẽ của thời đại với những kinh nghiệm phong phú của một cuộc đời kỳ diệu
Hãy đọc bài thơ Không ngủ được, Người làm trong
nhà tù của bọn Tướng Giới Thạch;
Một canh hai canh lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn, giấc chong thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vcnig năm cánh mộìiỉị hồn quanh.
Đúng là cớ sao nói vậy; suốt đêm khắc khoải, trằn trọc, ngưừi tù nằm đếm rành rọt từng tiếng hiệu cầm
canh nliư đếm bước đi nặng nhọc của thời gian (“Một
lìíịay tù, nghìn íhu ở ngoài”) Nhưng vì sao Bác không
ngủ được? Câu cuối cùng mới nói rõ tất cả Hình ảnh sao vang năni cánh dột ngọt toa sang cá bài Lhơ, chắng nhũng giái thích vì sao Bác không ngủ được mà còn diễn
tả một cách vừa gian dị vừa sâu sắc; tâm hồn nhà cách mạng vĩ đại luôn luôn gắn bó làm một với Tô quôc mình, khi tinh thức củng như khi đã vào cõi mộng
Trang 32N g u y ễ n D ă n g M ạnh
Nhưng có lẽ hồn nhiên, tự nhiên nhất là bài Khỏ/ìg
đề, Người làm một năm trước khi mấl:
F)õ ỉãu không làm bài thơ lĩào
Nay lọi thử làììi xem ra sao
Lục khắp giấy tờ vẫn chửa thấy
Bỗng nghe vầìi “thắng” vút lên cao.
Hẳn không có ai làm thơ như thế Thơ tứ tuyệt mà đến câu thứ ba Bác vẫn chưa tìm ra thơ Nhưng dến cảu cuôi cùng đột ngột vút lên một cách vô cùng sảng khoái thì toàn bộ bài thơ lại bộc lộ rất rõ tâm trạng náo nức rât vui của Bác Hồ trong không khí chiến thắng cua dân tộc mùa xuân năm 1968
Tuy nhiên phải nói rằng, nhiều bài thơ của Bác không phải dễ dàng trong một lúc có thề lĩnh hội được t ấ t cả cái hay, cái đẹp, cái lớn lao sâu sắc của nó Đại tướng
Võ Nguyên Giáp nói: “Bác giản dị đến không cỏ gỉ dặc
biệt cả” Đó cũng là cảm tưởng của ta khi thoạt nhin
những bài thơ như thế
Cho nên thơ Bác vừa rất dễ lại vừa rái khó Đôì với
người đọc cũng thế, đối với nhà thơ cũng vậy
Đôi với người đọc, dễ vì Bác vô cùng giản dị, nhưng
khó vì đây là sự giản dị của Bác Hồ; “Mong manh áo vải
hồn muôn trượng”.
Còn đối với nhà thơ, dễ vì Bác không làm thơ, và khó vì Bác tao ra thư bằng cá cuộc đời và l.âin hồn vĩ dại của mình
D ồng xa 1976.
Trang 33NHỮNG VẦN THƠ QUÊN MÌNH CỦA BÁC
(V(ii suy n g h ĩ về th ơ c ả m h ứ n g
tr ữ tìn h c ủ a Hồ C h í Minh)
Hồ Chí Minh có một thích thú riêng là làm thơ trữ tình, nhất là thơ tức cảnh Bởi vì tâm hồn Bác vốn nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên Thích thú này cùng với những thích thú khác như làm vườn, câu cá v.v càng thề’ hiện ở Người một côt cách giản dị, thanh tao
Nhưng ham muốn l(3'n nhất của Người là độc lập, tự
do cho nước, cho dân Vì ham muốn ấy, Người đã hy sinh tât cả, kê cả thú làm thơ Một tâm hồn giàu cảm xúc Iihư thế, một Lài thơ có thế làm kinh ngạc nhiều thi sĩ lứn như thế, mà chi đê lại cho chúng ta một ít vần điệu trữ Lình, làm ra phần nhiều chỉ để giải trí trong chốc lát sau nhữn^ giờ làm việc căns thắng:
Bàn việc canh chày mới lạrn ngơi
Gió mưa thu báo lạnh Lhu rồi
Trong đời Bác, chỉ có một lần, Người làm thơ trữ tình tương đối nhiều và liên tục Đó là thời gian Bác
Trang 34NịỊuyễn D ă n g Mạnh
viết Nhật ký trong lù - một tập thơ lớn ra đời trong ngục
tối Từ cô chí kim có lẽ chưa nhà thơ nào sáng tác trong một hoàn cảnh bất đắc dĩ như vậy
Đi sáu vào nội dung Nhật ký trong tù, càng thây rõ
tâm trí Bác lúc nàn cũng gắn'liền với Tố quốc và cách mạng Trong nhà tù, làm thơ, đôì với Bác, đúng là chỉ
để đỡ sốt ruột Nhưng làm mãi, làm mãi, đến lúc nào
đó, đếm lại những bài thơ mình làm ra, Bác lại càng sốt ruột hưn;
Năm canh thao thức không nằm
Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồi
Xong bài, gác bút nghỉ ngơi
N hòm qua cửa ngục ngóng trời tự do.
