1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sátxét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

53 651 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 636,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trình độ chuyên môn của Kiểmsát viên khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểmsát xét xử sơ thẩm các vụ án nói chung và các vụ án Lừa đảo chiếm

Trang 1

Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát

xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ths Lê Đức Xuân Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Phước

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự gia tăngđáng kể về số lượng tội phạm và người phạm tội với thủ đoạn phạm tội ngày càngtinh vi và táo bạo hơn, tài sản bị chiếm đoạt trong nhiều trường hợp lên đến hàngngàn tỷ đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các cá nhân, tổ chức

Với vị trí là cơ quan kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong tất cả các giaiđoạn tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm các vụ

án hình sự nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm pháp luậtđược thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, không để lọt người, lọt tội và khônglàm oan người vô tội Hiệu quả của công tác này phụ thuộc phần lớn vào kỹ năngcủa Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điềutra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Tuy nhiên, trình độ chuyên môn của Kiểmsát viên khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểmsát xét xử sơ thẩm các vụ án nói chung và các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nóiriêng trong nhiều trường hợp còn hạn chế như: không tiến hành kiểm sát thườngxuyên các biện pháp điều tra, không kịp thời phát hiện những thiếu sót trong quátrình thu thập tài liệu, chứng cứ… dẫn đến một số trường hợp không đủ căn cứ đểkhởi tố vụ án, khởi tố bị can hay không đủ cơ sở để truy tố, xét xử, yêu cầu điều trakhông đảm bảo… Những hạn chế, yếu kém đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến quyền tự do dân chủ của công dân và ảnh hưởng nhiều đến uy tín của các cơquan tiến hành tố tụng Do đó, để hiệu quả của hoạt động thực hành quyền công tố,kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung và các vụ ánLừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng đạt hiệu quả cao, Kiểm sát viên nhất địnhphải nắm chắc các kỹ năng cần thiết cả về chuyên môn và nghiệp vụ khi thực hiệnhoạt động hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử

sơ thẩm

Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu chuyên đề “Mộ t số kỹ năng thự c

hành quyề n công tố và kiể m sát điề u tra, kiể m sát xét xử sơ thẩ m các vụ án Lừ a

đả o chiế m đoạ t tài sả n” là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao

Trang 2

Trang 2

chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong tình hìnhhiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề là làm rõ một số kỹ năng của kiểm sátviên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các

vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: Kỹ năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, kỹ năng thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án và khởi tố bị can, kỹ năng kiểm sát việc lấylời khai, hỏi cung, kỹ năng đề ra yêu cầu điều tra, kỹ năng lập cáo trạng, hoạt độngtrước khi mở phiên tòa, kỹ năng tham xét hỏi, kỹ năng tranh luận, sau khi kết thúcphiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời đúc kết một số kinh nghiệm cho Kiểm sát viênkhi tiến hành các hoạt động này thông qua một số vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sảntrên thực tiễn có sai sót trong quá trình giải quyết

3 Phạm vi nghiên cứu

Chuyên đề nghiên cứu những kỹ năng của kiểm sát viên khi thực hành quyềncông tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sảnchủ yếu dựa trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng hình sự , Quy chế về Thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ ánhình sự (ban hành kèm theo quyết định số 07/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 củaViện kiểm sát nhân dân tối cao) và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình giải quyếtcác vụ án về loại tội này

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin về duy vật biện chứng, chính sách Hình sự của Đảng và Nhà nước Ngoài ra,người viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định của phápluật có liên quan đến kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểmsát xét xử sơ thẩm án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ đó, làm sáng tỏvấn đề nghiên cứu

Mác-5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

đề tài được chia làm 2 chương:

Chương 1: Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra,kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 3

Chương 2: Kinh nghiệm từ một số vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trongquá trình giải quyết có sai sót.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KỸ NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA, KIỂM SÁT XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT

TÀI SẢN 1.1 Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Với vị trí là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc chấp hànhpháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điềutra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản(LĐCĐTS) nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm pháp luậtđược thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, không để lọt người, lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội Căn cứ pháp luật, quy trình, nội dung, biện pháp thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn này của VKSND được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm

1992, Điều 112, 113 BLTTHS, Điều 1, 3, 12, 13, 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sátnhân dân 2002, Quy chế về Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong điều tra các vụ án hình sự (ban hành kèm theo quyết định số07/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao), viết tắt làQuy chế 07

Hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên của VKSND phụthuộc phần lớn vào hoạt động thực thi công vụ của Kiểm sát viên được phân công

từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm đến khi kết thúc điều tra Do đó, để hiệu quảcủa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đạt hiệu quả cao, Kiểmsát viên nhất định phải nắm chắc các kỹ năng cần thiết khi thực hiện hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Để góp phần nâng cao chất lượnghoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nóichung cũng như các vụ án Lừa đảo chiếm đọat tài sản nói riêng, trong phạm vi củachuyên đề, chúng tôi sẽ phân tích làm rõ một số kỹ năng của Kiểm sát viên khithực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Kỹ năng kiể m sát việ c tiế p nhậ n, giả i quyế t tố giác, tin báo về tộ i phạ m Lừ a đả o chiế m đoạ t tài sả n

Trang 4

Trang 4

Trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm Lừa đảo chiếmđoạt tài sản nói riêg, không được chủ quan, xem nhẹ việc tiếp nhận, giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm bởi đây là một trong những căn cứ xác định có hay không

có dấu hiệu tội phạm Thông qua công tác kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tộiphạm, Cơ quan điều tra xác định một hành vi nào đó có là tội phạm hay không từ đó

ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự

Để quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm bảo đảm tính khách

quan, toàn diện và triệt để, khoản 4 Điều 103 BLTTHS qui định: “Viện kiểm sát có

trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố” Theo Thông tư liên tịch số

06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02-8-2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS

về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,trách nhiệmchính của Viện kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác tiến hành một số hoạtđộng điều tra ban đầu (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra) Như vậy, kiểm sátviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một thẩm quyền của Viện kiểm sát

nhân dân trong đó đối tượng kiểmsát chính là hoạt động của Cơ quan điều tra

trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Để

thực hiện thẩm quyền này, Kiểm sát viên được phân công phải kiểm tra, giám sátcác hoạt động của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao thực hiện một sốhoạtđộng điều tra trong việc tiếp nhận, xác minh thông tin về tội phạm phục vụ choviệc quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự nhằm đảm bảo các hoạtđộng này luôn tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động này có sựgắn kết chặt chẽ và hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátđiều tra, kiểm sát xét xử sau này của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án

Khác với các tố giác, tin báo về tội phạm của các loại tội phạm khác, việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cónhững đặc thù riêng ở chỗ: Các tố giác, tin báo về tội phạm này chủ yếu là dongười bị hại (cá nhân, tổ chức) cung cấp cho Cơ quan điều tra; người bị hại sau khi

bị chiếm đoạt tài sản thường không phát hiện được do hành vi lừa đảo gây ra màphải qua một thời gian nhất định mới phát sinh nghi ngờ và mới tố cáo với cơ quanđiều tra Để phát hiện hành vi phạm tội, người phạm tội, Cơ quan điều tra khôngchỉ sử dụng các biện pháp tố tụng mà phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ vàphải trải qua một thời gian nhất định mới có thể thực hiện được Chính vì vậy, để

Trang 5

kiểm sát việc tiếp nhận, tố giác, tin báo về tội phạm này có hiệu quả, kiểm sát viênđược phân công phải tập trung những vấn đề sau đây:

Quan hệ chặt chẽ với Cơ quan điều tra để quản lý được tình hình tiếp nhận

và xử lý ban đầu về tố giác, tin báo tội phạm này (Số lượng và nội dung tố giác, tinbáo)

Yêu cầu Cơ quan điều tra lấy lời khai người bị hại để làm rõ số người bị hại,giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

họ tên, địa chỉ người bị hại,thời gian, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm

Yêu cầu cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp tố tụng và nghiệp vụ để tiếnhành thẩm tra, xác minh phát hiện tội phạm và người phạm tội

1.1.2 Kỹ năng thự c hành quyề n công tố và kiể m sát việ c khở i tố vụ án, khở i tố bị can trong các vụ án Lừ a đả o chiế m đoạ t tài sả n

1.1.2.1 Kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để bảo đảm thực hiện chứng năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việckhởi tố vụ án có hiệu quả khi nhận được quyết định khởi tố hoặc quyết định khôngkhởi tố vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản kèm theo tài liệu, chứng cứ dùng làm căn

cứ cho việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, Kiểm sát viên được phân công phảikiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định này cụ thể như:

- Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi

tố vụ án Yêu cầu kiểm sát viên phải làm rõ bốn dấu hiệu của tội phạm này baogồm: có hay không có hành vi chiếm đoạt tài sản, thiệt hại về tài sản, hành vichiếm đoạt tài sản đó có phải được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối hay không;hành vi đó có nguy hiểm cho xã hội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sựhay chưa, lỗi của người thực hiện hành vi đó?

