1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bao cao tong ket dua SHTT vao giang day DH

272 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word MUC LUC doc BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ Hà Nội – 01/2008 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN NGHIÊN CỨU CẤP BỘ “NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐƯA SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀO GIẢNG[.]

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Hà Nội – 01/2008

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN NGHIÊN CỨU CẤP BỘ

“NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ

ĐƯA SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀO GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO

TẠO TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC”

Chủ nhiệm Đề án:

TS Trần Lê Hồng

Trang 2

MỤC LỤC

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của phải thực hiện Đề án 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Nội dung nghiên cứu 8

- Giới thiệu tổng quan

- Chương 1 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ

trong các trường đại học

1.1 Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về sở hữu

trí tuệ

1.2 Nhận định chung về thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở

hữu trí tuệ trong các trường đại học của Việt Nam

1.3 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ trong

các trường đại học đào tạo chuyên ngành Luật

1.4 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ trong

các trường đại học đào tạo chuyên ngành Kinh tế - Tài

chính

1.5 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ trong

các trường đại học đào tạo chuyên ngành Xã hội – Nhân

văn

1.6 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ trong

các trường đại học đào tạo chuyên ngành Tự nhiên – Kỹ

thuật

1.7 Kết luận Chương 1

- Chương 2 Kinh nghiệm của thế giới trong giảng dạy và đào

tạo về sở hữu trí tuệ

2.1 Kinh nghiệm của thế giới trong giảng dạy sở hữu trí tuệ

Trang 3

dưới góc độ môn học trong các trường đại học

2.2 Kinh nghiệm của thế giới trong giảng dạy sở hữu trí tuệ

dưới góc độ chuyên ngành

2.3 Kết luận Chương 2

- Chương 3 Giảng dạy về sở hữu trí tuệ trong các trường đại

học dưới góc độ môn học

3.1 Tiếp cận chung đối với việc đưa sở hữu trí tuệ vào

Chương trình đào tạo cử nhân của các trường đại học

dưới góc độ môn học

3.2 Xây dựng Chương trình các môn học về sở hữu trí tuệ cho

các trường đại học đào tạo chuyên ngành về luật

3.3 Xây dựng Chương trình các môn học về sở hữu trí tuệ cho

các trường đại học đào tạo chuyên ngành về kinh tế - tài

chính

3.4 Xây dựng Chương trình các môn học về sở hữu trí tuệ cho

các trường đại học đào tạo chuyên ngành về xã hội và

nhân văn

3.5 Xây dựng Chương trình các môn học về sở hữu trí tuệ cho

các trường đại học đào tạo chuyên ngành về khoa học tự

nhiên và kỹ thuật

3.6 Kết luận Chương 3

- Chương 4 Giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ dưới góc

độ chuyên ngành

4.1 Tiếp cận chung đối với việc đưa sở hữu trí tuệ vào

Chương trình đào tạo cử nhân của các trường đại học

dưới góc độ chuyên ngành

4.2 Định hướng đào tạo chuyên ngành về sở hữu trí tuệ trong

các trường đại học thời gian tới

4.3 Kết luận Chương 4

- Chương 5 Các điều kiện cần thiết cho hoạt động giảng dạy

và đào tạo về sở hữu trí tuệ

5.1 Phát triển đội ngũ giảng viên giảng dạy về sở hữu trí tuệ

trong các trường đại học

5.2 Phát triển hệ thống tài liệu phục vụ giảng dạy và đào tạo

về sở hữu trí tuệ trong các trường đại học

5.3 Kết luận Chương 5

- Chương 6 Định hướng đề xuất với các cơ quan chức năng

nhằm phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí

Trang 4

tuệ trong thời gian tới

6.1 Đặt vấn đề đối với việc đề xuất với các cơ quan chức năng

nhằm phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về sở

hữu trí tuệ trong các trường đại học

6.2 Đề xuất với các cơ quan có trách nhiệm chính trong việc

quyết định đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo

trong các trường đại học

CÁC THAM LUẬN TỪ CÁC HỘI THẢO TRONG KHUÔN KHỔ

ĐỀ ÁN được tuyển chọn và tập hợp trong 2 tập riêng1

CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT

được tập hợp trong 2 tập riêng2

1 Các tài liệu này có thể tham khảo tại Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và

Công nghệ, 386 Đường Nguyễn Trãi, Q Thanh xuân, Hà Nội

2 Các tài liệu này có thể tham khảo tại Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và

Công nghệ, 386 Đường Nguyễn Trãi, Q Thanh xuân, Hà Nội

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO

¾ WTO – Tổ chức Thương mại thế giới

¾ TRIPs – Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Trang 6

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

ĐTCQ: 04.869 48 84 ĐTDĐ: 091 301 6368 lvkhuyen@moet.gov.vn

đại học, Bộ GD&ĐT

ĐTCQ: 04.868 14 74 ĐTDĐ: 091 233 9854 nhultt@yahoo.com, lttnhu@moet.gov.vn

Thuận

Trưởng Phòng Quản lý khoa học, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội

ĐTCQ: 04.869 21 36 ndthuan-

qlkh@mail.hut.edu.vn qlkh@mail.hut.edu.vn

kinh doanh, Trường ĐH Ngoại thương

ĐTCQ: 04.835 68 05 ĐTDĐ: 090 423 0929 ntangvan@yahoo.de

Trang 7

10 TS Nguyễn Thị Quế

Anh

Phó Chủ nhiệm Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐTCQ: 04 754 70 49 ĐTDĐ: 098 388 8628 queanhthu@yahoo.com

11 TS Nguyễn Minh

Tuấn

Phó chủ nhiệm Khoa Luật Dân sự, Trường ĐH Luật Hà Nội

ĐTCQ: 04.773 14 68 ĐTDĐ: 091 355 4631 tuanhanh93@yahoo.com

12 TS Bùi Đăng Hiếu Phụ trách Trung tâm Đảm

bảo chất lượng đào tạo, Trường ĐH Luật Hà Nội

ĐTCQ: 04.773 65 38 ĐTDĐ: 091 354 0934 buidanghieu2005@yahoo.com

13 TS Trần Văn Hải Phó Chủ nhiệm Bộ môn

Luật Sở hữu trí tuệ, Trường ĐH KHXH&NV,

ĐH Quốc gia Hà Nội

ĐTCQ: 04.640 80 73 ĐTDĐ: 090 321 1972 tranhailinhvn@yahoo.co

m

14 TS Phạm Trí Hùng Giảng viên Luật Thương

mại, Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ĐTDĐ: 090 454 8642 phamtrihung2005@yahoo.com.vn

15 TS Ngô Hoàng Oanh Giảng viên, Khoa Đào tạo

luật sư, Học viện Tư pháp ĐTCQ: 04.756 61 29/ 129

ĐTDĐ: 098 311 0069 ngooanh2000@yahoo.co

m

16 Ths Lê Thị Nam

Giang

Chủ nhiệm Bộ môn Luật

Tư pháp quốc tế và Luật

So sánh, Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ĐTCQ: 08.726 93 21 ĐTDĐ: 098 387 7897 lenamgiang@gmail.com

17 ThS Lê Thị Thu Hà GV, Trường ĐH Ngoại

Thương

ĐTDĐ: 091 221 1178 thuhaftu2005@yahoo.co

m

18 ThS Hồ Thúy Ngọc GV, Trường ĐH Ngoại

thương ĐTDĐ: 090 416 4363 ngochq@yahoo.com

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 10

1 Tính cấp thiết của phải thực hiện Đề án

SHTT có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế tri thức mà Việt Nam đang hướng tới Đây là một trong những điều kiện quan trọng giúp tạo ra, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ - một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại Nhận thức về vấn đề này, các nước phát triển đã và đang tạo mọi điều kiện, thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết cho hoạt động đào tạo, phổ biến, nâng cao kiến thức và nhận thức của cá nhân

và tổ chức trong xã hội về SHTT Thực tiễn giảng dạy và đào tạo về SHTT tại các nước phát triển đã khẳng định điều này

Giảng dạy và đào tạo về SHTT ở các nước phát triển có truyền thống lâu đời với hệ thống đồng bộ, nhiều cấp độ và hình thức đào tạo khác nhau Phụ thuộc vào từng cơ sở đào tạo, giảng dạy và đào tạo về SHTT có thể chỉ dừng ở mức độ là một môn học, hoặc có thể các mức độ cao hơn như đào tạo chuyên ngành tiến sỹ và sau tiến sỹ Số lượng các cơ sở đào tạo và số học viên cũng rất khác nhau ở từng nước Hầu hết các trường đại học của các nước phát triển có môn học “SHTT” trong chương trình một cách độc lập hoặc lồng ghép với các môn học chuyên ngành liên quan như “Chính sách đổi mới trong doanh nghiệp”, “Sáng tạo với sự phát triển của xã hội”, “Hoạt động nghiên cứu và triển khai”, “chuyển giao công nghệ”

Những cơ sở đào tạo về SHTT có uy tín và được biết đến rộng rãi như Viện Max Planck với Trung tâm đào tạo Luật SHTT (CHLB Đức), ĐH Tổng hợp George Washington với Trường Luật trực thuộc (Mỹ), ĐH Tổng hợp Zurich với Khoa Luật, ĐH Tổng hợp Queen Mary London với Viện nghiên cứu SHTT (Anh)

Số lượng học viên và nghiên cứu viên chuyên về SHTT của các cơ sở này có thể lên đến vài trăm người

Qua nghiên cứu chương trình đào tạo của một số cơ sở đào tạo của các nước phát triển có thể thấy những nội dung giảng dạy và đào tạo không chỉ dừng ở những kiến thức cơ bản và thực tiễn bảo hộ quyền SHTT của quốc gia mà đó mở rộng sang các vấn đề bảo hộ quốc tế, thực tiễn bảo hộ ở nước ngoài, bảo hộ các quyền SHTT của quốc gia ở nước ngoài và những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội

có liên quan như bảo hộ quyền SHTT ở nước ngoài đảm bảo lợi ích kinh tế của quốc gia, nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ

Việc giảng dạy và đào tạo SHTT của các nước trong khối ASEAN đã được triển khai tương đối rộng và bắt đầu đi vào chiều sâu ở những nước phát triển hơn như Singapore, Malaixia, Thái Lan Điển hình là Singapore, các trường ĐH lớn như ĐH Công nghệ Nanyang, ĐH Tổng hợp Quốc gia Singapore đều có các khóa đào tạo về SHTT: các khóa đào tạo dành cho cử nhân; các khóa đào tạo sau đại học

và các khóa đào tạo chuyên ngành

Tóm lại, giảng dạy và đào tạo SHTT trên thế giới trở thành một hướng đào tạo

quan trọng trong các trường đại học Việc đào tạo tuy dưới nhiều hình thức, cấp độ khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển của từng nước nhưng đều có điểm chung là có định hướng và dựa trên sự nhận thức khá đầy đủ, kể cả nhận thức của

Trang 11

xã hội Các trường ĐH tùy theo việc đánh giá nhu cầu có thể thực hiện đào tạo về SHTT theo các cấp học khác nhau, từ thấp nhất là các khóa đào tạo tổng quát đến

đào tạo chuyên ngành hẹp bậc tiến sỹ

Quay về thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT của Việt Nam khiến chúng ta lo ngại Tình hình giảng dạy và đào tạo về SHTT hiện nay có thể khái quát qua những điểm sau:

- Hiện nay chưa có Trường ĐH, Viện nghiên cứu nào có chuyên ngành đào tạo về SHTT Bắt đầu từ khóa học 2005-2006, Khoa Khoa học quản lý, trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội đã mở chuyên ngành đào tạo

“Quản lý nhà nước về SHTT” với 11 sinh viên, tuy nhiên, việc đào tạo này chỉ mang tính chất “định hướng” do các kiến thức chuyên môn về SHTT chỉ được giới thiệu một cách hạn chế và đội ngũ cán bộ giảng dạy chưa đầy đủ

Thêm vào đó, chưa có trường ĐH kỹ thuật nào có nội dung về SHTT trong chương trình đào tạo của mình Một số nội dung cơ bản tối thiểu về SHTT chỉ được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật và cũng trong khuôn khổ của môn học khác như Luật Dân sự hoặc Tư pháp quốc tế Trong số các cơ sở đào tạo này, bắt đầu có một số cơ sở tổ chức môn học về SHTT nhưng với thời lượng và nội dung rất khác nhau, phần lớn chỉ dừng lại ở 15 đến 30 tiết học Việc dạy và học này chủ yếu dựa vào sự chuẩn bị và nhận thức của giáo viên dạy mà phải kiêm nhiệm các môn học khác

- Các giảng viên có giảng dạy về SHTT hầu hết chưa được đào tạo chuyên ngành về SHTT Họ chỉ được đào tạo về SHTT một cách hạn chế trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại các trường ĐH, do đó, cũng không dễ dàng để tự mình xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo cho một môn học phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế và luật, như SHTT Chương trình học

có các nội dung SHTT được giới thiệu ở một số trường đại học có đào tạo cử nhân Luật hiện nay khác nhau khá lớn về nội dung, thời lượng Sở dĩ có sự khác biệt lớn như vậy là do có sự khác nhau về nhận thức đối với chính môn học: ý nghĩa, nội dung, cũng như các khía cạnh liên quan

