1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn

47 499 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 423,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: “Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y -  -

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Mã số : T2012 – 89

Tên đề tài:

“XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CỦA BỘT LÁ SẮN

CÓ HIỆU CHỈNH THEO LƯỢNG NITƠ ĐƯỢC TÍCH LŨY TRONG

CƠ THỂ GÀ VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG

TRONG BỘT LÁ SẮN”

Chủ nhiệm đề tài : Từ Trung Kiên

Khoa : Chăn nuôi Thú y

Người tham gia : Trần Thị Hoan

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y -  -

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Mã số : T2012 – 89

Tên đề tài:

“XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CỦA BỘT LÁ SẮN

CÓ HIỆU CHỈNH THEO LƯỢNG NITƠ ĐƯỢC TÍCH LŨY TRONG

CƠ THỂ GÀ VÀ TỶ LỆ TIÊU HÓA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG

TRONG BỘT LÁ SẮN”

Chủ nhiệm đề tài : Từ Trung Kiên

Bộ môn : Cơ sở Khoa : Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: “Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn

có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn”

Mã số: T2012 - 89

Chủ nhiệm đề tài:

TS Từ Trung Kiên ĐT: 0902 119 828

Email: tutrungkien@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Cơ quan và cá nhân phối hợp:

- Trại giống gia cầm Thịnh Đán – Thái Nguyên

- Viện Khoa học Sự sống - Đại học Thái Nguyên

Cá nhân:

TS Trần Thị Hoan - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: 2012-2013

Trang 4

Nghiên cứu xác định giá trị ME của bột lá sắn có hiệu chỉnh nitơ của thức ăn được tích lũy trong cơ thể gà

3 Kết quả chính đạt được

- Đã xác định được tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá

sắn của khẩu phần ăn đối với gà thịt

Tỷ lệ tiêu hóa protein, litpit , khoáng, xơ, dẫn xuất không chứa nitơ hồi tràng của bột lá sắn lần lượt đạt là 50,13 %; 66,67 %; 24, 00 %; 20,15

%; 64,40 % Tỷ lệ tiêu hóa protein, litpit, khoáng, xơ và dẫn xuất không chứa nitơ toàn phần cao hơn so với tiêu hóa hồi tràng trừ protein, lần lượt

đạt 43,40 %; 67,31 %; 28,59 %; 22,08 %; 69,18 %

- Đã xác định được giá trị ME của bột lá sắn có hiệu chỉnh nitơ của

thức ăn được tích lũy trong cơ thể gà

Năng lượng trao đổi của 1 kg VCK bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ của thức ăn được tích lũy trong cơ thể gà là 2168,16 kcal và của 1 kg BLS nguyên trạng (89,91 % VCK) là 1949,39 kcal

SUMMARY

Project title: “Determination of metabolisable energy value of cassava leaf meal adjusted according to the amount of nitrogen accumulated in the body of the chicken and digestibility of nutrients

in cassava leaf meal”

Cooperating agency and or individuals:

- Thinh Dan Poultry Breeding Centre – Thái Nguyên

- Institute of Life Sciences - TNU

Trang 5

3 Main results obtained

Have been identified digestibility of nutrients in cassava leaf meal diets for broilers Digestibility protein, litpit, minerals, fiber, derived contain no nitrogen ileum of cassava leaf meal range as follow 50.13%; 66.67%; 24.00%; 20.15%; 64.40 percent Digestibility of protein, litpit, minerals, fiber and total non nitrogen higher than in the ileum except for protein digestion, respectively 43.40%; 67.31%; 28.59%; 22, 08%; 69.18%

- Have been identified ME value of cassava leaf meal adjustment of feed nitrogen accumulated in the body of the chicken

Metabolisable energy of 1 kg dry matter of cassava leaf meal adjusted the amount of food nitrogen accumulated in the body of the chicken is 2168.16 kcal and 1 kg cassava leaf meal intact (89.91% DM) is 1949.39 kcal

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO

BLS : Bột lá sắn DCP : Dicanxi photphat KPCS : Khẩu phần cơ sở KPTN : Khẩu phần thí nghiệm KLDD : Khối lượng dinh dưỡng

GE : Năng lượng thô

ME : Năng lượng trao đổi TPHH : Thành phần hóa học

TS : Tổng số

TĂ : Thức ăn VCK : Vật chất khô

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Điểm mới của đề tài 2

Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Chuyển hóa năng lượng 3

1.2 Một số phương pháp xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) trong thức ăn gia cầm 6

1.2.1 Xác định giá trị ME của thức ăn gia cầm bằng phương pháp trực tiếp (Phương pháp sinh học) 7

1.2.2 Xác định giá trị ME của thức ăn gia cầm bằng phương pháp gián tiếp (Phương pháp ước tính) 10

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn gia cầm 14

1.3.1 Ảnh hưởng của tuổi 14

1.3.2 Ảnh hưởng của lượng thức ăn thu nhận 15

1.3.3 Ảnh hưởng của sự trao đổi protein 15

1.3.4 Ảnh hưởng của hàm lượng xơ trong khẩu phần 16

1.3.5 Một số yếu tố khác ảnh hưởng trong khẩu phần 16

1.4 Xác định tỷ lệ tiêu hóa ở động vật dạ dày đơn 17

1.4.1 Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến (toàn phần) 17

1.4.2 Tỷ lệ tiêu hóa thực 19

1.4.3 Tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng 20

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23

Phần 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Trang 8

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Kết quả phân tích các khẩu phần thí nghiệm 30