Để làm rõ các vấn đề đó, kiểm sát viên phải nghiên cứu, kiểm tra các tàiliệu, chứng cứ sau đây:

+ Đơn tố cáo hoặc tin báo về hành vi chiếm đoạt tài sản, mục đích để nắmđược nội dung tin báo là gì? có thủ đoạn gian dối hay không? là thủ đoạn gì? Cóhành vi chiếm đoạt tài sản hay không, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là bao nhiêu?

+ Các thông tin ban đầu về người phạm tội, phương thức, thủ đoạn thực hiệntội phạm, động cơ mục đích phạm tội…;

+ Biên bản lấy lời khai của người bị hại và người làm chứng (nếu có) để làm

rõ hơn nội dung tố giác;

Trang 6

Trang 6

+ Các tài liệu, đồ vật thể hiện việc đối tượng có thủ đoạn gian dối;

+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc đối tượng có ý thức chiếm đoạt tài sảntài sản (nếu được), giá trị tài sản mà đối tượng mong muốn chiếm đoạt; Biên bảnđịnh giá tài sản

+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc thỏa thuận, nội dung thỏa thuận; các tàiliệu thể hiện việc giao – nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội (phiếuchuyển tiền qua ngân hàng, biên nhận giao tiền/giao hàng, hợp đồng…)

+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc đối tượng có hành vi chiếm đoạt tài sản(tài liệu thể hiện việc đối tượng đã bán tài sản, tài liệu thể hiện việc đối tượng cố ýkhông thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản theo đúng thỏa thuận…)

- Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.Khi kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, kiểmsát viên phải kiểm tra những văn bản về những vấn đề sau:

+ Thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, họ tên, chức

vụ của người ra quyết định, chữ ký, con dấu

+ Nội dung quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án có ghi rõ thời gian,căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố Nếu khởi tố thì theo khoản nào của Điều 139của Bộ luật hình sự

+ Kiểm tra hình thức các biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiệntrường, biên bản làm việc… có tuân thủ các quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật

tố tụng hình sự hay không? Việc kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tốhoặc không khởi tố vụ án nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của văn bản tố tụng và giátrị chứng minh của các chứng cứ đã thu thập được

Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặckhông khởi tố vụ án Kiểm sát viên được phân công xử lý như sau:

Nếu thấy quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án là có căn cứ và hợppháp thì báo cáo lãnh đạo, vào sổ thụ lý và thông báo cho Cơ quan điều tra biết đểtiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo hoặc chấm dứt các hoạt động điều tra

Nếu quyết định khởi tố vụ án là không có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo ra vănbản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ Nếu cơ quan đã khởi tố khôngnhất trí thì báo cáo lãnh đạo ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố Nếu quyếtđịnh khởi tố vụ án là không có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo ra văn bản yêu cầu Cơquan khởi tố hủy bỏ, nếu không nhất trí thì báo cáo lãnh đạo ra quyết định hủy bỏ

Trang 7

quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án đồng thời chuyểncho Cơ quan điều tra để tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo.

- Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tài sản củaHội đồng xét xử, Kiểm sát viên thụ lý vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ của quyếtđịnh khởi tố đó và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên đượcViện trưởng uỷ quyền xử lý như sau:

+ Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ thì chuyển quyết định khởi

tố vụ án hình sự kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩmquyền để tiến hành điều tra;

+ Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì kháng nghị lênToà án cấp trên

1.1.2.2 Kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố bị can trong các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 126 BLTTHS thì khi có đủ căn

cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra raquyết định khởi tố bị can … Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố

bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố bị can và tài liệu liên quan đếnviệc khởi tố bị can đó cho Viên kiểm sát cùng cấp xem xét phê chuẩn Để đảm bảoviệc phê chuẩn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, kiểm sát viên được phâncông phải kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can

- Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố bị can Khi kiểm tra tính cócăn cứ của quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra, nghiên cứu cáctài liệu chứng cứ sau đây để làm rõ quyết định khởi tố bị can là đúng người, đúngtội

+ Nghiên cứu kiểm tra công văn đề nghị xét phê chuẩn của cơ quan điều tra

để nắm được yêu cầu của Cơ quan điều tra

+ Nghiên cứu, kiểm tra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can để xácđịnh tính phù hợp giữa hai quyết định này

+ Nghiên cứu kiểm tra hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn bao gồm: Nghiên cứucác tài liệu, chứng cứ dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án như đã phân tích tại mục1.1.2.1 để tiếp tục khẳng định sự việc có tính pháp lý hình sự xảy ra là có dấu hiệutội phạm và việc khởi tố vụ án là có căn cứ và hợp pháp Mặt khác để đảm bảo việc

Trang 8

+ Nghiên cứu biên bản bắt, khám xét đối tượng để xác định các dấu vết, vậtchứng mới được phát hiện, thu giữ trong quá trình bắt, khám xét chỗ ở, chỗ làmviệc, địa điểm và trong người đối tượng để xác định công cụ, phương tiện thựchiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

+ Nghiên cứu biên bản ghi lời khai của đối tượng bị tạm giữ và biên bản hỏicung bị can đã được Điều tra viên tiến hành ngay sau khi khởi tố bị can để làm rõhành vi phạm tội của bị can; vị trí, vai trò của từng bị can trong vụ án có đồngphạm và những vần đề khác về lỗi, tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, năng lựctrách nhiệm hình sự và các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn

vụ án

+ Nghiên cứu các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra phát hiện và thuthập được thông qua hoạt động kiểm tra, xác minh bổ sung để củng cố các nguồnchứng cứ khác…

Sau khi nghiên cứu, kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, kiểmsát viên phải xác định người bị khởi tố theo quy định tại Điều 139 có phải là người

đã thực hiện hành vi phạm tội và người đó có đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

và có năng lực trách nhiệm hình sự hay không Trên cơ sở đó xác định việc khởi tố

bị can có căn cứ hay không

Kiểm sát tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can là kiểm sát việc tuântheo pháp luật của Cơ quan điều tra trong việc ra quyết định khởi tố bị can baogồm: kiểm sát việc thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can (Họ tên, chức vụ, chữ

ký, con dấu trong quyết định và các quy định tại khoản 2,3,4,5,6 Điều 126 Bộ luật

Trang 9

lãnh đạo làm văn bản yêu cầu bổ sung; nếu quyết định khởi tố bị can rõ ràng làkhông có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định hủy bỏ nếu khôngnhất trí thì báo cáo lãnh đạo ra quyết định hủy bỏ và trả tự do cho người bị khởi tố.