Xót mình giam hãm trong lù ngục
Chưa được xông ra giữa trận tiền
( ớ Việt Nam có biến động)CônịỊ tác cách mạng trong nước hồi này lại khẩn trương hữn bao giờ hết, vì dân tộc đang tiến đến một bước n g o ặ t lịch sử vĩ đại t ro n g m ộ t thời cư n g h ì n n ă m có một, do chính Bác chỉ ra từ Hội nghị Trung ương lần t.hứ VIII tại Pác Bó (1941) Đât nước đang cần, mà cứ đành ngồi đó làm thư sao? Một tâm trạng bồn chồn không
Trang 35Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công.
Hai câu sau, hồn thơ Bác bỗng đột ngột bay về Tô quốc:
Năm tròn cố quốc tărn hơi vắng,
Tin lức hèn nhà bữa bữa trông.
Tâm trạng ấy khiến cho Bác bao đêm mất ngủ và Người ngồi viết nên những vần thơ thắm thiết, chứa chan tình cám đối với Tô quôc, đối với đồng chí, đồng bào:
Không ngủ được, Đêm không ngủ, Thu Cám, Dèm thu
Nghìn dặm băng khuâng hồn nước cũ,
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay
ơ tù n ă m trọn t h ă n ưô tội
Hòa lệ tkành thơ tả nỗi này.
Quả thực, Bác Hồ không có chút gì dành riêng cho mình cả Càng tìm hiểu sâu vào tâm sự của Người, càng chi thây có nh ân dân và cách mạng
Tô Hữu nói về tấm lòng của Bác: “Nỗi đau dân nước,
uni neun ch á u ” Tôi nghĩ đến bài thư khác cua Người
cũng trong lập Nhật kỷ, bài ỏ m nặng:
Níịoại cánh trời Hoa cơn gió lạnh
Nội thương dất Việt cảnh lầm than.
Hai câu thư dường như không muốn phân biệt đâu là nỗi đau cơ thế, đâu là nỗi đau tinh thần, vì Tô quốc và giai cấp vô s á n t r é n Loàn t h ế giới t ừ l â u đă t rở t h à n h lẽ sông, thành máu Lhịt của người tù vĩ đại Bác Hồ căm
Trang 36Nịíuyền D ă n g Mạnh
giận: bọn phản động còn muốn giam ta đén bao giò' nừa Bây giờ lại thêm bộnh trọng, nồi đắng cay này biếl nói thô nào cho hết được;
Trong tù mắc bệnh càng đau khố
Dáng khóc ìnà ta cứ hát trcin.
Có người đã dẫn câu cuối cùng của bài thơ này đè nói
về tinh thần lạc quan cách mạng của Bác Tôi cho như thè
là chưa hiểu trúng ý của câu thơ F)úng là chủ nghĩa lạc quan, tinh thần chiến thắng của Bác Hồ vô cùng mãnh
không nhằm biểu hiện tinh ihần ấy Chao ỏi, hai chù’
“cuồng ca” (“Ban ưng thống khóc khước cuồng va”) đâu có
phải là hát vui Đó chính là nỗi đau khô không cùng mà tiếng khóc không thế nào bày tỏ cho hếi được Người xưa
nói: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười” là như thế.
Đọc thơ Bác, thấy niềm vui, nỗi buồn của Người nhiều khi không thể giải thích được bằng lý do cá nhân Tâin hồn của Bác có những giây phút dường như là hoàn toàn thoát ly ra khỏi cảnh ngộ của riêng mình Hãy lây hài
Chiều tối làm ví dụ:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mẩy trôi nhẹ giữa từng không,
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hèt Lò than đõ rực hồng.