3.2 Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của các khẩu phần thí nghiệm 31

3.3 Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của bột lá sắn 32

3.4 Kết quả xác định năng lượng trao đổi của bột lá sắn 33

Phần 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35

4.1 Kết luận 35

4.2 Đề nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thành phần nguyên liệu của khẩu phần cơ sở 25

Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn cho gà thí nghiệm 26

Bảng 2.2: Cách tính tỷ lệ tiêu hóa toàn phần 28

Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 30

Bảng 3.2: Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở và khẩu phần thí nghiệm 31

Bảng 3.3: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của bột lá sắn 33

Bảng 3.4: Năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (MEN) của bột lá sắn 34

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Sơ đồ cân bằng năng lượng ở gia cầm 6

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống của động vật nói chung và gia cầm nói riêng, nó được lấy từ chất dinh dưỡng của thức ăn như protein, lipit, cacbonhydrat Chính vì vậy trong chăn nuôi cần phải biết được nhu cầu năng lượng của mỗi loại vật nuôi và giá trị năng lượng của thức ăn để có thể lập khẩu phần ăn đáp ứng được nhu cầu năng lượng cho chúng Theo Nesheim (1979) (trích Nguyễn Thị Mai (2001) [5]), năng lượng của các loại thức ăn là chìa khóa chính phải sử dụng khi lập khẩu phần ăn cho gia cầm Vì vậy việc xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) của các loại thức ăn cho gia cầm là vấn đề hết sức quan trọng, nó là cơ sở để xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng hàng ngày cho gia cầm Có thể xác định giá trị năng lượng của thức ăn bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp (ước tính) Có rất nhiều phương pháp ước tính giá trị ME của thức ăn gia cầm khác nhau Tuy nhiên, các phương pháp ước tính không chính xác tuyệt đối bởi vì các loại thức ăn phối hợp vào khẩu phần ăn được trồng ở các vùng khác nhau, các mùa khác nhau thì giá trị năng lượng sẽ khác nhau Vì vậy, ở mỗi vùng với nguồn thức

ăn và điều kiện khí hậu khác nhau, rất cần thiết phải xác định giá trị ME của

thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp Đó là cơ sở đáng tin cậy hơn cả để tính toán nhu cầu năng lượng cho gia cầm

Như chúng ta đã biết, bột lá sắn là một loại thức ăn rất tốt để bổ sung vào khẩu phần ăn của gia cầm bởi vì nó làm khả năng sinh trưởng, tăng độ

đậm màu lòng đỏ trứng, làm cho da gà, da chân có màu vàng hơn so với

khẩu phần ăn không có bột lá cây thức ăn xanh, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Tuy nhiên, bột lá sắn chưa được sử dụng nhiều trong quá trình phối hợp vào khẩu phần ăn của gia cầm Từ đó chưa có nhiều nghiên cứu về xác định giá trị năng lượng của bột lá sắn và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn

Trang 11

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn”

3 Điểm mới của đề tài

Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra được tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng

trong bột lá sắn của khẩu phần ăn đối với gà thịt

Đề tài đã xác định được giá trị ME có hiệu chỉnh nitơ của thức ăn được

tích lũy trong cơ thể gà

Trang 12

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Vật chất và năng lượng trong vũ trụ liên quan với nhau theo phương trình E = mc2, trong đó E là năng lượng, m là khối lượng và c là tốc độ ánh sáng Có thể định nghĩa năng lượng như khả năng tạo ra công Không có năng lượngthì mọi hoạt động đều ngừng lại và sự sống cũng sẽ không tồn tại Bởi

vì một tế bào sống cũng cần năng lượng để tạo glucoza, để nhân đôi AND hoặc để vận động Điều đơn giản nhất là để duy trì cấu trúc của mỗi tế bào cũng cần phải cung cấp rất nhiều năng lượng Tế bào là một tổ chức rất phúc tạp ở cấp cao, cấu trúc của nó luôn ổn định là nhờ có bộ xương nội bào Bộ xương nội bào được cấu tạo từ các phân tử protein khác nhau như: Actin, myozin… Chúng được gắn kết với nhau bởi các phân tử Adenzin triphotphat

và Guanidin triphotphat Vì vậy, không có năng lượng thì bộ xương nội bào cũng không thể hình thành và cấu trúc tế bào sẽ bị thay đổi nên quá trình trao

đổi chất bình thường sẽ không thực hiện được Đối với những tế bào bình

thường, năng lượng cần thiết để duy trì hệ thống tổ chức của chúng chiếm tới 50% tổng năng lượng ngày của cơ thể Một số tế bào đặc biệt như gan, thận thì nhu cầu này chiếm tới 70% (Harvey Lodish và cs, 1995 [19]) Như vậy, trạng thái cấu trúc có trật tự, có mức độ tổ chức rất cao của một hệ thống sống đòi hỏi rất nhiều năng lượng vào việc duy trì trạng thái ấy và cho nó hoạt

động, vì mọi vật sống đều là những hệ thống vật lý, hóa học chịu sự chi phối

của các nguyên lý nhiệt động học

Sự trao đổi chất và trao đổi năng lượng tạo nên bản chất của hoạt động sống Trao đổi chất có liên quan rất mật thiết với sự trao đổi năng lượng Sự trao đổi chất sẽ không thể có được nếu không có sự trao đổi năng lượng đi kèm theo nó Năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của gia cầm cũng như mọi loại động vật được lấy từ các chất dinh dưỡng của thức ăn như cacbonhydrat, lipit, protein Đây chính là năng lượng của ánh sáng mặt trời,

Trang 13

trong qúa trình quang hợp được chuyển hóa thành năng lượng hóa học của các liên kết trong các hợp chất hữu cơ Nhờ có sự đồng hóa các chất dinh dưỡng, năng hóa học của các hợp chất hữu cơ trong quá trình hô hấp tế bào, chuyển thành dạng năng lượng sử dụng được về mặt sinh học (Lewis, 1995 [26]) Sự chuyển hóa năng lượng xảy ra khi tế bào sử dụng hóa năng của các liên kết phốt phát cao năng để sinh công như: Công cơ học, công dưới dạng điện khi chuyển xung thần kinh, công hóa học khi tổng hợp các phân tử trong quá trình sinh trưởng và tạo thành sản phẩm Ngoài ra cơ thể luôn để một phần năng lượng cho môi trường bên ngoài qua bề mặt cơ thể, khi hô hấp, qua phân Như vậy, mọi dạng năng lượng sinh vật đều được lấy từ dây cao năng của ATP Đây là một đặc điểm đáng kể của giới sinh vật Vì vậy, nghiên cứu chuyển hóa năng lượng ở sinh vật chính là xem xét các quá trình tạo ra và sử dụng ATP (Hoàng Tiến và cs, 1997 [7])

Phần lớn nhu cầu năng lượng của tế bào sinh vật cho các hoạt động sống

đều dùng ATP làm đơn vị năng lượng Theo Trịnh Bỉnh Dy và cs (1998) [2]

thì chỉ có thông qua ATP, tế bào mới sử dụng được thế năng hóa học cất dấu trong cấu trúc phân tử hữu cơ Phân tử ATP phân giải và giải phóng năng lượng theo phản ứng:

ATP + H20 → ADP + 7,3 Kcal/mol Phân tử ATP giải phóng được 7,3 Kcal/mol năng lượng tự do trong cơ thể sinh vật là với điều kiện tiêu chuẩn (Khi pH = 7, áp suất 1 atm và nồng độ 1M) Một số nghiên cứu cho thấy ATP có thể giải phóng năng lượng nhiều hay ít tùy theo điều kiện pH môi trường và nồng độ ATP (Nguyễn Thị Mai,

2001 [5])

Sự tổng hợp ATP là một phản ứng thu năng lượng và nguồn cung cấp năng lượng lấy từ quá trình vận chuyển điện tử từ chuỗi hô hấp Tổ hợp ATP – Sintaza nằm riêng biệt với chuỗi hô hấp, vậy thì bằng cách nào mà chuyển được năng lượng oxy hóa khử sang liên kết cao năng của ATP Vấn đề này đã được

Trang 14

Perter Mitchell làm sáng tỏ như sau: Năng lượng tự do của sự vận chuyển điện

tử được bảo tồn do sự bơm H+ từ chất nền ty lạp thể qua khoảng không gian giữa hai màng và tạo thành gradien điện hóa của proton qua màng trong ty lạp thể Thế năng điện hóa này sẽ được dùng vào việc tổng hợp ATP Nhờ vậy, tế bào có một phương thức chuyển dịch có hiệu lực cao để khai thác năng lượng từ các chất dinh dưỡng có trong thức ăn

Năng lượng thức ăn thừa sau khi sử dụng cho sinh trưởng bình thường

và các hoạt động sống của con vật không được loại khỏi cơ thể mà sẽ được tích lũy trong mỡ Theo Kellems và Church (1998) [23] thì năng lượng trong thức ăn có thể được biểu thị bằng đơn vị Jun (J), Kilojun (KJ), Megajun (MJ), Calo (Cal), Kilocalo (Kcal), Megacalo (Mcal) của năng lượng thô (GE), năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần (NE) (1 Mcal = 4,184 MJ, MJ = 239 Kcal) Năng lượng tổng số có trong thức ăn gọi

là năng lượng thô, nó được xác định trong “bom” nhiệt kế (Bomb Calorimeter) Theo tài liệu của Nguyễn Thị Mai (2001) [5], khi đốt cháy trong

“bom” nhiệt lượng kế thì 1 g lipit giải phóng 9,3 Kcal, 1 g protit giải phóng 5,7 Kcal, 1 g gluxit giải phóng 4,1 Kcal Khi oxy hóa 1 gam lipit hay 1 gam gluxit trong cơ thể cũng cho kết quả tương tự như khi đốt cháy Riêng 1 gam protit khi oxy hóa trong cơ thể chỉ giải phóng 4,1 Kcal Điều này có thể giải thích là trong “bom” nhiệt kế, các chất dinh dưỡng được đốt cháy hoàn toàn

và tất cả năng lượng được chứa trong nó đã được giải phóng Trong cơ thể gia cầm, gluxit và lipit cũng được oxy hóa hoàn toàn thành CO2 và H2O, còn protit chỉ phân hủy đến axit uric và các sản phẩm khác của trao đổi nitơ mà những sản phẩm này vẫn còn chứa năng lượng dự trữ

Theo Smith (1993) [30], các dạng năng lượng và tỷ lệ giữa các dạng năng lượng của thức ăn trong cơ thể gia cầm như sau:

Trang 15

Hình 1.1: Sơ đồ cân bằng năng lượng ở gia cầm 1.2 Một số phương pháp xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) trong thức ăn gia cầm

Theo Askbrant (1990) [15], năng lượng trao đổi (ME) là hiệu số giữa năng lượng thô thu nhận từ thức ăn (GE) trừ đi năng lượng thải ra ở phân (FE) cùng năng lượng thải ra ở nước tiểu (UE) (đối với gia cầm phân và nước tiểu thải ra chung 1 đường) và cộng với khí đường tiêu hóa do vi sinh vật lên men

ở ruột già Đây chỉ là xác định giá trị ME, tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất

dinh dưỡng của thức ăn cho gia cầm được xác định bằng cách phân tích chất thải Tuy nhiên, đối với protein và amino acid, việc xác định giá trị năng

Năng lượng thô (GE, 100,00 %)

Năng lượng tiêu hóa (DE, 77,78 %)

Năng lượng phân (FE, 22,22 %)

Năng lượng trao đổi (ME, 72,22 %)

Năng lượng nước tiểu (UE, 5,56 %)

Năng lượng cho tăng nhiệt (HI, 11,11 – 33,33 %) Năng lượng thuần

(NE, 38,99 – 61,11 %)

Năng lượng thuần cho

duy trì (NE for Mantenance)

Năng lượng thuần cho

sản xuất (NE for production)

Trang 16

men của vi sinh vật ở ruột già Vì vậy phân tích hồi tràng là một phương pháp

đáng tin cậy nhằm đánh giá amino acid và protein ở gia cầm (trích Hồ Lê

Thức ăn được trộn thêm 0,2 % Cr2O3 làm chất chỉ thị để tránh phải thu toàn bộ lượng phân Cho các nhóm gà ăn thức ăn này trong thời gian 14 ngày Thu lượng phân và nước tiểu thải ra trong 4 ngày cuối cùng, đồng thời lấy mẫu thức ăn của hai khẩu phần để phân tích Dựa vào hàm lượng của Cr2O3 trong thức ăn và trong phân để tính lượng phân thải ra của một đơn vị thức ăn thu nhận Phân thu được hằng ngày làm đông lạnh, trộn đều và sấy khô Các mẫu phân và thức ăn đều được phân tích các chỉ tiêu như: Hàm lượng vật chất khô (%); Năng lượng thô của một gam khẩu phần và một gam phân (Kcal); Lượng nitơ của một gam khẩu phần và một gam phân (g/g); Lượng Cr2O3 của một gam khẩu phần và một gam phân (mg/g)

Khi tính giá trị ME cần phải hiệu chỉnh lượng nitơ tích lũy vì thí nghiệm tiến hành trên gà con Công thức hiệu chỉnh như sau:

ME (Kcal) = GEKP – ( GEP + 8,22 NTL)

Trong đó: ME (Kcal): năng lượng trao đổi của một gam khẩu phần; GEKP: năng lượng thô của một gam khẩu phần; GEP: năng lượng thô của phân trên một gam khẩu phần; NTL: số gam nitơ lũy của một gam khẩu phần

Trang 17

Có thể nói phương pháp sinh học để xác định năng lương trao đổi của các loại thức ăn cho gia cầm của Hill và Anderson (1958) [20] là một đóng góp to lớn trong ngành gia cầm Tuy nhiên phương pháp này cũng còn những hạn chế cần được khắc phục Đầu tiên, là thí nghiệm tiến hành trên gà con nên phải hiệu chỉnh lượng nitơ tích lũy Thứ hai là thời gian thí nghiệm kéo dài (28 ngày), sau mỗi thí nghiệm lại phải thay đàn gà khác nên rất tốn kém Thứ

ba thời gian thu phân liên tiếp trong 4 ngày nên số lượng phân khá lớn, việc bảo quản các mẫu phân thí nghiệm cũng rất khó khăn Thứ tư, sử dụng chất chỉ thị có ưu điểm là không phải thu toàn bộ lượng phân trong 14 ngày thí nghiệm, nhưng lại gây ra sai số khi phân tích Bởi vì, với nồng độ 0,3 % Cr2O3 thì chỉ thị cần sai sót khi trộn chất chỉ thị này vào thức ăn thí nghiệm cũng ảnh hưởng đến giá trị ME và tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn khi xác định Mặt khác, tập tính của gia cầm, đặc biệt là gà rất hay bới khi ăn và vừa ăn vừa uống nước Trong khi đó gà vẫn được ăn tự do trong thời gian thu phân nên rất khó khống chế thức ăn bị rơi vãi lẫn vào phân Đây là một nguồn sai số khi xác định lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm và giá trị năng lượng thải

ra ở phân Trong những năm qua, đã có thêm nhiều phương pháp để xác định giá trị ME và tỷ lệ tiêu hóa trong thức ăn gia cầm Phương pháp xác định giá trị ME và tỷ lệ tiêu hóa trên con gà con của Hill và Anderson (1958) [20] hay phương pháp cổ điển xác định trên gà mái thương phẩm phần lớn đã được thay thế bằng phương pháp xác định nhanh trên gà trống trưởng thành của Nguyễn Thị Mai (2001) [5], Sibbald (1976) [28] Trong phương pháp của Sibbald, tác giả đã hiệu chỉnh nguồn năng lượng nội sinh thải ra trong nước tiểu và nguồn năng lượng trao đổi thải ra ở phân (EEL) Giá trị năng lượng trao đổi và tỷ lệ tiêu hóa được xác định bằng phương pháp của Sibbaid (1976) [29] gọi là giá trị TME Phương pháp này sử dụng hai nhóm gà trống trưởng thành có khối lượng tương đương nhau Nhóm đối chứng nhịn đói hoàn toàn

để xác định nguồn năng lượng nội sinh trong nước tiểu và nguồn năng lượng

Trang 18

ăn nhất định Mỗi gà đối chứng hay thí nghiệm được nuôi trong một lồng

riêng, dưới đáy mỗi lồng có khay để thu phân và nước tiểu Sau 24 – 48h thu hết lượng phân và nước tiểu, tách nitơ nước tiểu, làm khô, cân và nghiền nhỏ Mẫu thức ăn và phân được xác định năng lượng bằng “bom” nhiệt kế Từ các kết qủa thu được, sau đó xác định giá trị năng lượng trao

đổi của thức ăn thí nghiệm

Phương pháp sinh học để xác định giá trị năng lượng trao đổi trong thức

ăn gia cầm của Nguyễn Thị Mai (2001) [5] cũng là giá trị ME biểu kiến như

của Hill và Anderson (1958) [20] Tuy nhiên, phương pháp này có ưu điểm là xác định nhanh hơn, đơn giản hơn và đã loại trừ được nhiều yếu tố ảnh hưởng hơn Trong phương pháp này, người ta sử dụng gà trống trưởng thành khoảng

6 tháng tuổi Gà được làm quen thức ăn trong 2 tuần, thời gian cho ăn được rút ngắn dần để đến ngày thứ 14 chúng có thể ăn được 80 – 110 g thức ăn trong một giờ Mỗi gà thí nghiệm được nuôi trong một lồng riêng Dưới mỗi

đáy lồng đều có khay để thu phân và nước tiểu Thức ăn thí nghiệm được trộn

theo tỷ lệ 50% vào khẩu phần cơ sở Sau 32 giờ thu hết lượng phân, làm khô, cân và nghiền nhỏ Từ các kết quả thu được, tính giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn thí nghiệm

Hai phương pháp của Nguyễn Thị Mai (2001) [5] và Sibbald (1976) [28]

đều có ưu điểm chung là thời gian xác định nhanh Mục đích của việc sử dụng

gà trống trưởng thành là dễ dàng có cân bằng nitơ nên không phải hiệu chỉnh lượng nitơ tích lũy Hơn nữa, sử dụng gà trống trưởng thành nhịn đói là muốn

đường tiêu hóa không còn thức ăn, để loại trừ sai số từ nguồn chất thải của

thức ăn trước đó Như vậy không phải dùng chất chỉ thị, từ đó tránh được sai

số khi phân tích Giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn xác định bằng phương pháp của Sibbald (1976) [28] được gọi là giá trị năng lượng trao đổi thật, nó ít biến động hơn so với giá trị năng lượng biểu kiến vì nó không phụ thuộc vào lượng thức ăn thu nhận và giá trị năng lượng trao đổi thải ra ở phân

Trang 19

Ngoài các phương pháp xác định giá trị ME của thức ăn gia cầm đã nêu

ở trên, hiện nay có thêm một số phương pháp khác như: Phương pháp của

Baidoo và cs (1991), Scott và Boldaji (1997) Điểm chung của các phương pháp này là dù thí nghiệm trên gà loại nào thì cũng đều có thời gian cho gà nhịn đói Sự khác nhau của tất cả các phương pháp trên có thể chia làm 2 nhóm: Một nhóm thí nghiệm trên gà trưởng thành, một nhóm trên gà sinh trưởng Nhóm các phương pháp thu toàn bộ phân và nhóm các phương pháp dùng chất chỉ thị Cả hai nhóm phương pháp thu toàn bộ phân và dùng chất chỉ thị đều có thể cho kết qua tốt khi xác định giá trị ME của gia cầm Kết quả nghiên cứu của Hồ Lê Quỳnh Châu và cs (2010) [1] khi xác định giá trị năng lượng trao đổi và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của 4 loại thức ăn dùng cho gia cầm bằng phương pháp phân tích hồi tràng Phương pháp này có ưu

điểm độ chính xác cao hơn so với các phương pháp của các tác giả trên, bởi vì đối với protein và amino acid do diễn ra hoạt động lên men của vi sinh vật ở

ruột già nên khi đánh giá ME và tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng sẽ không chính xác Chính vì vậy phương pháp phân tích hồi tràng là một phương pháp đáng tin cậy nhằm đánh giá tiêu hóa amino acid và protein ở gia cầm

1.2.2 Xác định giá trị ME của thức ăn gia cầm bằng phương pháp gián tiếp (Phương pháp ước tính)

Từ những kết quả thu được về giá trị ME của một số loại thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp, người ta đã xây dựng được các công thức

ước tính giá trị ME của các loại thức ăn cho gia cầm từ thành phần hóa học

hay qua các thông số thu được trên gà thí nghiệm

Giá trị ME ước tính của các loại thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả theo dõi trực tiếp thu được trong các thí nghiệm Mỗi tác giả đưa ra các phương pháp ước tính ME khác nhau Một số tác giả dựa vào giá trị ME của 1 gam chất dinh dưỡng tiêu hóa được như Titus (1956), (1971); Nehring, 1973 (Dẫn theo Viện chăn nuôi, 2001 [14]) Một số tác giả khác dựa ngay vào

Trang 20

Trong số các phương pháp đã nêu ở trên, có phương pháp ước tính giá trị

ME chung cho các loại thưc ăn của gia cầm như phương pháp của Nehring 1973 (Dẫn theo Viện chăn nuôi, 2001 [14]), tác giả đã đưa ra được hệ số chung cho giá trị ME của 1 gam protein tiêu hóa, lipit tiêu hóa, xơ tiêu hóa và 1 gam dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN) tiêu hóa cho các loại thức ăn của gia cầm Titus (1971) [31] lại đưa ra hệ số riêng đối với các nhóm thức ăn khác nhau: VD ME của 1 gam protein tiêu hóa của trứng là 4,35 còn của cao lương là 4,4 kcal

Nhiều tác giả đã tiến hành thí nghiệm để xây dựng phương trình ước tính giá trị ME của các loại thức ăn dựa vào lượng VCK trao đổi Và các tác giả

đều có kết luận có mối quan hệ tuyến tính giữa lượng VCK trao đổi với giá trị

ME của các nhóm thức ăn Hầu hết các tác giả khác thì chỉ đưa ra công thức

ước tính cho một loại thức ăn nhất định cho gia cầm như Lê và Kim 1974;

Barley và cs (1968) Dưới đây là một số các phương pháp ước tính giá trị ME của thức ăn cho gia cầm

Các phương pháp ước tính giá trị ME dựa vào thành phần hóa học của thức ăn:

Phương pháp của Carpenter và Clegg (1956)

Carpenter và Clegg (1956) ở Viện nghiên cứu Rowett- Aberdeen- Escocia năm 1956 đã đưa ra phương pháp hóa học để ước tính giá trị ME của một số loại thức ăn cho gia cầm

ME (kcal/kg thức ăn) = 53 + 38 (% protein thô + 2,25% lipit thô + 1,1 % tinh bột + % đường)

Phương pháp của Fisher và McNab (1987)

Từ kết quả xác định trực tiếp giá trị ME trên gà trưởng thành của 189 mẫu thức ăn, kết hợp với phân tích thành phần mỡ, protein, tinh bột và đường, các tác giả xây dựng phương trình như sau:

ME (kj/g VCK) = 0,3431 % mỡ + 0,1551 % protein + 0,1669 % tinh bột + 0,1301 % đường tổng số

Trang 21

Phương pháp của Moir, Yule và Connor (1980)

Moir, Yule và Connor (1980) đã đưa ra phương trình ước tính giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn gia cầm bằng thành phần hóa học của thức ăn

AME = (35,6 X1 + 21,2 X2 + 15,8 (X3 + X4) – 2,13 – 279) (X3/(X3 + X4) Trong đó: AME - Giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến của thức ăn tính bằng kj cho 1 gam VCK

X1, X2, X3 và X4 lần lượt là lượng lipit thô, protein thô, xơ thô và DXKN tình bằng gam

Phương pháp của Janssen( 1989)

Năm 1989, Janssen, 1989 đã đưa ra các phương trình ước tính giá trị ME (kcal/kg VCK) của một số loại thức ăn:

Ngô: MEn = 36,21 x Protein thô (%) + 85,44 x Lipit thô (%) + 37,26 x DXKN (%)

Đậu tương nguyên dầu

Men = 2769 – 59,1 x Xơ thô (%) + 62,1 x Lipit thô (%)

Khô dầu đậu tương

Men = 2702 – 57,4 x Xơ thô (%) + 62,1 x Lipit thô (%)

Bột cá

Men = 35,87 x VCK (%) – 34,08 x Tro thô (%) + 42,09 x Lipit thô (%) Các phương pháp ước tính giá trị ME dựa vào thành phần hóa học của thức

ăn có ưu điểm là rất dễ áp dụng vì không phải xác định hệ số tiêu hóa Tuy

nhiên, độ chính xác của phương pháp này kém, bởi vì rất nhiều loại thức ăn có thành phần hóa học tượng tự nhau nhưng khả năng tiêu hóa lại rất khác nhau

Phương pháp ước tính giá trị ME của thức ăn dựa vào giá trị ME của 1 gam chất dinh dưỡng tiêu hóa được

Phương pháp của Titus (1971)

ME (kcal/kg) = X1K1 + X2K2 + X3K3 + X4K4

K1, K2, K3, K4 lần lượt là giá trị năng lượng trao đổi của 1 g protein tiêu

Trang 22

X1, X2, X3, X4: lần lượt là số gam protein tiêu hóa, lipit tiêu hóa, DXKN tiêu hóa và xơ tiêu hóa

Hệ số do Titus đề nghị như sau:

K1: Giá trị năng lượng trao đổi của 1 g protein tiêu hóa:

Cazein và trứng: 4,35 kcal; Cá và thịt: 4,25 kcal; ngô và cao lương: 4,4 kcal; cám mì: 4,2 kcal; đậu tương 3,9 kcal

K2: Giá trị ME của 1 g lipit tiêu hóa:

Thịt và cá: 9,93 kcal; sữa: 9,25; các loại hạt 9,11 kcal

K3: Giá trị ME của 1 g DXKN tiêu hóa

Sản phẩm của thịt và cá: 3,9 kcal; sản phẩm của sữa: 3,7 kcal; đậu 4,0 K4: giá trị ME của 1 g xơ tiêu hóa là 4,2

Phương pháp này phải hiệu chỉnh lượng xơ không tiêu hóa

ME (kcal) = 0,34 x lượng xơ không tiêu hóa (g)

Trong đó ME là giá trị ME (kcal) của hàm lượng xơ không tiêu hóa cần trừ đi

Phương pháp của Nerhing, 1973 (Dẫn theo Viện chăn nuôi, 2001 [14])

ME (kcal/kg) = 4,26X1 + 9,5 X2 + 4,23 X3 + 4,23X4

Trong đó: X1, X2, X3, X4 lần lượt là số gam protein tiêu hóa, lipit tiêu hóa, DXKN tiêu hóa và xơ tiêu hóa có trong 1 kg thức ăn

Các phương pháp ước tính giá trị ME của thức ăn dựa vào giá trị ME của

1 gam chất dinh dưỡng tiêu hóa được có ưu điểm là độ chính xác cao hơn Tuy nhiên, muốn áp dụng được những phương pháp này, cần phải xác định

được Hệ số tiêu hóa của riêng từng lợi thức ăn

Phương pháp ước tính giá trị ME của thức ăn dựa vào hàm lượng VCK trao đổi được

Phương pháp của Han và cs (1976)

Trên cơ sở xác định giá trị ME bằng phương pháp trực tiếp, các tác giả đã thiết lập phương trình ước tính giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn cho gia cầm dựa vào lượng VCK trao đổi quan sát được theo phương trình như sau:

Trang 23

Các loại thức ăn giàu hydratcacbon:

Trong đó X: lượng VCK trao đổi của thức ăn tính bằng %

Y: Giá trị ME của thức ăn (Kcal/g)

Ngoài phương pháp xác định giá trị ME của thức ăn gia cầm như trên, còn có rất nhiều các tác giả khác cũng đưa ra các phương pháp ước tính giá trị ME của các loại thức ăn đã góp phần quan trọng trong dinh dưỡng gia cầm

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn gia cầm

1.3.1 Ảnh hưởng của tuổi

Theo các tác giả Askbrant (1990) [15], Zelenka (1997) [32], thì tuổi là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xác định giá trị năng lượng trao đổi của các loại thức ăn cho gia cầm, vì tuổi của gia cầm ảnh hưởng tới lượng thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hóa thức ăn đó Thường thì đối với gà con lượng thức ăn thu nhận sẽ tăng dần theo tuổi (Askbrant, 1990 [15]) Mặt khác

do chiều dài của gà con ngắn hơn gà trưởng thành nên thời gian thức ăn qua

đường tiêu hóa nhanh hơn Khi gà lớn thì tỷ lệ tiêu hóa của các loại thức ăn

cũng tăng lên vì cơ quan tiêu hóa phát triển hoàn thiện, dịch tiêu hóa tăng lên

cả về số lượng và chất lượng Các loại gà khác nhau cũng có quá trình trao

đổi năng lượng khác nhau, thường thì gà sinh trưởng trao đổi năng lượng của

thức ăn ngắn hơn so với gà trưởng thành Do sự tiết axit mật ở gà con là không đủ cho quá trình tiêu hóa lipit, còn gà trưởng thành thì tiết đủ axit mật nên làm tăng khả năng tiêu hóa lipit cũng như giá trị AME (Inaerra và cs,

1989 [22])

Ngày đăng: 16/09/2016, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Lê Quỳnh Châu, Hồ Trung Thông, Vũ Chí Cương, Đàm Văn Tiện (2010), “Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong một số loại thức ăn cho gà”, Báo cáo khoa học năm 2009 phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Viện chăn nuôi, tr. 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong một số loại thức ăn cho gà”, "Báo cáo khoa học năm 2009 phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi
Tác giả: Hồ Lê Quỳnh Châu, Hồ Trung Thông, Vũ Chí Cương, Đàm Văn Tiện
Năm: 2010
3. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1997), Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
6. Hoàng Văn Tiến, Lê Khắc Thận, Lê Doãn Diên (1997), Sinh hóa học với cơ sở khoa học của công nghệ gen, Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 152 – 174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hóa học với cơ sở khoa học của công nghệ gen
Tác giả: Hoàng Văn Tiến, Lê Khắc Thận, Lê Doãn Diên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
7. Tiêu chuẩn phòng thử nghiệm (2005), Phương pháp xác định hàm lượng dẫn xuất không chứa nitơ, TCPTN-HPLC (ISO 6465: 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định hàm lượng dẫn xuất không chứa nitơ
Tác giả: Tiêu chuẩn phòng thử nghiệm
Năm: 2005
8. Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi (2001), Phương pháp xác định ẩm độ, TCVN 4326 - 2001 (ISO 6496:1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp xác định ẩm độ
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi
Năm: 2001
9. Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi (2001), Phương pháp xác định hàm lượng Nitơ và protein, TCVN 4328:2007 (ISO 6496: 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp xác định hàm lượng Nitơ và protein
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi
Năm: 2001
10. Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi (2007), Phương pháp xác định hàm lượng chất béo (lipit) thô, TCVN 4331:2007 (ISO 6492: 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp xác định hàm lượng chất béo (lipit) thô
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi
Năm: 2007
11. Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi (2007), Phương pháp xác định hàm lượng tro, TCVN4327:2007 (ISO 5984: 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp xác định hàm lượng tro
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi
Năm: 2007
12. Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi (2007), Phương pháp xác định hàm lượng xơ thô, TCVN 4329:2007 (ISO 6865: 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp xác định hàm lượng xơ thô
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam, Thức ăn chăn nuôi
Năm: 2007
14. Viện chăn nuôi (2001), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam
Tác giả: Viện chăn nuôi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội. II. Tài liệu tiếng anh
Năm: 2001
15. Askbrant Stefan (1990), The concept of metabolizable energy for poutry, Report 194 swedish University of Agricultural Sciences, Department of Animal nutrition and management, Uppsala Sách, tạp chí
Tiêu đề: The concept of metabolizable energy for poutry
Tác giả: Askbrant Stefan
Năm: 1990
16. Beyden W. L. and Li X. (2004), “Utilisation of digestible amino acid by broiler”, A report for the Rural Industries Research and Development Cooperation (RIRDC) of Australia, RIRDC Publication No 04/030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Utilisation of digestible amino acid by broiler”, "A report for the Rural Industries Research and Development Cooperation (RIRDC) of Australia
Tác giả: Beyden W. L. and Li X
Năm: 2004
18. Edney Pereira da Silva, Carlos Bôa-Viagem Rabello, Luiz Fernando Teixeira Albino, Jorge Victor Ludke, Michele Bernardino de Lima, Wilson Moreira Dutra Junior, Prediction of metabolizable energy values in poultry offal meal for broiler chickens, R. Bras. Zootec., v.39, n.10, p.2237-2245, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prediction of metabolizable energy values in poultry offal meal for broiler chickens
19. Harvey Lodish, David Baltimore, Arnold Berk (1995), “Molecular cell biology”, third edition, Scientific American Books, pp. 268-278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular cell biology”
Tác giả: Harvey Lodish, David Baltimore, Arnold Berk
Năm: 1995
20. Hill F.W and Anderson D.L (1958), Comparison of metabolisable energy and productive energy determinations with growing chicks, Journal of nutrition, 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of nutrition
Tác giả: Hill F.W and Anderson D.L
Năm: 1958
23. Kellems và Church (1998), Livestock and Feeding, Fourth edition, Prentice Hall, upper Saddle River, New Jersey Sách, tạp chí
Tiêu đề: Livestock and Feeding
Tác giả: Kellems và Church
Năm: 1998
25. Latshaw J.D , Bishop and Toussant (1990), Enetgy retention by broiler chicken as affected by dietary changes in proximate analysis or pelleting, Poutry Science, Abstracts of papers 88 th Animal meeting, USA, pp. 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poutry Science
Tác giả: Latshaw J.D , Bishop and Toussant
Năm: 1990
26. Lewis D. Lon (1995), Equine clinical nutrition, feeding and care. A Lea & Febiger book, William and Wilkins, USA, pp. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Equine clinical nutrition, feeding and care
Tác giả: Lewis D. Lon
Năm: 1995
27. Moir K.W, Yule W.J and Connor J.K (1980), Animal Husbandy, Australia, pp.20 – 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal Husbandy
Tác giả: Moir K.W, Yule W.J and Connor J.K
Năm: 1980
28. Sibbald I.R (1976), A bioassay for true metabolizable energy in feeding stuffs, Poutry Science, 55, pp. 303 – 308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poutry Science
Tác giả: Sibbald I.R
Năm: 1976

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ cân bằng năng lượng ở gia cầm - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Hình 1.1 Sơ đồ cân bằng năng lượng ở gia cầm (Trang 15)
Bảng 2.1: Thành phần nguyên liệu của khẩu phần cơ sở - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 2.1 Thành phần nguyên liệu của khẩu phần cơ sở (Trang 34)
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn cho gà thí nghiệm - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn cho gà thí nghiệm (Trang 35)
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (n =3) - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (n =3) (Trang 39)
Bảng 3.2: Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở và khẩu - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 3.2 Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở và khẩu (Trang 40)
Bảng 3.3: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của bột lá sắn - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 3.3 Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của bột lá sắn (Trang 42)
Bảng 3.4: Năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (ME N ) của bột lá sắn (n =5) - Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột lá sắn có hiệu chỉnh theo lượng nitơ được tích lũy trong cơ thể gà và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột lá sắn
Bảng 3.4 Năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (ME N ) của bột lá sắn (n =5) (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w