1.1.3 Kỹ năng kiể m sát hoạ t độ ng củ a Cơ quan điề u tra đố i vớ i việ c khám xét, thu giữ , tạ m giữ , kê biên tài sả n

Trong các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đối tượng phạm tội thườngchuẩn bị những công cụ, phương tiện như giấy tờ giả, con dấu giả, quân phục, xemáy… nhằm tạo ra nhưng “kịch bản” giả tạo (đang có việc nên vờ hỏi mượn xe,đang cần huy động vốn để đầu tư sẽ trả lãi suất cao…) hoặc tạo cho mình thân thếgiả tạo (quan chức cao cấp, doanh nhân…) để gây lòng tin nơi người khác nhằmchiếm đoạt tài sản Những công cụ, phương tiện mà người phạm tội Lừa đảo chiếmđoạt tài sản sử dụng là những vật chứng quan trọng có giá trị chứng minh tội phạm

và những vật chứng này chỉ có thể thu thập được thông qua hoạt động khám xét,thu giữ Bên cạnh đó, trong các vụ án Lừa đảo, sau khi chiếm đoạt tài sản, ngườiphạm tội có thể tẩu tán tài sản hoặc sử dụng vào những mục đích khác nhau, nhiềutrường hợp không thể thu hồi dẫn đến việc không thể hoàn trả hoặc bồi thường chongười bị hại Để đảm bảo chho việc giải quyết vụ án, nhiều trường hợp cần thiếtphải thực hiện việc kê biên tài sản của người phạm tội Do đó, khi giải quyết các

vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất thiết phải quan tâm đến hoạt động khámxét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản

Khi kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản,Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên và những người tham gia khám xét chấphành đúng các quy định tại các Điều 75, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 và

148 BLTTHS và các quy định pháp luật hiện hành

Đối với những trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn lệnh khámngười, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; lệnh thu giữ thư tín, bưu kiện, bưu phẩm thìKiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh này và báo cáoViện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử

Trang 10

1.1.4 Kỹ năng kiể m sát việ c lấ y lờ i khai, hỏ i cung

1.1.4.1 Kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Để thu thập chứng cứ, xác định sự thật vụ án, Kiểm sát viên cần chủ độngyêu cầu Điều tra viên kịp thời lấy lời khai của những người làm chứng và người bịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án; không để sót những người làm chứng quan trọng mà họ trực tiếp nghe được,nhìn thấy hành vi phạm tội, bảo đảm cho họ thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật

và những yêu cầu của mình để làm rõ vụ án; nếu thấy cần thiết thì đồng thời vớiviệc ghi lời khai, có thể tiến hành ghi âm, chụp ảnh, ghi hình

Khi kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kiểm sátviên yêu cầu Điều tra viên thực hiện đúng các quy định tại các Điều 133, 134, 135,

136 và 137 BLTTHS

Trong quá trình điều tra và sau khi kết thúc điều tra vụ án, Kiểm sát viên cóthể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bịđơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án để kiểm tra chứng cứtrong các trường hợp lời khai của họ có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn vớinhững chứng cứ khác đã thu thập hoặc có nghi ngờ về tính trung thực, khách quantrong lời khai của họ Nếu việc triệu tập để lấy lời khai thực hiện trước khi kết thúcđiều tra thì Kiểm sát viên thông báo cho Điều tra viên thụ lý vụ án về thời gian, địađiểm tiến hành việc lấy lời khai của những người này trước khi lấy lời khai để phốihợp thực hiện

Kiểm sát viên phải thực hiện đúng quy định tại các Điều 133, 135, 136 và

137 BLTTHS trong việc triệu tập, lấy lời khai và ghi biên bản lời khai Biên bảnghi lời khai do Kiểm sát viên tiến hành phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu

hồ sơ kiểm sát một bản

Trang 11

Lưu ý, khi kiểm sát các biên bản lấy lời khai người bị hại trong các vụ ánLừa đảo chiếm đoạt tài sản Kiểm sát viên cần tập trung vào những vấn đề sau đây:

- Đối chiếu biên bản lấy lời khai người bị hại sau khi khởi tố vụ án với đơn

tố cáo hành vi phạm tội ban đầu để xem xét có vấn đề gì mới phát sinh hay không,nếu có thì phát sinh vấn đề gì? Lý do vì sao?

- Biên bản lấy lời khai người bị hại để làm rõ phương thức, thủ đoạn thựchiện tội phạm của các đối tượng phạm tội hay chưa?

Tính chất, mức độ thiệt hại thể hiện trong các lời khai của người bị hại nhưthế nào và cụ thể là bao nhiêu

- Nghiên cứu xem xét đánh giá đối chiếu các lời khai của người bị hại tạicác thời điểm khác nhau để xác định có hay không có mâu thuẫn cần làm rõ Nếutrong quá trình nghiên cứu kiểm tra các văn bản lấy lời khai người bị hại chưađược làm rõ những vấn đề nêu trên thì Kiểm sát viên trao đổi với điều tra viên để

họ khắc phục hoặc làm văn bản yêu cầu Điều tra viên tiến hành lấy lời khai người

bị hại để làm rõ Trong trường hợp cần thiết để nắm được phương thức, thủ đoạnthực hiện hành vi phạm tội và kiểm tra tính chính xác của giá trị tài sản bị thiệt hạithì Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người bị hại nhưng phải thông báocho Điều tra viên biết và biên bản lấy lời khai phải lưu vào hồ sơ vụ án

1.1.4.2 Kiểm sát việc hỏi cung bị can

Việc kiểm tra giám sát hỏi cung bị can được tiến hành bằng hai hình thức làKiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên để cùng tham gia hỏi cung bị can, để bảođảm việc truy tố và thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đúng người, đúngtội và chủ động trong từng hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa; hai là kiểmsát các biên bản hỏi cung của Điều tra viên trong giai đoạn điều tra và truy tố Khikiểm sát việc hỏi cung bị can của Điều tra viên, ngoài việc xác định việc hỏi cung

bị can của Điều tra viên để làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh về thời gian, địađiểm thực hiện tội phạm, công cụ phương tiện thực hiện tội phạm, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những đặc điểm về nhân thân của bị can Đểbảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội đánh giá hết tính chất nguy hiểm củahành vi phạm tội Kiểm sát viên cần tập trung làm rõ các vấn đề sau đây:

Đối với các vụ án có đồng phạm việc hỏi cung phải làm rõ ai là người tổchức (Chủ mưu, cầm đầu hay chỉ huy), ai là người thực hành, người xúi giục,người giúp sức Đồng thời phải làm rõ ai là người cung cấp các loại giấy tờ giả,

Trang 12

Trang 12

con dấu giả, quân phục, cấp hàm, cấp hiệu …cho người phạm tội? Các đối tượng

có biết mục đích của việc sử dụng các giấy tờ, đồ vật này hay không?

Về tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội Đối với tội phạm Lừađảo chiếm đoạt tài sản khi kiểm sát việc hỏi cung bị can cần làm rõ tính chất mức

độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, phương pháp, cách thức phân chia tài sản,giá trị tài sản chiếm đoạt của từng người là bao nhiêu được thể hiện trong biên bảnhỏi cung hay chưa để làm cơ sở cho việc đề nghị mức độ bồi thường thiệt hại tronggiai đoạn truy tố và xét xử sau này Qua nghiên cứu, kiểm tra nếu các biên bản hỏicung chưa làm rõ những vấn đề nêu trên thì Kiểm sát viên tiếp tục trao đổi và yêucầu Điều tra viên tiếp tục hỏi cung để làm rõ

Trong quá trình điều tra vụ án, khi có đề nghị của Cơ quan điều tra hoặcthấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội,lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xácthực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêmtrọng thì Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi cung bị can Trước khi hỏi cung, Kiểmsát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sátđiều tra để xin ý kiến chỉ đạo và thông báo trước cho Điều tra viên biết

Việc hỏi cung bị can và lập biên bản hỏi cung bị can do Kiểm sát viên tiếnhành phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 131 và Điều 132 BLTTHS Biênbản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ

sơ kiểm sát một bản

1.1.5 Kỹ năng đề ra yêu cầ u điề u tra

Đề ra yêu cầu điều tra là một trong những quyền công tố của VKSND đượctiến hành trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án Lừađảo chiếm đoạt tài sản nhằm góp phần đảm bảo cho việc điều tra vụ án đúnghướng, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan sai và bỏ lọt tộiphạm Quyền yêu cầu điều tra của VKSND được quy định tại khoản 2 Điều 112BLTTHS, khoản 2 Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: Khi thựchành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyềnhạn đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra” Theoquy định tại Điều khoản 1 Điều 37 BLTTHS, kiểm sát viên có nhiệm vụ thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự là người có trách nhiệm thực hiệnviệc đề ra yêu cầu điều tra Quyền đề ra yêu cầu điều tra của kiểm sát viên còn

Trang 13

được quy định cụ thể tại Điều 15 Thông tư liên tịch số 05/2005 và Điều 19 Quychế số 07/2008.