Ti'r Ihơ dĩ nhiôn chí có thê’ nfíy sinh trong lâm hồn Bác trên đường bị giải từ nhà lao này đến nhà lao khác vào lúc chiều tối Cảnh ngộ riêng của người làm thơ lúc này chẳng có gì dễ chịu Chắc hẳn người tù đả phải trải qua mấy chục cây số cuốc bộ, chân xích, tay xiềng Còn phía trước mặt: lại một xó nhà lao đầy muỗi rệp đang
Trang 37dợi chờ Người Đã thế, quang cảnh núi rừng mênh mông Irùng điệp chim dẩn vào bóng tối lại dễ gợi lên những cám nghĩ thô Itíưng Ây Ihế mà nhà thơ lại cho ta một bức tranh khônç có chút gì gọi là ảm đạm Không phải lỉác không nhìn vào cảnh Lhực Trái lại, ngòi bút của Người vẽ rất đúng cảnh chiều muộn nơi rừng núi khi nhùìig tia sáng cuối cùng cua một ngày tàn chỉ còn sót lại trên đĩnh trời nhợt nhạt, vừa đủ cho nhà thơ nhận ra một chòm inây lơ lửng trôi và một cánh chim đang tìm
về tố Nhưng đúng vào lúc bóng đêm sập xuông, giữa bức Lranh thơ liền bật lên một đốm lửa hồng - ngọn lửa
ấm áp cua sự sống soi tỏ hình ảnh khỏe khoắn của một
cô gái lao động Phương hướng thưởng thức của người đọc thê là bị đảo lộn và ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đang reo vui trôn ngọn lửa hồng nơi xóm núi đế quên hẳn bản thân mình vẫn là một người tù chưa được dừng chân trên con đường đày ải tối tăm
Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định từng được ở gần
Bác có kê rằng: “Một lần tôi chụp ảnh Bác, cỏ một cành
câv nhỏ làni ưướng máy, tôi vít cành cây định hẻ đi thì Bơc ngăn lai: ấy chú đừng bẻ Tuy nó không cho quả ăn ìihưng cũng cho bóng m á t”
Như thê là ngay với những vật vô tri vô giác, nếu có ích lợi đôi chút cho sự sống con người, Bác đều trân trọng nân^r niu
Nhưng chính công ơn lo lớn của Người đối với dân, với nước, Ngươi lại không bao giờ nói đến Sau Cách mạng tháng Tám, có người biếu Cụ Chủ tịch một gói cam, Người bèn làm một bài thơ cảm ơn;
Quan cliêin t’à p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
ĩ. l ỉ áo V ã n n g h ẹ , sỏ' 360, ra n g à y 4 9 1 9 4 0
Trang 38Mguyền D ă n g M ạnh
Cám ơn bà biếu gỏi cam
Nhậìĩ thì K h ô n g đúng, từ làm sao dây!
Ă n quả nhớ kẻ trồiìíỊ cây,
Phải chăng khổ tận đèn ngày cam lai?
Công lao to lớn của Bác, một gói cam nào có đáng
kể gì Vậy mà Người cứ băn khoăn, áy náy (“nhận thì
không đ ú n g ”), dường như thấy mình không xứng đáng
Đến khi đành phải nhận, Người lại nghĩ rộng ra mà biết ơn những người trồng cây để cho mình có ngày
ăn quả Lời thơ thoáng có chút dí dỏm trong cách chơi
chữ “k h ổ tận cam lai”, nhưng âm hường chung vẫn gợi
nên một cái gì man mác như là nỗi thương nhớ m ênh mông Sau những ngày đâ't nước được giải phóng, hẳn Người nghĩ đến biết bao đồng bào, đồng chí, kẻ còn người mất, đả trải qua bao gian khố, hy sinh đê góp vào cuộc đổi đời vĩ đại của dân tộc sau t á m mươi năm
nô lệ
Bác Hồ không bao giờ nghĩ đến công lao mình, đến những hy sinh gian khố của mình Mùa xuân năm 1961, thăm lại hang Pác Bó, nhân cảm hứng, Người đọc mấy câu thơ:
Hai mươi năm củ ở hàng này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây.
Lãnh đạo toàn dân ra chiên đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay,
Thơ kỷ niệm mà không dừng lâu ở kỷ niệm Và tuyệt nhiên không đả động gì đến những kỷ niệm rất đẹp, rất thắm thiết của mình trong những ngày mở nước
vô cùng gian khố và vĩ đại Sau này Chế Lan Viên sẽ cố gắng nói giùm Bác những kỷ niệm ây:
Trang 39Dãn tộc rét chưa che người đủ ấm
Hang đá này Bác đắp chiêc chăn sui.
Khớp xương buốt ui hơi rêu lạnh thấm,
Gió rừng dừng thổi nữa giỏ rừng ơi!
Q u a n diêrn Vít p h i ù m g p h á p n g h i ê n cứu
“Cuộc dời cách mạng thật là sang”
Bắt con ốc khe, chặt nõn chuối ngàn
Đây bát cơm ngô qua ngày bệnh yếu
Bác chia cùng dân tộc giữa lầm than.
(Cách mạng, chương đầuj
Như vậy là thơ Bác r ấ t lớn ở những điều Bác nói với
ta Nhưng ta còn phải tìm hiểu nhiều điều rất lớn khác
mà Bác không hề nói đến, đế cảm nhận cho đầy đủ hương thơm đạo đức quên mình vĩ đại của Người
Đ ồn g x a 1976