Vì xuất phát từ nhu cầu bình giảng tác phẩm cụ thể của Hồ Chí Minh nên tôi quyết định chọn khai thác một bài thơ tiêu biểu của Người rồi từ đấv, từng bước đề xuất những vấn đề lý thuyết
Trang 2NHA XUẤT BAN KHOA nọc XẢ HỘI
& nộl NCÌHIION CƯU - GIÁNG DẠY VÁN HỌC TP.IICM CUNG CỔNG TY VĂN HÓA PHƯƠNG NAM
Pllốl liợp THựC IllỆN
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Dược thành lập năm 1988, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh là tổ chức tập hợp những hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy văn học ớ một thành phô là trung tâm Luôn năng dộng và đổi mới trong đời sông xã hội văn hỏa Mười bảy năm qua, Hội dã góp ph ầ n nâng cao chát lượng giảng dạy văn và học văn củng như chất lượng nghiền cứu văn học nhầm phục vụ cho công tác đào tạo ở bậc trung học và dại học Ngoài Niên giám Bỉnh luận ưăn học xuất bản hàng năm, Hội còn chủ trương và liên két xuất bản các
Tủ sácìi Vân học trong nhà trường; Văn học Việt Nam - những tác phẩm tiêu hiểu, Tuyển tập văn học thế giới
Trong bước phát triền của mình, Hội cần mở rộng hoạt động có tẩm vóc và quy mô lớn hơn, phục vụ bạn đọc dông đăo, trong đó có nìiững Ìiìià giáo, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên cùng tất cả những người yòu tìiích văn học Tủ sách Văn hóa và văn học sẽ
là nơi công bố những công trình nghiên cứu chuyền sâu
ưề một số vấn đề lý luận văn hóa và nghệ thuật, một sô tác giả, tác phẩm và sự kiện nổi bật của lịch sử văn hóa,
Trang 6uăn học Việt Nam vò thế giới Đế thực ìiiện tủ sách này, Hội dã và đang dược sự cộng tác chặt chẽ củn ìihièu giáo sư, học giả cỏ uy till từ các trung tâm dào tạo ưà khoa học lớn trên cả nước.
Nhờ sự hợp tác của Công ty Văn hóa Phương Nam cũng như của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, những ấn phẩm dầu tiên trong Tủ sách này dược ra mắt hạn đọc Trong kế hoạch hợp tác của Hội Nghiên cứu ưà Giảng dạy văn học uà Công ty văn hóa Phương Nam, dây là công việc lâu dài sẽ được tiến hànìi trong nhiều năm Vĩ vậy, chúng tôi trân trọng mời gọi sự đóng góp của các nhà nghiền cứu để' tủ sách xuất hản được những công trình có giá trị, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu ngày càng cao của công chúng.
Chúng tôi mong rằng, với sự cộng tác của các nhà khoa học và sự ủng hộ của dông đảo hạn đọc, Tủ sách văn hóa và văn học sẽ góp phần tạo ra những hiệu ứng tích cực trong đời sống tinh thần của xã hội ta những năm dầu th ế kỷ XXL
HOÀNG NHƯ MAI
G iáo sư, N hà g iá o n h â n dân Chủ tịch H ội N g h iên cứu
và g iả n g dạy v ă n h ọc TP.HỒ Chí Minh
Trang 7TÔI ĐÃ ĐẾN VỚI VĂN THƠ
HỒ CHÍ MINH NHƯTHẾ NÀO?
Trang 8N g u y ễ n Đ ă n g Mạnh
Cho nên bình văn, giảng văn là một ihii’ thách khắc nghiệt và toàn diện đôi với các giáo viên văn học cũng như các nhà phê bình văn học
Từ ngày các tập thơ văn của Hồ Chí Minh được công
bố, số lượng những bài bình văn giảng văn các tác phấm của Người thật là bề bộn Giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh, tất nhiên tôi phải tham khảo những bài ấy Có những bài thật hay, bình thật trúng Nhưng cũng có không
ít bài dở, rất dở Mà bài dở nhiều khi lại của những giáo
sư, những nhà phê bình có tiếng từng đi Tây, đi Tàu về, từng viết hàng đông sách Tất cả đều muốn ca ngợi văn thơ Bác Nhưng sao cứ như là cố tình biến văn thơ Người
t h à n h những văn bản chính trị nội dung đưn gián, khô khan, vé đẹp của văn chương bay đi đáu hết Những bài viết như thế đã gây tác hại rấ t lớn đối với việc dạy và học văn trong nhà trường
Trước tình hình đó, tôi thấy cần phai có cách nào đấy đế giải quyết, trước hết là đối với bản thân mình Tôi đặt vấn đề phải xây dựng được một lý thuyết nào đấy về quan điểm và phương pháp tiếp cận các tác phâm của Hồ Chủ tịch để hiểu cho đúng, phân tích cho dúng.Chúng ta đều biết các lý thuyết về văn học ở ta lâu nay phần lớn là ngoại nhập Nghĩa là vôn không xuất phát từ thực tế văn học Việt Nam (nhiêu lý thuyết lại từ các ngành khoa học khác chuyến sang) Chúng không phải không có giá trị phổ biến Nhưng phô biến đến mức nào, đến chừng nào? Nếu không khéo vận dụng phù hợp với đôi tượng là văn học Việt Nam, là thơ văn
Hồ Chí Minh, thì dễ dẫn đến sai lầm Ngoài ra cũng phải có quan niệm đúng đắn về vĩ nhân, về lảnh tụ Tôi cho rằng tiêu chuẩn cao n h ấ t để đánh giá con người chính là con người Bác Hồ là một cá nhân xuất chúng,
Trang 9Q uan d i ê m v à p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
nhưng đâu phải là ông thánh Vì coi Bác là ông th ánh nên nhiều người cứ nghĩ Bác phải nói và viết bằng một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của người thường và vì
là ông th ánh cách mạng nên Người chỉ có thể có những tình cảm lớn tức những tình cảm chính trị, tình cảm cách mạng Cho nên “Gà gáy một lần” phải là Cách mạng th áng Mười, “Chòm sao đưa nguyệt” phải là quần chúng cách mạng
Vì xuất phát từ nhu cầu bình giảng tác phẩm cụ thể của Hồ Chí Minh nên tôi quyết định chọn khai thác một bài thơ tiêu biểu của Người rồi từ đấv, từng bước đề xuất những vấn đề lý thuyết về phương pháp cần giải quyết Chẳng hạn;
- Lý thuyết về phân tích tác phẩm văn chương Từ kinh nghiệm bản thân, tôi tiếp cận lý thuyết ba bước Tổng - phân - hợp của Chế Lan Viên, kết hợp với kinh nghiệm của Xuân Diệu, Hoài Thanh và của Thánh Thán
nữíĩ (Thánh Thán bình Tây Sương K ý ).