Để làm tốt kỹ năng đề ra yêu cầu điều tra đối với vụ án Lừa đảo chiếm đoạttài sản phải có nhận thức đúng và tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩmquyền của VKS trong việc đề ra yêu cầu điều tra và đảm bảo các yêu cầu sau:

- VKS phải nắm vững lý luận về tội phạm và đặc trưng cơ bản của tội phạmLĐCĐTS Đây là cơ sở quan trọng đầu tiên giúp cho việc xác định phương hướnggiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và cả quá trình điều tra chứng minh tộiphạm

- Phải theo sát tiến độ điều tra để nắm được diễn biến, tính chất của vụ án,nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ ánđể pháthiện những vấn đề mâu thuẫn, những vấn đề cần tiếp tục làm rõ thêm trong vụ án.Trên cơ sở đó chủ động, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra sát hợp với từng tình huống

cụ thể

- Phải xác định rõ mục đích, yêu cầu của việc yêu cầu điều tra là giúp choĐTV xác định đúng hướng điều tra, bảo đảm việc điều tra vụ án được khách quantoàn diện, chính xác, đúng pháp luật, tránh làm oan sai, bỏ lọt tội phạm nên chỉ đề

ra yêu cầu điều tra khi cần thiết

Nội dung của yêu cầu điều tra phải tập trung vào những vấn đề cần phảichứng minh trong từng vụ án cụ thể Qua khảo sát thực tế, cho thấy nội dung yêucầu điều tra đối vụ án LĐCĐTS thường tập trung các vấn đề sau:

Mộ t là, yêu cầu điều tra làm rõ dấu hiệu tội phạm LĐCĐTS.

KSV yêu cầu ĐTV thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định có hành vi phạmtội LĐCĐTS xảy ra trên thực tế hay chỉ vi phạm luật kinh tế, luật dân sự; có dấuhiệu LĐCĐTS hay tội phạm có dấu hiệu tương tự thông qua việc nắm rõ đặc trưngcủa tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Đặc trưng của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sảnbằng thủ đoạn gian dối Người phạm tội cung cấp cho chủ tài sản hoặc người quản

lý tài sản hợp pháp thông tin sai sự thật khiến họ tin tưởng rồi giao tài sản chongười phạm tội (hoặc người phạm tội không phải giao trả tài sản mà đáng lẽ phảigiao cho người bị lừa dối) Trong đó, hành vi cung cấp cho chủ tài sản hoặc ngườiquản lý tài sản hợp pháp thông tin sai sự thật là nguyên nhân trực tiếp, quyết địnhviệc chiếm đoạt của người phạm tội đối với tài sản đó Ý thức chiếm đoạt tài sảncủa người phạm tội luôn có trước khi có việc giao – nhận tài sản với người bị hại

Trang 14

Trang 14

Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện cụ thể: Nếu tài sản

bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thểcủa hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối Vì đã tin vàothông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản Khi nhậnđược tài sản cũng là lúc người phạm tội làm chủ được tài sản định chiếm đoạt vàngười bị lừa dối đã mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế Tội lừa đảo coi làhoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hìnhthức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phảigiao cho người bị lừa dối Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bịlừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận Khi người bị lừa dối nhận nhầmhoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tàisản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó Tội lừa đảo coi là hoànthành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản

Như vậy, để chứng minh tội phạm và người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tàisản, Kiểm sát viên nhất thiết phải yêu cầu Điều tra viên tập trung yêu cầu làm rõnhững nội dung sau đây:

- Thủ đoạn gian dối

Đề xác định được có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra haykhông, nhất thiết phải chứng minh những vấn đề sau: Có thủ đoạn gian dối haykhông? Cụ thể là hành vi gì, thực hiện bằng công cụ, phương tiện nào?Hành vigian dối đó có nhằm chiếm đoạt tài sản hay không? Thủ đoạn gian dối có là điềukiện trực tiếp để thực hiện hành vi chiếm đoạt không? Người bị hại có tin vào hành

vi gian dối mà giao tài sản cho người phạm tội không?

Bởi thủ đoạn gian dối của người phạm tội luôn được thể hiện bằng nhữnghành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủđoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện rabên ngoài bằng hành vi nên việc xác định thủ đoạn gian dối là việc có thể thựchiện Trong nhiều trường hợp, thủ đoạn gian dối của người phạm tội rất tinh vi,phức tạp Tuy nhiên, thủ đoạn gian dối của người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tàisản thường được thực hiện một cách hết sức đa dạng.Tùy thuộc vào điều kiện,hoàn cảnh cụ thể mà người phạm tội có hành vi cụ đánh lừa được người khác saocho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà giao tài sản cho người phạm tội.Trên thực tế,thủ đoạn của người phạm tội rất tinh vi, phức tạp, liên quan đến kiến

Trang 15

thức chuyên sâu của nhiều lĩnh vực như: làm giả hóa đơn, chứng từ giả để lừa đảochiếm đoạt tiền hoàn thuế VAT, dự án giả để lừa đảo tiền đầu tư, giả mạo quyền sởhữu tài sản để thế chấp vay tiền ngân hàng, dùng vàng bạc đô la giả, đồ cổ giả,hàng giả để lừa bán lấy tiền Do đó, để giải quyết vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tàisản, Điều tra viên, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ về phương thức, thủ đoạn củađối tượng, cần có những hiểu biết sâu sắc về hoạt động của đối tượng, nhất thiếtphải làm rõ thủ đoạn gian dối của đối tượng nhằm chiếm đoạt tài sản.

- Yếu tố chiếm đoạt

Để chứng minh yếu tố chiếm đoạt trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,KSV, ĐTV phải xác định có sự cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản,quyền tài sản đang thuộc sự quản lý của một chủ thể thành tài sản của mình Đốicác vụ án LĐCĐTS dùng thủ đoạn gian dối như dùng lời nói khéo léo để gây lòngtin rồi chiếm đoạt tài sản, dùng lợi ích vật chất để đánh vào lòng tham của người cótài sản, đánh tráo tiền thật thành tiền giả, hàng thật thành hàng giả trong lúc traođổi, mua bán hàng để chiếm đoạt tài sản thì hành vi chiếm đoạt và ý thức chiếmđoạt của người thực hiện tội phạm được biểu hiện ra ngay Đối với các thủ đoạngian dối khác hoặc hành vi chiếm đoạt phát sinh trong quan hệ hợp đồng dân sự,kinh tế, vay mượn tài sản việc chứng minh người thực hiện tội phạm có ý thức vàhành vi chiếm đoạt là vấn đề khó khăn, phức tạp, nhất là khi bọn phạm tội sử dụngnhững thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt Việc xác định có yếu tố chiếm đoạt haykhông thường được xác định qua người làm chứng hoặc người bị hại, thông quacác giấy tờ xác nhận việc giao nhận tài sản giữa người bị hại với người phạm tội,các hồ sơ, thủ tục để nhận được tài sản

Nếu đối tượng chỉ có thủ đoạn gian dối nhưng không có ý định chiếm đoạttài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể

mà người có hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tàisản hoặc chỉ là quan hệ dân sự, kinh tế Hành vi chiếm đoạt tài sản thường đượcthể hiện thông qua việc sử dụng tài sản không đúng mục đích cam kết, chi tiêu cánhân, sử dụng vào các hoạt động bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng thu hồi,khả năng tài chính của các đối tượng không thể thanh toán được các khoản nợ,chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn…

Do đó, để làm rõ yếu tố chiếm đoạt trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,KSV cần yêu cầu Điều tra viên cần xác định rõ những nội dung sau:

Trang 16

Trang 16

Đối tượng có hay không có ý thức chiếm đoạt tài sản? Thời điểm xuất hiện ýthức chiếm đoạt tài sản (trước, trong hay sau khi giao – nhận tài sản)? Hành vichiếm đoạt của đối tượng được thể hiện dưới hình thức nào? Các chứng cứ chứngminh việc đối tượng có ý thức chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt? Sau khi đượcgiao – nhận tài sản, đối tượng sử dụng tài sản vào mục đích gì?