- Phương pháp dạy và học SHTT ở Việt Nam chưa đem lại hiệu quả mong muốn do chưa có kinh nghiệm Đặc biệt, chưa có sự chuẩn bị đầy đủ và cần thiết

về tài liệu, thực tiễn cho việc giảng dạy và học tập Kết quả tất yếu là sinh viên chưa chủ động trong học tập, chưa có động lực và quyết tâm nghiên cứu những vấn

đề liên quan đến SHTT Các cơ sở đào tạo có nội dung đào tạo về SHTT đang tìm cách đổi mới và phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT như: trường

ĐH Luật Hà Nội, trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật (trường ĐH Cần Thơ)

Với thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT như vậy, cũng dễ hiểu việc ở

Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào về việc giảng dạy và đào tạo

SHTT ở trường ĐH trừ một nghiên cứu cấp cơ sở của Cục Sở hữu công nghiệp

(nay là Cục SHTT) về “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động đào tạo sở

Trang 12

hữu công nghiệp” năm 2000 Tuy nhiên, Báo cáo chủ yếu đề cập đến kinh nghiệm của một số nước và cũng chỉ đối với vấn đề hạn chế là đào tạo về sở hữu công nghiệp, còn các khía cạnh khác của quyền SHTT và nhất là vấn đề đưa vào giảng dạy và đào tạo chính thức bậc cử nhân tại các trường đại học của Việt Nam thì Đề

án này hoàn toàn chưa nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu cụ thể của Việt Nam:

1 Đề tài cơ sở của Cục Sở hữu công nghiệp (nay là Cục SHTT) về

“Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động đào tạo sở hữu công nghiệp” năm 2000

2 Báo cáo về thực trạng giảng dạy và đào tạo SHTT của Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác ECAP II (TS Trần Lê Hồng, http://www.ecap-

project.org/fileadmin/ecapII/pdf/en/activities/regional/20050817_18/tran_le_hong_vietnam_report_on_the_current_teaching_and_learning.pdf);

Như vậy, hoạt động giảng dạy và đào tạo ở Việt Nam thời gian qua mang tính tự phát, manh mún và nội dung còn nhiều bất cập, chính vì vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam Đề tài nghiên cứu sẽ giúp đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng giảng dạy

và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH của Việt Nam, cũng như nhu cầu đối với đào tạo SHTT, qua đó, đề xuất chuyên ngành đào tạo bậc cử nhân, chương trình,

và thời lượng giảng dạy về SHTT tương ứng Việc giảng dạy và đào tạo về SHTT

sẽ mang tính hệ thống và chuyên nghiệp, phù hợp với điều kiện của các trường ĐH của Việt Nam, cũng như điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Viêt Nam

Tóm lại, thực tế hiện nay khẳng định tính cấp bách của việc đào tạo chuyên

ngành bậc cử nhân về SHTT trong trường ĐH của Việt Nam, vấn đề chuẩn hóa nội dung, kiến thức giảng dạy phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế và xã hội, hỗ trợ có hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu đầy đủ và toàn diện nào về giảng dạy và đào tạo SHTT trong các trường ĐH của Việt Nam, đồng thời cũng chưa xây dựng được những chuẩn mực về chương trình đào tạo, khung chương trình và những nội dung

đào tạo cụ thể Đề tài nghiên cứu hướng đến mục tiêu này do đó có tính cấp thiết

cao

2 Mục tiêu của Đề án

Xây dựng đề xuất khoa học đối với việc đưa SHTT vào giảng dạy và đào tạo tại các trường đại học phù hợp với điều kiện của Việt Nam, trên cơ sở đó các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các trường Đại học có thể tham khảo để phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong thời gian tới trong các trường đại học

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT của Việt Nam và trên thế giới

Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động liên quan đến giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường đại học, tập trung chủ yếu vào các trường đại học của Việt Nam trên phạm vi cả nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, sử dụng ý kiến chuyên gia dựa trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng Để tạo nên kết quả tốt nhất, các phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng nhiều như điều tra xã hội học, lấy ý kiến chuyên gia Bên cạnh đó, cũng nhờ những ý kiến chuyên gia mà các kết quả nghiên cứu được sâu sắc, có cơ sở, có tính tin cậy cao

5 Nội dung nghiên cứu

5.1 Thực trạng giảng dạy, đào tạo, học tập và nghiên cứu SHTT trong các trường

ĐH của Việt Nam Trên cơ sở đó đánh giá về nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

5.2 Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT Đề tài đã tập trung làm rõ hệ thống giảng dạy và đào tạo về SHTT của các nước điển hình, đặc biệt là những nội dung chương trình, thời lượng, phương pháp giảng dạy

5.3 Xây dựng những đề xuất cụ thể cho việc đưa các nội dung về SHTT vào Chương trình đào tạo cử nhân các ngành và chuyên ngành của các trường đại học của Việt Nam dưới góc độ các kiến thức đại cương, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành và kiến thức chuyên ngành

5.4 Xây dựng cơ sở cho định hướng phát triển chuyên ngành đào tạo bậc cử nhân

về SHTT để đề xuất cho việc triển khai tại Việt Nam Đề tài đã làm rõ những yêu cầu đối với việc đào tạo về SHTT bậc cử nhân Trên cơ sở này, xây dựng

hệ thống khung kiến thức cho việc đào tạo SHTT ở cấp cử nhân

5.5 Xây dựng kế hoạch thực hiện việc đưa SHTT vào đào tạo cử nhân tại các trường ĐH để đề xuất với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong đó, đặc biệt quan tâm đến kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực (chuyên gia) chất lượng cao về SHTT, nhất là đủ khả năng triển khai việc giảng dạy và đào tạo trong các trường ĐH, cũng như kế hoạch phổ cập kiến thức SHTT trong các trường đại học

Trang 14

PHẦN II: KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

Trang 15

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

SHTT có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế tri thức mà Việt Nam đang hướng tới Đây là một trong những điều kiện quan trọng giúp tạo ra, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ - một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại Ngay Trung Quốc – một nước không có truyền thống trong lĩnh vực SHTT - cũng đang thay đổi cách tiếp cận vấn đề này Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo khi thăm tỉnh Sơn Đông

từ ngày 20 đến 22 tháng 6 năm 2004 đã phân tích cụ thể, cạnh tranh quốc tế của thế giới tương lai là cuộc cạnh tranh của quyền SHTT, và sẽ đặc biệt tập trung vào cạnh tranh của các công nghệ và sản phẩm hàng đầu Với nhận thức như vậy, các nước, đặc biệt là các nước phát triển đã và đang tạo mọi điều kiện, thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết cho hoạt động đào tạo, phổ biến, nâng cao kiến thức và nhận thức của cá nhân và tổ chức trong xã hội về SHTT, đặc biệt là trong các trường ĐH Thực tiễn giảng dạy và đào tạo về SHTT tại các nước phát triển đã khẳng định điều này

Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới ngày 7 tháng 11 năm 2006 như một hồi chuông cảnh báo mạnh mẽ việc chúng ta cần có một chiến lược trong đào tạo để tận dụng những lợi thế và giảm thiểu những tác động tiêu cực của hoạt động bảo hộ quyền SHTT trên phạm vi toàn cầu và ở Việt Nam Với vai trò là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại1, SHTT đòi hỏi không chỉ sự nhận thức chung chung, mà là một hoạt động chuyên nghiệp với tính chuyên nghiệp ngày càng tăng và phạm vi ngày càng mở rộng đối với hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Sự gia tăng vai trò của SHTT và các hoạt động chuyên nghiệp có liên quan đòi hỏi một đội ngũ cán bộ chuyên môn hiểu biết

về SHTT Đội ngũ cán bộ này bao gồm: các cán bộ được đào tạo chuyên ngành về SHTT; các cán bộ được đào tạo các chuyên ngành khác nhau và được trang bị những kiến thức SHTT cần thiết, hỗ trợ cho hoạt động chuyên ngành của mình

Trong bối cảnh hiện nay, nên thẳng thắn thừa nhận rằng, đã đến lúc cần thiết nâng cao nhận thức của sinh viên về SHTT Sinh viên là những cán bộ khoa học trong tương lai, những người thực hiện hoạt động sáng tạo nên không thể thiếu những kiến thức về SHTT Những sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần có một cách tiếp cận rõ ràng không chỉ đối với việc tôn trọng quyền SHTT của người khác, mà cần tích cực hơn dưới góc độ mình có thể sử dụng, khai thác gì từ việc bảo hộ quyền SHTT Có như vậy, những cán bộ khoa học tương lai mới có thể khai thác được thế mạnh của khoa học, làm chủ được công nghệ khi ra lập nghiệp và phục vụ đất nước

Nhận thức rõ về vai trò của vấn đề SHTT đối với sự phát triển của đất nước,

1 * Thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đảm bảo quyền SHTT là hoạt động của ba Ủy ban trụ cột của Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 16

2 Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

3 Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền SHTT phục

vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền SHTT (Đ.8.1-3)

Việc triển khai những nội dung này vào cuộc sống trước tiên phải thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo với vai trò là cỗ máy cái để phát triển kinh tế, xã hội

và văn hóa Cách thức triển khai này đảm bảo thành công do việc phát triển các hoạt động giáo dục, đào tạo về SHTT một cách khoa học, có cơ sở, có hệ thống SHTT là một vấn đề phức tạp nên thực tế cần phát triển trước tiên là các hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH Xuất phát từ nhận thức này, các nội dung về giảng dạy và đào tạo về SHTT đã trở thành một bộ phận cấu thành, không thể tách rời của Chính sách quốc gia về SHTT Cụ thể:

“Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền SHTT và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền SHTT” (Đ.8.4 Luật SHTT 2005)

Những nội dung giảng dạy và đào tạo về SHTT đã được cụ thể hóa trong các Nghị định của Chính phủ, góp phần nhanh chóng đưa các nội dung này vào cuộc sống Việc cụ thể hóa các quy định đối với việc giảng dạy và đào tạo về SHTT được thực hiện trên tất cả các lĩnh lực của quyền SHTT và đều dựa trên nguyên tắc

ưu tiên phát triển

Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLDS, Luật SHTT về quyền tác giả và quyền liên quan khẳng định yêu cầu đưa các nội dung quyền tác giả và quyền liên quan SHTT vào toàn bộ hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt

Nam Bên cạnh việc “Tăng cường giáo dục kiến thức về quyền tác giả, quyền liên

quan trong hệ thống trường học các cấp”, Điều 5 của Nghị định này chỉ rõ: “Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin đưa nội dung giảng dạy về quyền tác giả, quyền liên quan vào chương trình giáo dục ĐH, CĐ và trung học chuyên nghiệp” Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt

động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH Ở đây việc đưa hay không đưa vào Chương trình đào tạo không còn là câu hỏi nữa Ngược lại, đây là nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức có liên quan, mà trước tiên là Bộ Giáo dục và

Trang 17

Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cũng như của các trường ĐH Việc chậm trễ triển khai sẽ là sự vi phạm phát luật một cách có chủ ý, nhưng quan trọng hơn, việc chậm trễ này sẽ làm giảm năng lực của Việt Nam để đáp ứng việc hội nhập quốc tế và phát triển đất nước một cách chủ động và thành công

Tương tự như vậy, trong lĩnh vực SHCN các yêu cầu đối với giảng dạy và đào tạo được làm rõ trong Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm

2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN Với chức năng chủ trì quản lý nhà nước về SHTT, Bộ Khoa học

và Công nghệ có trách nhiệm “Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ

Tư pháp xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, pháp luật về SHCN” (Đ.3.1) Đối với các chương trình đào tạo pháp luật về SHCN,

“Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư

pháp quy định cụ thể về Chương trình đào tạo pháp luật về SHCN” (Đ.27.1), trên

cơ sở đó thực hiện đào tạo nghề cho các cá nhân có nhu cầu trong xã hội đối với dịch vụ đại diện SHCN Quan trọng hơn, Nghị định cụ thể hóa các nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHCN ở các trường ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một cách toàn diện và đầy đủ nhất Theo Đ.30 của Nghị định:

1 Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Tư pháp quy định chi tiết về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng về SHCN

2 Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng kiến thức SHCN cho các chức danh tư pháp

3 Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức việc bồi dưỡng về SHCN cho những người làm công tác quản lý nhà nước, thẩm định, giám định, xử lý vi phạm, xâm phạm về SHCN

4 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chương trình và tổ chức việc đào tạo về SHCN trong các cơ

sở đào tạo

Tóm lại, nhu cầu cán bộ có trình độ chuyên môn cao đồng thời có kiến thức

về SHTT để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tăng cao trong các năm tới Với hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT của các trường ĐH khá nghèo nàn và lạc hậu hiện nay khiến chúng ta không thể không đánh giá một cách toàn diện và xây dựng những định hướng cho hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong thời gian tới theo hướng thi hành tốt các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam được nêu ra ở trên, góp phần vào thành công của sự phát triển đất nước theo hướng đổi mới và hội nhập Nghiên cứu của

Đề án này là một tiếng nói góp phần giải quyết nhiệm vụ này

Trang 18

CHƯƠNG 1

THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy

về SHTT” và “đào tạo về SHTT”

Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH Chính vì vậy, Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu

Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”1 Quá trình truyền thụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước,

và càng mới so với sinh viên Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT Điều này có nghĩa là mối quan

hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn Thực khó tưởng tượng, một nhà kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị

67 tỷ US$2 Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra Chính cái “không hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam

1 Từ điển Tiếng Việt trực tuyến http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/

2 * Theo Interbrand and BusinessWeek Rank the Best Global Brands by Value for 2006

Trang 19

chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO)1 Tuy số liệu này có thể chưa chính xác và khách quan, nhưng cũng là một tiếng chuông cảnh tỉnh về nhận thức của giới khoa học về SHTT Cũng không kém phần nghiêm trọng khi các cán bộ được đào tạo về khoa học xã hội và nhân văn không biết cách làm thế nào để bảo vệ cho “đứa con tinh thần của mình” – những tác phẩm, thành quả chính của hoạt động sáng tạo của mình Đỉnh điểm của sự “không hợp lý” trong thực tế của Việt Nam có lẽ là việc các luật gia chưa được trang bị kiến thức cần thiết về quyền SHTT SHTT đi vào cuộc sống chủ yếu thông qua thực tiễn bảo hộ quyền SHTT Như vậy, quyền SHTT được tiếp cập trước tiên dưới góc độ pháp lý, đòi hỏi các luật gia nhận thức rõ về loại tài sản trí tuệ Tiếc rằng, những sinh viên Luật của Việt Nam khi ra trường vẫn chưa định hình chính xác về quyền SHTT và tài sản trí tuệ

Từ phân tích trên, việc truyền thụ tri thức SHTT cần được nghiên cứu một cách khoa học để trả lời chính xác những câu hỏi quan trọng như: Cần chuyển tải những tri thức về SHTT nào cho giới sinh viên hiện nay? Những nhóm sinh viên khác nhau cần tri thức về SHTT khác nhau như thế nào? Cách thức chuyển tải các tri thức này? Định hướng khai thác và ứng dụng thông tin trong quá trình chuyển tải tri thức cho sinh viên? Trả lời cho các câu hỏi này được thực hiện thông qua giải quyết nhiệm vụ “giảng dạy về SHTT” trong các trường ĐH Ở đây không tập trung khía cạnh chuyên môn nghề nghiệp bởi các kiến thức về SHTT được phổ cập không nhằm mục đích tạo nên các chuyên gia về SHTT Các chuyên gia theo nghĩa này đòi hỏi hoạt động đào tạo chuyên ngành về SHTT

“Đào tạo” được hiểu là “làm cho trở thành người có năng lực theo những

tiêu chuẩn nhất định” 2 Đào tạo về SHTT là việc tạo ra các chuyên gia có năng lực

về SHTT Tiêu chuẩn đối với các chuyên gia là sự am hiểu lĩnh vực SHTT, có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến SHTT dưới các góc độ kinh tế, văn hóa,

xã hội Như vậy, đào tạo về SHTT là một quá trình có định hướng và mang tính chuyên nghiệp sâu Việc đào tạo này cũng rất đa dạng do SHTT là một lĩnh vực liên ngành Một chuyên gia về SHTT khó có khả năng hiểu biết mọi khía cạnh của vấn đề Bên cạnh đó, SHTT lại có mối liên hệ chặt chẽ với các chuyên ngành khác như công nghệ, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng Chính vì vậy, việc tiếp

cận hoạt động đào tạo về SHTT đòi hỏi rất khoa học và cẩn thận để đảm bảo “tiêu

chuẩn” của người chuyên gia được đào tạo có thể giúp người này trong hoạt động

chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường

Tóm lại, Đề án tiếp cận hai vấn đề “giảng dạy” và “đào tạo” nhằm hai mục tiêu:

- Phổ cập kiến thức SHTT trong các trường ĐH cho sinh viên các chuyên ngành đào tạo; và

Trang 20

- Đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT như một chuyên ngành đào tạo riêng

để tạo ra các chuyên gia về SHTT

Việc xác định bản chất của hai hoạt động “giảng dạy” và “đào tạo” như trên

là nền tảng cho việc nghiên cứu trong Đề án theo hai hướng cụ thể: phổ cập kiến thức SHTT dưới góc độ môn học và đào tạo về SHTT dưới góc độ chuyên ngành đào tạo

1.2 Nhận định chung về thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các

trường ĐH của Việt Nam

Việc bắt đầu tìm hiểu về thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT có thể thông qua một số nét của thực tiễn sử dụng nguồn nhân lực về SHTT trực tiếp nhất của tổ chức đại diện SHCN đối với các dịch vụ trong lĩnh vực SHCN, mà chưa tính đến nhu cầu rộng và lớn của các chủ thể khác trong xã hội như doanh nghiệp, các

cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khác trong xã hội Nghiên cứu và tìm hiểu

về hệ thống đại diện SHCN và dịch vụ quyền tác giả ở Việt Nam, có thể thấy hiện nay lực lượng này còn rất mỏng Số chuyên gia cung cấp dịch vụ SHCN thực thụ chỉ khoảng 230 người với khoảng 80 tổ chức dịch vụ tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) Trong lĩnh vực quyền tác giả, hiện tại Việt Nam có trên 30 tổ chức tư vấn và dịch vụ đăng ký hoạt động và cũng chỉ chủ yếu đóng trụ sở tại Hà Nội và một số tổ chức có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các Đại diện SHCN còn nhiều hạn chế thể hiện qua chất lượng đơn bảo hộ SHCN được nộp qua Đại diện còn chưa cao Các hoạt động tư vấn và dịch vụ về quyền tác giả chủ yếu dừng lại ở việc nộp hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền tác giả Trong vòng 10 năm qua, tỷ lệ đơn đăng ký bảo hộ quyền SHCN của người Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3% so với gần 97% là đơn đăng ký của người nước ngoài1 Tuy các số liệu thống

kê nêu trên chưa nói hết được thực trạng nhu cầu đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT, nhưng về cơ bản có thể thấy rõ nhu cầu chung của xã hội và nên kinh tế Việc đáp ứng các nhu cầu này theo thực tiễn và quy luật chung là thông qua hệ thống giáo dục ĐH, CĐ của mỗi nước, kể cả Việt Nam

Khẳng định nhu cầu phổ cập và đào tạo về SHTT càng làm gia tăng sự quan ngại về việc thực hiện các hoạt động này trong các trường ĐH của Việt Nam vì giảng dạy và đào tạo SHTT của các trường này khá nghèo nàn và lạc hậu

Tình hình giảng dạy và đào tạo về SHTT hiện nay có thể khái quát qua những điểm sau:

+ Hiện nay chưa có trường ĐH hoặc viện nghiên cứu nào có chuyên ngành đào tạo về SHTT Bắt đầu từ khóa học 2005-2006, Khoa Khoa học quản lý, trường

ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội đã mở chuyên ngành đào tạo “Quản lý về SHTT” với 11 sinh viên, tuy nhiên, việc đào tạo này chỉ mang tính

1ĐH Quốc gia Hà Nội, báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu về Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về SHTT

trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam (mã số: QGTĐ.03.05, chủ trì: PGS.TS Nguyễn Bá Diến)

Trang 21

chất “định hướng” do các kiến thức chuyên môn về SHTT chỉ được giới thiệu một cách hạn chế và đội ngũ cán bộ giảng dạy chưa đủ Mặc dù chuyên ngành đào tạo

“Quản lý về SHTT” chưa phải là chuyên ngành truyền thống đáp ứng nhu cầu chính của xã hội nhưng số liệu về việc làm của sinh viên ra trường thể hiện khá rõ nhu cầu của xã hội đối với kiến thức SHTT nói chung, và đội ngũ chuyên gia về SHTT nói riêng Cụ thể, 11 sinh viên nói trên đã tốt nghiệp tháng 6 năm 2006, cho đến tháng 8 năm 2006 đã có 9/11 sinh viên tìm được việc làm đúng ngành đào tạo, 1/11 tìm được việc làm gần với ngành đào tạo, 1/11 tạm thời chưa tìm được việc làm

+ Cho đến nay, hầu như chưa có trường ĐH kỹ thuật nào có nội dung giảng dạy về SHTT trong chương trình đào tạo của mình Một số nội dung cơ bản tối thiểu về SHTT chỉ được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật và cũng trong khuôn khổ của môn học khác như Luật Dân sự hoặc Tư pháp quốc tế Trong số các cơ sở đào tạo này, một số bắt đầu tổ chức môn học về SHTT nhưng với thời lượng và nội dung rất khác nhau, phần lớn chỉ dừng lại ở 15 đến 30 tiết học Việc dạy và học này chủ yếu dựa vào sự chuẩn bị và nhận thức của giáo viên dạy kiêm nhiệm khi phải phụ trách các môn học khác

+ Các giảng viên có giảng dạy về SHTT hầu hết chưa được đào tạo chuyên ngành về SHTT Họ chỉ được đào tạo về SHTT một cách hạn chế trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại các trường ĐH, do đó, cũng không dễ dàng để tự mình xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo cho một môn học phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế và luật, như SHTT Chương trình học

có các nội dung SHTT được giới thiệu ở một số trường ĐH có đào tạo cử nhân Luật hiện nay khác nhau khá lớn về nội dung, thời lượng Sở dĩ có sự khác biệt lớn như vậy là do có sự khác nhau về nhận thức đối với chính môn học: ý nghĩa, nội dung, và các khía cạnh liên quan

+ Phương pháp dạy và học SHTT ở Việt Nam chưa đem lại hiệu quả mong muốn do chưa có kinh nghiệm Đặc biệt, chưa có sự chuẩn bị đầy đủ và cần thiết

về tài liệu, thực tiễn cho việc giảng dạy và học tập Kết quả tất yếu là sinh viên chưa chủ động trong học tập, chưa có động lực và quyết tâm nghiên cứu những vấn

đề liên quan đến SHTT Các cơ sở đào tạo có nội dung đào tạo về SHTT đang tìm cách đổi mới và phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT như: ĐH Luật

Hà Nội, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, và Khoa Luật (ĐH Quốc gia Hà Nội),

ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật (ĐH Cần Thơ)

Để kiểm chứng cho những nhận định nêu trên, trong khuôn khổ của Đề án đã

thực hiện một loạt các khảo sát quy mô dưới nhiều góc độ khác nhau liên quan

đến giảng dạy và đào tạo về SHTT nhằm đánh giá mức độ quan tâm đối với hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT và thực trạng của hoạt động này trong các trường ĐH

a) Khảo sát đối với cán bộ, giảng viên các trường ĐH

Việc khảo sát trước tiên được thực hiện với đội ngũ cán bộ, giảng viên ĐH –

Trang 22

những người trụ cột, đóng góp quyết định cho chất lượng giảng dạy và đào tạo về SHTT Số cán bộ, giảng viên các trường, học viện tham gia cung cấp ý kiến là 241 đại diện cho 57 khoa, trường, học viện thuộc các lĩnh vực hoạt động khác nhau với các đặc điểm đào tạo khác nhau Trên cơ sở sự tham gia đông đảo và đa dạng này, kết quả khảo sát sẽ khách quan và toàn diện, phục vụ tốt cho những đánh giá liên quan Tuyệt đại bộ phận cán bộ, giáo viên tham gia khảo sát có quan tâm đến SHTT (200/241 chiếm gần 83%), trong đó chỉ có 56 người hoạt động trực tiếp liên quan đến SHTT, chiếm trên 23% Điều này chứng tỏ ý kiến đưa ra có cơ sở thực tiễn, qua đó đánh giá một cách cơ bản chính xác về thực trạng và nhu cầu đào tạo, giảng dạy liên quan đến SHTT Với sự quan tâm đến SHTT, tuyệt đại bộ phận cán

bộ, giáo viên tham gia khảo sát có kiến thức về SHTT tương đối tốt, về cơ bản hiểu biết về SHTT với 193 người được hỏi, chiếm trên 80% Từ đây, những đánh giá về các khía cạnh liên quan của SHTT, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo, sẽ chính xác hơn Đặc biệt, có tới 19 cán bộ, giáo viên có sự hiểu biết rất tốt về SHTT (chiếm 7,9%) và không những có những đánh giá xác đáng mà còn đưa ra những ý kiến đóng góp có giá trị cho việc phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT ở Việt Nam

Một trong số các kiến có giá trị là của TS Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng

Bộ Tư pháp, giảng viên kiêm nhiệm của Khoa Luật trực thuộc ĐH Quốc gia Hà

Nội và trường ĐH Luật Hà Nội Ông khẳng định “Cần sớm có một môn học độc

lập về SHTT để đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân Luật và đào tạo sau ĐH”

Những thày giáo và là những nhà quản lý hàng đầu tại nhiều trường ĐH (Hiệu trưởng, hay Trưởng phòng Đào tạo, nghiên cứu khoa học ) nhận định rất tích cực

về nhu cầu giảng dạy và đào tạo về SHTT Hầu hết trong số được khảo sát này cho rằng nên phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH, các học viện

Thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT hiện lên khá rõ qua ý kiến của các cán bộ, giảng viên các trường ĐH Theo khảo sát, đến 161 ý kiến chiếm 66,8% khẳng định khoa, trường, học viện chưa có nội dung SHTT trong chương trình đào tạo của mình Nếu tính cả số 45 ý kiến về việc nội dung SHTT mới được đưa vào giảng dạy thì con số này chiến đến 206 ý kiến, tức 85,5% 45 ý kiến chỉ ra các cơ

sở đào tạo đã bắt tay vào giảng dạy và đào tạo về SHTT trong thời gian vừa qua, chiếm 18,7%, đồng thời cho thấy có sự chuyển biến trong nhận thức mạnh mẽ của các trường, học viện, khoa đối với vấn đề SHTT nói chung và giảng dạy SHTT nói riêng Bên cạnh đó, một thực trạng đáng lo ngại khi còn tới 110 ý kiến, chiếm 45,6% cho thấy các khoa, trường, học viện chưa có kế hoạch để đưa nội dung SHTT vào Chương trình đào tạo của mình, kể cả dưới góc độ đơn giản nhất là một phần trong một môn học có liên quan

Một nội dung đáng quan tâm nữa liên quan đến những nội dung SHTT được đưa vào các trường ĐH Ở đây chủ yếu dừng lại ở một nội dung trong một môn học mà chưa có vị trí độc lập trong Chương trình đào tạo (chiếm 52% số ý kiến được hỏi) Việc xây dựng một môn học độc lập về SHTT hầu như chỉ có trong các

Trang 23

cơ sở đào tạo về Luật, trong đó rất hiếm khoa, trường hay học viện có từ 2 môn học về SHTT trở lên (chiếm 17,7%) Ngay những cơ sở đào tạo đã có nội dung về SHTT trong Chương trình đào tạo thì việc đáp ứng yêu cầu đào tạo vẫn còn là vấn

đề lớn Phần lớn các ý kiến được hỏi cho rằng những nội dung về SHTT được đưa vào Chương trình hiện chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo (47 ý kiến, chiếm 59,5%) Trong đó có tới 12 ý kiến khẳng định nội dung về SHTT hoàn toàn chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo, chiếm 15,2%, cao hơn rất nhiều so với 3 ý kiến cho rằng nội dung về SHTT đã đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo (chiếm 3,8%) Điều này khẳng định nhu cầu đối với việc hoàn thiện chương trình đào tạo nhằm xác định đúng vị trí của nội dung SHTT, cải thiện chất lượng các chuyên ngành đào tạo của các khoa, trường, học viện

Ngay tính hợp lý của việc đưa các nội dung về SHTT vào giảng dạy và đào tạo cũng đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Về cơ bản, các ý kiến cho

là việc dành thời lượng cho nội dung SHTT của khoa, trường, học viện mình là hợp lý (43 ý kiến, chiếm 54,4%) Đây là đánh giá dựa trên nội dung về SHTT hiện đang được giảng dạy ở các trường mà 59,5% các ý kiến đã khẳng định là chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo và được chỉ ra ở trên Khi có sự thay đổi nội dung về SHTT trong chương trình đào tạo của các khoa, trường, học viện thì thời lượng cũng cần được thay đổi theo một cách tương ứng Trong bối cảnh đánh giá dựa trên những nội dung về SHTT hiện có, đến 30 ý kiến cho rằng thời lượng dành cho các nội dung này là chưa hợp lý, chiếm 38% Đây thực sự vẫn là một tỷ lệ khá cao

Những điều kiện cần thiết cho giảng dạy và đào tạo về SHTT được thể hiện qua những con số đáng báo động Mặc dù phần lớn các ý kiến cho rằng đội ngũ giảng viên của khoa, trường, học viện về cơ bản đáp ứng yêu cầu (56 ý kiến, chiếm 70,9%), nhưng cần nhận thấy là đội ngũ giảng viên này thực tế chỉ giới thiệu một vài khía cạnh rất hẹp của SHTT trong một môn học không chuyên về SHTT (chiếm 52%) Để tăng cường nội dung SHTT trong Chương trình đào tạo với các môn học riêng và chuyên sâu về SHTT thì số giáo viên này khó đáp ứng vì hầu hết giảng dạy không chuyên trách về SHTT Lĩnh vực giảng dạy chính của họ thường

là các lĩnh vực chuyên môn khác Ngay ở các khoa, trường, học viện có giảng dạy

về SHTT thì đội ngũ cán bộ giảng dạy đối với nội dung này rất mỏng Những cơ sở đào tạo có cán bộ có chuyên môn hẹp về SHTT lại càng ít, như Khoa Khoa học quản lý (Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) có chuyên ngành đào tạo “khoa học quản lý chuyên về SHTT” cũng chỉ có 3 giảng viên về SHTT và họ trước đây cũng không được đào tạo chuyên về SHTT Tương

tự như vậy, Khoa Luật trực thuộc ĐH Quốc gia hoặc Khoa Luật kinh tế thuộc Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội chỉ có 2 giảng viên tham gia giảng dạy về SHTT Thực tế, một số lượng lớn các khoa, trường, học viện phải sử dụng đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm, giảng dạy theo hợp đồng để đáp ứng nhu cầu giảng dạy về SHTT của mình

Một điều kiện khác không thẻ thiếu trong giảng dạy và đào tạo về SHTT là tài liệu, nhưng thực tế có thể khẳng định việc hầu như không có tài liệu giảng dạy

Trang 24

về SHTT trong các trường ĐH Các khoa, trường, học viện thực tế chưa chuẩn bị được điều kiện cần thiết cho giảng dạy và đào tạo về SHTT Ngoài việc các cơ sở đào tạo chưa xây dựng được giáo trình về SHTT, các cơ sở này cũng chưa có hệ thống tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy và đào tạo về SHTT

49 ý kiến (62%) khẳng định cho nội dung này Đặc biệt không một ý kiến được hỏi cho rằng cơ sở đào tạo đã đáp ứng được tài liệu cho nhu cầu giảng dạy và đào tạo

về SHTT Đây là thực tế đáng lo ngại mà quá trình phát triển hoạt động giảng dạy

và đào tạo về SHTT ở các khoa, trường, học viện phải tính đến

Trong bối cảnh rất đáng lo ngại về thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT như trên, vẫn có các ý kiến lạc quan về triển vọng phát triển giảng dạy và đào tạo SHTT trong các trường ĐH Không một ý kiến nào phản đối khả năng đưa các nội dung về SHTT vào chương trình đào tạo của các khoa, trường, học viện Tới 228 ý kiến (chiếm 94,6%) khẳng định sự cần thiết đưa nội dung về SHTT vào giảng dạy trong các khoa, trường, học viện Trong đó tới 141 ý kiến (chiếm 58,5%) nhất trí với việc đưa ngay các nội dung về SHTT vào giảng dạy Những tỷ lệ cao này chỉ ra nhu cầu thực tế đối với kiến thức SHTT phục vụ cho hoạt động đào tạo, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn này, tuyệt đại bộ phận các ý kiến (153 ý kiến, chiếm 63,5%) thấy cần thiết xây dựng môn học độc lập về SHTT cho phù hợp với đặc thù của đối tượng và yêu cầu đào tạo SHTT có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội thì việc đầu tư cho một môn học cũng là điều dễ hiểu Ở đây cần lưu ý kiến về khả năng đưa các nội dung về SHTT vào thành một phần của môn học khác và đồng thời xây dựng môn học độc lập Đây là xu hướng phổ biến hiện nay trên thế giới, theo đó, tùy thuộc vào đặc thù đào tạo và đối tượng đào tạo, nhiều môn học về SHTT hoặc nhiều môn học chuyên ngành khác nhau đưa nội dung SHTT vào được xây dựng và triển khai

Những khó khăn mà các trường phải đối mặt khi phát triển hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT khá nhiều và đều là những vấn đề lớn, khó giải quyết Các kiến được hỏi quan tâm hàng đầu là có được đội ngũ giảng viên đáp ứng được yêu cầu mà hiện nay chưa có một cơ sở đào tạo nào ở Việt Nam có được Cụ thể,

160 ý kiến (chiếm 66,4%) khẳng định sự lo ngại này Những vấn đề khác mà những người được hỏi lo ngại lần lượt là: Nội dung về SHTT được đưa vào giảng dạy (112 ý kiến, chiếm 46,5%); Tài liệu tham khảo (101 ý kiến, chiếm 41,9%); Và thời gian dành cho môn học SHTT dự định đưa vào (100 ý kiến, chiếm 41,5%) Chương trình đào tạo của các trường hiện có sự quản lý khá chặt thông qua Chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc đưa thêm môn học mới vào Chương trình khó thực hiện Vì vậy, tỷ lệ cao các ý kiến lo ngại về khả năng tìm ra thời gian thích hợp cho môn học SHTT Ngoài ra, những vấn đề khác như sự quan tâm của nhà trường đối với phát triển hoạt động giảng dạy SHTT và sự quan tâm của sinh viên đối với nội dung SHTT được giới thiệu cũng dành được tỷ lệ quan tâm cao, đến 70 ý kiến (chiếm 29%) và 64 ý kiến (chiếm 26,6%)

Ngoài những điều lo ngại nêu trên, nhiều ý kiến bày tỏ những lo ngại khác

Trang 25

có thể ảnh hưởng đến việc đưa các nội dung về SHTT vào giảng dạy tại các khoa, trường, và học viện Đó là những lo ngại về các vấn đề cụ thể sau:

- Trang thiết bị giảng dạy;

- Cập nhật thông tin bằng tiếng nước ngoài;

- Chưa có kinh nghiệm về giảng dạy SHTT;

- Kinh phí của Nhà nước hỗ trợ cho trường và cho giáo viên nếu có liên quan đến khoa học, kỹ thuật;

- Xác định tính thực tiễn hay tính thực hành của việc giảng dạy về SHTT;

- Điều kiện thực tập và kiến tập của sinh viên ở các cơ quan pháp luật và cơ quan quản lý nhà nước về SHTT là khó khăn;

- Không có kinh phí mua tài liệu gốc (có bản quyền) để tham khảo;

- Khả năng cập nhật nội dung giảng dạy;

- Xã hội sẽ tiếp nhận nguồn nhân lực liên quan đến chuyên môn này như thế nào?

- Việc xác định vị trí, vai trò của môn học và các tài liệu tham khảo chuyên sâu có liên quan tới vấn đề SHTT không chỉ trong nước mà cả quốc tế;

b) Khảo sát đối với sinh viên các trường ĐH

Sinh viên là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của việc đưa hay không đưa SHTT và giảng dạy và đào tạo tại các trường ĐH Nhận thức của sinh viên là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định phát triển hoạt động này trong thời gian tới

Sự hưởng ứng của sinh viên là một minh chứng rõ nét về nhu cầu thực Những nhận xét của sinh viên về thực trạng rất thực tế và khách quan vì sinh viên là

những người “trong cuộc” Khảo sát được thực hiện với những số liệu sau: tổng số

phiếu khảo sát được phát ra là 700 phiếu, thu về được 496 phiếu của các sinh viên đại diện cho 8 khoa, trường trong các lĩnh vực đào tạo khác nhau: luật, tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, kinh tê - tài chính theo một tỷ lệ khá cân đối, trong đó

có tính đến mối liên quan của các chuyên ngành đào tạo với SHTT Do đó, ý kiến của các sinh viên khá toàn diện đối với vấn đề giảng dạy và đào tạo về SHTT

Mặc dù các sinh viên được khảo sát từ hầu hết các lĩnh vực đào tạo, nhưng đáng mừng là hầu hết sinh viên đều nhận thấy mối liên quan giữa SHTT với chuyên ngành học và hoạt động của mình, trong đó chỉ có 3 sinh viên cho rằng không có liên quan, chiếm 0,6% Đây là một bước tiến dài trong nhận thức của sinh viên, trên cơ sở đó có tiền đề để thể thúc đẩy hoạt động SHTT trong các trường ĐH, trước tiên là hoạt động giảng dạy và đào tạo

Một điều đáng mừng nữa là trong số 99,4% sinh viên nhận thấy mối quan hệ giữa SHTT và chuyên ngành học thì chỉ có 59 sinh viên, chiếm 11,9%, cho rằng SHTT có ít liên quan Trong khi đó đến 434 sinh viên, chiếm 87,5%, khẳng định mối liên quan chặt chẽ giữa chuyên ngành học và SHTT, nhất là 37,5% còn cho có

Trang 26

sự liên quan trực tiếp Việc đưa ra ý kiến như vậy phần nào cho thấy sinh viên đã

có những nhận thức ban đầu về SHTT tốt, đảm bảo khảo sát được thực hiện khách quan, và cho thấy họ có thể tiếp nhận những nội dung về SHTT trong tương lai

Điều đáng ngạc nhiên là phần lớn sinh viên cho rằng mình có hiểu biết ít hay nhiều về SHTT với 476 sinh viên, chiếm 96% số sinh viên tham gia khảo sát, trong khi hầu hết các trường chưa có nội dung SHTT trong chương trình đào tạo Đặc biệt, đến 58,9% số sinh viên được khảo sát cho rằng đã có hiểu biết cơ bản đến rất tốt về SHTT Con số này có thể chưa hoàn toàn chính xác do sự nhận thức của sinh viên chưa đầy đủ để đánh giá, nhưng điều này cũng cho thấy sự tự tin của sinh viên đối với một vấn đề mới và phức tạp như SHTT Nếu trên thực tế đúng là sinh viên chưa nhận thức đầy đủ về SHTT thì càng đòi hỏi có những hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT trong trường ĐH sớm để đáp ứng nhu cầu thiết yếu này