- Lý thuyết về thể loại văn học Văn thơ Hồ Chí
Minh thuộc rấ t nhiều thế loại khác nhau Không phân biệt được điều đó ở cấp độ lý thuyết thì không thể phân tích và đánh giá tác phẩm chính xác được Chẳng hạn thơ của Người có hai loại, ai cũng thấy rõ Nhưng phân biệt t h ế nào ở cấp độ lý thuyết? Người ta thường nói, tư duy nghệ Ihuật là tư duy hình ảnh Nhưng cả hai loại thơ này đều dùng hình ảnh cả:
Tiêng suõí trong như tiếng hát xa
(Cảnh khuya)
Hòn dá to Hòn đá nặng
Trang 10N g u y ễ n D ă n g M ạn h
Chỉ một người Nhấc không đặng
(Hòn đá)Vậy thì phải phân biệt sự khác nhau giữa hai loại hình ả n h này; một đằng là hình ả n h minh họa khái niệm thuộc loại thơ tuyên truyền chính trị trực tiếp
(Hòn đá, Ca dân cày, Ca công nhân, Ca sợi chí, N hóm lửa, Con cáo và tổ ong, ư.v.)] một đằng là hình ảnh
cảm xúc th ẩm mỹ thuộc loại thơ nghệ t h u ậ t hay thơ
cảm hứng trữ tình (Cảnh khuya, Tức cảnh Pác Bó,
Nguyên tiêu, Báo tiệp, v.v.) và các bài thơ trong N hật
ký trong tù
- Lý thuyết về phong cách nghệ thuật của nhà vàn
Tác phẩm của nhà văn lớn bao giờ cũng mang đậm cá tính, phong cách của tác giả Qua thực tế nghiên cứu, tôi thấy nắm được lý thuyết phong cách đã khó, nhưng vận dụng lý thuyết vào việc tìm hiểu phong cách cụ thề của một nhà văn còn khó hơn nhiều, ơ đây, nhận ra được những đặc điểm này khác của phong cách tuy không dễ nhưng cũng không khó lắm Nhưng tìm ra tính thông nhấ t của phong cách như một chỉnh thể nghệ thuật thì cực khó
- Lý thuyết về năng lực cảm thụ tác phẩm văn học
Vì sao con người ta lại có phản ứng về tình cảm, cảm xúc trước một hình tượng đẹp, một áng văn hay? Mà phản ứng nhiều khi rất khác nhau về cùng một tác phẩm
Tôi gọi đây là khâu “phi phương pháp luận” trong nghiên
cứu văn học Tuy nhiên tôi không thần bí hóa hiện tượng này và nghĩ có thể và phải tìm ra “cơ chế” của nó ra sao Đây là chuyện năng khiếu t hẩm mỹ, đúng là không thê chỉ học thuộc mấy bài về phương pháp luận mà có được
Trang 11Q uan diểrn và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
Nhưng hiểu được “cơ chế” cúa nó thì cung có thế có cách
tự bồi dưỡng đưực, tất nhiên là rất lâu dài
- Giíing văn ớ nhà trường, không phải chỉ phân tích văn bản tác phẩm mà còn phải giải thích văn bản nữa Tức là còn phải làm sáng tỏ hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Trong thực tế văn học, hai quá trình: quá trình cảm thụ, phân tích văn bản và quá trình giải thích văn bản bằng hoàn cảnh thời đại và tồn tại xã hội của nhà văn không bao giờ tách rời nhau mà thường diễn ra song song và soi sáng lẫn cho nhau Và theo kinh nghiệm của tôi thì cần phải khảo sát cụ thế ba hoàn cảnh có tác động tới tác phẩm: hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh cấu tứ
Vậy là, từ yêu cầu tìm hiểu và phân tích một tác phẩm cụ thể của Hồ Chủ tịch mà hàng loạt vân đề lý thuyết cứ đẻ ra mãi, nỏ’ ra mãi, cuôì cùng, thấy cần phải xây dựng hẳn một hệ thống lý thuyết có ý nghĩa phương pháp luận về việc tìm hiểu và phân tích thơ văn của Người
Tòi vừa dạy học vừa xây dựng công trình nói trên Nghiên cứu đến đâu, thử nghiệm luôn đến đấy tại lớp học Đến khoáng 1975,1976 thì chuyên luận hoàn thành Chuyên luận nhằm giải quyết trước hết về bình giảng thơ Hồ Chí
Minh Tôi đặt tên là Mấy vấn dề về quan điểm và phương
p h á p tìm hiểu, p h à n tích th ơ Hồ Chí Minh Lúc đầu
tác phẩm in đe dùng làm tài liệu ]ifij hành nội bộ trong trường Dại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Xuân Hòa (1978, 1980) Đến 1981 thì Nhà Xuất bản Giáo dục cho
ra mặt l)ạn đọc Từ bấy đến nay tác phẩm luôn luôn được các Nhà Xuất bản Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà XuấL bánTre thành phố Hồ Chí Minh in đi in lại
Trang 12N g u y ễ n D ă n g M ạ n h
Sau tác phẩm này tôi còn viết nhiều công trình khác
nữa về văn thơ Hồ Chí Minh Nhưng tôi coi Mấy vấn đề
về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ
Hồ Chí M inh là công trình gốc, công trình mẹ.
Đấy, con đường tôi đi đến với văn thơ Hồ Chí Minh đai khái là như thế
Q uan Hoa, H à N ộ i 20-3-2005
N gu yễn D ă n g M ạnh
Trang 13MỘT Sự NGHIỆP VẰN HỌC LỚN, PHONG PHỎ, ĐA DẠNG
N h ân đ ọc Tuyển tậ p v ă n h ọc
H ồ C h í M inh ^
Đôl với Hồ Chí Minh, văn học trước hết phải là một
vũ khí, một hoạt động cách mạng Có nghĩa là mỗi bài văn, bài thơ viết ra phải hướng vào một đối tượng cụ thể nào đó, phải nhằm đạt tới một mục đích thiết thực nào đó Người thường nhắc đi nhắc lại như một kinh nghiệm thiết thân của mình: trước khi cầm bút, phải trả
lời hai câu hỏi Vi ai mà mình viết? Mục đích viết làm gì?
Từ đó mới quyết định Viết cái gi? (nội dung) và Cách
nh â t quán của Hồ Chí Minh thể hiện ở mọi bài viết của
1 N hà xuất b ả n Văn học, Hà Nội, 1995
2 “Cách v iế t” Tuyển tập Hồ Chi M inh, Nxb Văn học, Hà Nội,
1995, tr.2, tr.346 - 352.
Trang 14N g u y ễ n D ă n g M ạ nh
Người Ngay trường hợp làm thơ chi đê “khuây khoa”
trong tù (Nhật kỷ t "ong tù), Người cũng xác định rõ mục
đích và đối tượng:
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng ưl trong ngục biết làm chì dây:
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngẫm vửa đợi đến ngày tự do.
Quan điểm sáng tác ấy đã tạo nên tinh thần nhất quán của sự nghiệp vãn học của Người Nhưng cũng quan điểm sáng tác ấy đã đem đến cho văn tho' Người tính chất phong phú, đa dạng ít thấy ở những cây bút khác Bởi lẽ, trải qua hơn nửa t hế kỷ hoạt động cách mạng, khi ở Tây âu, khi ở Trung Quốc, Thái Lan, khi trên đất nước mình, yêu cầu cách mạng từng nơi, từng lúc đã đặt
ra cho Người biết bao nhiệm vụ cụ thế' phải giải quyết,
đã khiến Người phải đôl phó với biết bao kẻ thù trong những tình huống khác nhau, phải liên kết với biết hao
bè bạn, phải thuyết phục nhiều người thuộc sắc tộc khác nhau, tôn giáo, giai cấp, đảng phái khác nhau, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, chính trị, đặc điểm tâm lý khác nhau Mỗi bài viết, vì thế, tuy cùng chiến đấu cho một lý tưởng cách mạng duy nhất, nhưng phải tùy theo từng đối tượng, từng mục đích cụ thể mà lựa chọn nội dung viết và hình thức viết cho phù hợp ớ thủ đô Paris, viết cho người Pháp và những đồng bào biết tiếng Pháp thì h àn h vãn phải rấ t hiện đại và “râ't
Ph á p” (Phạm Huy Thóngi như; Paris, Lời than vãn của
bà Trưng Trắc, Vi hành, Varen ưà Phan Bội Châu, “Sở thích đặc biệt”, Động vật học, Nói về loài cầm thú v.v
Nhưng viết cho người du kích nông dán Việl Nam thì lời văn lại phải hết sức giản dị, phải theo lối truyện chương
Trang 15Q u a n d ie m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
hồi truyền thông cho phù hợp với thị hiếu bình dân:
Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Pháp ư.ư về
tho’ ca cũng vậy Viết cho công nông - trước Cách mạng
t h á n g Tám hầu hết còn mù chữ - thì phải hết sức nôm
na mộc mạc, mượn lối ca, vè quen thuộc với dân gian: Ca
d â n cày, Ca công nhân, Ca du kích, Ca sợi chỉ, Hòn đá ư.ư Nhưng thơ tặng cụ Đinh Chương Dương, cụ Võ Liêm
Sơn, cụ Bùi Bằng Đoàn thì lời lẽ lại phải trang nhã, cố kính, và tôt nh ất là dùng thơ chữ Hán luật Đường
Nhìn chung, đối với Hồ Chí Minh, vấn đề Viết cho ai
luôn được đ ặ t lên hàng đầu Người không ngại nhắc đi nhắc lại điều đó: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích
Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem”' Từ khi trở về nước, Người chủ yếu viết cho đôi tượng công nông binh Người đặc biệt chú ý khai thác kho tàng thành ngữ, tục ngữ dân gian là cách diễn đạt vừa ngắn gọn, đích đáng, vừa giàu hình ảnh của quần chúng công nông Nhưng dù đã viết rất dễ hiểu, khi viết xong, Người vẫn cẩn thận “nhờ một sô' đồng chí công nông binh đọc lại Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra thì phải chữa lại”'^
Đó là quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh Nắm được quan điềm này, có nghĩa là có được chiếc chìa khóa thứ n hấ t đê’ mở vào lâu đài văn học của Người
1 T u yến tcĨỊi uăn học Hổ Chí M inh, Nxb Vãn học, Hà Nội, 1995,
t ‘2, tr.349.
2 Tuyến tập vãn lìọc Hổ Chí M inh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995,
t2, tr.350.
Trang 16N g u y ễ n D ă n g M ạnh
Đôl với mỗi bài văn, bài thơ của Người, phải căn cứ vào thời điểm ra dời của nó, phân tích tình hình chính trị của đất nước ở thời điểm ấy để xác định Người viết cho
ai, nhằm mục đích gì Có như vậy mới hiểu được đúng và đánh giá đúng tác phẩm của Người từ nội dung đến hình thức Đó là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản nh ấ t của việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh
Tính đa dạng của sự nghiệp văn học Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật ở bình diện thể loại sáng tác và phong cách nghệ thuật Đây là một cây bút lớn, tài năng nhiều mặt, có khả năng thể hiện trong nhiều phong cách khác
nhau - có thể gọi là cây bút nhiều phong cách.
Trước h ế t tài năng ấy bộc lộ ở văn chính luận Vàn chính luận không thuyết phục người đọc bằng hình tượng nghệ thuật mà bằng lập luận lô gích v ề t hể văn này,
Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên những tác ph ẩm có thể
coi là mẫu mực và bất hủ Tuyên ngôn độc lập là một
ví dụ Người ta thường đánh giá tác phẩm này như một
áng “thiên cổ hùng v ă n ”, một “Bình Ngô đại cáo của thời đại mới” Nhưng Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi ra đời trong thời đại gọi là “Văn sử bấ t p h â n ” nên chính luận chỉ là một yếu tô' Khí t h ế “hùng vă n ” của tác phẩm được truyền đến người đọc chủ yếu nhờ một
hệ thông hình tượng từng từng lớp lớp và một giọng
văn sôi nơi, dồn dập, đầy hứng khởi Tuyên ngôn dộc
lập thì khác Sức m ạn h của nó là ở lý lẽ sắc bén, ở
cách lập luận chặt chẽ, ở những luận cứ đích đáng (hình ả n h nếu có chẳng qua cũng chỉ là để phụ giúp cho lý lẽ thêm sắc sảo và hấp dẫn mà thôi) Nếu tìm
Trang 17Q u a n d i e m V C I p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
hiểu cụ thể tình hình chính trị của đất nước ta khi Bác
Hồ đọc bản Tuyên ngôn đê xác định cụ thế đôi tượng
Người hướng tới và nắm được cụ thể những luận điệu của bọn đế quô'c mà Người cần bác bỏ, ta sẽ thây cách lập luận của Người, cách đưa các luận cứ của Người
t h ậ t là chặt chẽ, đanh thép Không phải ngẫu n hi ên
mà bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đã mở đầu
bằng mấy lời văn trích từ bản Tuyên ngôn độc lập của
Mỹ và bản Tuyên ngôn n h â n quyền và dân quyền của Pháp Từ quyền con người được khẳng định trong bản Tuyêíi ngôn độc lập của Mỹ, Người khéo léo “suy rộng
ra ” để khẳ ng định quyền độc lập tự do của các dân tộc Luận điểm ấy có thể xem như phát súng lệnh dõng dạc
mở đầu cho phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa nửa sau t h ế kỷ XX v.v
Bài Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê nin cũng là
một áng văn chính luận xuât sắc Nhưng tác phẩm lai được viết theo một phong cách khác, ơ đây, độc giả là những người cộng sản trên toàn thê giới Luận điểm cần thuyết phục là: “Chủ nghĩa Lê nin chẳng những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới th ắng lợi cuối cùng” Với đối tượng này, Người không dùng nhiều lý lẽ, không tranh luận, không hùng biện Người thuyết phục bằng kinh nghiệm thực tê của bản thân mình được diễn tả bằng những dòng hồi kv sinh động, tươi tắn, và một giọng văn r ấ t mực khiêm tôn v ề mặt
thể loại, có thể coi đây là một tác phẩm hồi ký - chính
luân r â t độc đáo.
Trang 18N g u y ễ n D ă n g M ạnh
HỒ Chí Minh là tác giả của nhiều Truyện Ký
Về truyện, rất tiếc chưa tìm được văn bản Nhật kỷ
chìm tàu là tác phẩm có ảnh hưởng lớn trong phong trào
cách mạng Việt Nam ớ thể văn này, bút pháp, phong cách của tác giả cũng rất đa dạng Sự khác biệt về phương diện này thấy rô nhất là giữa những truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp và những truyện Người viết từ khi về nước.Những truyện viết bằng tiếng Pháp như đã nói, hành văn rấ t hiện đại và “rất P h á p ” Những truyện này nói chung đều nhằm tố cáo tội ác của bọn thực dân, tư bán, bọn phong kiến tay sai đối với nh ân dân lao động các dân tộc thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng Tuy vậy không truyện nào giống truyện nào, dù là những tác phẩm cùng nhằm vào một
đích (chẳng hạn truyện Vi hành và truyện Lời than vãn
của bà Trưng Trắc cùng lên án tên vua bù nhìn Khải
Định) Vỉ hành tạo ra một tình huống nhầm lẫn r ất thú
vị, trong đó nhân vật chính (Khải Định) không có mặt
mà lại được khắc họa rất rõ nét Tác giả dùng hình thức viết thư để có thể dễ dàng chuyển cảnh, chuyển giọng
một cách linh hoạt và tự nhiên Lời than vãn của bà
Trưng Trắc lại phát huy trí tưởng tượng để tạo ra một
t hế giới rùng rợn diễn tả cơn ác mộng của Khải Định bị
tổ tiên xỉ nhục và ruồng bỏ Varen uà Phan Bội Châu thì
vận dụng tài quan sát và ký họa, tạo ra những đoạn văn tường thuật sắc sảo hệt như quay một cuốn phim tư liệu
về h àn h trình của Varen, đồng thời khai thác triệt để thủ pháp đối lập để làm nổi bật hai n hâ n cách: Varen thì bắng nhắng, ba hoa và ti tiện, Phan Bội Châu thì uy
nghi, lẫm liệt Pari sử dụng ngòi bút phóng sự r ấ t linh
hoạt, giọng văn thì đi từ mỉa mai chua chát đến căm
giận xót xa Con người biết m ùi hun khói, có thể gọi là
Trang 19Quan đ i ể m và ph ư ư n ịỉ p h á p n g h iê n cứu
một truyện viễn tưởng chính trị, còn Dồng tâm nhất trí
lại có dáng dấp một truyện ngụ ngôn v.v
Những truyện tác giả viết từ khi về nước thì khác hẳn: dùng lối truyện kể, không chú ý dựng cảnh, dựng người Sức hâp dẫn của truyện là ở tình tiết thú vị, gói gọn trong những đoạn văn ngắn tương đối độc lập được xâu chuỗi vào nhau, tựa như lối kết cấu chương hồi Mỗi đoạn thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu lục bát lẩy Kiều hóm hỉnh Những truyện này chủ yếu nhằm vào đối tượng công, nông, binh, nên cách viết như thế là thích hợp
Các thể ký chiếm vị trí rấ t quan trọng trong sự
nghiệp văn học của Hồ Chí Minh, có lẽ vì Người “có
nhiều duyên nợ với báo chí”^ chăng?
Vào những năm 20, khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn
Ái Quốc viết hàng loạt bài ký rất có giá trị: Tri thức uyên bác, hà nh văn biến hóa, dựng cảnh, dựng người gây ấn tượng đậm nét, nghệ thuật châm biếm sắc sảo, tính chiến đấu mãnh liệt (Động vật học, Nói về loài cầm thú, Viện hàn lăm thuộc địa, Hành trình kiểu Linsơ Ư.Ư.).
Tác phẩm quy mô n h ấ t là tập phóng sự điều tra
Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Đây là cuốn sách
đầy công phu và tâm huyết Tác giả muôn cuô’n sách phải là một bản án đanh thép đầy luận cứ đích đáng khiến ké bị lên án không thế chôi cãi được Muôn vậy phải có tư liệu phong phú và xác thực, tô't n h ấ t là dùng
tư liệu do chính người Pháp cung câ'p qua những thư từ
và n h ậ t ký của họ Nguyễn Ái Quốc r ấ t có ý thức về
! Tuyến tập Văn liọc Hồ Chi Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995,
tr.2 tr.279.
Trang 20N gu yễ n D ă n g M ạ n h
điều này: “Tôi không muốn tự mình viết lấv, vì như thế không có giá Irị thực sự Tôi sẽ dùng những đoạn văn
trong các sách họ viết về thực dân Pháp Tôi sẽ cố
gắng làm cho đậm nét những đoạn âV” đ(3 là lời tâm
sự của Nguyễn với một người bạn trong thời gian chuẩn
bị cho cuô'n sách từ 1920
Sau này, nói về công tác tuyên truyền địch vận,
Người cũng nhắc lại kinh nghiệm “lấy gậy ông dập
lưng ông” đó.
Bản án chế độ thực dân Pháp gồm 12 chương tố cáo
mọi mặt tội ác của chủ nghĩa thực dân -Pháp đối với
người bản xứ Tác phẩm kết thúc bằng chương Nô lệ
thức tính, thế hiện quy luật t ấ t yếu: tức nước vỡ bờ.
Giá trị của tác phẩm không phải chỉ do tư liệu phong phú mà còn do cách diễn ý và h ành văn đầy nghệ thuật với những mệnh đề có sức khái quát lớn, với những bức
ký họa sinh động về một loại “nhà khai hóa”, kèm theo nhừng chi tiết đặc tả h à n h vi độc ác khủng khiếp của chúng Tất cả được viết với một giọng châm biếm sâu cay và mãnh liệt như dùi đâm, như roi quất: “Trước năm
1914, họ chỉ là những tên da đen “hèn h ạ ”, những tên Aunamít “hèn h ạ ”, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe và
ăn đòn của các quan cai trị nhà ta Ây t hế mà cuộc
“chiến tranh vui tươi” vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị “nhận hậu” ( ) Khi đại bác đã ngấy thịt đen thit vàng rồi, thì những lời tuyên bố “tình tứ” của các nhà cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có
1 Dẫn thoo Tổng tập văn học Việt Nam Nxb Khoa học xã hội,
1980, tr.36, tr.427.
Trang 21Q uan điềrn và p h ư ơ n ịi p h á p n g h i ê n cứu
phép màu { ): “Các anh đâ báo vộ Tô quốc, thế là tốt Bây giờ chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!’"
Từ khi về nước, Hồ Chí Minh tiếp tục viết nhiều bài ký đặc sắc với nhiều bút danh khác nhau: Tân Sinh, L.T., T Lan, Chiến sĩ Cố nhiên bút pháp phong cách
có đối khác: bớt đi tính uyên bác, thường trình bày tư liệu dưới hình thức truyện kế, thỉnh thoảng điểm xuyết máy vần thơ lục bát lẩy Kiều Những bài ký viết ở
Ph áp trước kia, nhằm lên án chu nghĩa thực dân, nên giọng châm biếm quyết liệt là âm hưởng chủ đạo Giờ đây Người chủ yếu viết đê ca ngợi nh ân dân mình đánh giặc và xây dựng đất nước, nên giọng văn rấ t mực đôn hậu và vui Tuy nhiên đế hấp dẫn người đọc, tác giả cũng dùng nhiều thủ pháp linh hoạt và biến hóa: có khi là ỉói viết thư, văn thông tin báo chí xen với giọng trữ tình, đôi chỗ dùng đến cả thủ pháp đồng
hiện (Tình nghĩa anh eni Việt - Â n - Miến); có khi mô
phổng lôi truyện chương hồi, mỗi đoạn một chuyện,
mở đầu bằng hai câu có vần, kết thúc bằng mấy lời khêu gợi đọc tiêp “chương" sau
ơ nhũ'ng bài ký dài (như Vừa đi đường vừa kế chuyện),
tác giả rất chú ý đổi giọng, chuyển cảnh luôn luôn để tránh đơn điệu (í những bài ký ngắn có nội dung đả kích, Người thường hư cấu ra những màn hài kịch đế nhAn vật bị lẻn án tự mình thông báo những tội trạng
và những th ất bại của mình bằng đối thoại, độc thoại
(Đê quòc Mỹ hi và hi, Tổng Giôn U('i vụ giết chêt, nqhị sĩ
R Kennơdi ).
Đọc nhũ’ng bài ký của Hồ c;hí Minh, n h ấ t là hồi ký, nhật ký có một thú vị đặc biệt !à được thấy hiển hiện rõ nét cái tòi Hồ Chí Minh: một cái tôi rât đỗi ti'ẻ trung và hồn nhiêii gian dị, say mê hoạt động, ham học hỏi, Lhích
Trang 22Thơ Hồ Chí Minh, nhìn về mặt thế loại và phong cách cũng r ấ t đa dạng.
Đặt những bài ca, bài vè Người viết ớ Việt Bắc thời Mặt t r ận Việt minh bên cạnh những bài thơ chữ Hán
của Người trong N hật ký trong tù hay ra đời trong thời
kỳ khá ng chiến chống Pháp, thoạt xem, tưởng chừng như của những cây bút khác nhau
Một đằng là những sáng tác dân gian hết sức mộc mạc chất phác:
Trẽn đồi cỏ mọc xanh xanh Một đàn cờ đậu ngoài ghểnh xa xa
Việt Nam độc lập đồng minh
Có băn chương trình đánh Nhật, đánh Tây
Tiê"p thu và phát huy nghệ thuật dân gian, nhà thc dân gian Hồ Chí Minh sử dụng rộng rãi những thú phá];
quen thuộc của ca dao, dân ca Gắn thơ với ca (Ca dár,
gian Hồ Chí Minh muòn chính trị nhập sâu vào sinl' hoạt vui chơi thoải mái của dân gian, và có thế đi the(
Trang 23Q u a n đ i ế m v à p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
họ véo von trên nương rẫy, réo rắt giữa cánh đồng, ngân nga nơi sườn non, bờ suối
v\}íj những bài thơ chữ Hán, Hồ Chí Minh lại trở
t h à n h một nhà thơ cồ điển Một con người từng sống lâu năm ở phương Tây hiện đại, từng viết những truyện ký
“nh ư một ngòi bút phương Tăy sắc sảo” (Phạm Huy
Thông), khi làm thơ cảm hứng trữ tình cho mình hay những đồng chí gần gũi với mình thưởng thức, lại thường làm thơ chữ Hán đậm màu sắc Đường thi Có quy luật gì
ở đây chăng? Có lẽ mọi hồn thơ xưa này đều hình t hà nh
từ tuối thiếu niên, trong môi trường tình cảm, trong không khí văn hóa nghệ thuật được nhà thơ hít thở từ tuối chín, mười, thậm chí từ khi còn nằm trong nôi Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình trí thức Hán học, hồn thơ ấy, phải chăng đã hình thành một cách hồn nhiên lự nhiên từ nhỏ trong không khí sinh hoạt văn chương của những ông nghè, ông cử, nghĩa là trong âm hưởng cua thơ Đường, thơ Tống?
Người để lại cho đời tập N hật ký trong tù, một thi phẩm lớn Từ ngày bản dịch N hật ký trong tù ra đời, đã
có hàng trăm công trình lớn nhỏ, trong nước, ngoài nước viết về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm này
ơ đây chỉ xin nói thêm về một khía cạnh của tập thơ: tính c hất phong phú, đa dạng từ nội dung đến bút pháp, phong cách Có thể nói, tập thơ đã tạo nên một sự thông n h â t hài hòa rất độc đáo của nhiều yếu tô tư tưởng và nghệ thuật tưởng như đối lập với nhau
Chỉ điôni (|ua hệ Lhốiig đề Lài cũng đã thấy như thế; bên cạnh những đề tài rấ t thi vị vốn quen thuộc với thơ
ca cô' điển như phong, hoa, tuyết, nguyệt, triêu cảnh, vãn cảnh, đăng sơn, ức hữu (người xưa gọi là: giai thì, inỹ cảnh, thắng sự, lương bằng), là những đề tài r ấ t nôm
Trang 24N g u yê n D ă n g M ạnh
na, đầy chât “văn xuôi” như các bài Điền dông, Sơ đáo
Thiên hảo ngục, Lại sang, Bào hương cẩu nhục, Hạn chế, Nhân đỗ ngã v.v.
Đi vào thế giới hình tượng thì thấy bên cạnli một cái tôi trữ tình có phong thái ung dung, nhàn tản, bầu bạn với thiên nhiên, tựa như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân Am, là một cái tôi khác khao khát tự do, khao khát chiến đấu, lòng như lửa đốt hướng
về Tổ quốc, về đồng chí, đồng bào đang ngóng đợi mình Nghĩa là bên cạnh một bậc hiền triẽt của thuở xưa sống thanh thản ở ngoài dòng chảy của thời gian, là một chiến sĩ cách mạng luôn tính đếm từng chút quang âm qua đi một cách oan uổng bên ngoài song sắ t nhà lao:
“Bốn tháng rồi”, “Tám tháng hao mòn với xích gông”,
“Mồng chín ta vừa đèn Liễu Châu, Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác niộng”, “Ngày di bạn tiễn đến bén sông, Hựn bạn về khi lúa đỏ đồng”, rồi “Giam lâu ngày chưa dược chuyền” hay “Tiếc ngày giờ” v.v Nghĩa là sông cao độ
từng giờ từng phút của mình
Mà cả hai đều là Hồ Chí Minh, đều rất Hồ Chí Minh
Ảy là sự thông n h ấ t hài hòa giữa cái cố điển và cái hiện đại trong một n h â n cách thơ phong phú và độc đáo
Ông Lê Hữu Mục trong một tâm tr ạng hằn học đã viết cả một cuôn sách đế chứng minh “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung n h ậ t ký” Trong bài
/ Lcìng Văn, từ số 67 đến 70 ở Canada Sau in t h à n h sách, do Trung tâm văn bút Việt Nam hái ngoại xuất bản, L ảng Văn p h á t h à n h
th á n g 11-1990.
Trang 25Q uan d i ê m vù pìiiiiỉiiỊỉ p h á p tiỊỉhiên cứu
Suy nghĩ mỏi vể Nìựti kỷ ironq tù, Phan Ngọc đã nêu lên
tám lỗi về lập luận của Lê Hữu Mục Tôi cho rằng ông Mục còn mắc một lỗi khác nửa, ấy là cô' tình không hiếu một đặc điếm của Lập thư tù: tác phẩm được viết với một phong cách phong phú, đa dạng Ong Mục lập luận;
“Sự tương phản giữa hai phong cách thơ” mà ông gọi là
“phong cách khái quát của thơ Đường” (như Tảo giải,
hương cấu nhục, Lạc liễu nhất chích nha, Ngục trung sinh ìioạt U.V.) đê’ nói rằng tập thơ không thế’ là tác
phẩm cua một người
Nói ông Mục “cố tình không hiểu”, vì trong khi cho rằng những bài thơ có phong cách Đườnẹ thi không phải
của Hồ Chí Minh, ông lại thừa nhận bài Tổn xuất ngục
học đâng sơn (Mới ra tù, tập leo núi) là của Người Như
vậy là tự ông đã bác bỏ lập luận của mình một cách đích
đáng hơn ai hết Vì Mới ra tù, tập leo núi là một trong
những bài hay nh ấ t của Hồ Chí Minh viết theo phong cách Đường thi
Cũng cần nói thêm điều này; ông Mục cho rằng trong
Nhật ký trong tù có một loạt bài thư mang phong cách
Đường thi Nhận xét ấy cũng chĩ đúng một nửa Phải thấy rằng những bài thơ ấy, một mặt rất Đường, mặt
khác lại không hản là Đường “Dường” ở chỗ khi viết về
thiên nhiên, thường chi dùng vài nét chấm phá, đố lại nhiều khoáng trông, côt ghi lấy linh hồn của cánh hơn
là hình xác của tạo vật “Đường” ớ thê giới hình tượng
tĩnh, có tính phi thời gian, và ò' h'inh ảnh nhân vật trữ Lình ung dung Lự tại, tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên
/ Xcm S u \ m>ììĩ mái ):(■' Nlìậl ký íroiiíỊ lìí Nxb Giáo dục, Ilà Nội,
1993, tr.615 - 627.
Trang 26Nhưng không hẳn là “Đường”, vì thế giới nghệ thuật của
nhà thơ cách mạng thể hiện một quan niệm khác với người xưa về không gian, thời gian, và về con người trong quan hệ với tạo vật Nếu trong thơ xưa, thiên nhiên là chủ thể, con người thường sắm vai ngư, tiều, canh, mục ẩn dật giữa chôn thôn dã, lâm tuyền, thì trong thơ Hồ Chí Minh, con người là con người hành động Con người không ẩn đi mà hiện ra, không phải ẩn
sĩ mà là chiến sĩ Con người sống cao độ với thời gian
Con người là chủ thể:
Đi đường mới biết gian lao
N úi cao rồi lại núi cao trập trùng;
N úi cao lẽn đến tận cùng,
Thu ưào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Đi đường - Tẩu lộ)
Sự đa dạng của phong cách Nhật ký trong tù còn có
liên quan đến tính chất nhật ký của tác phẩm Trong nhà tù, Bác Hồ ngồi ghi chép những sự t h ậ t diễn ra hàng ngày mà Người quan sát được Cũng là một cách
đế giải trí, đồng thời có lẽ còn là nhu cầu của một con người hết sức năng động, không chịu để cho tâm trí mình được nghĩ ngơi chăng?
Có hai sự t h ậ t người tù cách mạng có thể theo dõi, quan sát và ghi chép Một là sự t h ậ t khách quan, nghĩa
là những điều m ắt thấy, tai nghe ở trong tù và trên đường đi đày Đôl với sự t h ật này, tác giả dùng lô'i thơ hướng ngoại là chính, một thứ thơ thiên về bút pháp tự
sự - tả thực;
Hỏa lò ai cũng có riêng rồi,
Nhỏ nhỏ, to to mấy chiếc nồi;
N g u y ễ n D ă n g M ạ n h
Trang 27Cơm, nước, rau, canh, đun ưới nấu,
Suốt ngày khỏi lửa mãi không thôi.
(Sinh hoạt trong tù)Kết hợp những bài thơ mà Lê Hữu Mục gọi là
“phong cách đới tục” này lại, ta có thế hình dung được
r ấ t cụ t h ể , c h i t i ế t , nhtí x e m m ộ t CLiôn phim t à i liệu,
bộ m ặ t cua n h à tù và một p hầ n xã hội Trung Quốc hồi 1942, 1943
Nhưng có một loại sự th ật khác: ấy là diễn biến tư tưởng và tâm tr ạn g của tác giả khi một mình đối diện với thiên nhiên hay với bản thân mình Đối với sự thật này, t ất nhiên phải dùng lối thơ hướng nội, bút pháp trữ tình - một thứ nh ậ t ký tâm sự, nh ật ký tư tưởng Kết hợp những bài này lại, ta lại được chiêm ngưỡng một bức chân dung tinh t h ầ n tự họa rất rõ nét và sinh động của nhà thơ
ơ loại bài thứ nhất, người ta thấy, trong nhà thơ Hồ Chí Minh, có nhà báo Nguyễn Ai Quốc hết sức sắc sảo trong bút pháp ký sự, phóng sự và nghệ thuật mỉa mai, châm biếm
ơ loại bài thứ hai, ta thấy ở nhà thơ cách mạng, sự tiếp nối truyền thông thi ca lâu đời của phương Đông, của dân tộc, từ Lý Bạch, Đỗ Phủ đến Nguvễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyền Du, Nguyễn Khuyến v.v
Q uan H oa - T h án g 5 - 1996
Q u a n d i e m V (1 p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
Trang 29VÀI SUY NGHĨ NHỎ
VỀ TưTƯỞNG MỸ HỌC
HỒ CH Í MINH QUÃ SÁNG TÁC THƠ
Nghiên cứu quan điểm nghệ thuật, tư tưởng mỹ học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, láu nay một sô" công trình có thiên hướng đơn giản hóa những ý kiến của Người Một trong những biểu hiện của thiên hướng ấy là nhập làm một quan điểm của Bác về tuyên truyền chính trị với những ý kiến của Người về văn chương nghệ thuật Thực
ra Người đã có phân biệt khá rõ Trong một bức thư trả lời tác giả một bài luận văn chính trị mà Bác góp ý phê
bình, Người viết; “ỏ n g nói, phải giúp đỡ đồng bào ta
làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lâu rồi họ cũng sẽ hiểu Có th ể lăm ngơ như vậy dược, nếu ông ch ỉ nghĩ viết cho họ một tác phẩm văn học Còn nếu tác phẩm của ông lại dù n g d ể tuyêìì Iruyền thì dó phải là mçi tác phẩm ai đọc củng hiểu dược” ‘ Quan điểm này
hội, Hà Nội, 1980, tr 436.
Trang 30N g u v ễ n D ă n g Mạnh
rấ t tương ứng với hai loại văn và thơ của Người: có
những bài đúng là “ai dọc củng hiểu được”, nhưng không
ít bài khác (đặc biệt là Nhật kỷ trong lù) thì ngay cả
những nhà văn hóa uyên bác nh ấ t nhiều khi cũng phải thú nhận chưa lĩnh hội được thấu đáo
Nói về phía chủ quan của giới nghiên cứu thì như thế, nhưng nói về điều kiện khách quan thì nhà khoa học lại gặp phải khó khăn này về quan điểm nghệ thuật, hay nói rộng hơn, về tư tưởng mỹ học, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều khi không phát biếu trực tiếp dưới dạng lý luận và trên những văn bản chính thức Dưới dạng này, Người thường quan tâm nhiều hơn tới loại văn chính trị, đến nghệ thuật tuyên truyền Chẳng hạn, Người đặt câu
hỏi; “Viết cho ai?” và trả lời “Viết cho dại da số công
nông binh”K Nhưng ai nấy đều biết những bài thơ nghệ
t huật của Bác chủ yếu viết bằng chữ Hán, chắc không
hẳn nhằm vào những đôi tượng ấy Người lại nói: “Về
nội dung viết hài mà cAc cô, các chú gọi là “đề tà i”, thi tất cả những hài Bác viết chỉ có một “đề tài” Là: chông thực dân dế quốc, chống phong kiến dịa chủ, tuyên truyền
có nhiều tác phẩm của Người, n h ấ t là thơ, không phải
chi viết về “một đề tà i” ấy ớ trường hợp này, nếu người bình thơ cứ máy móc quy vào nội dung “chống d ế quốc
phong k iế n ” tất không tránh khỏi làm nghèo nàn tác
phẩm và tư tưởng t h ẩm mỹ thể hiện trong ấy Hãy lấy
một ví dụ trong nhiều ví dụ: trong N h ậ t ký trong tù, có
một bài thư Ihuộc loại sâu sắc và độc đáo n h ấ t của Bác,
bài Cảnh chiều hôm (Vãn cảnh):
1 Trích theo Tống tập văn học Việt Narn, tậ p 36, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1980, tr 436.
2 vễ công lác văn hóa nghệ thuật Nxb Sự th ậ t, 1971, tr 49.
Trang 31Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng
Hoa tàn, hoa nở củng ưô tình,
Hương hoa bay thấu vào trong ngục
Kể với tù nhân nỗi bất binh.
Bình giảng bài thơ này, người ta thường quy sự “bất
b ĩn h ” của hương hoa nhằm vào chế độ đen tối tàn bạo
của xã hội Trung Hoa dân quốc Xã hội â'y vì “ưô tìn h ”
với cái đẹp nên đã kích động nỗi bất bình kia của hương hoa Nhà thơ Xuân Diệu từng t r ăn trở hàng chục năm trời về bài thơ này, cuối cùng đã nhận ra tư tưởng đích thực của tác phẩm trong một bài viết cuối cùng của
mình về thơ Bác; “Theo cháu nghĩ, dâu có phải chỉ Là
thiên hạ vô tình, mà hơn nữa kia, tạo hóa vô tình ( ) các lớp hoa hồng nở rụng, rụng nở, tạo hóa vẫn cứ vô tình, chi có tạo hóa vô tin h ” \ Người bình thơ không nói gì
đến chữ nghĩa của Bác, nhưng thực đã hiểu đúng chữ nghĩa của Người:
Mai khôi hoa khai, hoa hựu tạ
Hoa khai hoa tạ, lưỡng ưô tình
Chĩ có thể hiểu là “Hoa hồng nở, hoa hồng lại tà n ” Hoa nư, hoa tàn hai cái “sự ” đó đều “vô tìn h ” Vậy là
trời đất vô tình, tạo hóa vô tình, đúng là như thế Như
vậy là bài thơ đề cập đến số phận mong manh của cái
đẹp ở đời, một đề tài vĩnh cửu của thơ ca n hâ n loại Nội dung tác phẩm là nỗi bất bình r ấ t thi sĩ của hương hoa
và tấL nhiôn cũng là của nhà thơ mà những tâm hồn ít thiết tha với cái đẹp không thể nào hiểu được Vì t hế hương hoa đã bay vào trong ngục để tỏ nỗi bất bình với
Q u a n d i e m v à p h ư ơ n g p h á p n g h i ê n cứu
1 Trong bài Yêu thơ Bác, Tạp chi Văn học, th á n g 5-1966.
Trang 32Hồ Chí Minh sao?
Tóm lại, nghiên cứu quan điểm nghệ thuật, tư tưởng
mỹ học Hồ Chí Minh n hấ t thiết phải tìm hiểu cả những sáng tác văn chương của Người nữa, đặc biệt là sáng tác thơ, mà đây có lẽ mới là căn cứ quan trọng nhất
Trong N h ậ t ký trong tù có bài thơ Buổi trưa (Ngọ):
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa,
Một giấc miên man suốt mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng lén thượng giới,
Tính ra trong ngục vẫn nằm trơ.
Hiông thế’ hiểu đúng tinh thần bài thơ này nếu không chú ý đôn sắc thái mỉa mai tự trào của nó Tât nhiên Bác Hồ khao k há t tự do hơn ai hết, nhưng không hề
muốn “cỉ/ỡỉ rồng bay lên trài” Bài thơ tự trào t h ậ t chua
chát cay đắng, nhưng không hề có tinh th ần thoát tục
Trang 33Quan d iê m V (1 p h ư ơ n g p h á p ìiịỉhiên cứu
Ta liên tưởng tới lời phát biêu của tác giả nhân dự một cuộc triển lãm hội họa tại thủ đô ngay sau Cách mạng
tháng Tám (7-10-1945); “Nhữỉìg bức tranh này tỏ ra các
nghệ sỉ của ta lâu nay đều cô gắng tìm một con dường di Nhưng tiếc một điểu ỉà không muốn đi dưới đât mà cứ muốn vụt lẽn trời í ) Thật là một thế giới tiên! Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tăn, nhà uăn hào cách mạnq Trung Hoa đã nói ở đâu một câu đại ý th ế này
“Người trần lên tién có lẽ củng thích thật Nìiưnq nhìn thấy mãi cái dẹp không thay dổi rồi củng thấy chán nản, nhạt nhẽo mà mới biết rằng: muốn tìm thấy sự thay đổi,
sự ham niê thật, phải trở vể với cuộc sinh hoạt thực tại của con người”
Như vậy, đôi với Bác Hồ, cái đẹp là cuộc sống thực tại trên mặt đcít nảy, cuộc sông luôn luôn vận động, biến đổi và đầy say mê của con người trong cõi đời trần tục này
Tập thơ Nhật ký trong tù có thể xem như một minh
chứng tiêu biểu cho quan điểm mỹ học đó Hơn trăm bài thơ, tuy có đủ cả phong hoa tuyết nguyệt, nhưng đều gắn
ch ặt với m ặ t đ ấ t-đ ầ y bụi bặm này Dưới n gòi bút của
Người, hiện ra cả một nhân loại lam lũ, đói khát, rách rưới, thuộc những tầng lớp dưới đáy của xã hội Trung Quốc cũ Cuộc sống của họ tuy đầy bất hạnh, nhưng là cuộc sống thực với mọi nỗi vui buồn sướng khổ, những lo toan những ham muốn nhiều khi tầm thường vặt vãnh nhưng không có chúng Ihì cũng không có cuộc sống thực tại này Một nhân loại tuy bị đấy vào bóng tối nhưng vẫn khát khao ánh sáng, tuy chịu nhiều đau khổ nhưng
1 VỀ côiìịi túc văn hỏa ììííhộ thuật, Sđd, tr.69.
Trang 34không phải không có niềm vui ơ những con người rất đỗi bình dị này, dường như có sông là có vui, được chia
sẻ với nhau nỗi khố thì cái khổ cũng vơi đi một phần Vì thê sinh hoạt trong tù cũng có lúc tưng bừng tiếng cười, tiếng hát:
Cơm xong, hóng đã xuống trầm trầm
Vang tiếng đàn ca rộn khúc ngâm
N hà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối
Bỗng thành nhạc quán viện hàn lãm.
(Chiều hôm)Trong cái thế giới cùng khổ nhưng sống động ấy, nổi
bậ t lên hình tượng người tù vĩ đại Hồ Chí Minh, một tâm hồn, dù trong bất cứ tình huống nào, cũng hướng
t hẳ ng về sự sông, ánh sáng và tương lai Người nhìn cảnh đông tàn như chuẩn bị cho mùa xuân tươi tốt, nhìn nỗi khổ như chuẩn bị cho niềm vui, nhìn đêm tôì như chuẩn bị cho bình minh rực rỡ
Tinh thần hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai tạo nên ở nhiều thi phẩm của Người quy luật vận động hết sức khỏe khoắn của mạch thơ, tứ thơ dẫn đến những bất ngờ thú vị Có thể gọi đó là những tứ thơ chiến thắng hoàn cảnh, cải tạo tình thế rất độc đáo của Hồ Chí Minh:
Đáp thuyền thẳng tới huyện ưng Ninh,
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình,
Làng xóm ưen sông đông đúc thế,
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.
(Giữa đường đáp thuyền đi ư n g Ninh)Hai câu thơ trên là hình ảnh người tù chịu khổ hình Hai câu dưới bỗng đột ngột chuyển t h à n h một thi sĩ
N g u y ễ n D ă n g M ạ n h
Trang 35đang ung dung ngoạn cảnh trên một chiếc du thuyền
Cái ung dung mà Xuân Diệu gọi là “đến mức thần
t h á n h ” ' thực ra là sự vận động đột ngột của hồn thơ Hồ
Chí Minh bắt gặp cảnh sinh hoạt đông vui của nhân dân
nơi ven sông: “Làng xóm ven sông đông đúc th ế ”.
Sự vận động của hồn thơ ấy hướng về sự sống, ánh
sáng và tương lai, còn cảm động hơn nữa trong bài Đêm
ngủ ở Long Tuyền (Dạ túc Long Tuyền):
“Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân,
Món “gà năm uỊ” tối thường ăn
Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh,
Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần.
Không nên hiểu nỗi mừng ở đây chỉ là được thoát khỏi một đêm dài bị muỗi rệp, rét mướt h à n h hạ Bài thơ từ giọng hài hước chua chát, đến câu kết thúc, bỗng
chuyển sa n g g iọ n g trữ tìn h tươi m át, trẻ trung khi n h à
thơ lắng nghe đâu đây có tiếng chim oanh t h á n h thót
Ôi, phải hiểu, trong hệ thống ước lệ của cổ thi, oanh vàng và liễu biếc là tiếng nói tiêu biểu của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, mới thấy biết bao chất sống và niềm vui xốn xang trong câu thơ vút lên từ ngục tôì này
Đã coi cái đẹp là sự sông, chất thơ là chất sống đầy tính năng động, thì người nghệ sĩ t ấ t nhiên không chịu
để cho bất cứ một khuôn phép văn chương cứng nhắc
■ nào ếp buộc Điều đó giải thích một nét độc đáo của thi pháp Nguyễn Ái Quôc - Hồ Chí Minh, trong văn xuôi cũng như trong thơ: khuynh hướng phá cách táo bạo về mặt thế loại Ngày nay các nhà nghiên cứu phê bình
Q u a n d ie m V(1 p h ư ư n g p h á p n g h iê n cứu
1 Yêu tha Bác, Sđd.
Trang 36NịỊuyễn D ă n g M ạ n h
thường nói đến những cách tân mới me cúa văn chiKíng
h iệ n đại: yếu t ố huyen thoại, huyền ảo trong ticu th u yết
hiện thực, thế truyện viễn tưởng khoa học, dự báo tương lai, sự xâm nhập vào các thế văn hư câu những thể văn
tư liệu hay chính luận, triết luận, v.v Tất cả những yếu
tố cách tân ấy dường như đều có thể tìm thấy trong những truyện ký của Nguyễn Ái Quốc ra đời những năm
20 của thế kỷ XX: Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi
hành, Những trò lố hay varen và Phan Bội Châu, Con người biết m ùi hun khói, v.ư Trong lĩnh vực thơ, tập
N hật ký trong tù cũng là một bằng chứng nổi bật, về
khía cạnh này của quan điểm thẩm mỹ Hồ Chí Minh: từ
đề tài, hệ thống ước lệ đến quy tắc truyền thông về bô
cục, về độ số của câu, của chữ v.v không gì có thế trói
buộc được cá tính sáng tạo của tác giả tập thơ tù Có người nói, Bác Hồ đứng cao hơn văn chựưng Có lẽ nên nói: Người quan niệm cuộc sống cao hơn nghệ thuật và thể hiện chân thật, sâu sắc cuộc sô'ng là thước đo chuẩn mực n hấ t của mọi hình thức văn chương
ơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tác phong sinh hoạt (ăn,
ở, y phục, đi đứng, giải trí, ứng xử với mọi người ) đến cách nói, cách viết, từ đường lối chính trị, quan niệm đạo đức đến tư tưởng thẩm mỹ, đều có một cái gì vừa rất mực cổ điển, r ấ t mực truyền thông, lại vừa hết sức hiện đại, thời đại
Đồng chí Trần Độ có một nhận xét thú vị: Bác Hồ, nhìn từ xa, thấy dáng đi t h ậ t thung dung n hà n nhà Nhưng khi tiếp cận và đi cùng với Người thì thấy Người
đi rất nhanh, nhiều khi phải chạy gằn mới theo kịp Ung dung nhàn nhã là cố điên, nhưng nhanh nhẹn, hoạt bát cũng có thể gọi là hiện đại chứ sao?
Trang 37Quan đ i ế m và phư<fnfỊ p h á p n g h i ê n cứu
Thơ cùa Người đại bộ phận viết bằng chữ Hán, màu sắc cô điến rất đậm nét Nhưng cổ điển mà không phải
cổ thi nghĩa là thoạt xem giô'ng cố' thi, dọc kỹ thấy không hắn thế Chỗ giông nhau là cảm hứng thiên nhiên phong phú, là sự hòa hợp giữa con người và tạo vật, là phong độ ung dung tự tại của nhân vật trữ tình, Nhưng chỗ khác nhau là ở tinh thần thép như Bác nói Có nghĩa ỉà không phải hình ảnh người quân tử khi xử thế, nhà hiền triết ẩn dật chốn lâm tuyền, mà là chiến sĩ hoạt động cải tạo thế giới:
Non xa xa, nước xa xa,
Nào phải thênh thang niới gọi là
Dây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xãy dựng ììiột sơn hà.
(Pắc Bó hùng vĩ)Một đặc điểm của cô thi là cảm quan phi thời gian: Nhà thơ thường một mình đối diện với vũ trụ bao la, thái độ ung dung như đứng hẳn ra ngoài thời cuộc nhiễu nhương, ra ngoài dòng chảy của thời gian Thơ Bác không
phải như thế Đọc Nhậl ìzý trong tù, thấy nhân vật trữ
tình Hồ Chí Minh, một mặt có cái tự do bên trong của con người hoàn toàn tự chủ vi biết mình đang đồng hành
với lịch sử trên từng bước đi tâ't yếu của nó, đồng thời
lại là một chiến sĩ cách mạng đầy nhiệt huyết bị giam cầm giữa lúc không khí sôi sục khẩn trương của phong trào giái phóng dân tộc, có cái tâm trạng nóng lòng sốt ruột đôn đau đớn Hình ánh Bác trong tập thơ tù không những khỏng phải con người đứng ngoài thời gian, mà trái lại sống cao độ từng giờ, từng phút Oi, có bao giờ trong mười bốn tháng bị giam cầm hồi ấy, Bác Hồ phải tính đếm thời gian, phái theo dõi từng chút quang âm
Trang 38N g u y ễ n D ă n g M ạnh
qua đi bên ngoài song sắt nhà lao một cách căng thẳng đến như thế? Một tâm trạng bồn chồn, khắc khoải thao thức, nhiều khi chuyển th ành bực bội, đổ là một nét tiêu
biểu n h ấ t trên bức chân dung tự h ọa của tác giả Nhật ký trong tù.
Về bút pháp, chỗ giống nhau giữa cổ thi và thơ Bác
là tính hàm súc cổ điển, là lôl chấm phá vài nét đơn sơ
mà rấ t đỗi tài hoa như muốn truyền được linh hồn của tạo vật Nhưng chỗ khác của thơ Bác, chỉ nói riêng tập
N hật ký trong tù, là sự xâm nhập mạnh mẽ của bút
pháp phóng sự, bút ký, của lối văn thông tin tư liệu, đem đến cho những vần thơ tứ tuyệt tính tự sự, tính tả thực ít thấy trong cổ thi
Tính thời đại trong thơ Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật nhất ở tinh thần dân chủ sâu sắc của nó Dân chủ trước hết là ở thi đề, thi tứ Một cái răng rụng, một cái gậy chông, một hàng cháo bên đường cũng th ành thơ
Người ta nói thơ Bác có đủ cả “mắm muối tương cà”
Điều ấy cần được hiếu theo cả nghĩa đen trần trụi của
nó Dân chủ ở quan điểm đổi mới hệ thống ước lệ của thơ ca cổ diển Thơ tỏ lòng, nói chí ngày xưa, nếu không
so sánh những bậc anh hùng, hào kiệt, những đấng hiền nhân quân tử với tùng cao, bách cả, cọp gió, rồng mây, thì cũng ví von với những mai, lan cúc, trúc Thơ Bác hoàn toàn không có những hình ảnh sang trọng đó Người lại thích.ví mình và người cách mạng với cái răng, cái gậy, với hạt gạo nhỏ bé, hiền lành, với cái cột cây số bên đường, với con gà gáy sáng Dân chủ còn ở giọng điệu, tình điệu của thơ Tập thơ có nội dung giáo dục to lớn, nhưng không hề lên giọng dạy đời Nhà thơ nếu cần nhắc nhở đến một bài học đạo lý nào thì chỉ là đế tự
khuyên mình (Tự miễn): “Ví không có cảnh dông tàn, thì
Trang 39Q uan d iê m Vfì p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
đ â u có cảnh huy hoàng này x u â n ” Tập thơ có đầy chất
thép, nhưng không thấy lên giọng thép, nghĩa là không
h ề d ù n g lối đại ngôn trá n g ngữ, cao g iọ n g lê n gân
Tinh thần dân chủ thể hiện sâu sắc n h ấ t ở bản chất của nhân vật trữ tình trong thơ Không phải con người
troiig cổ thi thường “đăng sơn ”, “dăng lâu”, “đăng cao” để
đối diện đàm tâm với càn khôn, vũ trụ, mà là con người sống giữa nhân quần đại chúng, chan hòa với những con nguừi bình thường nhất trong niềm vui nỗi khổ hàng ngày
Nhật ký trong tù có một bài thơ nói về bệnh ghẻ (Lại sang) Tôi ngờ đây là bài thơ duy nhất trong vãn chương
Đông Tây kim cổ viết về cái đề tài rất ít thi vị này:
Đầy mình đỏ tím như hoa gấm
Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn
Mặc gấm, hạn tù đều khách quý
Gảy dàn, trong ngục thảy tri âm.
Bài thơ có giọng đùa vui thoải mái giông như nhiều bài thơ khác của Bác Hồ Qua tiếng cười rấ t đỗi hồn nhiên ấy, nhà thơ như muốn nói điều này: Hồ Chí Mình cũng chẳng phải có xương cốt đặc biệt gì, da thịt Hồ Chí Minh cũng như da thịt mọi người vậy thôi, bẩn thì ghẻ, ghẻ thì phải gãi và gãi ghẻ cùng có cái thú vị riêng của
nó Cả một nhà lao cùng gãi ghẻ thì t h ậ t là hiểu nhau
vô cùng, th ật là “tri ăm tri k ỷ ” kém gì Bá Nha với Tử Kỳ
ngày trước Có ai đã nói rất đúng rằng, Bác Hồ rấ t vĩ đại, nhưng điều vĩ đại nhất là Người không bao giờ coi mình là vĩ dại Đớ cỉiính là trường hựp bài thư này
Nói về tính truyền thống và tính thời đại trong tư tưởng mỹ học Hồ Chí Minh, có điều này r ấ t đáng chú ý;
ấy là hai phương diện đó dường như xuyên thấm vào nhau, khó lòng tách bạch ra được Nghĩa là nhìn mặt
Trang 40N g u y ề n D á n g M ạnh
này là cổ điển, nhìn mặL kia lại là hiện đại; nhìn mặt này là Lruyền thống sâu sắc, nhưng nhìn mặt khác lại thuộc về thời đại văn minh tiến bộ nhất Chẳng hạn, lôì viết giản dị, ngắn gọn của Người, gọi là tính hàm súc cỏ điến cũng được, gọi'là yêu cầu thông tin lớn trong một thông điệp tiết kiệm nhát của quan hộ giao tiếp giữa nhung con người thời đại phát triển rất cao của khoa
nghĩ đến một cái gì như là gốc rễ sâu xa trong quan niệm thâm mỹ của người Việt Nam trong mấy nghìn năin lịch sử: mộL dân tộc có nhiều thành tựu vĩ đại Irong công cuộc dựng nước, giữ nước: đẽ sông Hồng, chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điộn Bión Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh , nhưng về khuynh hướng thẩm mỹ dường như lại thích những gì nhỏ nhắn, xinh xắn: chùa Một Cột, cây trúc xinh, câu ca dao, tiếng đàn bầu Hay như cảm quan thiên nhiên đậm đà trong thư Bác cũng vậy Gọi là kế thừa cái thú lâm tuyền của người xu'a cũng được Nhưng đấy chẳng phải cũng là yêu cẩu bức bách cua nhản loại ngày nay đó sao, khi đứng trên những th ành tựu của sản xuâ't công nghiệp, lại khao k h á t được trở về với một môi trường thiên nhiên tươi tốt, trong lành đang có nguy cơ bị hủy diệt?
Xem sách chim rừng vào cửa dậu
Phê văn hoa núi í>'hé nghiện soi.
Khánq cìiién tìiành công ta trở lại
Trăng xưa hạc củ với xuân này.
Đó là hồn thơ cô điôn hay là ước mơ của thời đại?
Có ai đó nói rằng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là con người của nền văn hóa tương lai của nhân loại, điều
đó không phải không có căn cứ