Thực tiễn cho thấy, có thể chứng minh hành vi chiếm đoạt của người phạmtội thông qua việc xác định các vấn đề sau1:

Thứ nhất, sau khi có thủ đoạn gian dối để được giao - nhận tài sản, đối

tượng có hành vi sử dụng tài sản vào các mục đích khác nhau như: bán tài sản; tiêuxài hết và không có khả năng thanh toán; sử dụng tài sản vào mục đích bất hợppháp; không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợpđồng khi nợ đến hạn mà không có sự chấp thuận gia hạn nợ, không được chủ nợđồng ý xóa nợ; cản trở việc phát mại tài sản để thu hồi nợ; đã mất khả năng thanhtoán trước đó nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền hoặc để nhận tài sảncủa người khác rồi dùng tài sản đó để trả nợ cho các khoản nợ trước đó rồi tuyên

bố vỡ nợ, không có khả năng thanh toán…

Thứ hai, sau khi có thủ đoạn gian dối để nhận được tài sản, đối tượng có

hành vi bỏ trốn để không phải trả lại tài sản Có quan điểm cho rằng chỉ cần chứngminh đối tượng bỏ trốn nhằm gây khó khăn cho chủ nợ trong việc thu hồi nợ, ngoạitrừ những trường hợp bỏ trốn vì sợ chủ nợ cưỡng bức, hành hạ là đủ để cấu thànhtội phạm Thực tiễn cho thấy đây là yếu tố rất hay gây tranh cãi và dễ bị lạm dụngtrong thực tiễn để quy kết về mặt hình sự Theo tác giả, việc bỏ trốn trên thực tiễn

có thể có rất nhiều lý do khác nhau Bỏ trốn để tạm lánh mặt chủ nợ do hiện tại bảnthân họ không có khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ, do họ cũng là nạn nhâncủa việc bị người khác chiếm đoạt; bỏ trốn do sợ công an bắt, do sức ép từ các connợ… Do đó khi xác định việc bỏ trốn phải luôn gắn với yếu tố nhằm chiếm đoạt tàisản Để xác định đối tượng có bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hay không cần xácminh tại chính quyền địa phương nhiều lần, ghi lời khai người thân của đối tượng(ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em), hàng xóm, người bị hại về việc họ cóliên lạc được với đối tượng không? Có biết đối tượng đã ở đâu không nếu qua xácminh chính quyền địa phương xác nhận đối tượng đã bỏ đi khỏi địa phương khôngkhai báo, những người thân, hàng xóm, người bị hại xác nhận không biết đối tượng

1

xam-pham-so-huu.htm#.VUTrutLtmko

Trang 17

http://vienkiemsatlangson.gov.vn/trao-doi-nghiep-vu/424/mot-so-van-de-ve-yeu-to-chiem-doat-trong-toi-pham-ở đâu thì xem xét đó là hành vi bỏ trốn Qua xác minh nếu người bỏ trốn không cókhả năng thanh toán nợ hoặc đã bán tài sản trước khi bỏ đi cần xác định là bỏ trốnnhằm chiếm đoạt tài sản.

Hai là, yêu cầu điều tra về người phạm tội

Có thể nói rằng việc chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội,mục đích, động cơ phạm tội, lỗi đãphạm phải, trách nhiệm hình sự phải chịu nhưthế nào? – là những nội dung tất yếu và quan trọng trong quá trình điều tra các vụ

án lừa Để làm rõ được những điều đó, kiểm sát viên cần yêu cầu điều tra viên thuthập tài liệu chứng cứ để làm rõ những nội dung sau:

+ Căn cước lai lịch người phạm tội;

+ Đặc điểm nhân thân người phạm tội: đặc điểm riêng biệt, tiền án, tiền sự,thái độ chấp hành pháp luật, các quyết định khen thưởng, kỷ luật…;

+ Động cơ, mục đích phạm tội là muốn chiếm đoạt tài sản cần đượcthể hiện

+ Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?

+ Những tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội phục vụ việc kê biên, thuhồi tài sản bị chiếm đoạt

Cần chú ý những vấn đề cần chứng minh thuộc nhân thân của người phạmtội và mặt chủ quan của tội phạm làm cơ sở đinh khung đã được quy định tại Điều139BLHS

Ba là, yêu cầu điều tra về người bị hại

Kiểm sát viên cần yêu cầu Cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ đểlàm rõ về người bị hại là một trong những vấn đề bắt buộc phải thực hiện khi điềutra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản Những nội dung cần làm rõ đó là:

+ Căn cước lai lịch người bị hại;

Trang 18

Trang 18

+ Mối quan hệ giữa người phạm tội với người bị hại, với những người cóliên quan, người làm chứng của vụ án? Những hiểu biết của họ về người phạm tội

và hành vi phạm tội? Lòng tin của họ đối với hành vi gian dối của người phạm tội

để từ đó tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội

+ Nguyên nhân, mục đích, lý do giao tài sản cho người phạm tội?

+ Thiệt hại hiện tại là như thế nào? Đã giao cho người phạm tội những tàisản gì? Số lượng, đặc điểm, giá trị của những tài sản đó? Các thiệt hại thực tế khácphát sinh từ việc bị lừa đảo ?

+ Các hành vi phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật khác của người bị hạitrong vụ án như cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm là điều kiện để người phạm tộithực hiện được tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà họ quản lý;

+ Các giấy tờ, tài liệu người bị hại đang giữ có ý nghĩa xác định việc chuyểngiao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội và chứng minh các tình tiết kháccủa vụ án như hóa đơn, chứng từ, hợp đồng,…

+ Những yêu cầu, đề xuất, kiến nghị của người bị hại?

Ngoài các yêu cầu điều tra nêu trên, KSV có thể yêu cầu ĐTV cần xác địnhnguyên nhân điều kiện cụ thể làm phát sinh tội phạm để từ đó có những biện pháploại trừ những nguyên nhân và điều kiện đó Đặc biệt cần chú ý, phát hiện, rút ranhững cơ sở, thiếu sót trong cơ chế quản lý kinh tế, tài chính nói chung và công tácquản lý của từng cá nhân, đơn vị nói riêng để từ đó kiến nghị những biện phápkhắc phục, chấn chỉnh hoạt động quản lý, qua đó góp phần tích cực, có hiệu quảvào việc phòng ngừa tội phạm này

Cần chú ý đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, án được dư luận xã hộiđặc biệt quan tâm, những yêu cầu điều tra trong nội dung có những yêu cầu thuộcthẩm quyền của Viện trưởng, Phó viện trưởng và những người được Viện trưởngtối cao ủy quyền như ký yêu cầu khởi tố bị can, bắt tạm giam thì bản yêu cầuđiều tra phải thông qua lãnh đạo Phòng, lãnh đạo Viện trước khi ký, ban hành theoquy chế 07/2008 Kiểm sát viên phải thường xuyên kiểm tra theo dõi, trao đổi vớiđiều tra viên trong suốt quá trình điều tra để thực hiện các nội dung yêu cầu điềutra và kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và đảm bảo tính khả thi

Trước khi CQĐT kết thúc vụ án, kiểm sát viên phải cùng Điều tra viên ràsoát toàn bộ các tài liệu, chứng cứ và nội dung các yêu cầu điều tra Kiên quyết yêucầu điều tra viên thực hiện các nội dung quan trọng, cần thiết có ý nghĩa quyết địnhviệc truy tố, xét xử đồi với vụ án như trường hợp nghi ngờ người phạm tội bị tâm

Trang 19

thần, kiểm sát viên yêu cầu cơ quan điều tra trưng cầu giám định tâm thần có bịbệnh tâm thần không, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự không? Ngoài bịcan thực hiện tội phạm còn có đồng phạm hay không? Vai trò từng đồng phạm nhưthế nào?