Có thể nhận thấy một điều nữa là số lượng sinh viên chuyên ngành Luật tham gia áp đảo với 322 sinh viên, chiếm 64,9%, mang tính khách quan theo định hướng nghiên cứu của Đề án Sinh viên Luật được tiếp cận với SHTT ở các mức độ khác nhau tùy từng trường Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao số lượng sinh viên cho rằng mình hiểu biết một cách cơ bản về SHTT cao như vậy trong kết quả khảo sát Việc khảo sát đối với sinh viên Luật phần nào sẽ chính xác hơn, phù hợp với mục tiêu đánh giá thực trạng của hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT qua lăng kính của sinh viên

Mặt khác, số lượng sinh viên Luật tham gia khảo sát đông nên tỷ lệ các trường có hoạt động giảng dạy về SHTT khá cao, chiếm 34%, nếu tính cả những trường mới đưa SHTT vào chương trình giảng dạy thì đến 73,3% Đối lâp với tình trạnh này, 26,3% các trường chưa hề có hoạt động giảng dạy nào liên quan đến SHTT Con số này có thể sẽ cao hơn rất nhiều khi khảo sát thêm ở các trường ĐH

và CĐ nhỏ, nhất là ở các tỉnh Con số khá lạc quan thu được là do chủ yếu đại diện của một số trường ĐH lớn nhất của Việt Nam như ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường

ĐH Luật Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội tham gia khảo sát

Mặc dù số lượng các trường có giảng dạy về SHTT khá cao trong số có sinh viên được khảo sát, nhưng phần lớn sinh viên (219 sinh viên, chiếm 56,3%) chưa thỏa mãn với những gì được giới thiệu về sở hữu trí tụê trong trường của mình Sinh viên là đối tượng chưa có cọ sát với thực tiễn, vì vậy nhiều mặt của đời sống

xã hội tuy có nhu cầu đối với SHTT nhưng sinh viên chưa đánh giá được và nội dung này thể hiện khá rõ qua kết quả khảo sát Điều này lý giải tại sao tỷ lệ chưa thỏa mãn đối với các nội dung về SHTT trong chương trình đào tạo của các trường

ĐH chưa cao như dự đoán

Sinh viên đã nhận thức khá rõ về vai trò của giảng viên trong việc phát triển các hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT Song tỷ lệ sinh viên thảo mãn với đội ngũ giảng viên về SHTT rất cao Điều này có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do sinh viên chưa nhận thấy hết sự phức tạp của SHTT, nhất là trong mối quan hệ với

Trang 27

chuyên ngành đào tạo Bên cạnh đó, những nội dung về SHTT dự định đưa vào giảng dạy trong các trường ĐH, CĐ mang tính phổ cập và thời lượng dự kiến có thể không lớn nên không đòi hỏi đội ngũ giảng viên có kiến thức sâu, rộng về SHTT, thậm chí hoàn toàn có thể thỏa mãn với việc giảng viên môn học khác kiêm nhiệm giảng về SHTT Với những lý giải này, không quá khó khăn để hiểu tại sao đến 80,3% số sinh viên được hỏi thỏa mãn với đội ngũ cán bộ giảng dạy về SHTT của trường mình

Để nghiên cứu một số điều kiện cần thiết nhằm hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tụê của các trường ĐH, khảo sát có thực hiện đối với

hệ thống tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của hoạt động giảng dạy, học tập Tỷ lệ sinh viên thỏa mãn với tài liệu về SHTT mà trường có khá cao, chiếm 57% Đây thực sự là một tỷ

lệ cao nếu so sánh với thực trạng còn nghèo nàn về tài liệu tham khảo của các trường hiện nay Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên về thời lượng dành cho các nội dung về SHTT rất khiêm tốn, nên sinh viên dễ dàng chấp nhận thực trạng của tài liệu tham khảo về SHTT của các trường Với 5 đến 15 tiết học thì thậm chí nhiều tài liệu tuyên truyền rộng rãi về SHTT cũng cơ bản đáp ứng được Nhưng nếu thay đổi cách tiếp cận vấn đề SHTT sâu hơn, và tăng cường giảng dạy về SHTT, thì chắc chắn không chỉ có 43% sinh viên không thỏa mãn như kết quả của khảo sát Khảo sát thực hiện đánh giá trực tiếp ý kiến của sinh viên về nhu cầu đào tạo

và giảng dạy SHTT trong trường ĐH Kết quả thu được chỉ ra đến 92,4% số sinh viên được hỏi cho ý kiến cùng thống nhất khẳng định nhu cầu đưa nội dung SHTT vào giảng dạy và đào tạo trong các trường ĐH và CĐ Nếu tính cả số sinh viên có cùng quan điểm nêu trên nhưng cho rằng thời điểm đưa các nội dung về SHTT vào chương trình có thể không vội, thì tỷ lệ sinh viên đồng ý với việc mở rộng giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tụê trong các trường ĐH và CĐ lên tới 98,6% Với những con số ấn tượng này, việc giảng dạy về SHTT trong các trường ĐH và CĐ cần được thúc đẩy trong thời gian sớm nhất

Sự quan tâm của sinh viên đến rất nhiều các nội dung của SHTT, chứng tỏ sự thích ứng với nền kinh tế thị trường của sinh viên Những vấn đề liên quan đến SHTT mà sinh viên đưa ra khá cụ thể, gắn với những chuyên ngành học một cách

rõ ràng Có thể kể đến một số vấn đề liên quan đến: các đối tượng SHTT; chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT; sử dụng hạn chế các đối tượng SHTT; ý nghĩa kinh tế của quyền SHTT; giải quyết tranh chấp về quyền SHTT, cơ chế thực thi, bảo đảm thực thi quyền SHTT; bảo hộ đối với các đối tượng không truyền thống như sáng kiến, các kết quả nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng trong các trường ĐH và CĐ; thương mại hóa quyền SHTT; các vấn đề SHTT trong hội nhập quốc tế; thực tiễn áp dụng pháp luật về SHTT, đặc biệt là tình hình ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, sinh viên được khảo sát còn thể hiện sự nhiệt tình và quan tâm đến SHTT thông qua nhiều đề xuất như: tăng cường hoạt động thương mại điện tử góp

Trang 28

phần phát triển ứng dụng quyền SHTT; đưa SHTT vào đời sống thực tế để mọi người hiểu, chấp hành và tôn trọng quyền SHTT của mình và của người khác; hoàn thiện hơn hệ thống luật pháp về SHTT và nhanh chóng triển khai các văn bản vào cuộc sống với việc câp nhật thường xuyên các nội dung mới; xác định SHTT

là môn học chính thức; tăng cường các tình huống thực tế để thực hành và tiếp cận các thông tin thực tiễn trong lĩnh vực SHTT mà không thiên về giới thiệu các vấn

đề lý luận về SHTT; tổ chức nhiều thảo luận, giao lưu về SHTT cho sinh viên; tăng thêm số giờ giảng dạy về SHTT, cung cấp thêm những nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo trong và ngoài nước; phát triển đội ngũ cán bộ giỏi, được đào tạo chuyên môn

về SHTT để giảng dạy các nội dung liên quan cho sinh viên; cần đổi mới phương pháp giảng dạy gây hứng thú, có thực tế để học tập, nghiên cứu có hiệu quả hơn đối với vấn đề phức tạp như SHTT; Cần có chương trình cụ thể và chuyên sâu gắn với những lĩnh vực cụ thể theo các chuyên đề riêng; cần chọn lọc những nội dung SHTT cần thiết đưa vào chương trình học, tránh tình trạng quá tải; v.v

Tóm lại, qua các ý kiến của sinh viên tham gia khảo sát, phần nào thấy được thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, trong bối cảnh sinh viên ngày càng quan tâm đến SHTT, mong muốn nhận thức, tìm hiểu các nội dung này một cách hệ thống và đầy

đủ hơn

b) Khảo sát đối với cán bộ công tác sau khi tốt nghiệp ĐH, CĐ

Các cán bộ đang công tác sau khi tốt nghiệp là cầu nối giữa các trường ĐH

và xã hội Họ là những người hiểu rõ nhất nhu cầu thực sự của thực tiễn đối với hoạt động giảng dạy và đào tạo Khảo sát đối tượng này cho thấy bức tranh toàn cảnh của thực tiễn giảng dạy và đào tạo về SHTT

Khảo sát được thực hiện trên diện rộng ở cả ba miền: Bắc, Trung và Nam, ở các cơ quan trung ương và địa phương, trong khu vực quản lý nhà nước và doanh nghiệp, giữa các lĩnh vực hoạt động khác nhau như luật, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và nhân văn Tổng số phiếu phát ra là 500 phiếu, thu về được 228 phiếu của các đại diện từ 110 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Điều này cho thấy SHTT cũng chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ của xã hội, kể cả trong giới trí thức là những người

có hoạt động liên quan mật thiết đến các khía cạnh của quyền SHTT Khảo sát trên diện rộng để kết quả khảo sát mang tính toàn diện, và dựa vào đó để nhận định về nhu cầu giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH và CĐ, cũng như kết luận về một số nội dung liên quan nhằm triển khai hoạt động này trong các trường thời gian tới

Có thể nhận thấy sự quan tâm đến SHTT nói chung, và đào tạo về SHTT nói riêng, xuất phát chủ yếu từ các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế Hoạt động của những cơ quan, tổ chức này thời gian qua có liên quan chặt chẽ đến nhiều mặt của quyền SHTT như: hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT; hài hòa hóa các chuẩn mực bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam với nước ngoài và quốc tế; quản lý và khai thác quyền SHTT Chính vì vậy, sự quan tâm hơn của đại diện

Trang 29

các cơ quan này là điều dễ hiểu và số phiếu điều tra thu về được từ đại diện các cơ quan, tổ chức này hoàn toàn phù hợp, tổng cộng chiếm đến 58,8% số phiếu thu về được

Trong thời gian qua, hiệu quả thực thi quyền SHTT chưa cao là một bức xúc của các cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo về quyền tài sản của cá nhân, tổ chức trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam Điều này lý giải việc đại diện của các cơ quan bảo vệ pháp luật phản hồi khá tích cực đến 40 phiếu, chiếm 17,5%

Ngoài ra, các lĩnh vực khác nhau có đại diện phản hồi đối với khảo sát (39 phiếu, chiếm 17,1%) đã chứng tỏ SHTT đã và đang ngày càng trở thành mối quan tâm của các ngành, và trong các lĩnh vực Điều này phù hợp với vai trò của quyền SHTT đối với sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay SHTT thực sự trở thành một trong những yếu tố cơ bản của hạ tầng cơ sở cho sự phát triển các quan hệ kinh tế Mối quan hệ giữa công việc của những người được khảo sát với SHTT giúp không chỉ đánh giá chính xác sự quan tâm của người được khảo sát, mà còn khẳng định độ chính xác của những thông tin được cung cấp qua khảo sát Tuy việc đánh giá mức độ liên quan của SHTT đối với hoạt động của người tham gia khảo sát còn mang nhiều yếu tố chủ quan do chưa có những tiêu chí thật sự rõ ràng cho việc đánh giá, song kết quả thu được cũng cho thấy khá phù hợp với quy luật phát triển kinh tế trong mối quan hệ với SHTT 35 phiếu khảo sát thu được (chiếm 15,4%) của những người có hoạt động trực tiếp liên quan đến SHTT cũng đã là một tỷ lệ cao

Điều quan trọng là phần lớn đánh giá của những người tham gia khảo sát khẳng định mối quan hệ giữa hoạt động của họ với SHTT (156 người chiếm 68,4%) Trong đó, đến 39,9% khẳng định về mối liên quan chặt chẽ

Vai trò của SHTT trong xã hội được nhận diện khá rõ qua con số chỉ 16,2% người được hỏi cho rằng hoạt động của họ không liên quan gì đến SHTT (37 ý kiến) Với sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên thế giới và định hướng ngày càng rõ ở Việt Nam, số lượng các ý kiến về sự không liên quan của SHTT đối với hoạt động của mỗi người chắc chắn sẽ giảm dần

Với (83,8%) ý kiến được hỏi khẳng định mối quan hệ giữa SHTT với hoạt động của mình thì có cơ sở để nghĩ đến nhu cầu đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH

Mối liên quan giữa công việc của những người được khảo sát với SHTT được thể hiện thông qua hầu hết các đối tượng SHTT Đối tượng SHTT được nhắc tới nhiều nhất thời gian qua là nhãn hiệu và tác phẩm thì tỷ lệ được phản ánh trong ý kiến người được khảo sát lần lượt là 36,1% và 21,5% Thực tế, đối tượng của quyền tác giả có thể nhiều hơn là nhãn hiệu song những hoạt động liên quan đến bảo hộ, khai thác, bảo vệ quyền tác giả trong thời gian qua ở Việt Nam chưa sôi động do hiệu quả của hoạt động thực thi quyền tác giả chưa cao Trong khi đó,

Trang 30

hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp thời gian qua rất tích cực và nhãn hiệu là đối tượng quan trọng, có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thị trường Tỷ lệ đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu thường tăng khoảng 20 đến 30% Như vậy, tỷ lệ 36,1% ý kiến được hỏi khẳng định mối quan hệ giữa hoạt động của họ và nhãn hiệu là phù hợp với xu hướng chung của phát triển kinh tế

