VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THÀNH THÍCH ĐÀM THÀNH ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VIỆT N
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÀNH (THÍCH ĐÀM THÀNH)
ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ
(QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.03.09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Quốc Tuấn
2 PGS.TS Chu Văn Tuấn
HÀ NỘI -2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÀNH (THÍCH ĐÀM THÀNH)
ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ
(QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.03.09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Quốc Tuấn
2 PGS.TS Chu Văn Tuấn
HÀ NỘI -2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận án là trung thực Các kết luận khoa học của luận
án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thành (Thích Đàm Thành)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 01
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14
1.1 Tổng quan các nguồn tài liệu 14
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 17
1.3 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 31
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ 33
2.1 Quan điểm của Phật giáo về phụ nữ qua tam tạng kinh điển 33
2.2 Phật giáo và phụ nữ ở các tỉnh phía Bắc trong lịch sử 52
Chương 3: ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 70
3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam đối với phụ nữ 70
3.2 Ảnh hưởng của phụ nữ đối với Phật giáo Việt Nam 92
3.3 Hạn chế trong mối quan hệ giữa Phật giáo và phụ nữ các tỉnh phía Bắc hiện nay 110
Chương 4: XU HƯỚNG ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ, VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ 117
4.1 Xu hướng ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo và phụ nữ 117
4.2 Vấn đề đặt ra trong mối quan hệ giữa Phật giáo và phụ nữ hiện nay 127
4.3 Một số khuyến nghị 133
KẾT LUẬN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.2: Tương quan giữa tuổi của PN với mức độ đi lễ chùa 72 Bảng 3.3: Cảm giác tâm lý của PN sau mỗi khóa lễ PG 75 Bảng 3.4: Những điều được PN cầu mong khi đi lễ chùa 77 Bảng 3.5: Tương quan giữa mong cầu đi lễ chùa với độ tuổi của PN 79 Bảng 3.6: Các công việc PN giúp đỡ người khác khi khó khăn 82
Bảng 3.8: Thực hiện những hành vi theo lời răn dạy của PG 88 Bảng 3.9: Số tu sĩ PG ở một số tỉnh phía Bắc chia theo giới 93 Bảng 3.10: Các tổ chức có ni giới các tỉnh phía Bắc tham gia 95 Bảng 3.11: PN tham gia các công việc giúp nhà chùa 96 Bảng 3.12: Hình thức chia sẻ giáo lý PG của PN với người khác 98 Bảng 3.13: Hiệu quả tuyên truyền giáo lý PG của PN 100
Bảng 3.15: Những hình thức tổ chức từ thiện của PN 107 Bảng 3.16: Số tiền từ thiện xã hội của GHPGVN qua các nhiệm kỳ 107 Bảng 3.17: Những hành vi của PN khi lên chùa 111 Bảng 3.18: Mức độ hiểu giáo lý của PN qua phỏng vấn chư ni 112 Bảng 3.19: Đánh giá về mối quan hệ giữa tu sĩ và nữ Phật tử 113
Trang 7SƠ ĐỒ CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1 Độ tuổi của PN trong khảo sát xã hội học 10
Đồ thị 2 Nghề nghiệp của PN trong khảo sát xã hội học 11
Đồ thị 3.1 Mức độ đi lễ chùa phân theo các nhóm tuổi 73
Đồ thị 3.2 Tương quan giữa tuổi và mong cầu khi đi lễ chùa 80
Đồ thị 3.3 Đối tượng được PN chia sẻ về giáo lý Phật giáo 98
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi mới ra đời, Phật giáo (PG) đã mong muốn đem lại sự bình đẳng cho con người ở mọi tầng lớp và mọi giới tính khác nhau PG khẳng định, phụ nữ (PN) tu theo Phật pháp hoàn toàn có thể giác ngộ chân lý và được giải thoát Sau khi Đức Phật nhập diệt, PG đã truyền đi muôn nơi, tinh thần bình đẳng và giáo lý của Ngài vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy
PG vào Việt Nam (VN) đến nay được hơn hai nghìn năm Để tồn tại và phát triển, PG đã hòa nhập với nền văn hóa VN, đồng hành cùng dân tộc
Điều đó khiến PG từ một tôn giáo ngoại sinh trở thành một tôn giáo truyền thống của người VN - Phật giáo Việt Nam (PGVN) Trong quá trình phát triển ấy, PG đã tác động tới rất nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt
là PN Ngay buổi đầu, PG đã gần gũi và hòa quyện cùng tín ngưỡng lúa nước vốn trọng tính âm của người Việt Trong thời kỳ phong kiến, PG đã góp phần làm mềm hóa những quy định khắt khe của Nho giáo đối với PN Từ lâu, ngôi chùa đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo cho PNVN Về phần mình, PN là thành phần tín đồ đông đảo nhất, do đó cũng đóng góp rất nhiều cho PG Sự tồn tại và phát triển PG ở VN trong lịch sử cũng như trong hiện tại không thể không nhắc tới vai trò của PN
Quá trình tác động qua lại giữa PG và PNVN đã để lại những dấu ấn sâu sắc đối với cả hai thực thể này, thể hiện rõ nhất ở khu vực phía Bắc VN (từ đây viết tắt là phía Bắc) Từ thế kỷ II, Luy Lâu (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh)
đã trở thành một trung tâm PG lớn của cả nước PG đã gắn liền với sinh hoạt làng xã cổ truyền của người Việt phía Bắc ngay từ đó tới nay Ngôi chùa cùng với ngôi đình đã tạo thành những không gian sinh hoạt văn hoá, tôn giáo không thể thiếu của làng Việt truyền thống phía Bắc Nếu ngôi đình là nơi
Trang 9sinh hoạt tín ngưỡng chủ yếu của đàn ông, thì ngôi chùa là địa chỉ sinh hoạt tôn giáo chủ yếu của PN
Tuy nhiên, sự tác động qua lại của PG và PN phía Bắc cũng có độ đậm nhạt theo các khu vực và tộc người Cách thức và phương hướng hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) hiện nay chưa thực sự chú trọng cũng như chưa thực sự chủ động đối với PN miền núi, nhất là PN dân tộc thiểu số Hơn nữa, mối quan hệ biện chứng giữa PG và PN không chỉ hoàn toàn tích cực, mà còn có một số hạn chế Không ít PN lợi dụng PG để buôn thần bán thánh, hoạt động mê tín, cầu lợi ích cá nhân, ảnh hưởng không tốt tới PGVN Một số người lợi dụng lòng tin của PN để làm những việc trái với giáo lý Phật Đà
Do vậy, nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa PG và PN phía Bắc hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị góp phần phát huy mặt tích cực
và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ này có tính cấp thiết, có giá trị về
lý luận và thực tiễn; không chỉ góp phần xây dựng GHPGVN phát triển bền vững, thực hiện tốt phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”
trong giai đoạn mới, mà còn đáp ứng tốt hơn nữa một trong những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam là chú trọng phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài Ảnh hưởng
qua lại giữa Phật giáo và phụ nữ (qua nghiên cứu một số tỉnh phía Bắc Việt Nam hiện nay) làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ cở hệ thống hoá những điểm cơ bản của mối quan hệ giữa PG
và PN trong giáo lý PG, luận án làm rõ ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN qua
Trang 10một số tỉnh phía Bắc hiện nay Từ đó, luận án dự báo xu hướng của mối quan
hệ này, rút ra những vấn đề cần quan tâm và bước đầu đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ giữa PG và PN hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, phân tích có hệ thống cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn mối
quan hệ qua lại giữa PG và PN
Hai là, làm rõ thực trạng và vấn đề đặt ra của sự ảnh hưởng qua lại giữa
PGVN và PNVN qua khảo sát thực tế ở một số tỉnh phía Bắc hiện nay
Ba là, dự báo xu hướng, từ đó bước đầu đề xuất một số khuyến nghị
nhằm phát huy mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ giữa
PG và PN phía Bắc thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng ảnh hưởng qua lại giữa PGVN và PNVN trên các mặt: đời sống tôn giáo, đạo đức lối sống của PN;
hoạt động hoằng pháp, hoạt động từ thiện xã hội của PG
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 1981 (năm thành lập GHPGVN) đến nay
- Địa bàn nghiên cứu: một số tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh, Tuyên Quang và Hưng Yên
4 Khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Khung lý thuyết của luận án
4.1.1.Câu hỏi nghiên cứu:
Thứ nhất, giáo lý PG quan niệm như thế nào về vị trí và vai trò của PN?
Trang 11Thứ hai, mối quan hệ giữa PG và PN trong lịch sử VN đã diễn ra như
thế nào?