1.1.6 Kỹ năng xây dựng cáo trạng

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu thấy các tài liệu, chứng cứ đã được thuthập đầy đủ, toàn diện, Kiểm sát viên xây dựng dư thảo cáo trạng Về hình thức vànội dung viết cáo trạng đối với tội LĐCĐTS cũng phải thực hiện theo hướng dẫnviết cáo trạng số 107, ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/01/2008 củaViện trưởng Viện kiểm sát tối cao Về phần mô tả hành vi phạm tội là phần trọngtâm nhất của bản cáo trạng, cần vận dụng tổng hợp các kiến thức khoa học xã hội

và pháp lý nhằm thể hiện rõ hành vi phạm tội của bị can, với các nội dung cơ bảnsau:

- Khi viết diễn biến hành vi phạm tội cần đi thẳng vào trọng tâm hành viphạm tội của bị can từ khi nảy sinh ý định phạm tội, chuẩn bị phạm tội và thựchiện hành vi xâm hại, chứ không phải những hành vi không liên quan trước khiphạm tội như đi chơi, đi ăn uống, đi đánh bạc làm cho bản cáo trạng dài vàkhông đảm bảo yêu cầu Khi viết diễn biến hành vi phạm tội phải trên cơ sở tổnghợp đánh giá chứng cứ của vụ án thể hiện tại bút lục nào Trường hợp bị can chốitội cũng phải viện dẫn chứng cứ để bác bỏ Việc viện dẫn bút lục phải trên cơ sởtổng hợp nguồn chứng cứ theo từng giai đoạn diễn biến tội phạm Nội dung hành

vi phạm tội cần đảm bảo các nội dung chính sau:

- Nêu rõ diễn biến hành vi phạm tội từ khi bị can chuẩn bị, dự kiến lên kếhoạch về phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm Người phạm tội thường sửdụng nhiều thủ đoạn tinh vi, khéo léo khác nhau để tiếp cận và gây lòng tin đối vớingười bị hại, như: Dùng lời nói khéo léo, phù hợp với nhu cầu, tâm lý, lứa tuổi, sởthích, nguyện vọng của người bị hại để gây lòng tin rồi chiếm đoạt tài sản; dùng lợiích vật chất để đánh vào lòng tham của người có tài sản; lợi dụng các mối quan hệquen biết từ trước, lợi dụng uy tín, vị trí của người khác để tạo lòng tin cho người

bị hại; đóng giả cán bộ nhà nước, là người có chức quyền đi ký kết hợp đồng, đituyển người lao động; đánh tráo tiền thật thành tiền giả, hàng thật thành hàng giảtrong lúc trao đổi, mua bán hàng; làm giả giấy tờ quản lý tài sản để lấy tài sản; chủđộng đưa lãi suất cao để vay tài sản; dùng tài sản có giá trị đem thế chấp nhiều nơi

để vay tiền hoặc bán cùng một lúc cho nhiều người; tạo ra sự giàu có giả tạo; thành

Trang 20

Trang 20

lập công ty “rởm” để thu hút những người có tài sản đầu tư vào Khi viết cáotrạng cần làm rõ và chứng minh người thực hiện tội phạm sử dụng một hoặc nhiềuthủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối này thực hiện trướchay sau khi nhận được tài sản? Thực tế có trường hợp người vay tài sản sử dụngmột số hành vi có tính chất gian dối như khai khống giá trị tài sản thế chấp, cầm

cố, cung cấp các giấy tờ giả mạo chứng minh khả năng tài chính để được vay tiềnhoặc để đáo nợ của ngân hàng hay của người khác với ý định sẽ hoàn trả, không có

ý thức chiếm đoạt tài sản, thì không phạm tội LĐCĐTS

Tuy nhiên khi viết về diễn biến hành vi phạm tội của bị can, thì những tìnhtiết đó phải được xác định bằng chứng cứ, tránh lệ thuộc vào lời khai của bị can

- Hậu quả vật chất được xác định đối với tội chiếm đoạt là số lượng và giá trịtài sản bị chiếm đoạt Hậu quả được xác định bằng kết luận giám định, lời khai của

bị hại, bị can, nhân chứng Trường hợp trưng cầu định giá tài sản phải thông báokết quả định giá cho bị hại và bị can biết để họ thực hiện quyền khiếu nại( nếu có)

- Nếu vụ án có đồng phạm thì phải chứng minh vai trò của từng người đồngphạm Tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng người đồng phạm để

cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng người đó

Yêu cầu khi nêu và phân tích phải viện chứng cứ bằng các bút lục có trong

hồ sơ (trích dẫn các bút lục) Cần phân tích làm rõ các bị can phạm tội gì, theođiểm, khoản, điều nào của BLHS, không cần phân tích quá sâu về tính chất, mức

độ nguy hiểm của tội phạm như trong bản luận tội

Nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (nếu có) lồng ghép trong nội dung củacáo trạng Trường hợp tình tiết giảm nhẹ thuộc về nhân thân thì viết ở phần lý lịch

- Về trách nhiệm dân sự: Nêu rõ yêu cầu của người bị hại, người có quyềnlợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bị can bồi thường hay không; nêu rõ giá trị tàisản bị thiệt hại làm căn cứ buộc tội, vật chứng của vụ án đã thu giữ, hình thức xử

lý ra sao

1.2 Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1 Hoạ t độ ng củ a kiể m sát viên trư ớ c khi mở phiên tòa

Để chuẩn bị cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tạiphiên tòa xét xử sơ thẩm có hiệu quả, Kiểm sát viên được phân công phải chuẩn bịtốt các nội dung sau đây:

Trang 21

- Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm được nội dung vụ án đặc biệt là hành vikhách quan của bị cáo Kiểm sát viên cần sử dụng máy tính để sắp xếp hệ thống tàiliệu, chứng cứ luận tội, gỡ tội các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sựtheo thứ tự bút lục có trong hồ sơ để chứng minh hành vi phạm tội của bị can, hoặctừng bị can trong các vụ án có đồng phạm và tình tiết có liên quan để chủ độngtrong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa.

- Xây dựng hồ sơ kiểm sát đầy đủ, toàn diện, khách quan đúng quy định củaNgành Kiểm sát viên cần phô tô đầy đủ các quyết định, một số biên bản hoạt độngđiều tra cần thiết, các tài liệu, hợp đồng, hóa đơn, chứng từ giao nhận tiền/tài sản,phân chia tài sản chiếm đoạt… Trích cứu có phản ánh đầy đủ nội dung lời khai của

bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can… để phục vụ cho hoạt động củakiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (Nếu có)

- Xây dựng đề cương xét hỏi và dự kiến một số tình huống có thể xảy ra vàhướng giải quyết trên cơ sở kết quả THQCT, KSĐT vụ án, qua nghiên cứu hồ sơ

vụ án, xem xét các vật chứng, lời khai bị can, bị hại, nhân chứng…, các dư luậnbáo chí, xã hội và phải dự báo có thể bị cáo sẽ chối tội, phản cung như thế nào,người bị hại, người làm chứng sẽ khai khác với quá trình điều tra, người bào chữa

sẽ tập trung xét hỏi những vấn đề gì gỡ tội cho bị cáo Dự thảo đề cương tham giaxét hỏi phải chuẩn bị một cách đầy đủ, chi tiết và toàn diện nội dung vụ án; các câuhỏi phải sát với các tình tiết của vụ án LĐCĐTS câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễtrả lời, nếu vụ án có nhiều bị cáo, các bị cáo khai báo mâu thuẫn với nhau thì xéthỏi bị cáo nào trước, bị cáo nào sau; chuẩn bị chứng cứ để đấu tranh làm rõ và cáctài liệu cần công bố, chuẩn bị các tình huống và tài liệu đấu tranh nếu bị cáo vànhững người tham gia tố tụng khai khác với tài liệu điều tra và diễn biến của vụ án Đề cương xét hỏi phải được Kiểm sát viên chuẩn bị đầy đủ để chủ động trong quátrình xét hỏi và chỉ đặt những câu hỏi trong phạm vi hiểu biết của Kiểm sát viên vàtrong phạm vi chứng minh của các tài liệu, chứng cứ do các chuyên gia trong cáclĩnh vực chuyên ngành và các công cụ phương tiện thông thường mà Cơ quan điềutra đã thu thập được giấy tờ giả, quân phục, cấp hàm,… Có thể đặt ra các tìnhhuống của bị cáo đổ lỗi cho nhau, thừa nhận hành vi phạm tội ở khung hình phạtnhẹ hơn, bồi thường ở mức thấp hơn… và dự kiến để xử lý tình huống các tìnhhuống đó