Bên cạnh các đối tượng SHTT được ứng dụng nhiều, các ý kiến cho rằng hoạt động liên quan đến sáng chế chiếm 20,4% là chưa tương xứng với tầm quan trọng của sáng chế đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, tuy nhiên, nó lại phù hợp với điều kiện của Việt Nam Nếu ở các nước phát triển, số lượng sáng chế được bảo hộ rất lớn và tăng thường xuyên hàng năm thì ở những nước đang phát triển,

kể cả ở Việt Nam, số lượng sáng chế được bảo hộ là không đáng kể Chính vì vậy, chỉ có một tỷ lệ khiêm tốn những ý kiến được hỏi cho rằng hoạt động của họ có liên quan đến sáng chế Thời gian tới, khi kinh tế Việt Nam phát triển mạnh, thì tình hình này có thể được thay đổi theo một cách tương ứng

Ngoài ra, một điều đáng mừng là những đối tượng SHTT không truyền thống như tri thức truyền thống, đã được đề cập đến trong hoạt động của cá nhân, tổ chức

ở Việt Nam Điều này chứng tỏ phạm vi của SHTT được quan tâm ngày càng rộng,

đa dạng, và, khả năng sẽ được phát triển mạnh trong thời gian tới

Để đánh giá đúng về nội dung được khảo sát, cần có sự hiểu biết nhất định của người được khảo sát về SHTT Kết quả cho chúng thấy một tỷ lệ đáng lo ngại của những người được khảo sát chưa có nhận thức đầy đủ về SHTT chiếm đến 38,6% Tuy số lượng những người được khảo sát có hiểu biết về SHTT chiếm đến 61,4%, nhưng thực tế những người có hiểu biết tốt về SHTT chỉ chiếm có 14,5% - một tỷ lệ khá khiêm tốn

Thực tế, tỷ lệ 61,4% người được hỏi có hiểu biết về SHTT từ mức cơ bản trở lên là không nhỏ, nhưng nếu đặt trong tổng thể chung của xã hội thì sẽ rất nhỏ bé

vì những người được hỏi đều là những người đã tốt nghiệp ĐH và có nhận thức tốt các vấn đề kinh tế - xã hội, kể cả SHTT Những người có trình độ ĐH ở Việt Nam cũng còn khá khiêm tốn, vì vậy nhìn chung nhận thức chung của cả xã hội về vấn

đề SHTT sẽ còn thấp hơn rất nhiều Ngay những người đã tốt nghiệp ĐH khi ra công tác cũng còn đến 4,8% hầu như không hiểu biết gì về SHTT Việc nâng cao hiệu quả việc bảo hộ, thực thi, khai thác và quản lý quyền SHTT trong thời gian tới đòi hỏi làm thay đổi một cách cơ bản nhận thức chung của xã hội về SHTT, nhất là của tầng lớp trí thức – tầng lớp có quan hệ chặt chẽ nhất với SHTT

Nhận xét nổi bật của các kiến được khảo sát là việc SHTT “có vẻ” ảnh hưởng

không lớn đến hoạt động của họ và qua đó là toàn xã hội (đến 71%) Đây là một thực tế đáng lo ngại vì lý do chủ yếu của kết quả này không phải ở chỗ SHTT không ảnh hưởng nhiều mà do SHTT chưa được quan tâm đúng mức trong hoạt động của cá nhân, tổ chức Từ việc quyền tác giả bị xâm phạm rất lớn đến việc các sáng chế chưa được quan tâm khai thác khiến chúng ta có thể ngộ nhận là quyền SHTT không ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế - xã hội Thực tế đã chỉ ra điều

Trang 31

ngược lại, tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp, tổ chức khi được đánh giá về thực trạng bảo hộ và thực thi quyền SHTT thì đều có vấn đề, hoặc là xâm phạm quyền SHTT của người khác, hoặc là quyền SHTT của mình bị xâm phạm hoặc quản lý, khai thác chưa tốt Chính vì vậy, đằng sau con số 71% nêu trên là yêu cầu đổi mới một cách cơ bản nhận thức về SHTT Bên cạnh đó, tỷ lệ 29% các ý kiến khẳng định phải đối mặt với vấn đề SHTT nhiều lần đến thường xuyên cũng là con số đáng cảnh báo Hệ thống SHTT còn có nhiều điểm bất cập và chưa thông suốt khiến hoạt động thực tiễn của cá nhân và tổ chức trong xã hội còn gặp phải những khó khăn Nhưng quan trọng trong đó, một phần cũng do nhận thức về vấn đề SHTT chưa cao nên đối mặt với vấn đề SHTT sẽ khó có khả năng giải quyết một cách hiệu quả

Những khó khăn liên quan đến SHTT được đưa ra trong ý kiến của những

người tham gia khảo sát rất đa dạng và liên quan đến hầu hết các đối tượng SHTT

và các lĩnh vực đời sống xã hội Một số lượng lớn các khó khăn được liệt kê, phổ biến nhất là:

- Thiếu tài liệu về SHTT, nhất là tài liệu bằng tiếng Việt Thiếu tổng kết thực tiễn thực thi;

- Những vấn đề SHTT phức tạp và chưa rõ, gây khó khăn cho việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan;

- Mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học với SHTT phức tạp, các quy định để giải quyết các vấn đề phát sinh chưa rõ, chưa cụ thể;

- Những khó khăn đối với bảo đảm quyền tác giả trong các lĩnh vực đặc thù như báo chí, phần mềm máy tính chưa cao;

- Khung pháp lý về SHTT chưa chặt chẽ, nhận thức của người dân về lĩnh vực này còn thấp, ý thức bảo vệ quyền SHTT chưa cao

- Thực trạng xâm phạm quyền SHTT còn phổ biến và chưa có cách thức bảo

vệ hiệu quả, kết quả xử lý chưa được phổ biến công khai;

- Vấn đề xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT và mức độ vi phạm pháp luật về SHTT hết sức khó khăn;

- Vấn đề thẩm định và giám định về SHTT chưa rõ ràng và khó thực hiện trong thực tế

- Các khía cạnh tài chính như định giá v.v và thương mại hóa tài sản trí tuệ chưa được điều chỉnh đầy đủ nên có nhiều khó khăn trong triển khai vào thực tế

- Vấn đề SHTT liên quan đến tri thức truyền thống, nguồn gen và văn hóa dân gian chưa được giải quyết gây nhiều khó khăn trong thực tế giải quyết các

vụ việc;

- Các vụ tranh chấp về SHTT rất đa dạng, phức tạp, hiệu quả giải quyết thấp;

Trang 32

45 người biết đến SHTT qua nội dung của môn học khác, chiếm 81,8% Đặc biệt, chỉ có 8 người được học một môn học riêng về SHTT, chiếm 14,6% những người

đã tiếp cận vấn đề SHTT Số người được tham khảo ý kiến có tiếp cận trên 1 môn học độc lập về SHTT rất thấp, chỉ có 2 người, chiếm 3,6% Đây là yếu tố quan trọng dẫn đến việc đánh giá ảnh hưởng của vấn đề SHTT chưa nhiều mặc dù thực

tế có thể hoàn toàn ngược lại

Trong số 55 người đã từng được tiếp cận với SHTT thì đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu của việc giảng dạy về SHTT trong các trường ĐH cũng rất đáng

lo ngại Số người cho rằng giảng dạy về SHTT trong các trường ĐH đã đáp ứng tốt chỉ có 2, chiếm 3,6% - một con số quá thấp, đủ để nói lên nhiều điều, nhất là sự cảnh báo quan trọng đối với việc đáp ứng như cầu giảng dạy và đào tạo về SHTT Bên cạnh đó, số lượng cán bộ cho rằng việc giảng dạy về SHTT về cơ bản đáp ứng nhu cầu cũng không cao, chỉ có 11 ý kiến, chiếm 20% số cán bộ đã từng được tiếp cận SHTT trong các trường ĐH Còn lại 42 ý kiến, chiếm 76,4% khẳng định việc giảng dạy về SHTT chỉ đáp ứng một phần hoặc chưa đáp ứng là bức tranh thực của hoạt động giảng dạy và đào tạo về SHTT ở bậc ĐH của Việt Nam Con số này là tiếng chuông cảnh báo mạnh mẽ về yêu cầu đổi mới hệ thống đào tạo liên quan đến SHTT, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế nhanh như hiện nay

Một khi 76,4% đánh giá việc giảng dạy về SHTT ở bậc ĐH chỉ đáp ứng một phần hoặc chưa đáp ứng thì không khó để khẳng định về tỷ lệ chưa cao việc ứng dụng thành công kiến thức SHTT vào công việc của các cán bộ sau khi tốt nghiệp

ĐH Đến 47,3% ý kiến (26 ý kiến) thất vọng vì kiến thức về SHTT được trang bị ở trường ĐH không hỗ trợ hoặc hỗ trợ được rất ít cho công tác của những người được khảo sát Việc ứng dụng các khía cạnh của quyền SHTT đòi hỏi nhiều điều kiện, trong đó có sự trang bị kiến thức đầy đủ, phù hợp, có tính hệ thống và thiết thực Đây sẽ là những định hướng để phát triển các nội dung SHTT trong chương trình đào tạo của các trường ĐH

Xuất phát từ thực tiễn của giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường

ĐH, ý kiến của những người khảo sát đánh giá trực tiếp về nhu cầu phát triển các nội dung về SHTT trong các trường ĐH là tiếng nói mang tính quyết định, thể hiện

rõ nhất nhu cầu đưa việc giảng dạy và đào tạo về SHTT vào các trường ĐH Thực

tế, đến 119 ý kiến khảo sát về nội dung này (chiếm 59,8%) trực tiếp khẳng định tính cấp thiết của việc đưa SHTT vào giảng dạy và đào tạo trong các trường ĐH Nếu tính cả số 75 ý kiến (chiếm 37,7%) cho rằng về cơ bản cần thiết đưa SHTT vào giảng dạy và đào tạo tại các trường ĐH, thì ý kiến nhất trí về tính cần thiết phát triển giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH là 194, chiếm 97,5%

Trang 33

các ý kiến trả lời Con số ấn tượng này càng được khẳng định thêm bởi không có một ý kiến nào cho rằng không cần thiết phát triển nội dung về SHTT trong các trường ĐH

Việc phát triển các nội dung về SHTT trong Chương trình đào tạo của các trường ĐH là cần thiết như thống kế phía trên đã cho thấy Tuy nhiên việc đưa những nội dung nào vào thì còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời đầy đủ và rõ ràng Điều này có thể chấp nhận được do quyền SHTT rất rộng và liên quan rất khác nhau đối với các mặt của cuộc sống Thực tiễn này khiến không thể tránh khỏi sự phân hóa trong đánh giá các nội dung cần thiết đưa vào giảng dạy và đào tạo trong các trường ĐH Điều này có nghĩa là, cần có cách tiếp cận hết sức cụ thể đối với việc phát triển giảng dạy và đào tạo SHTT trong từng trường ĐH Sẽ không thể có một mô hình chung, thống nhất trong tiếp cận vấn đề SHTT của các trường, thậm chí là của các khoa tương tự về chuyên ngành đào tạo trong các trường khác nhau Xác định nội dung này rất quan trọng đối với các trường để có một kế hoạch triển khai giảng dạy về SHTT cho phù hợp Thực vậy, nhiều đối tượng SHTT khác nhau được các ý kiến đề xuất với tỷ lệ lớn, cụ thể: quyền tác giả là 127 ý kiến (63,8%); quyền liên quan – 101 ý kiến (50,8%); quyền SHCN – 123 ý kiến (61,8%); quyền đối với giống cây trồng – 65 ý kiến (32,7%); quyền SHTT và thương mại quốc tế - 123 ý kiến (61,8%); bảo vệ quyền SHTT - 151 ý kiến (75,9%); khai thác quyền SHTT - 101 ý kiến (50,8%)

Nhiều ý kiến đưa ra trong khảo sát có giá trị không chỉ đối với các trường

mà cả đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, tuy còn tương đối chung như các ý kiến sau:

- Cần thiết tăng cường tuyên truyền, phổ biến rộng rãi hơn nữa (trên các phương tiện thông tin đại chúng) đến người dân trong cả nước về SHTT;

- Nên có trường ĐH hoặc chuyên ngành đào tạo về SHTT nếu không chúng ta

sẽ thua thiệt khi tham gia thị trường quốc tế Bên cạnh đó, sớm đưa SHTT vào giảng dạy như một môn học trong các trường ĐH;

- Xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật về SHTT;

- Tăng cường giáo dục cho sinh viên ý thức tôn trọng quyền SHTT ;

- Cần phát triển giảng dạy cơ bản đến chuyên sâu về SHTT, kết hợp với thực hành có tính đến mối quan hệ với các lĩnh vực: kỹ thuật, thương mại Đồng thời, tính đến các nội dung SHTT đưa vào các trường ĐH cho phù hợp;

- Triển khai xây dựng và cung cấp giáo trình, tài liệu tham khảo về SHTT, kể

cả miễn phí qua mạng Internet, bản in;