Thứ ba, thực trạng ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN ở một số tỉnh phía
Bắc nước ta hiện nay ra sao?
Thứ tư, sự ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN ở các tỉnh phía Bắc trong
thời gian tới sẽ diễn ra theo xu hướng nào? Quá trình tương tác ấy đặt ra cho
cả phía GHPGVN và phía Nhà nước VN những vấn đề gì đáng quan tâm cần giải quyết?
4.1.2 Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết thứ nhất: PN là một trong bốn thành phần của tổ chức PG
(tứ chúng) Tuy nhiên, theo kinh điển PG, PN phải chấp nhận vị trí thấp hơn nam giới, cho dù trong xã hội hiện đại, PN ngày càng thể hiện vai trò quan trọng đối với sự nghiệp hoằng dương Phật pháp
Giả thuyết thứ hai: Mối quan hệ giữa PG và PN trong lịch sử PG Bắc
tông ở VN diễn ra khăng khít PN cung cấp cho PG nhiều nhà tu hành tiêu biểu, định hình đặc trưng PGVN PG là chỗ dựa tinh thần quan trọng cho một
bộ phận không nhỏ PN
Giả thuyết thứ ba: Mối quan hệ giữa PG và PN ở một số tỉnh phía Bắc
hiện nay thể hiện hai chiều Trong đó, PG tác động đến đời sống tinh thần, đạo đức, lối sống của PN Ngược lại, PN tác động đến PG bằng việc hỗ trợ hoằng truyền Phật pháp, thực hành các nghi thức và nghi lễ PG, hỗ trợ các dịch vụ công do GHPGVN thực hiện
Giả thuyết thứ tư: Trong thời gian tới, ảnh hưởng qua lại giữa PG và
PN ở khu vực phía Bắc sẽ diễn ra theo nhiều xu hướng, cả những mặt tích cực
và những mặt hạn chế
4.1.3 Lý thuyết nghiên cứu
Trang 12Lý thuyết chức năng
Lý thuyết chức năng ra đời từ cuối thế kỉ XIX, gắn liền với tên tuổi của nhà xã hội học danh tiếng người Pháp là E Durkheim (1858-1917) Lý thuyết này muốn kiểm chứng giá trị của bất kỳ một hành vi mang tính ý thức bằng giá trị của nó cống hiến cho con người và xã hội
E Durkheim là nhà khoa học đầu tiên coi tôn giáo là một sự kiện xã hội Theo ông, cơ sở của tình cảm tôn giáo bắt nguồn từ kinh nghiệm xã hội
và mạng lưới quan hệ xã hội Mỗi tôn giáo gắn với một kiểu quan hệ xã hội nhất định Bản thân tôn giáo với các yếu tố như nghi lễ, cộng đồng và vật thiêng mang tính xã hội, tạo ra sự cố kết xã hội mạnh mẽ
Quan điểm của E Durkheim tiếp tục được các nhà chức năng luận vận dụng vào nghiên cứu tôn giáo như Radcliffe Brown, Kingsley Davis, Milton Yinger Các nhà xã hội học này chủ trương tìm hiểu chức năng tôn giáo quan trọng hơn việc tìm hiểu nguồn gốc tôn giáo và niềm tin tôn giáo Vì chỉ có thể hiểu được niềm tin tôn giáo thông qua những hành vi tôn giáo và chức năng tôn giáo Ngoài chức năng cố kết xã hội, các nhà chức năng luận còn cho rằng, tôn giáo đem lại cho con người một sự đền bù về mặt tâm lý nhờ niềm tin vào sự thưởng phạt của lực lượng siêu nhiên Nghi lễ tôn giáo thực hiện chức năng duy trì niềm tin vào thế giới hư cấu ấy Thậm chí, vào những thời điểm khủng hoảng trong cuộc sống, tôn giáo còn giúp con người lấy lại cân
bằng [69, tr.20-23]
Luận án vận dụng lý thuyết chức năng vào nghiên cứu vai trò của PG đối với các mặt đời sống của PN ở một số tỉnh phía Bắc, trong đó chú trọng đến chức năng đền bù đối với đời sống tinh thần của PN, cũng lưu ý tới tính
cố kết, tương trợ giữa những PN tin theo PG và giữa họ đối với nhóm bên ngoài xã hội Lý thuyết chức năng cũng được luận án vận dụng nghiên cứu niềm tin của PN đối với PG thông qua việc tìm hiểu thực hành PG của họ
Trang 13Lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý
Lý thuyết trao đổi có nguồn gốc từ những người theo tư duy thực dụng chủ nghĩa trong triết học thập niên đầu thế kỷ XIX Hai khái niệm cơ bản của
lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý là “chi phí” và “phần thưởng” có hàm nghĩa “được” - “mất”, “lợi” - “hại”, “hơn” - “thiệt”
Lý thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng, con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý, nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ
“lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu, trong số những điều kiện hay cách thức hiện có, để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm về các nguồn lực Phạm vi của mục đích ở đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi lời, lợi nhuận, thu nhập), mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần
Ban đầu, lý thuyết trao đổi dựa chủ yếu trên cách tiếp cận vị lợi Sau
đó, lý thuyết này được hai nhà nhân học/ dân tộc học nổi tiếng là James G
Frazer và Bronislaw Kasper Malinowski cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển ra ngoài kinh tế học
Lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý trong lĩnh vực tôn giáo xem sự trao đổi không phải bao hàm ý niệm lợi ích kinh tế mà dựa vào ý niệm trao tặng Sự trao đổi trong tôn giáo chủ yếu để nhận lại những tri thức và những nguồn tượng trưng có tính nhận thức và tình cảm [101, tr.78-79] Nói cách khác, thực tế cuộc sống của con người có những sự tước đoạt hoặc có những cái con người ao ước mà không thể được thỏa mãn bằng các phương tiện thế tục Vì thế, tôn giáo là một nỗ lực để đảm bảo các phần thưởng cho con người
ao ước khi thiếu vắng các phương tiện lựa chọn Lý thuyết trao đổi chỉ ra mối quan hệ giữa cái được và cái mất mà tôn giáo đem lại cho con người Trong
Trang 14quá trình trao đổi này, các tu sĩ và tổ chức tôn giáo đóng vai trò trung gian giữa người có niềm tin tôn giáo và quyền lực siêu nhiên (đối tượng được tin)
Nhìn chung, lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý trong nghiên cứu tôn giáo cho rằng, con người khi tham gia vào tôn giáo có nghĩa họ tham gia vào một quá trình trao đổi Trong thực tế, sự trao đổi này không hẳn là sự trao đổi vật chất, mà là sự trao đổi có tính tượng trưng Khi tham gia quá trình trao đổi
đó, cái mất (chi phí) của con người có thể nhìn thấy được cái được (phần thưởng) thường vô hình, như sự động viên, niềm tin, cảm giác thanh thản sau khi tham gia nghi lễ tôn giáo hay hoạt động tôn giáo [69, tr.29-31]
Luận án vận dụng lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý vào nghiên cứu giá trị và ảnh hưởng PG đối với đời sống của PN Đấy có thể xem như “phần thưởng” của PG để bù lại sự đóng góp của PN (chi phí) đối với PG qua các hoạt động cụ thể của họ như đi lễ chùa, làm từ thiện Ngược lại, khi được thoả mãn nhu cầu, PN sẽ tích cực đóng góp hơn nữa cho sự phát triển của PG Từ
đó, lý thuyết này góp phần giải thích sự ảnh hưởng của PN đối với PG và PG đối với PN, vì cả hai đều nhận ra những giá trị và sự cần thiết đối với nhau
Cần nói thêm, “chi phí” có thể nhìn thấy được bằng hiện vật, nhưng
“phần thưởng” của PG đem lại cho PN thường mang tính chất tượng trưng Vì
sự trao lại của tôn giáo đối với người tin thường mang tính nhận thức và tình cảm Nhưng không phải vì thế mà đó là “phần thưởng hư ảo” Bởi vì, chính
sự đáp ứng về nhận thức tôn giáo, tình cảm tôn giáo và niềm tin tôn giáo sẽ tác động tới những hành vi và đời sống của PN
Lý thuyết tương tác xã hội
Tương tác xã hội là tác động qua lại giữa các cá nhân, các cộng đồng với tư cách chủ thể trong xã hội Trong xã hội học, mỗi hoạt động có mục đích của con người chỉ trở thành hoạt động xã hội khi nó trở thành chủ thể hoạt động và thông qua các mối quan hệ đó Đồng thời, mỗi quan hệ đều gắn liền với một hoạt động nhất định Sự tương tác xã hội tồn tại trong sự tác
Trang 15động qua lại của mỗi hiện tượng, quá trình hay hệ thống xã hội nói lên những mối quan hệ trong hiện thực Tương tác xã hội có đặc điểm chính sau đây:
Một là, con người cũng như các đoàn thể luôn luôn có các mối tương
quan, tác động lẫn nhau qua nhiều cách, nhiều dạng trong đời sống xã hội Vì thế, xã hội luôn là một hệ thống tương quan mà trong đó chúng ta tác động với nhau trong môi trường rộng lớn và phức tạp
Hai là, tương tác chỉ mối tương quan biện chứng và tác động tương hỗ
giữa những con người trong xã hội Sự tương tác này ít nhất diễn ra giữa hai
cá nhân và mức độ tương tác phụ thuộc vào vị trí xã hội, vai trò xã hội cũng như diễn tiến xã hội
Ba là, sự tương tác nào có mối liên hệ với các khuôn mẫu, tác phong,
luôn hiện hữu, có thể nhận biết được lặp đi lặp lại và có ảnh hưởng tương hỗ, trong đó hai hoặc nhiều người cùng thực hiện các quan hệ xã hội của họ
Bốn là, tương tác xã hội là hành động xã hội liên tục - hành động đáp
lại của một chủ thể này với một chủ thể khác trên hai cấp độ: vĩ mô và vi mô
Năm là, trong quá trình tương tác, mỗi người hoặc mỗi nhóm vừa là
chủ thể, vừa là khách thể và đều chịu ảnh hưởng của các giá trị chuẩn mực xã hội, của những tiểu văn hoá, thậm chí phần văn hoá khác nhau
Sáu là, trong tương tác, mỗi người đều chịu những lực tương tác khác
nhau, có ý nghĩa khác nhau và đều có sự tác động khác nhau Như vậy, tương tác vừa tạo nên khuôn dáng của mỗi người, mỗi thực thể xã hội vừa tạo nên
sự hợp tác và bất hợp tác [69, tr.59-61]
Sự tương tác vừa hợp tác vừa bất hợp tác thường tạo ra nhóm tương tác tích cực và nhóm tương tác cạnh tranh Trong đó, nhóm tương tác tích cực thường chỉ đóng góp của quá trình tương tác đối với sự phát triển của hai chủ thể tham gia tương tác Còn nhóm tương tác cạnh tranh thường chứa đựng những tương tác mang tính tiêu cực, phá hoại, đối kháng
Trang 16Luận án vận dụng lý thuyết tương tác xã hội để nghiên cứu sự ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN ở một số tỉnh phía Bắc hiện nay Đó không chỉ
là quá trình ảnh hưởng qua lại, mà còn là những đặc điểm chứng tỏ PG chịu
sự tác động của PN và ngược lại Quá trình ảnh hưởng giữa PG và PN không chỉ tạo ra những sự hợp tác thúc đẩy nhau cùng phát triển, mà còn tạo ra những xung đột bất hợp tác
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sẽ vận dụng cách nhìn này vào việc giải thích các vấn đề liên quan đến nguồn gốc ảnh hưởng của PG và PN ở phía Bắc hiện nay
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.2.1 Phương pháp khảo sát định lượng và định tính
Nhằm phân tích thực trạng ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN phía Bắc
VN hiện nay, luận án áp dụng các phương pháp khảo sát định lượng, khảo sát định tính và quan sát tham dự Cụ thể:
Về phương pháp định lượng: Bảng hỏi phỏng vấn định lượng được chia
ra làm hai loại: một loại dành cho PN và một loại dành cho nữ tu sĩ PG (ni giới) Nội dung bảng hỏi chủ yếu khảo sát hành vi đi lễ chùa của PN; đóng góp của PN đối với hoạt động từ thiện, hoạt động hoằng pháp; thực trạng PG
ở vùng sâu vùng xa, mong muốn để PN đóng góp nhiều hơn cho PG
Trang 17Mẫu khảo sát được thu thập theo cách ngẫu nhiên Cách thức lấy mẫu tại ngôi chùa, phỏng vấn PN đến chùa tham dự các sinh hoạt PG Đối với ni giới, cách lấy mẫu cũng mang tính ngẫu nhiên, nhưng có tính đến tính đại diện theo tỉ lệ ni/ tăng của từng địa bàn nghiên cứu
Đối tượng thứ nhất là PN tham gia sinh hoạt PG nhưng chưa phải là tu
sĩ PG Với đối tượng này, cơ cấu độ tuổi được chia thành 3 nhóm: thanh niên, trung niên và cao tuổi, cụ thể: thanh niên (18-35 tuổi) chiếm 29,8%, trung niên (36-55 tuổi) chiếm 46,0%, cao tuổi (từ 56 tuổi trở lên) chiếm 24,2%
Mẫu khảo sát được phân chia theo các vùng: đồng bằng, trung du và miền núi; cả thành thị lẫn nông thôn, trong đó, thành thị chiếm 43,3%, nông thôn chiếm 56,7%)
Đồ thị 1: Cơ cấu tuổi của mẫu khảo sát
(Nguồn khảo sát của luận án)
Cơ cấu nghề nghiệp của nhóm PN được luận án khảo sát khá đa dạng, bao gồm: nông dân, công nhân, một số nghề nghiệp khác, trong đó nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất, kế đến là công nhân, buôn bán và các ngành nghề lao động khác
Trang 18Đồ thị 2 Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu khảo sát
0 5 10 15 20 25 30 35 40
chức/viên chức
Sau khi phỏng vấn, phiếu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS
Về phương pháp định tính: Luận án tiến hành phỏng vấn sâu đối với 20
nữ Phật tử và 10 nữ tu sĩ PG
4.2.2.2 Phương pháp quan sát tham dự
Quan sát tham dự tạo điều kiện cho người nghiên cứu vừa nhập vai đối tượng nghiên cứu vừa đảm bảo được chủ thể nghiên cứu Việc điều tra thực địa, thâm nhập và trải nghiệm cuộc sống cùng với đối tượng nghiên cứu mang lại những kiến thức thực tiễn vô cùng lý thú để có thể luận giải chính xác các vấn đề nghiên cứu
Trang 19Áp dụng phương pháp này, tác giả luận án đã trải nghiệm cùng với những sinh hoạt PG của PN và nữ tu sĩ PG Qua đó, tác giả luận án hiểu biết sâu sắc hơn mối quan hệ giữa PG và PN
4.2.2.3 Các phương pháp khác
Ngoài các phương pháp nêu trên, luận án còn sử dụng các phương pháp thống kê, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, nghiên cứu tài liệu thứ cấp
5 Đóng góp về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mối
quan hệ giữa PN và PG Về cơ sở lý luận, luận án đã hệ thống hóa những quan điểm của kinh điển PG đối với PN Về cơ sở thực tiễn, luận án nêu bật mối hệ giữa PG và PN ở miền Bắc, cho thấy cơ sở sâu xa của mối quan hệ này xuất phát từ cơ sở hạ tầng xã hội và tồn tại xã hội VN trong lịch sử
Thứ hai, luận án làm rõ mối quan hệ giữa PG và PN phía Bắc nước ta
Mối quan hệ này thể hiện hai chiều là ảnh hưởng của PG tới PN và từ PN tới
PG, thể hiện trên nhiều phương diện như đời sống tinh thần, đạo đức lối sống, dịch vụ công, truyền giáo và xây dựng tổ chức giáo hội
Thứ ba, luận án chú trọng phân tích những vấn đề đặt ra, dự báo xu
hướng mối quan hệ giữa PG và PN, từ đó bước đầu đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực cũng như khắc phục mặt hạn chế của mối quan hệ này trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Thứ nhất, Việc nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN
ở một số tỉnh thành phía Bắc góp phần phát triển các nghiên cứu thực tiễn của ngành Tôn giáo học ở VN hiện nay về phương diện đánh giá sự tương tác giữa thực thể tôn giáo đối với các thực thể khác trong xã hội
Trang 20Thứ hai, Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và
giảng dạy về tôn giáo học và một số ngành khoa học xã hội và nhân văn khác
Đồng thời, kết quả luận án còn đóng góp luận cứ cho việc tăng cường hiệu quả hoạt động Phật sự của GHPGVN và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án được chia thành 4 chương, 11 tiết và tiểu kết các chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của mối quan hệ giữa Phật giáo
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các nguồn tài liệu
1.1.1 Các bộ kinh sách của Phật giáo
Kinh sách của PG đề cập tới quan điểm PG về PN có một số bộ Kinh,
Luận và Luật tiêu biểu sau đây: Kinh Tăng Chi, Tập I (Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1996); Kinh
Tăng Chi, Tập II ( Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật
học Việt Nam ấn hành, 1996); Kinh Tăng Chi, Tập III ( Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1996); Kinh
Tăng Chi, Tập IV ( Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật
học Việt Nam ấn hành, 1996); Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ( Hòa thượng Thích Tuệ Hải dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005); Trường A Hàm – Kinh Thiện
Sinh (Thích Tuệ Sỹ dịch và chú giải, Nxb Phương Đông, 2007); Cương yếu giới luật (Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm, Ni Trưởng Thích Nữ Tuệ Đăng
dịch, Nxb Thời đại, 2010); Luận Đại Trí Độ, Tập I ( Hòa thượng Thích Thiện
Siêu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1997)
Những kinh sách trên là cơ sở nền tảng để tác giả luận án hiểu rõ hơn quan điểm của PG về PN Điều này rất cần thiết bởi chỉ khi hiểu rõ quan điểm của PG về PN mới cho phép tác giả lý giải sâu sắc hơn ảnh hưởng của PG tới
PN ở VN hiện nay
1.1.2 Các bộ sử Phật giáo Việt Nam
Về lịch sử PGVN có một số công trình tiêu biểu như: Lê Mạnh Thát
(1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 1, Nxb Thuận Hoá, Huế; Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I-II-III, Nxb Văn Học, Hà Nội; Mật Thể (2001), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb Tôn giáo, Hà Nội;
Trang 22Nguyễn Cao Thanh (2008), Khái lược Phật giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Bồ Đề Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng (2012), Phật giáo Việt Nam (từ
khởi nguyên đến 1981), Nxb Văn học, Hà Nội; Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
Văn phòng Ban Trị sự (2012), Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến
Đại hội (1981-2012), Nxb Tôn giáo, Hà Nội,v.v
Các tài liệu này cung cấp kiến thức nền tảng cho tác giả luận án hiểu rõ ràng hơn lịch sử PGVN từ khi du nhập cho đến nay Nắm bắt được các sự kiện lịch sử PGVN giúp cho tác giả luận án lý giải sâu sắc hơn những vấn đề
về mối quan hệ giữa PG và PN trong lịch sử cũng như cơ sở của mối quan hệ này trong giai đoạn hiện nay
1.1.3 Tư liệu khảo sát thực tế của tác giả luận án
Luận án tiến hành 580 bảng hỏi dành cho nữ tu sĩ PG và PN tại Hà Nội, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hưng Yên
Kết quả khảo sát cung cấp thông tin về tần suất đi lễ chùa, mục đích đi
lễ chùa, đóng góp của PN đối với PG, đáp ứng của PG đối với PN, niềm tin tôn giáo và nhận thức của PN về PG
Nguồn tư liệu quan trọng này giúp luận án phân tích mối quan hệ giữa
PN và PG ở một số tỉnh phía Bắc hiện nay
1.1.4 Báo cáo tổng kết công tác/ hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp, các ngành
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội (2007),
Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2007, Lưu hành nội bộ, Hà Nội; Ban
Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội (2008), Báo cáo tổng
kết công tác Phật sự năm 2008, Lưu hành nội bộ, Hà Nội; Ban Trị sự Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội (2009), Báo cáo tổng kết công tác
Phật sự năm 2009, Lưu hành nội bộ, Hà Nội; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thành phố Hà Nội (2010), Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm
Trang 232010, Lưu hành nội bộ, Hà Nội; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thành phố Hà Nội (2011), Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2011, Lưu
hành nội bộ, Hà Nội; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà
Nội (2012), Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2012, Lưu hành nội bộ,
Hà Nội; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội (2013),
Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2013, Lưu hành nội bộ, Hà Nội; Ban
Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội (2014), Báo cáo tổng
kết công tác Phật sự năm 2014, Lưu hành nội bộ, Hà Nội
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nam Định (2013), Báo
cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2013, Lưu hành nội bộ, Nam Định; Ban
Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tuyên Quang (2014), Báo cáo tổng
kết công tác Phật sự năm 2014, Lưu hành nội bộ, Tuyên Quang
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tăng sự Trung ương (2014), Báo
cáo tổng kết hoạt động Phật sự năm 2014, Chương trình hoạt động Phật sự năm 2015 của Ban Tăng sự Trung ương, Lưu hành nội bộ, Thành phố Hồ Chí
Minh; Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân ban Ni giới Trung ương (2014),
Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2014, Lưu hành nội bộ, Thành phố Hồ
Chí Minh; Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Từ thiện Xã hội Trung ương,
Báo cáo tổng kết năm 2014 của Ban Từ thiện Xã hội Trung ương, Lưu hành
nội bộ, Thành phố Hồ Chí Minh
Những tài liệu này cung cấp thông tin công tác/ hoạt động Phật tự của GHPGVN các cấp, các ngành, trong đó có khá nhiều thông tin liên quan đến nội dung luận án, đặc biệt là hoạt động của nữ tu sĩ PG và nữ Phật tử
Trang 241.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Những công trình nghiên cứu về PG và PN ở Việt Nam đã có từ cách đây khá lâu Trong khả năng của mình, luận án lưu tâm phân tích một số công trình nghiên cứu về chủ đề này cụ thể và tiêu biểu sau đây:
Nhóm công trình nghiên cứu về PG và PN
Công trình Thiền sư ni của Hòa thượng Thích Thanh Từ ấn hành năm
1980 (http://thuvienhoasen.org) giới thiệu về các nhà sư, nữ tu Thiền của PG
từ Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế, đến Trung Quốc và VN các giai đoạn sau này, tiêu biểu như: Mahapajapati Gotami, Sai Ma, Sakula, Huệ Quang, Diệu
Nhân,v.v…
Cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người
Việt Nam hiện nay do Nguyễn Tài Thư chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997) đã đề cập đến PG và sự hình thành nhân cách con người VN hiện nay, cũng như ảnh hưởng của PG đối với hệ tư tưởng con người VN hiện nay
Các tác giả đã phân tích ảnh hưởng của PG đối với nhân cách, tư tưởng con người VN nói chung, trong đó có PNVN Theo các tác giả, nhân cách con người theo PG khác với các tôn giáo khác ở chỗ dựa trên các thuyết Nhân quả, Vô thường, Vô ngã của PG nhìn cuộc đời là bể khổ Từ đó, tác động của
PG đến nhân cách con người VN cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực Mặt tích cực thể hiện ở chỗ chấp nhận sự biến đổi của thế giới và con người, sống nền nếp, trong sạch, giản dị, quan tâm đến nỗi khổ của người khác, cứu giúp người hoạn nạn, lấy tự giác trong hành động Mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ nhìn đời một cách bi quan, có pha trộn chất hư vô chủ nghĩa, nặng về tin tưởng ở quyền năng và phép mầu nhiệm của một vị siêu nhiên mà nhẹ về tin tưởng ở năng lực hoạt động của con người, nếp sống khổ hạnh và không tránh khỏi nương theo những nghi lễ thần bí
Trang 25Cuốn Phật giáo với văn hoá Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy (Nxb Hà
Nội, 1999), đã chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa PG và tín ngưỡng thờ nữ thần nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng của người Việt Theo đó, ngay từ ngày đầu du nhập vào VN, đặc biệt là vùng Đồng bằng Bắc Bộ, PG đã hỗn dung với tín ngưỡng nông nghiệp, vốn trọng tính âm Điều này thể hiện rõ qua sự tích Man Nương và Tứ Pháp ở Chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) Theo tác giả, hiện tượng Tứ Pháp là sự hoà quyện giữa PG với triết
lý văn hoá tín ngưỡng bản địa đề cao vai trò của PN, người mẹ và yếu tố âm trong văn hoá người Việt Đó là triết lý “Mẹ sinh” “Mẹ sinh” tức là âm sinh,
âm sinh để dương thành Ngược lại, yếu tố tín ngưỡng, văn hoá tôn thờ PN của người Việt cũng ảnh hưởng trở lại PG ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ Điều này thể hiện rõ nhất qua tín ngưỡng thờ Mẫu phổ biến trong các ngôi chùa ở phía Bắc hiện nay và việc tôn thờ Quán Âm nghìn mắt nghìn tay và Quán Âm Tống tử trong Phật điện
Công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của
GS Đặng Nghiêm Vạn (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001), lý giải khá xác đáng một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các tôn giáo ở VN Nội dung cuốn sách có đề cập đến PG, đặc biệt là những phân tích về thực trạng niềm tin PG ở Miền Bắc và Hà Nội Cuốn sách đã chỉ ra sự ảnh hưởng theo chiều rộng của PG đối với cư dân một số tỉnh thành Miền Bắc Trong đó, khá nhiều người tham gia lập bàn thờ treo ảnh Phật hay đặt tượng Phật tại nhà (ở Hà Nội chiếm 37%, một số địa phương Miền Bắc khác chiếm 25,2%), đặt ở bên trên hay bên cạnh bàn thờ tổ tiên; đưa bát hương lên chùa, làm lễ cầu siêu, lập đàn chay Đa số người dân tin theo PG (chiếm hơn 50%), nhưng không phải ai cũng theo PG Việc quy y theo Phật (chiếm hơn 60%) chủ yếu do có thiện tâm với PG Điều đó chứng tỏ PG có ảnh hưởng đối với đa số người dân ngay cả khi họ không phải là một tín đồ chính thức của PG
Trang 26Bên cạnh đó, công trình này cũng chỉ ra động cơ của cư dân Miền Bắc khi lên chùa, cầu Phật chủ yếu muốn được tai qua nạn khỏi (chiếm hơn 50%)
và để phúc cho con cháu (chiếm hơn 60%) Những phân tích này giúp cho tác giả hiểu rõ hơn thực trạng ảnh hưởng của PG đối với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của PN Miền Bắc hiện nay Đáng chú ý, công trình này cũng dành những trang viết về vai trò PN trong đời sống tôn giáo VN Theo đó, vai trò này được thể hiện rõ rệt trong các tôn giáo, bao gồm PG, nhất là qua hiện tượng Thạch Quang Phật ở Chùa Dâu gắn với sự tích Man Nương và Khâu Đà La
Theo tác giả, vai trò PN đối với tôn giáo nói chung và PG nói riêng ở VN thể hiện rõ rệt như vậy vì nước ta là một nước nông nghiệp lúa nước, nên PN có vai trò lớn trong nghề nông, thủ công và buôn bán nhỏ Đồng thời, PN cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác hậu phương hỗ trợ cho đấu tranh của dân tộc Những điều này sớm đi vào tư duy, triết lý sống của người Việt và thẩm thấu vào cơ tầng văn hóa Việt truyền thống để từ đó ảnh hưởng tới PG khi tôn giáo này được du nhập vào VN
Các bài tham luận tại Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11 từ
ngày 28/12/2009 đến ngày 03/01/2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh (Phân ban Đặc trách Ni giới, GHPGVN, 2010), tập trung phân tích làm rõ quan điểm của
PG về PN trong các kinh sách, đóng góp của PN với hoạt động của PGVN từ xây dựng tổ chức giáo hội, dịch kinh sách, hoạt động từ thiện xã hội, công tác đào tạo tăng tài cho PG và kết nối PGVN trong tiến trình hội nhập với quốc
tế Điều này giúp tác giả luận án có thêm dữ liệu để phân tích sâu hơn quan điểm của PG về PN và đánh giá vai trò của PN đối với hoạt động của PGVN nói chung và PG ở các tỉnh phía Bắc nói riêng
Công trình Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam của
Trần Hồng Liên (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2010), đi sâu phân tích chức năng xã hội của PG trong xã hội VN hiện nay ở các khía cạnh: kinh tế, phong
Trang 27tục, tập quán, đạo đức xã hội VN, trong đó có ảnh hưởng đối với đời sống của PNVN Công trình này mặc dù mới chỉ đề cập những ảnh hưởng ở tầm khái quát, song cũng đã cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến
đề tài luận án
Cuốn Nghiên cứu Phật giáo dưới góc độ xã hội phục vụ công tác bảo vệ
an ninh quốc gia của Trần Văn Trình (Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,
2010), đã khảo cứu PGVN hiện nay theo cách tiếp cận xã hội học Công trình này đã có những phân tích khá sâu sắc về đặc điểm, vị thế, vai trò của PGVN, thực trạng, thái độ, hành vi đối với PG của dân cư Hà Nội trong sự so sánh với cư dân thành phố Huế và cư dân Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả tìm hiểu thời gian và mức độ thường xuyên đi chùa phân theo giới tính của công trình này cho thấy, PN có xu hướng đi chùa nhiều hơn nam giới, kể cả đi lễ hội và đi thắp hương lễ Phật ngày rằm và mồng một Động cơ của hành vi đi chùa cũng có sự khác biệt nhất định về giới tính Trong đó, PN chủ yếu đi chùa để cầu bình an, vì niềm tin tôn giáo và nghĩ đến kiếp sau Còn nam giới
đi chùa để phúc cho con cháu, gặp gỡ bạn bè và tham quan giải trí PN khi đi chùa cũng hướng tới việc cầu xin liên quan đến gia đình và tình duyên cao hơn nam giới Từ thực trạng này, tác giả có những nhận định đáng chú ý về nhận thức, thái độ và hành vi của PN khi theo PG Theo đó, PN ở khu vực đô thị ngày càng có xu hướng hiểu biết đầy đủ hơn, sâu sắc hơn giáo pháp nhà Phật, ngày càng mộ đạo hơn và đi chùa nhiều hơn Mặc dù đây là kết quả khảo sát ở vùng đô thị và chỉ có thành phố Hà Nội liên quan đến phía Bắc, nhưng công trình này cũng đem lại nhiều tài liệu bổ ích cho luận án
Luận văn Thạc sỹ Triết học Biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt
Nam qua hình tượng Phật Bà Quán Âm của Trịnh Thị Dung/ Thích Đàm
Thanh (Trường Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) làm
rõ biểu hiện của yếu tố nữ qua hình tượng Phật Bà Quán Âm ở các khía cạnh:
Trang 28tư tưởng, nghệ thuật cổ và văn học VN Với nhiều luận cứ khá xác đáng, tác giả khẳng định, PG chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời của dân tộc VN Đó là sự tôn thờ, đề cao PN và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Chính vị trí, vai trò của người PNVN trong lịch sử đã hình thành nên đặc điểm văn hoá này của dân tộc, từ đó cấu thành bộ phận trong
cơ tầng văn hoá Việt ảnh hưởng mạnh tới các tôn giáo ngoại nhập như PG
Công trình Đặc điểm và vai trò của Phật giáo Việt Nam thế kỷ 20 của
Nguyễn Quốc Tuấn (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2012), đã trình bày khái quát đời sống PGVN trước và trong thế kỷ 20, từ đó phân tích rõ những đặc điểm quan trọng của PGVN (tính bình dân - đại chúng, tính vùng miền - tộc người, tính phức hợp và thống nhất) và vai trò của PGVN trong thế kỷ 20 (tham gia kháng chiến chống ngoại xâm và hoàn thành công cuộc thống nhất
Tổ quốc; tham gia kiến quốc, cải biến xã hội và xác lập một lối sống Phật giáo hiện đại; tham gia hiện đại hóa đất nước với tư cách một động lực của phát triển và hoàn thiện nhân cách con người) Nội dung công trình cung cấp cơ sở
lý luận và thực tiễn cho luận án trong việc lí giải đặc điểm PG phía Bắc nói chung, mối quan hệ của PG và PN phía Bắc nói riêng với các vùng miền khác trong cả nước
Công trình Sáng giá chùa xưa mỹ thuật Phật giáo của Chu Quang Trứ
(Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 2012), bàn về tượng Quán Âm Bồ Tát trong các ngôi
chùa của người Việt Tác giả cho rằng, tượng Quán Âm Bồ Tát trong các ngôi chùa là những di vật đặc sắc, thể hiện sự hội nhập văn hoá PG với văn hoá truyền thống VN, đáng lưu ý là hiện tượng nữ hoá hình tượng Quán Âm Bồ Tát với các pho tượng Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tống Tử
Cuốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ đại hội đến đại hội (1981-2012) của Văn phòng Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nxb Tôn giáo,
Hà Nội, 2012), trình bày kết quả và phương hướng hoạt động của GHPGVN
Trang 29qua sáu kỳ đại hội Những số liệu thống kê về chùa chiền, tăng ni, cư sĩ cũng như hoạt động Phật sự giúp cho tác giả luận án có cái nhìn tổng quát về GHPGVN qua các kỳ đại hội và khái quát về PG phía Bắc
Liên quan trực tiếp đến đề tài luận án còn có một số bài viết đăng tải trên
các trang mạng như: Quan niệm của Phật giáo về người phụ nữ của Thích Giác Dũng, http://quangduc.com; Phụ nữ và quan điểm Phật giáo của Thích Khải Tuệ, http://phattuvietnam.net; Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo của
Thích Trí Quảng, http://giacngo.vn Các tác giả tập trung phân tích vị trí của
PN trong kinh điển PG (Nguyên thuỷ và Đại thừa), cũng như vai trò của PN đối với sự phát triển PG Theo các tác giả, kinh điển PG không có sự phân biệt nam nữ, PN hoàn toàn có khả năng giác ngộ khi tin theo PG Tuy nhiên, ngay từ thời xa xưa, một số PN đến chùa với động cơ lầm lạc, chẳng hạn như
cô gái họ Đăng đã mê hoặc Anan, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật
Đồng thời cũng từ rất sớm, bên cạnh việc duy trì sinh hoạt PG và sự thanh tịnh của PG, PN còn góp phần quan trọng vào việc ủng hộ vật chất, thuốc men, thức ăn, đồ uống giúp ổn định đời sống của Tăng đoàn
Nhóm công trình về PG và PN phía Bắc Việt Nam:
Cho đến nay, nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về PG và PN ở phía Bắc VN không nhiều Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
Công trình Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam của Tỷ khiêu ni Như Đức
(Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009), trình bày khái quát hành trạng cũng như các mốc lịch sử hình thành và phát triển của ni giới PG Bắc tông của VN Trong
đó, tác giả dành hai mươi trang đầu khái quát về ni giới PG ở phía Bắc VN từ thế kỷ I đến thế kỷ XIX Theo đó, trong trường đoạn này, nhiều PN theo PG ở phía Bắc đã góp phần quan trọng vào công cuộc dựng nước và giữ nước, vun đắp truyền thống “hộ quốc an dân” của PG VN Tiêu biểu trong số ấy là công chúa Bát Nàn sau khi dẹp giặc về tu hành ở chùa Tiên La, huyện Hưng Hà,
Trang 30tỉnh Thái Bình; bà Thiều Hoa, người vùng Phú Thọ, đã chiêu mộ nữ binh tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó quay về tu hành tại chùa Phúc Khánh, làng Hiền Quang; bà Vĩnh Huy, người huyện Đông Triều, ẩn tu ở chùa làng Cổ Châu (Chùa Dâu), Bắc Ninh Đến thời Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn đã xuất hiện nhiều nữ tu sĩ PG nổi tiếng, góp phần quan trọng vào việc phát triển PG ở Miền Bắc như Ni sư Tuệ Thông (thế kỷ XIV), sư bà Diệu Đăng, sư bà Diệu Tín (thế kỷ XVII), sư bà Đàm Thái (thế kỷ XIX) Sang thời cận đại, nhờ tiếp nối truyền thống xuất gia tu học hành đạo của các thế hệ
ni giới đi trước, Miền Bắc đã trở thành cái nôi của ni giới Ni giới thời kì này góp phần quan trọng vào việc xây dựng chùa chiền, hoằng pháp, nuôi dạy đệ
tử, phụng sự đất nước theo tinh thần nhập thế một cách đậm nét
Nhóm công trình Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh
thần của phụ nữ Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại
học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Vai trò của Ni giới trong
quá trình phát triển Phật giáo thủ đô (1981-2011), Tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, số 12/2011; Phật giáo với đời sống tinh thần phụ nữ người Việt vùng
Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 10/2012 của
Nguyễn Thị Thành/ Thích Đàm Thành đã phân tích ảnh hưởng của PG tới đời sống tinh thần của PN vùng Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Trong đó, PG đáp ứng nhiều nhu cầu tâm linh khác nhau như cầu an, cầu siêu, giải hạn, thoả mãn về mặt tâm linh cho PN Giá trị đạo đức của PG cũng góp phần hình thành văn hoá ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội của PN Các công trình nêu trên cũng chỉ ra một số hạn chế trong ảnh hưởng của PG đối với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của PN vùng Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay qua các hành
vi mê tín như đốt vàng mã, cúng sao giải hạn, bói quẻ, chạy đàn, bùa chú
Những hành vi này không xuất phát từ những lời dạy nào của Đức Phật
Nhưng do phương thức tồn tại từ lâu đời của PG một phần và sự lợi dụng PG
Trang 31của một số vị tu sĩ và PN nên đến nay không ít chùa vẫn còn duy trì các hoạt động này
Bài viết Vai trò của người phụ nữ Việt Nam đối với Phật giáo từ góc
nhìn xã hội học của Nguyễn Thị Minh Ngọc, trong Viện Nghiên cứu Tôn
giáo: Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng; Chặng đường 20 năm (1991-2011)
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011), đề cập tới hai nữ Phật tử tiêu biểu của lịch sử PGVN là Man Nương và Nguyên Phi Ỷ Lan, cũng như địa vị và ảnh hưởng của PN đối với hoạt động PG trong xã hội VN hiện nay Qua các phương pháp phỏng vấn bảng hỏi, quan sát tham dự người đi lễ tại ba ngôi chùa ở Hà Nội là Chùa Hà, chùa Phúc Khánh và chùa Quán Sứ, tác giả cho rằng, PN hiện nay có vai trò quan trọng hơn nam giới trong các sinh hoạt PG
Ngoài ra, tác giả cũng phân tích sự đáp ứng của PG đối với những nhu cầu tâm lý (yên tâm, thoải mái, bình an, thành kính, sợ hãi, huyền bí ) đối với PN nhiều hơn nam giới Mặc dù chỉ là một bài viết ngắn và địa bàn nghiên cứu giới hạn ở ba ngôi chùa tại Hà Nội, song nội dung công trình cũng gợi mở một số nội dung và ý tưởng hữu ích cho luận án này
Công trình Chân dung xã hội của người đi lễ chùa: Một tiếp cận xã hội
học qua trường hợp người đi lễ chùa Quán Sứ và Chùa Hà, Hà Nội của
Hoàng Thu Hương (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012), đã phân tích khá
kỹ lưỡng chân dung người đi lễ chùa qua đặc trưng về giới tính, tương quan giữa giới tính và tần suất đi lễ chùa, ảnh hưởng của hoạt động đi lễ chùa tới cá nhân và tác động xã hội của hoạt động đi lễ chùa Dựa trên phương pháp chọn mẫu và quan sát đối tượng nghiên cứu kết hợp với phỏng vấn sâu trong nhiều lần qua ba năm (2003, 2004, 2011) nên kết quả mà tác giả công trình này đạt được khá tin cậy Theo tác giả, PG qua ngôi chùa có sức thu hút lớn đối với
nữ giới Nữ giới đi lễ chùa chiếm ưu thế hơn so với nam giới, tỷ lệ nam/ nữ đi
lễ chùa khoảng 3/7 Như thế, tỷ lệ nữ giới đi lễ chùa cao hơn gấp đôi so với
Trang 32nam giới Dựa theo lý thuyết chức năng, tác giả cho rằng, sở dĩ PG có ảnh hưởng lớn tới PN vì nhóm đối tượng này thường có chức năng biểu đạt văn hoá, tình cảm và thiên về yếu tố cảm xúc Do đó, PN dễ có cảm giác lệ thuộc vào thần linh, dễ tin tưởng vào các đấng siêu nhiên, cũng như cần chỗ dựa về mặt tinh thần cao hơn so với nam giới Thêm nữa, các không gian thờ tự thường mang màu sắc huyền bí, linh thiêng dễ tác động vào tâm lý của nữ giới Dựa trên cơ sở lý thuyết trao đổi, tác giả đã chỉ ra tác động qua lại giữa hoạt động đi lễ tới người đi lễ nói chung trong đó có PN và ngược lại Theo tác giả, hoạt động đi lễ chùa của người đi lễ tuy tiêu tốn thời gian, vật chất nhưng cái được quan trọng của họ là cảm giác thanh thản sau khi thực hành nghi lễ Đồng thời đi lễ chùa còn giúp nhiều người, trong đó có PN, hiểu biết hơn và nhớ tới những điều răn dạy của Đức Phật từ đó tự điều chỉnh hành vi của mình để sống tốt hơn Mặt khác, hoạt động đi lễ chùa của mọi người cũng
có tác động không nhỏ tới hoạt động của PG tại chùa
Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học Sinh hoạt của Ni giới Phật giáo ở Hà Nội
hiện nay của Trịnh Thị Dung/ Thích Đàm Thanh (Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2015; công trình này in
thành sách với nhan đề Ni giới Phật giáo Thủ đô Hà Nội, Nxb Tôn giáo, Hà
Nội, 2015) phân tích có hệ thống vấn đề nữ giới trong kinh điển và giới luật PG; làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của ni giới trong lịch sử PG một số quốc gia theo PG Bắc tông khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam; nêu bật thực trạng sinh hoạt ni giới PG trên địa bàn thủ đô Hà Nội hiện nay, cả những thành tựu cần phát huy cũng như những tồn tại cần khắc phục; từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của ni giới PG thủ đô trong sự nghiệp hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh, đóng góp nhiều hơn cho Đạo pháp và Dân tộc
Trang 331.2.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Women under the Primitive Buddhism (Phụ nữ thời Phật giáo Nguyên thuỷ) của I.B Horner (George Routledge & Sons, Ltd., London, 1930), đã
phân tích quan điểm của PG về PN và đời sống của cư sĩ tại gia, ni giới trong thời kỳ đầu của PG ở Ấn Độ Tác giả mô tả tỉ mỉ về đời sống của nữ tu sĩ PG như quy định gia nhập ni giới, đời sống khổ hạnh, Có thể nói, đây là công trình khá tiêu biểu trong các công trình nghiên cứu về PN theo PG thời kì đầu
Những luận điểm trong công trình này giúp cho tác giả luận án có cái nhìn khái quát và so sánh PN theo PG thời kì đầu với PN theo PG hiện nay
Buddhist Women across Cultures Realization (Nhận diện phụ nữ Phật giáo qua các nền văn hoá) của Karma Lekshe Tsomo (State University of
New York Press, 1999), tập hợp những bài viết phân tích khá sâu sắc về vị trí
và vai trò của PN trong PG từ thời Đức Phật còn tại thế tới khi tổ chức PN theo PG lan truyền tới các nước Đông Á Cuốn sách cũng lý giải sự khác biệt trong quan niệm về PN của PG ở các nước theo PG Nam tông như Campuchia, Lào, Sri Lanka và Thái Lan so với các nước theo PG Bắc tông như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, VN Ngoài ra, cuốn sách còn so sánh giữa PN theo PG và PN theo Kitô giáo, phân tích mô hình nữ cư sĩ PG ở các
tổ chức PG Phương Tây, cũng như vai trò của thuyết nữ quyền đối với tương lai phát triển của PG Những phân tích này giúp cho tác giả luận án so sánh giữa PN, ni giới PGVN với nước ngoài
Phần viết về PG và PN ở VN, tuy chỉ dài một trang, nhưng có những tổng kết đáng chú ý Theo đó, trong lịch sử, tổ chức ni giới ở VN chưa định hình vững chắc Nhưng ni giới tham gia rất tích cực vào việc truyền bá Phật pháp, xây dựng chùa cảnh, giảng dạy và thiết lập đội ngũ ni giới Song, do ảnh hưởng cấu trúc xã hội cũng như những giá trị của Nho giáo, nên PN không đạt được vị trí cao trong cả đời sống tôn giáo và các khía cạnh của đời
Trang 34sống thế tục Đời sống tôn giáo theo cấu trúc Nho giáo cũng có sự phân tách nam và nữ Đàn ông thường tới ngôi đình còn PN thường tới ngôi chùa
Nhưng có lẽ vì thế mà PNVN xưa có vai trò quan trọng trong việc truyền tải
và thực hành các giá trị PG Đến nay, tình hình tôn giáo nói chung, tình hình
PG nói riêng ở VN đang hưng thịnh PN tham gia PG lớn hơn nhiều so với nam giới Những nhận định này gợi mở nhiều điều đáng quan tâm cho tác giả luận án trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa PN và PGVN quá khứ cũng như hiện tại Ngoài ra, công trình này cũng so sánh quan niệm của PG về PN với quan niệm của các tôn giáo khác về PN Điều này giúp tác giả có thêm sự
so sánh và nhìn nhận sâu sắc hơn quan niệm của PG về PN
Công trình xã hội học Phật giáo của Nandasena Ratnapala (Thích Huệ
Pháp dịch, Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2010), đã trình bày khái quát tư tưởng về
xã hội của PG, dựa vào các bản kinh thuộc PG Nguyên thuỷ, trong sự liên hệ đối chiếu với những vấn đề xã hội ngày nay, trong đó có những vấn đề liên quan đến PN như: gia đình, hội nhập xã hội, phân tầng xã hội, giáo dục, bạo lực Đặc biệt, cuốn sách dành hẳn chương 6 trình bày quan điểm của PG về
PN trong các vấn đề: bình đẳng giới, vai trò của PN trong gia đình, khả năng giác ngộ thành Phật Đồng thời, công trình cũng lý giải việc Đức Phật cho phép PN xuất gia, sống đời sống khổ hạnh với nhiều biện pháp phòng ngừa và bảo vệ Có thể nói, những nghiên cứu này giúp tác giả luận án thấy được một cách khái quát quan điểm của PG về PN
Korean Buddhist Nuns and Laywomen (Ni giới và nữ cư sĩ Phật giáo Hàn Quốc) của Eun-su Cho (State University of New York Press, 2011), phân
tích vai trò và vị trí của PN trong lịch sử PG Hàn Quốc qua ba thời kỳ Koryo, Choson và thời kỳ hiện đại Tác giả lí giải khá thuyết phục nguyên do ni giới
có thể tồn tại trong PG Hàn Quốc, dù trước đó ở Sri Lanka, ni giới từng được thành lập nhưng sau đó đã biến mất Ngoài ra, cuốn sách còn trình bày những
Trang 35biến động của PN trong PG qua các thời kì lịch sử phong kiến Hàn Quốc Nếu
ở Triều đại Koryo (918-1392), PG được coi là quốc giáo, thì tình hình lại diễn
ra ngược lại trong suốt triều đại Choson (1392-1910), khi Hàn Quốc tiếp thu
tư tưởng tân Nho giáo để tổ chức xã hội và chống lại chính sách của PG Lúc
đó, PN theo PG phải chịu hai lần áp bức, vì là PG và vì là PN Có thể nói, cuốn sách đem lại cho tác giả luận án khá nhiều thông tin bổ ích để có thể tiến hành so sánh giữa PN theo PGVN và PN theo PG ở các nước khác, nhất là những nước chịu ảnh hưởng mạnh bởi Nho giáo như Hàn Quốc
Quan điểm Phật giáo về vai trò phụ nữ của Kumudini Ranathunga
(Đặng Thu Hương dịch, Trần Kim Chi hiệu đính, http://thuvienhoasen.org)
Tác giả cho rằng, PG quan niệm PN có quyền bình đẳng và tự do tham gia các hoạt động tôn giáo; PN là thành tố cấu thành xã hội PG (Tỷ kheo ni và Ưu bà di) Theo quan điểm của Đức Phật, PN phải chịu đựng 5 nỗi khổ: 1 Họ phải sống trong nhà của cha mẹ và người thân khi còn nhỏ; lớn lên phải sống với nhà chồng; 2 Họ phải trải qua những kỳ kinh hằng tháng; 3 Họ phải mang thai; 4 Họ phải sinh con; 5 Họ phải thức đợi người đàn ông của mình Đây là những nhân tố để PN có khả năng trở thành người mẹ, một vai trò mà bản thân mỗi người đàn ông đều phải ngưỡng mộ, tôn thờ Mẫu hình một PN tốt theo quan điểm của PG phải là người không chỉ biết xây dựng cuộc sống đời thường, mà còn cả đời sống tôn giáo theo các tiêu chí: 1 Tổ chức công việc gia đình một cách hiệu quả; 2 Đối xử tốt với người giúp việc; 3 Phấn đấu để làm hài lòng chồng; 4 Quản lý tốt số tiền mà người chồng kiếm được; 5 Một lòng mộ đạo; 6 Giữ gìn tiết hạnh; 7 Tốt bụng; 8 Nhân hậu Bài viết tuy ngắn ngọn nhưng đã cô đúc một số ý cơ bản giúp cho tác giả luận án có cái nhìn khái quát quan điểm của PG về PN
Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận và Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của Kimura Taiken (Thích Quảng Độ dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
Trang 362012) Hai công trình này hệ thống những vấn đề căn bản của tư tưởng PG
Việc tìm hiểu tư tưởng công trình PG Nguyên thủy giúp tác giả luận án hiểu biết sâu sắc hơn về quan niệm của PG Trong khi đó, việc tìm hiểu tư tưởng
PG Đại thừa giúp cho tác giả luận án đi sâu phân tích ảnh hưởng của PG đối với PN phía Bắc VN Vì PG ở khu phực này chủ yếu là PG Đại thừa với đặc trưng không theo chủ nghĩa ẩn dật, mà trái lại, tồn tại và phát triển trong thế gian, lấy việc cứu độ làm cơ sở, vì nhu cầu giải thoát, nhằm kiến thiết một thế giới tốt đẹp hơn Những phân tích này của Kimura Taiken sẽ tạo cơ sở để luận
án phân tích sự hội nhập của PG vào trong đời sống của PN
1.2.3 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.3.1 Kết quả nghiên cứu mà luận án cần phải kế thừa và phát triển Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã ít
nhiều đề cập đến vị trí và vai trò của PN đối với PG trong kinh sách PG từ Nguyên thuỷ đến Đại thừa
Thứ hai, các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cung cấp một cái
nhìn khái quát về ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN ở một số quốc gia như:
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan Đây là những tài liệu quý để luận
án có thể phân tích sâu hơn mối quan hệ giữa PG và PN ở VN nói chung, ở phía Bắc nói riêng, trong sự so sánh đối chiếu với nước ngoài Đồng thời, nghiên cứu của các tác giả nước ngoài còn so sánh vị trí và vai trò của PN theo quan điểm của PG với các tôn giáo khác như Kitô giáo và Nho giáo
Những so sánh đối chiếu này giúp cho luận án có thêm cơ sở nhìn nhận, đánh giá mối quan hệ giữa PG và PN sáng rõ hơn và sâu sắc hơn
Thứ ba, các nghiên cứu đi trước đã bước đầu phân tích ảnh hưởng qua
lại giữa PG và PN ở phía Bắc qua một số khía cạnh: tín ngưỡng thờ Quán Thế
Âm, hiện tượng nữ hoá trong PG, vai trò đáp ứng nhu cầu tâm linh của PG đối với PN Phân tích của các công trình này cho thấy, giữa PG và PN phía
Trang 37Bắc, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã sớm có mối quan hệ khăng khít
và sự tác động qua lại tạo nên những dấu ấn sâu sắc trên nhiều bình diện
Điều này chủ yếu do cơ sở cơ tầng văn hoá người Việt truyền thống vốn dựa vào nền văn minh lúa nước và trọng tính âm
1.2.3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo mà luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu
Một là, các công trình nghiên cứu nêu trên hầu hết chưa phân tích một
cách có hệ thống quan niệm của PG về PN Đây là một vấn đề lý luận căn bản
để làm nền tảng cho việc luận giải quá trình tác động của PG đối với PN
Hai là, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào mối quan hệ giữa PN và
PG những thời kì trước đây và những hiện tượng đã diễn ra trong lịch sử PGVN Một số ít công trình sử dụng điều tra xã hội học để phân tích ảnh hưởng qua lại giữa PG và PN thời gian gần đây Nhưng nội dung đề cập chủ yếu trong phạm vi đời sống tín ngưỡng, tinh thần và thông tin chủ yếu thu thập tại Hà Nội, còn ở các tỉnh thành khác ở Miền Bắc, nhất là ở vùng sâu, vùng xa thì hầu như chưa đề cập tới
Ba là, quan hệ giữa PG và PN phía Bắc hiện nay cần phải được phân
tích ảnh hưởng mang tính hai chiều Điều này có nghĩa, sự phân tích không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những tác động của PG đối với PN, mà còn phải thấy được sự tác động trở lại của PN đối với PG, trong đó cần chỉ ra mặt tích cực và mặt hạn chế của mối quan hệ này trong giai đoạn hiện nay Đây cũng
là một hạn chế nữa của các công trình nêu trên
Bốn là, những nghiên cứu đi trước chưa đưa ra được dự báo xu hướng
và những khuyến nghị giải pháp đối với quan hệ giữa PG và PN phía Bắc trong thời gian tới
Trang 381.3 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án Ảnh hưởng qua lại: là một loại hành động xảy ra khi hai hoặc nhiều
đối tượng tác động lẫn nhau Nội dung cốt lõi của khái niệm ảnh hưởng qua lại là sự tác động hai chiều chứ không phải một chiều Trong khoa học xã hội, ảnh hưởng qua lại là sự tương tác xã hội giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm với nhau, tạo ra những thay đổi về hành động xã hội giữa các bên tham gia tương tác
Cư sĩ: là một thuật ngữ của PG để chỉ những người tu học theo giáo
pháp nhà Phật, đã quy y Tam bảo và giữ Ngũ giới tại gia Theo PG Nam tông,
cư sĩ còn rất lâu mới đạt Niết Bàn, vì họ chưa từ bỏ dục lạc thế gian Còn PG Đại thừa xem cư sĩ có khả năng giải thoát Nếu tu tập đúng chính Pháp
Đạo đức: là những chuẩn mực chung nhằm điều chỉnh hành vi con
người, tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con người với nhau, giữa con người với xã hội và giữa con người với tự nhiên
Đời sống vật chất: là tất cả sản phẩm, hoạt động, quá trình, các quan
hệ vật chất, tạo cơ sở cho đời sống tồn tại của con người
Đời sống tinh thần: là tất cả giá trị, sản phẩm, hiện tượng, quá trình,
hoạt động, quan hệ tinh thần của con người phản ánh đời sống vật chất và được thể hiện như một phương thức hoạt động và tồn tại tinh thần của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Lối sống: là một khái niệm quan trọng trong khoa học xã hội Tuy
nhiên, khái niệm này được tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo chuyên ngành khoa học Nhìn chung, lối sống có thể hiểu là một phạm trù xã hội thể hiện khuôn mẫu đặc trưng cho hành động của mỗi người, mỗi nhóm về tổ chức đời sống xã hội tương ứng với vị trí, vai trò của mình trong những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội nhất định Hệ giá trị - chuẩn mực, những truyền
Trang 39thống, tập quán lúc này có vai trò tác động vô cùng lớn tới phương thức hoạt động, tư duy, cách ứng xử của các cá nhân và nhóm xã hội [112, tr.10]
Giáo hội Phật giáo Việt Nam: được thành lập từ năm 1981, là tổ chức
Phật giáo hợp pháp duy nhất đại diện cho tăng ni, phật tử Việt Nam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và ngoài nước
Giới: có nghĩa là phòng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và tâm
Với Phật giáo, giới có bốn cấp gồm: ngũ giới (năm giới), bát giới (tám giới), thập giới (mười giới) và cụ túc giới (giới đầy đủ)
Phật tử: trong luận án này, Phật tử là khái niệm chỉ toàn bộ những
người tại gia đã quy y Tam bảo Do vậy, khái niệm này còn được gọi là tín đồ Phật giáo
Quy y: là nương theo, phục tùng người cao cả hơn Trong PG, quy y
gồm quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng (quy y Tam bảo) Đó là lời nguyện của người thụ Tam quy Trong đó, quy y pháp tức là tu theo giáo pháp nhà Phật, quy y Phật tức là theo Đức Phật, quy y tăng tức là theo tu sĩ Phật giáo
Tỳ khiêu ni: là tên chung của những người nữ xuất gia thụ Cụ túc giới
(giới luật đầy đủ mà người xuất gia theo PG phải thụ trì) Tỷ khiêu ni còn gọi
là nữ tăng, thụ trì 500 giới, nhưng thường là 348 giới [132, tr.1593]
Ni giới: là khái niệm để chỉ những nữ tu sĩ PG
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ
2.1 Quan điểm của Phật giáo về phụ nữ qua tam tạng kinh điển
2.1.1 Quan điểm của Phật giáo về phụ nữ qua kinh Phật giáo
2.1.1.1 Sự bình đẳng của phụ nữ
PG ra đời là sự phản kháng lại những bất công trong xã hội Ấn Độ thời
cổ đại Tôn giáo này xuất hiện giống như một phương cách bênh vực những người yếu thế, trong đó có PN
Đương thời, theo truyền thống Bà La Môn giáo, PN bị đặt ở vị trí thấp nhất trong xã hội Vì thế, người Bà La Môn sử dụng tôn giáo của họ để xây dựng nên toàn bộ hệ tư tưởng trong xã hội Thông qua tôn giáo, đẳng cấp trên
đã cố gắng điều khiển PN Trong hoàn cảnh ấy, PN phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và đau khổ Họ không được đối xử tử tế vì người Bà La Môn xếp họ vào tầng lớp thấp nhất trong xã hội, không có cả quyền quan sát các hoạt động tôn giáo
Như thế, theo Bà La Môn giáo, PN đã mất đi quyền được giải thoát
về “cõi vĩnh hằng” [73, tr.439] Họ cũng không được đi học, không được
đọc Kinh Vê Đa Chức năng duy nhất của họ là sinh đẻ và chăm sóc chồng
con Không những thế, PN còn luôn phải tuân thủ các mệnh lệnh của đàn ông, phải cố sinh được con trai Vì theo Bà La Môn giáo, nếu ai không có con trai sẽ không thể tái sinh ở kiếp sau Do đó, các góa phụ bị cạo trọc đầu, bị xã hội coi khinh
Trái với những quy định hà khắc của Bà La Môn giáo, PG cho rằng, PN
có quyền bình đẳng, được tự do trên nhiều phương diện PG quan niệm, PN
có quyền được tái giá, thừa kế tài sản, con trai và con gái đáng quý như nhau