Khi xây dựng đề cương, phải chuẩn bị các tài liệu chứng cứ thu thập được

và dự liệu các phương pháp xét hỏi, cách đặt câu hỏi như:

Trang 22

Trang 22

+ Đặt câu hỏi ngắn hỏi, dễ hiểu tường thuật lại những gì mà họ đã biết, đãnghe về các tình tiết của vụ án, về những gì mà họ trực tiếp thực hiện VD: Hỏi bịcáo về quá trình thực hiện hành vi phạm tội ra sao? Hỏi người bị hại về việc bịchiếm đoạt tài sản? Hỏi những người làm chứng nhìn thấy sự việc phạm tội diễn ratrong thực tế ra sao? Muốn cho loại câu hỏi này được trả lời đúng thì KSV cầnnắm chắc diễn biến hành vi phạm tội để nếu thấy người trả lời không chính xác,hoặc dài dòng thì KSV lưu ý người được hỏi phải trả lời chính xác và trả lời đúngcâu hỏi, tránh làm mất thời gian của phiên tòa

+ Câu hỏi gợi mở làm cho người hỏi trả lời những nội dung mà người đóbiết, nhưng vì thời gian lâu nên không còn nhớ Thông thường câu hỏi gợi mở nàynhằm làm cho người được hỏi nhớ lại những gì đã xảy ra trước đây về thời gian,địa điểm và sự việc diễn ra trong thực tế như thế nào

+ Câu hỏi phản bác lại việc khai báo không đúng sự thật đối với các trườnghợp tại phiên tòa người được hỏi khai báo không đúng sự thật KSV cần đặt nhữngcâu hỏi để người được hỏi trả lời về sự gian dối của mình, hoặc hỏi những ngườikhác để bác bỏ việc khai báo không đúng sự thật đó

+ Câu hỏi bổ sung trong trường hợp tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, ngườilàm chứng trả lời câu hỏi của KSV không chính xác về thời gian, nội dung, địađiểm sự việc Trong trường hợp này KSV phải tiếp tục đặt câu hỏi để người đượchỏi trả lời cho chính xác Kiểm sát viên có thể đặt các câu hỏi đối với người khác

để trả lời bổ sung Khi đặt câu hỏi, KSV phải chú ý, nhanh nhạy phát hiện nhữngmâu thuẫn, những thiếu sót của lời khai để hỏi bổ sung nhằm làm cho người đượchỏi khai đúng với sự thật khách quan

- Viết ra dự thảo luận tội: Dự thảo luận tội của Kiểm sát viên đối với các vụ

án lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải đảm bảo các vấn đề sau đây:

+ Về yêu cầu của luận tội: luận tội phải có căn cứ, chính xác, khách quan và

cụ thể; luận tội phải có tính giáo dục, thuyết phục và phòng ngừa cao; văn phong

sử dụng trong bản luận tội phải trong sáng, dễ hiểu, ngôn ngữ tiếng nước ngoài cầnđược phiên âm đúng từ, đúng nghĩa khi cần có thể giải thích nghĩa

+ Về hình thức phải theo mẫu hướng dẫn của VKSND Tối cao

+ Về nội dung: ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung của luận tội phảithể hiện đầy đủ các mặt nội dung sau đây:

Thứ nhất: phân tích đánh giá chứng cứ dựa trên bốn yếu tố cấu thành tộiphạm Trước hết phân tích hành vi khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 23

thuộc hành vi khách quan nào được thể hiện ở lời khai người bị hại, lời nhận tộicủa bị cáo như thế nào Sau đó phân tích đánh giá ý thức chủ quan… Tiếp đó là cácvấn đề khác như động cơ, mục đích, công cụ, phương tiện, phương thức, thủ đoạnthực hiện tội phạm của bị cáo, các bị cáo như thế nào?

Thứ hai: Khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi, cần nhấn mạnh tội phạm này xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sảncủa cá nhân, tổ chức hay Nhà nước;

Thứ ba: luận tội phải phân tích được những sơ hở thiếu sót trong công tácquản lý kinh tế, quản lý tài chính ngân hàng, quản lý xã hội… và đưa ra các kiếnnghị phòng ngừa

Thứ tư: luận tội phải đề xuất đường lối xử lý vụ án rõ ràng cụ thể về tộiphạm, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo hoặc từng bị cáo; vấn đề

về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng

1.2.2 Kỹ năng tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm

Trong qúa trình xét hỏi các vụ án LĐCĐTS, Kiểm sát viên cần tập trungchuẩn bị những nội dung bảo vệ cáo trạng và chú ý xét hỏi đối với bị cáo, người bịhại, cụ thể như sau:

- Xét hỏi bị cáo

Nhiệm vụ của hoạt động xét hỏi bị cáo tại phiên tòa là kiểm tra các làm rõđặc điểm về lý lịch, nhân thân bị can, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, thủ đoạngây án, che giấu tội phạm, diễn biến hành vi lừa đảo, công cụ phương tiện gây án,

số lượng, đặc điểm, giá trị tài sản đã chiếm đoạt, đồng phạm, những vụ án khác mà

bị can đã gây ra hoặc biết được…

Từ thực tế xét xử các vụ án LĐCĐTS, cho thấy tại phiên tòa, bị cáo thườngkhai báo gian dối, ngụy biện, phản cung và khai không có ý định chiếm đoạt mà donguyên nhân khách quan do làm ăn thua lỗ không trả được cho người có tài sản,không thực hiện thủ đoạn gian dối Chính vì vậy, trước khi tham gia kiểm sát xét

xử vụ án, KSV phải làm tốt công tác chuẩn bị như: Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tìmhiểu đặc điểm về nhân thân, về thủ đoạn gây án, tâm lý, thái độ của bị can; xácđịnh tài liệu chứng cứ có thể sử dụng trong xét hỏi, nội dung diễn biến hành viphạm tội, dự kiến câu hỏi, lựa chọn chiến thuật sẽ áp dụng cho phù hợp với từng bịcan cụ thể; phải triệt để sử dụng kết quả điều tra thu được từ lấy lời khai của người

bị hại, người làm chứng, nhận dạng, khám xét, khám nghiệm hiện trường và cácbản cung bị can nhận tội trong quá trình điều tra, truy tố phục vụ cho việc xét hỏi

Trang 24

+ Trường hợp bị cáo không nhận tội, phản cung, tình huống này thường gặptrong các vụ án LĐCĐTS phức tạp, nhiều bị cáo tham gia, vụ án có luật sư thamgia bào chữa Trong trường hợp này, KSV phải bình tĩnh sử dụng các chứng cứkhác có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu được xét hỏi tại phiên tòa để đấu tranhthuyết phục bị cáo Đồng thời, KSV cần hỏi những người làm chứng về tình tiếtliên quan đến câu hỏi đã hỏi bị cáo, sau đó, KSV cho xem xét các chứng từ, vậtchứng để bác bỏ lời khai không chính xác của bị cáo Tiếp đó, KSV cần giải thíchcho bị cáo biết lời nhận tội của bị cáo trước đây đã được xác minh và bị cáo nhậntội là có căn cứ Đồng thời, KSV hỏi bị cáo tại sao trước đây bị cáo nhận tội vớiCQĐT và VKS nay tại phiên tòa bị cáo lại chối tội? Trong trường hợp bị cáo khai

do ĐTV bức cung, mớm cung thì KSV hỏi tiếp là bức cung, mớm cung lúc nào? Ởđâu? Ai là người thực hiện? Thực hiện như thế nào? Và tại sao khi KSV phúc cungthì bị cáo không khai vấn đề này Nghĩa là phải truy đến cùng về lời khai phảncung của bị cáo, sau đó, KSV đề nghị công bố các tài liệu có liên quan để bác bỏlời khai không có căn cứ của bị cáo