Tóm lại, sự khảo sát và nghiên cứu, phân tích kết quả khảo sát ở trên khẳng

định tính cấp bách của việc phát triển giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH của Việt Nam, trước tiên là việc phổ cập kiến thức về SHTT với việc chuẩn hóa nội dung, kiến thức giảng dạy phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nền

Trang 34

kinh tế và xã hội, hỗ trợ có hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Việc xây dựng chương trình phổ cập kiến thức về SHTT cho sinh viên các trường ĐH có thể dựa trên kinh nghiệm của các nước đi trước, nhất là của các nước phát triển và các nước trong khu vực

1.3 Thực trạng giảng dạy và đào tạo về SHTT trong các trường ĐH đào tạo

chuyên ngành Luật

1.3.1 CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH LUẬT

Trong cả nước hiện nay có khoảng vài chục cơ sở đào tạo cử nhân luật Có thể liệt kê các cơ sở tiêu biểu trong số đó như:

Tại Miền Bắc có:

+ ĐH Luật Hà Nội (đào tạo cử nhân luật, thạc sĩ luật và tiến sỹ luật)

+ Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (đào tạo cử nhân luật và thạc sĩ luật)

+ Khoa Luật ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội

+ Khoa Luật Học viện Quan hệ quốc tế (đào tạo cử nhân luật)

+ Học viện Nguyễn Ái Quốc (đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Nhà nước và Pháp luật)

+ Học viện Tư pháp (đào tạo các chức danh tư pháp)

+ Viện mở HN (đào tạo cử nhân luật)

+ ĐH Ngoại thương (đào tạo cử nhân Luật Kinh doanh quốc tế)

+ Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (đào tạo thạc sỹ luật)

Tại Miền Trung có :

+ Khoa Luật ĐH Huế (đào tạo cử nhân luật)

+ Khoa Luật ĐH Đã Nẵng (đào tạo cử nhân luật)

Tại Miền Nam có:

+ ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh (đào tạo cử nhân luật và thạc sĩ luật)

+ Khoa Luật ĐH Cần Thơ (đào tạo cử nhân luật và thạc sĩ luật)

+ Khoa Luật ĐH Đà Lạt (đào tạo cử nhân luật)

1.3.2 QUY MÔ VÀ KẾT CẤU NỘI DUNG GIẢNG DẠY SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trong khuôn khổ của Đề án, đã tiến hành tìm hiểu thực trạng giảng dạy về SHTT tại hầu hết các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật Sau đây là các thông tin cụ thể về quy mô và kết cấu nội dung giảng dạy SHTT tại một số cơ sở đào tạo chuyên ngành luật tiêu biểu

* Trường ĐH Luật Hà Nội

Trường ĐH Luật Hà Nội được coi là một trong những cơ sở đào tạo luật

Trang 35

hàng đầu của Việt Nam, và cũng là cơ sở được giao chức năng đào tạo luật ở cả 3 cấp học: cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Cơ cấu chương trình giảng dạy về SHTT hiện nay tại ĐH Luật Hà Nội gồm có:

+ Môn SHTT Đây là môn học bắt buộc cho sinh viên toàn trường, được thiết

kế gồm có 30 tiết (trong đó 20 tiết giảng lý thuyết và 10 tiết thảo luận, tương đương 2 đơn vị học trình) Trong 20 tiết lý thuyết có 10 tiết giảng về quyền tác giả

và 10 tiết giảng về quyền SHCN

+ Trong môn học môn Tư pháp quốc tế (môn bắt buộc cho sinh viên toàn trường) cũng có nội dung liên quan đến SHTT Cụ thể là nội dung về SHTT có yếu

tố nước ngoài trong môn Tư pháp quốc tế, được thiết kế chỉ gồm có 5 tiết

+ Chuyên đề “Bảo hộ quyền SHTT của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc

tế” Đây là chuyên đề tự chọn cho sinh viên Khoa pháp luật quốc tế) Chuyên đề

này được thiết kế gồm có 20 tiết (1 đơn vị học trình) – 15 tiết lý thuyết và 5 tiết thảo luận Nội dung của chuyên đề chủ yếu là giới thiệu nội dung một số điều ước quốc tế quan trọng về SHTT như Công ước Berne 1886, Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPs, Thoả ước Madrid 1891

+ Chuyên đề “Pháp luật về SHCN trong hoạt động thương mại” Đây là

chuyên đề tự chọn cho sinh viên Khoa pháp luật kinh tế Chuyên đề này có 15 tiết (1 đơn vị học trình) – 10 tiết lý thuyết và 5 tiết thảo luận Chuyên đề này dành cho sinh viên Khoa pháp luật kinh tế, nội dung của nó chủ yếu là xem xét một số vấn

đề về SHCN dưới góc độ thương mại như: xem xét quyền SHCN trong mối quan

hệ với cạnh tranh, vấn đề nhập khẩu song song…

Tóm lại, tổng số tiết dành cho giảng dạy về SHTT cho sinh viên tại ĐH Luật

Hà Nội gồm có 70 tiết: 35 tiết bắt buộc (30 tiết của môn SHTT và 5 tiết của Tư pháp quốc tế) và 35 tiết tự chọn Nhưng thực tế 35 tiết tự chọn hiện nay rất hiếm khi được giảng dạy, lý do là không phải năm nào 2 chuyên đề tự chọn này cũng được đưa ra để sinh viên lựa chọn Bởi lẽ số chuyên đề tự chọn được phép giảng dạy mỗi năm thì ít hơn so với số chuyên đề tự chọn của Khoa, thành ra thông thường phải cách 1 năm thậm chí 2, 3 năm chuyên đề tự chọn đó mới lại được đem

vào giảng dạy Đối với chuyên đề “Pháp luật về SHCN trong hoạt động thương

mại” thì thực ra mới chỉ tồn tại trên giấy tờ khung chương trình chứ chưa được

giảng dạy trên thực tế Có thể nói về dung lượng chương trình giảng dạy về SHTT

tuy đã từng bước có sự điều chỉnh nhưng vẫn còn quá khiêm tốn không chỉ so với

chương trình 4 năm đào tạo của sinh viên mà còn cả với lượng kiến thức mà nó chuyển tải Nội dung giảng dạy hiện tại cũng chỉ mới dừng lại ở cấp độ giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất về SHTT, mà thực ra là các vấn đề pháp luật liên quan đến SHTT, điều này chủ yếu xuất phát từ dung lượng chương trình còn eo hẹp

Để có một cái nhìn trọn vẹn về thực trạng giảng dạy SHTT tại ĐH Luật Hà Nội, chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng ngoài các nội dung giảng dạy SHTT cho

hệ cử nhân như đã nói ở trên, SHTT cũng đã được đưa vào để giảng dạy cho hệ cao học Trong chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Luật Dân sự, nội dung

Trang 36

SHTT được triển khai theo 3 chuyên đề: chuyên đề ”Pháp luật quyền tác giả” chiếm thời lượng 10 tiết, chuyên đề ”Pháp luật quyền SHCN” chiếm 10 tiết và chuyên đề tự chọn ”Thực thi quyền SHTT” chiếm thời lượng 5 tiết

* Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội

Tại Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội - một trong những cơ sở đào tạo cử nhân luật và thạc sĩ luật có uy tín của miền Bắc, nội dung giảng dạy SHTT được triển khai như sau:

+ SHTT là một trong những nội dung của các môn học lớn như Dân sự, Tư pháp quốc tế (Khoa Lụât trực thuộc ĐHQGHN) Trong đó, phần về SHTT trong Luật Dân sự đề cập chủ yếu tới các vấn đề nhập môn sơ lược về quyền tác giả, quyền kề cận, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng với tư cách là những quan hệ pháp lụât dân sự Môn Tư pháp quốc tế đề cập tới SHTT dưới khía cạnh các quan hệ về quyền tác giả và quyền SHCN có yếu tố nước ngoài Thời lượng dành cho các kiến thức về SHTT trong các môn học nêu trên rất khiêm tốn: từ 10 đến 20 tiết

+ SHTT với tư cách là chuyên đề tự chọn với thời lượng 2 ĐVHT dành cho sinh viên chuyên ngành Lụât dân sự (Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN) Trong đó, sinh viên được giới thiệu một cách khái quát về hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT: các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật về quyền tác giả, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng; nguyên tắc, điều kiện, xác lập quyền SHTT; bảo vệ quyền SHTT

+ SHTT là những môn học bắt buộc với tổng thời lượng 4 ĐVHT dành cho sinh viên ngành Lụât Kinh doanh (Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN), bao gồm các môn học độc lập về Quyền tác giả và Quyền SHCN với thời lượng 2 ĐVHT/môn Các môn học này bao gồm những nội dung giúp sinh viên tiếp cận với hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan, quyền SHCN; tiếp cận với các khía cạnh có liên quan đến thương mại trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan và quyền SHCN

+ Quyền tác giả và Quyền SHCN là những chuyên đề độc lập với thời lượng 1-2 ĐVHT/chuyên đề dành cho học viên cao học chuyên ngành Lụât dân sự (Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN) Chương trình cung cấp cho học viên một số kiến thức tổng quan nâng cao về lịch sử hình thành và sự phát triển của hệ thống bảo hộ quyền SHTT, các học thuyết cơ bản về bảo hộ tài sản SHTT, xu hướng phát triển của hệ thống pháp lụât về bảo hộ quyền SHTT, bản chất và phạm vi các quyền SHTT được bảo hộ, những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT,

+ Quyền tác giả trong tư pháp quốc tế và Quyền SHCN trong tư pháp quốc

tế là những chuyên đề độc lập với thời lượng 1ĐVHT/chuyên đề dành cho học viên cao học chuyên ngành Lụât quốc tế (Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN) Các chuyên đề này cung cấp cho học viên những kiến thức tổng quan nâng cao về hệ

Trang 37

thống pháp lụât quốc tế về bảo hộ quyền tác giả, quyền SHCN và những vấn đề đặt

ra với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các thiết chế quốc tế cơ bản có liên quan đến lĩnh vực quyền SHTT,

Nhìn chung, việc đưa SHTT vào chương trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nói trên trong ĐHQGHN hoàn toàn mang tính tự phát, chưa có sự thống nhất về mục đích, ý nghĩa, định hướng nội dung cũng như các khía cạnh có liên quan khác

Do vậy các chương trình này, dù được giảng dạy cho cùng một cấp độ đào tạo, nhưng có sự khác biệt khá lớn về nội dung ở các cơ sở đào tạo khác nhau Chưa được kết cấu, xây dựng một cách tổng thể, các chương trình này được đưa ra dựa trên những kiến thức và sự nhìn nhận chủ quan từ đội ngũ giảng bản thân các giáo viên giảng dạy Do vậy chưa mang tính thống nhất và chính thống Việc thiết kế nội dung giảng dạy về SHTT chưa mang tính chất định hướng chuyên sâu để có thể thể hiện đặc thù của từng ngành đào tạo Các ngành học khác nhau cần khai thác những khía cạnh khác nhau liên quan đến SHTT để đưa vào nội dung giảng dạy cho phù hợp với định hướng đào tạo của mình Các ngành học khác nhau chưa gắn kết mục đích, định hướng đào tạo của mình với nội dung SHTT để xây dựng chương trình cho phù hợp Nhóm ngành thuộc khối KHTN và Công nghệ hoàn toàn chưa chú trọng tới việc khai thác nội dung liên quan đến SHTT trong định hướng đào tạo của mình Bên cạnh đó, đặc biệt đối với những kiến thức có liên quan đến lĩnh vực SHTT, việc truyền đạt đòi hỏi phải có những điều kiện chuẩn bị hết sức kỹ càng về tài liệu, sách tham khảo, hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu, cơ sở thực tập, kiến tập cũng như các các yêu cầu liên quan đến phương pháp giảng dạy Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên chuyên sâu về SHTT còn quá mỏng so với nhu cầu Hầu hết các giảng viên dạy SHTT đều là giảng viên kiêm nhiệm dạy các môn học khác, trong số đó hầu hết là giảng viên về lụât, trong khi SHTT không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là lĩnh vực có liên quan tới khoa học, công nghệ, nghệ thụât, kinh tế và các lĩnh vực khác

* Khoa Luật ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội

Tại Khoa Luật ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội có giảng dạy môn ”Pháp luật về

SHTT”, là môn tự chọn của Khoa với thời lượng 30 tiết, trong đó bao gồm 20 tiết

giảng lý thuyết và 10 tiết thảo luận Nội dung giảng dạy môn học này bao gồm 3 vấn đề chính: Quyền tác giả, quyền SHCN và giải quyết tranh chấp liên quan đến SHTT

* Khoa Luật Học viện Quan hệ quốc tế

Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 Học viện Quan hệ quốc tế sẽ bắt đầu chính thức thực hiện chương trình đào tạo cử nhân Luật quốc tế Trong chương trình đào tạo này môn học SHTT được coi là môn học bắt buộc toàn khoa (Khoa Luật quốc tế), với thời lượng 45 tiết, trong đó số giờ giảng lý thuyết chiếm 65%, và số giờ thảo luận chiếm 35%

* Học viện Tư pháp

Trang 38

Học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Tư pháp Học viện có chức năng và nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên và các chức danh tư pháp khác; bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Công chứng viên, Luật

sư và cán bộ có chức danh tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp

Hiện tại, ở Học viện Tư pháp nội dung về SHTT mới chỉ được giảng dạy trong chương trình đào tạo của cho luật sư với 6 tiết giảng chuyên đề về SHTT Học viện Tư pháp đã mời chuyên gia từ Cục SHTT tới giảng 6 tiết chuyên đề này Ngoài ra trong khuôn khổ bài giảng Tư vấn cho doanh nghiệp của môn học Tư vấn

có 6 tiết giảng về tư vấn SHCN cho doanh nghiệp với nội dung: Các hoạt động về Sáng chế; Nhãn hiệu hàng hóa; Kiểu dáng công nghiệp; Li xăng; Cạnh tranh

Trong chương trình đào tạo và bồi dưỡng thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên chưa có các nội dung về SHTT

* ĐH Ngoại thương

Trong chương trình đào tạo cử nhân Luật kinh doanh quốc tế của ĐH Ngoại

thương có môn học tự chọn ”Pháp luật SHTT” với thời lượng 30 tiết, trong đó bao

gồm 20 tiết giảng lý thuyết và 10 tiết thảo luận Nội dung chính của môn học này bao gồm các vấn đề sau:

- Tổng quan pháp luật SHTT

- Các đối tượng SHTT

- Một số vấn đề SHTT trong thương mại quốc tế

Bên cạnh đó, trong chương trình đào tạo thạc sĩ Luật kinh doanh quốc tế (Chương trình đào tạo liên kết với Cộng hòa Pháp) có môn học bắt buộc ”SHTT” với thời lượng 35 tiết, trong đó bao gồm 15 tiết giảng lý thuyết, 10 tiết thảo luận và

10 tiết thực hành ”Trò chơi doanh nghiệp” Môn học này được triển khai theo các nội dung như:

- Tổng quan Pháp luật SHTT

- Pháp luật VN về SHTT

- SHTT trong khuôn khổ WTO

* Khoa Luật ĐH Huế

Tại Khoa Luật – ĐH Huế có giảng dạy môn Luật SHTT với thời lượng 45 tiết, trong đó bao gồm 30 tiết giảng lý thuyết và 15 tiết thảo luận Nội dung giảng dạy môn học này bao gồm một số vấn đề như:

+ Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về SHTT

+ Pháp luật Việt Nam về SHTT

+ Giải quyết các tranh chấp về SHTT

* ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh

Trang 39

Trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh thì việc giảng dạy SHTT được triển khai trong một số môn học sau:

+ Trong môn Luật Dân sự có nội dung pháp luật SHTT với thời lượng 15 tiết, bao gồm 10 tiết giảng và 5 tiết thảo luận

+ Trong môn Tư pháp quốc tế có nội dung pháp luật SHTT với thời lượng 15 tiết, bao gồm 10 tiết giảng và 5 tiết thảo luận Nội dung giảng dạy bao gồm một số nét cơ bản của các điều ước quốc tế về SHTT và tác động của nó tới với hệ thống pháp luật Việt Nam

+ Môn học ”SHTT”, là môn tự chọn dành cho sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự với thời lượng 45 tiết (bao gồm 30 tiết giảng lý thuyết và 15 tiết thảo luận + Môn học ”SHTT và chuyển giao công nghệ”, là môn tự chọn dành cho sinh viên chuyên ngành Luật Quốc tế với thời lượng 30 tiết (bao gồm 20 tiết giảng lý thuyết và 10 tiết thảo luận

* Khoa Luật ĐH Cần Thơ

Từ năm 1999, Khoa Luật ĐH Cần Thơ đã đưa môn Pháp luật về SHTT thành một môn học bắt buộc cho tất cả các chuyên ngành trong chương trình đào tạo cử nhân luật, kể cả đối với sinh viên các lớp không chính quy với thời lượng 02 đơn vị học trình (30 tiết) Nội dung giảng dạy chính của môn này bao gồm :

+ Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật SHTT

+ Quyền tác giả

+ Quyền SHCN

Vừa qua, các Khoa thuộc ĐH Cần Thơ đồng loạt tiến hành cải tiến chương trình đào tạo theo hướng tín chỉ hoá triệt để các môn học Với tinh thần đó, hầu hết các môn học phải cắt giảm từ 1/3 đến 1/2 thời gian trên lớp Riêng đối với môn Pháp luật về SHTT thì vẫn giữ nguyên thời lượng 02 tín chỉ (so với trước đây là 2 đơn vị học trình)

Bên cạnh đó, trong môn học Tư pháp Quốc tế cũng có nội dung SHTT với thời lượng 5 tiết

Đối với chương trình dành cho sinh viên cao học, Khoa Luật ĐH Cần Thơ cũng dành 02 tín chỉ cho vấn đề SHTT, chủ yếu theo hướng đào sâu những kiến thức đã được trang bị ở giai đoạn cử nhân, cùng với đó là mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các quy định của pháp luật quốc tế về SHTT

* Khoa Luật ĐH Đà Lạt

Tại Khoa Luật – ĐH Đà Lạt có giảng dạy môn Luật SHTT với thời lượng 30 tiết, trong đó bao gồm 24 tiết giảng lý thuyết và 6 tiết thảo luận Nội dung giảng dạy môn học này bao gồm một số vấn đề như:

+ Giới thiệu chung về SHTT, bao gồm các khái niệm, quá trình hình thành

Trang 40

+ Hợp đồng ly-xăng và hợp đồng chuyển giao công nghệ

+ Thực thi quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay

Trong chương trình môn Tư pháp quốc tế cũng có nội dung SHTT với thời lượng 5 tiết

xu thế hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam Pháp luật SHTT đã được coi là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống pháp luật Việt nam, từ đó việc giảng dạy SHTT cũng là thiết yếu trong chương trình đào tạo chuyên ngành luật Nội dung SHTT được đưa vào chương trình giảng dạy với nhiều quy mô khác nhau Đó có thể là:

- Môn học riêng về SHTT với thời lượng khoảng từ 30 đến 60 tiết

- Chuyên đề (bắt buộc hay tự chọn) với thời lượng khoảng chừng từ 5 tiết đến

- Hầu hết các môn học và các chuyên đề đó được thiết kế với những phần nội dung hết sức cơ bản và tương tự như nhau, như: khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật SHTT Việt Nam, các quy định pháp luật về quyền tác giả và quyền SHCN, các điều ước quốc tế về SHTT,

- Nội dung giảng dạy lệ thuộc nhiều vào các quy định của pháp luật Việt Nam

và các điều ước quốc tế, chưa có sự tổng hợp, phân tích sâu sắc về lý luận

- Chưa có cơ sở đào tạo chuyên ngành luật nào thiết kế được các môn học ở

Ngày đăng: 16/09/2016, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5.2.1.3 Vấn đề quan tâm thuộc SHTT của sinh viên, học viên hiện nay Trong số ba quyền SHTT: quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền về SHCN, quyền đối với giống cây trồng mới, sinh viên, học viên chủ yếu quan tâm đến quyền tác giả và quyền SHCN. Sự quan tâm của sinh viên và học viên khá rộng đối với hoạt động SHTT, từ các vấn đề lý thuyết về SHTT, đến thực thi các quyền SHTT, nhất là xử lý vi phạm về SHTT.Nhiều sinh viên và học viên có nhận thức khá tốt về SHTT. Điều này rất quan trọng vì lý thuyết về SHTT là nền tảng cơ bản để có những hoạt động SHTT đúng đắn, trong đó có việc tôn trọng quyền SHTT của người khác. Họ đánh giá cao việc thu nhận kiến thức lý thuyết về SHTT, song tài liệu về SHTT chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu các khía cạnh lý luận của vấn đề. Bên cạnh đó, các tài liệu về hoạt động thực tiễn về SHTT cũng chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của sinh viên, học viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong số ba quyền SHTT: q"uyền tác giả và các quyền liên quan, quyền về SHCN, quyền đối với giống cây trồng mới
5.2.2. Hệ thống tài liệu công cộng trên Internet về SHTT phục vụ giảng dạy và đào tạo về SHTTTài liệu công cộng ở đây được hiểu là những thông tin mà mọi người đều có thể khai thác nguồn thông tin đó, song không phải trong mọi trường hợp là miễn phí.Hiện nay, nguồn tài liệu công cộng có thể khai thác chủ yếu qua Internet. Có thể chia việc khai thác thông tin về SHTT trên Internet qua một số cách thông dụng sau:+ Đăng nhập vào trang web của các tổ chức chuyên môn lớn của quốc gia và quốc tế về SHTT như: trang web của Tổ chức SHTT thế giới và trang web của cơ quan SHTT các quốc gia, trong đó bao gồm cả trang web của Cục SHTT Việt Nam...+ Đăng nhập vào trang web của các tổ chức dịch vụ về SHTT. Đó là trang web của các văn phòng đại diện SHCN, Hội Luật gia, các công ty tư vấn & cung cấp các dịch vụ lien quan đến SHTT.+ Đăng nhập vào các chuyên mục thông tin có liên quan tại các trang web, ví dụ như mục kinh doanh của các trang web http://www.vnexpress.com, http://www.chungta.com,...+ Đăng nhập vào trang tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay là http://www.google.com rồi tra cứu tiếp tài liệu về SHTT quan tâm+ Gửi email trực tiếp tới các cơ quan, tổ chức về SHTT đề nghị cung cấp tài liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tài liệu công cộng trên Internet về SHTT phục vụ giảng dạy và đào tạo về SHTTT
Số lượng tài liệu (tính theo cuốn) mà sinh viên, học viên có hiện nay không nhiều. Theo một khảo sát nhỏ, chỉ một số lượng rất nhỏ sinh viên, học viên có tài liệu về SHTT, và cũng chỉ dừng ở một vài cuốn tài liệu. Việc thiếu tài liệu về SHTT của sinh viên, học viên có thể phanà nào giải quyết dựa trên khả năng sao chụp tác phẩm gốc theo ngoại lệ về sử dụng tác phẩm trong Luật SHTT năm 2005 Khác
5.2.4.2. Giải pháp phát triển hệ thống tài liệu về SHTT Giải pháp đối với việc xây dựng hệ thống giáo trình.Trước thực trạng và yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển hệ thống giáo trình về SHTT đồng bộ phục vụ tốt cho công tác dạy và học sở hữu trí tuệ ở các cấp độ khác nhau, có thể đưa ra một số giải pháp sau Khác
1- Ở giai đoạn đầu, các trường ĐH và CĐ cùng ngành đào tạo có thể cùng biên soạn và sử dụng chung một bộ giáo trình cơ bản như cách làm đối với một số môn học hiện nay. Các trường ĐH thuộc cùng một ngành khó có điều kiện xây dựng hệ thống giáo trình cơ bản về SHTT cho riêng mình, có thể hợp tác với nhau để phát triển và sử dụng chung một giáo trình cơ bản. Điều này giúp giảm bởt chi phí cho việc xây dựng hệ thống giáo trình, tránh sự giống nhau, lặp lại nội dung không cần thiết giữa các giáo trình SHTT. Ở một một mức độ chung nhất, có thể biên soạn một giáo trình SHTT đại cương phục vụ tất cả các trường ĐH, CĐ Khác
2- Các trường ĐH và khoa đào tạo ngành luật cần đóng vai trò tiên phong trong việc phát triển hệ thống giáo trình về SHTT do mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung đào tạo với SHTT. Đây sẽ là những tài liệu mẫu cho các trường khác tham khảo và giúp hệ thống giáo trình về SHTT có phần thống nhất dựa trên các kiến thức cơ bản về SHTT Khác
4- Việc xây dựng hệ thống giáo trình cơ bản trong các trường ĐH và CĐ có thể thực hiện theo mô hình giáo trình, tài liệu chính khóa của nước ngoài. Giáo trình phát triển theo hướng này sẽ đảm bảo tính hiện đại và tiên tiến. Trên cơ sở mô hình này, các trường sẽ bổ sung kiến thức liên quan đến pháp luật và thực tiễn của Việt Nam, cũng như những nội dung đặc thù của mỗi trường Khác
5- Cuối cùng là giải pháp về nhân lực trong việc xây dựng và biên soạn giáo trình SHTT do sự thiếu hụt nguồn nhân lực về SHTT chất lượng cao. Nếu các trường ĐH không có một giải pháp hợp lý dựa vào sự hợp tác có hiệu quả giữa các trường và với các cá nhân và tổ chức trong xã hội để xây dựng hệ thống giáo trình về SHTT thì sẽ khó thoát khỏi thực trạng thiếu chuyên gia cho việc biên soạn giáo trình về SHTT. Việc hợp tác có thể theo một số hướng sau:+ Các trường ĐH, CĐ thuê chuyên gia viết giáo trình, và mời tham gia giảng dạy thời gian đầu.+ Các trường ĐH, CĐ tiếp nhận và sử dụng những người có trình độ chuyên môn về SHTT về làm việc tại trường và sử dụng chính những chuyên gia này để biên soạn giáo trình và giảng dạy SHTT.+ Các trường ĐH, CĐ thực hiện chế độ cộng tác với các chuyên gia trong nước và quốc tế để biên soạn giáo trình và thực hiện giảng dạy về SHTT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị số 1 - Bao cao tong ket dua SHTT vao giang day DH
th ị số 1 (Trang 179)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w