+ Trường hợp bị cáo thay đổi lời khai, đối với trường hợp này KSV cũng đốichiếu với các chứng cứ khác để đặt câu hỏi bác bỏ lời khai không chính xác, xácđịnh trách nhiệm của bị cáo trước pháp luật và động viên bị cáo khai báo thànhkhẩn để được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật

+ Trường hợp bị cáo không khai, trường hợp này KSV yêu cầu HĐXX công

bố những lời khai có ý nghĩa chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo trong quátrình điều tra, truy tố Đồng thời, yêu cầu HĐXX công bố các tài liệu khác có liênquan như lời khai người làm chứng, chứng từ, tài liệu khác, các vật chứng đểchứng minh hành vi phạm tội của bị cáo

- Xét hỏi người bị hại

Trang 25

Trong các vụ án LĐCĐTS, người phạm tội khi gây án, thường trực tiếp tiếpxúc với người bị hại, nên người bị hại có cơ hội và điều kiện để biết về thủ phạm

và chứng kiến diễn biến của sự việc phạm tội xảy ra Qua thực tiễn điều tra, truy

tố, xét xử các vụ án LĐCĐTS cho thấy một trong những thủ đoạn mà người phạmtội sử dụng là dùng lợi ích vật chất đánh vào nhu cầu hưởng lợi của người bị hại để

dụ dỗ chiếm đoạt tài sản, nên quá trình xét hỏi người bị hại thường khai báo khôngđầy đủ hành vi phạm tội của bị cáo để giữ thể diện của mình Do vậy, việc xét hỏingười bị hại là một việc làm rất quan trọng nhằm làm rõ sự thật của vụ án và gópphần cùng HĐXX quyết định bản án khách quan, đúng quy định của pháp luật.Việc lấy lời khai của người bị hại cần làm rõ những nội dung sau: Thời gian, địađiểm xảy ra vụ án, số lần bị chiếm đoạt tài sản, có ai biết về sự việc đó; quan hệgiữa người bị hại với thủ phạm như thế nào? Diễn biến hành vi phạm tội, thủ đoạntiếp xúc làm quen, thủ đoạn dùng lời nói, dùng đồ vật, giấy tờ gây lòng tin, nhữngcông cụ phương tiện đã sử dụng phạm tội, cách thức chiếm đoạt tài sản; thiệt hại

do thủ phạm gây ra, đặc điểm,số lượng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt, những hậu quảthiệt hại khác phải chịu do bị chiếm đoạt tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại Khitham gia xét hỏi cần sử dụng các chứng cứ khác để kiểm tra và loại trừ mọi tìnhtiết khai không đúng sự thật của người bị hại

Khi HĐXX hỏi người bị hại, KSV phải chú ý ghi chép đầy đủ về nội dungtrình bày của họ để cân nhắc cần đặt câu hỏi như thế nào để tránh lặp lại và bổsung làm rõ những nội dung chưa được xét hỏi Khi đặt câu hỏi làm rõ các nộidung trên, KSV cần chú ý tập trung hỏi những tình tiết liên quan đến vụ án mà cáotrạng đã đề cập, những vấn đề mà họ trình bày chưa rõ và còn có mâu thuẫn trongviệc xác định lợi ích, nội dung việc bồi thường thiệt hại

1.2.3 Kỹ năng tranh luận

Hoạt động tranh luận của KSV tại phiên toà xét xử các vụ án LĐCĐTS làlàm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, nhằm góp phần cùng với HĐXXgiải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan saicũng như bỏ lọt tội phạm Như vậy, tranh luận của KSV không chỉ là buộc tội màcần phải chú ý cả vấn đề gỡ tội Tranh luận của KSV bao gồm trình bày lời luận tội

và đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác KSVcần thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về THQCT và KSXX tại phiêntoà hình sự sơ thẩm nói chung và phiên tòa hình sự sơ thẩm các vụ án LĐCĐTSnhư: Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án, kỹ năng xây dựng bản luận tội, kỹ năng

Trang 26

Trang 26

trình bày lời luận tội, kỹ năng diễn đạt, đối đáp trôi chảy, uyển chuyển; đặc biệt làkhả năng phản ứng linh hoạt trước các tình huống, vấn đề mới phát sinh tại Toàbằng cách lãnh đạo các VKS địa phương cần quy định mỗi tuần dành một thời giannhất định để các KSV có kinh nghiệm trong đơn vị trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm

về hoạt động đối đáp tranh luận cho các đồng nghiệp Mặt khác, muốn thuyết phụcđược người nghe và nâng cao được chất lượng đối đáp tranh luận tại phiên toà hình

sự, thì KSV cần phải biểu hiện thái độ ứng xử, sử dụng từ ngữ, cách xưng hô,phong cách có văn hóa tại phiên toà; bảo đảm sự tôn trọng việc điều khiển của Chủtoạ phiên toà, tôn trọng quyền, nghĩa vụ và lợi ích của những người tham gia tốtụng, nhất là những người trực tiếp tham gia tranh luận với mình

Thủ tục tranh luận được bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội Phầnluận tội là một biểu hiện của hoạt động thực hành quyền công tố, vì vậy, sự thànhcông hay thất bại của cá nhân KSV tại phiên tòa không chỉ là vấn đề của cá nhânngười đó mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của VKS Lời luận tội là sự buộc tộidựa trên những chứng cứ đã được kiểm tra trực tiếp, công khai tại phiên tòa Nộidung của lời luận tội là sự đánh giá chứng cứ và ý kiến của KSV giữ quyền công tốtại phiên tòa về cách giải quyết vụ án sau khi các bên đã xét hỏi một cách đầy đủ vàtoàn diện về các tình tiết của vụ án, do đó, nó được người tham gia tố tụng và nhữngngười dự phiên tòa rất quan tâm Với ý nghĩa là “buộc tội cuối cùng” trước khi bịcáo nói lời sau cùng, trước khi HĐXX nghị án, luận tội của KSV có tầm quan trọngrất lớn Luận tội nhằm mục đích chứng minh cho HĐXX thấy tính đúng đắn và tính

có căn cứ của việc kết tội bị cáo về hành vi phạm tội cụ thể qua việc kết nối mộtcách logic các sự kiện, tình tiết của vụ án cùng với những lập luận chặt chẽ, sắc bénnhằm cho thấy hành vi của bị cáo đã hội đủ các yếu tố cấu thành một hay một số tộiphạm cụ thể được quy định trong BLHS Luận tội phải căn cứ vào những tài liệu,chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, dựa trên cơ sở những kết quả thu được quaphần thẩm vấn công khai, có như thế thì lời luận tội của KSV mới đạt được tínhchính xác và tính thuyết phục cao Trong lời luận tội của KSV phải phân tích mộtcách cặn kẽ, thấu tình đạt lý, đồng thời cũng phải thể hiện sự phê phán đúng mứcnhững sai phạm của bị cáo, nêu cao tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tội phạm,bảo vệ pháp chế, qua đó nâng cao tác dụng tuyên truyền pháp luật

Để chủ động khi tranh luận, đối đáp trước hết KSV phải xây dựng hồ sơ điềutra, hồ sơ kiểm sát điều tra các vụ án LĐCĐTS đầy đủ, toàn diện khách quan, đúngtrình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, xây dựng bản cáo trạng và dự thảo

Ngày đăng: 16/09/2016, 00:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm