Có thể nói một cách khái quát nhất: Tâm lý bao gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người.. N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -*** - ThS Dương Thị Thanh Thanh
TÂM LÝ HỌC (Dùng cho ngành GD Mầm non – hệ Từ xa)
VINH 2011
Trang 2PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC
I ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC
Tâm lý học là một khoa học, tâm lý học có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu xác định Song trước hết cần hiểu tâm lý là gì để từ đó bàn về khoa học tâm lý ( Tâm lý học )
1 Tâm lý học là gì?
Những hiện tượng tâm lý của con người
Loài người ra đời cách đây khoảng gần 10 vạn năm, sau một lịch sử tiến hoá kéo dài 1500 – 2000 triệu năm Từ khi con người xuất hiện trên trái đất có một loại hiện tượng mới - hiện tượng tâm lý người
Ta thường dùng từ tâm lý để chỉ tâm tư, tình cảm, mong muốn của con người Dĩ nhiên đó chỉ là khái niệm hẹp của tâm lý
- Đời sống tâm lý con người bao hàm nhiều hiện tượng rất phong phú, đa dạng:
Nhìn một bức tranh đẹp ta giữ lại hình ảnh của bức tranh đó
Nghe một bài ca- tưởng tượng ra nơi quê hương yêu dấu
Thấy một cảnh lạ ta chú ý ngắm nhìn…
- Con người có khả năng phân tích chính mình:
Con người không phải chỉ nghe tiếng động, ngôn ngữ, lời ca, âm nhạc, mà còn biết nghe tiếng nói của “ lòng mình” nữa
Con ngưòi không phải chỉ thấy những gì ngoài cảnh vật thiên nhiên, xã hội, mà còn biết nhìn những diễn biến “ trong đầu, trong tim” mình
Con người còn có lúc vui, lúc buồn; khi yêu, khi ghét… với sự vật này hay
sự vật kia
Con người lúc thấy tự hào, lúc thất vọng về bản thân
Tất cả những hiện tượng đó, từ cảm giác đến tư duy, từ xúc cảm đến tình cảm… là những biểu hiện khác nhau trong cuộc sống tinh thần của mỗi cá nhân, của tâm lý con người
Trang 3Nhu cầu của con người không phải chỉ ăn, ở, mặc, sinh con… Con người phải sống bằng niềm tin, lý tưởng, ước mơ…
Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, niềm tin, lý tưởng, ước mơ, tính cách, năng lực… hợp lại thành thế giới tâm lý - thế giới nội tâm ( còn gọi là hiện tượng tâm lý) của con người
Có thể nói một cách khái quát nhất: Tâm lý bao gồm tất cả các hiện
tượng tinh thần xảy ra trong trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành
mọi hành động, hoạt động của con người Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò
quan trọng đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người trong xã hội loài người
Tất cả các hiện tượng tâm lý như cảm giác và tri giác, biểu tượng và ý nghĩ, tình cảm và nguyện vọng, nhu cầu và hứng thú, xu hướng và năng lực, phẩm chất ý chí và đặc điểm tính cách đều quen thuộc đối với mỗi người đến nỗi thoạt nhìn tưởng chừng như các hiện tượng ấy đều dễ hiểu Thực ra, hiểu chính xác và khoa học tất cả các hiện tượng tâm lý ấy là một trong những vấn
đề trọng đại nhất của tư tưởng loài người
Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, là khoa học về tâm hồn
2 Vài nét về lịch hình thành và phát triển Tâm lý học
Lúc con người xuất hiện trên trái đất cũng là lúc xuất hiện tâm lý con người Ngay từ đó con người đã dặt ra biết bao câu hỏi về cái hiện tượng vô hình kỳ lạ ấy Tâm lý là gì và phải nghiên cứu nó như thế nào là một trong
những vấn đề khó khăn nhất đối với tri thức con người Tâm lý là vật chất hay
hay linh hồn thuần tuý? Nếu là vật chất sao không nhìn thấy nó, sờ thấy nó? Nếu là linh hồn thuần tuý sao có thể sai khiến được bắp thịt cử động và con người hành động? Tuỳ theo thế giới quan khác nhau mà người ta giải thích vấn
đề này cũng khác nhau Về cơ bản thì đây là cuộc đấu tranh lâu dài, quyết liệt
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giải quyết vấn đề về bản chất các hiện tượng tâm lý
* Chủ nghĩa duy tâm cổ đại cho rằng tâm lý là linh hồn mà tạo hoá đặt
vào con người ngay từ lúc ra đời Linh hồn không do một vật chất nào sinh ra,
nó không cần nằm trong bất cứ bộ phận nào của thân thể, nhưng lại có một quyền lực đặc biệt điều khiển con người hoạt động Linh hồn là “bất tử” Khi con người chết đi, hồn vẫn còn và lìa khỏi xác, tiếp tục cuộc sống phiêu diêu của mình
Ví dụ: - Thuyết “ tâm” của đạo Khổng ở phương Đông
- Thuyết “ linh hồn” của Platông ( 428 – 348 TCN) ở phương Tây
Các thuyết này đều tuyệt đối hoá cuộc sống tinh thần của tâm lý, hoàn toàn tách biệt nó khỏi vật chất, và đều cho rằng chỉ có dùng nội quan ( tự nhìn
Trang 4vào bên trong) thì mới hiểu được tâm lý bản thân và từ đó suy ra tâm lý người khác
* Chủ nghĩa duy vật cổ đại lại có khuynh hướng coi tâm lý cũng là một
thứ vật chất do các vật chất khác như nước, lửa, không khí, nguyên tử tạo nên
Ví dụ: Aritxtot ( 384 – 322 Tcn) với tác phẩm “ Bàn về tâm hồn” ( tác phẩm đầu tiên bàn về thế giới tâm lý một cách có hệ thống, một trong những đỉnh cao của tư duy khoa học cổ Hy Lạp), ông cho rằng linh hồn có quan hệ với thân thể, với bộ óc Chẳng hạn, cảm giác là do tác động của sự vật vào các giác quan gây ra, tinh thần chỉ là một chức năng như thị giác là chức năng của mắt (Aritxtot là học trò của Platông nhưng đối lập hẳn với thầy về tư tưởng)
Ở thời cổ đại, khoa học tự nhiên cũng như chủ nghĩa duy vật còn thô sơ, chưa thể lý giải được các hiện tượng tâm lý phức tạp Do đó, trong suốt thời cổ đại và thời trung cổ, quan niệm duy tâm về tâm lý vẫn thống trị
* Thuyết nhị nguyên: Đến nửa đầu thế kỷ XVII, tâm lý học khoa học lại
có thêm một phát kiến mới – đó là phát kiến ra phản xạ của nhà bác học lỗi lạc
R Đêcác ( 1596 - 1650), người Pháp, tác giả của mệnh đề trứ danh: “ Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại” Ông là người đại diện cho Thuyết nhị nguyên Đứng trên lập trường duy tâm, thuyết nhị nguyên cho rằng vật chất và tâm hồn là hai
thực thể song song tồn tại, hình như không tồn tại với nhau Tâm lý không phải
là chức năng, sản phẩm của não, mà hình như nó tồn tại độc lập ở ngoài bộ não, không phụ thuộc tí gì vào não Vấn đề về mối tương quan giữa tâm lý và thể chất không được họ giải quyết đúng đắn: họ hiểu tâm lý, ý thức như một
bản nguyên độc lập nào đó, hoàn toàn không có quan hệ gì với vật chất và không phụ thuộc vào vật chất
Đối lập với chủ nghĩa duy tâm trong triết học là chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật cho rằng chỉ có một bản nguyên của toàn bộ tồn tại – đó là
vật chất, còn tâm lý, tư duy, ý thức xem như là cái có sau, sản sinh ra từ vật chất
* Thế kỷ XVIII: lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Tâm lý học trong cuốn
Tâm lý học kinh nghiệm ( 1732) và cuốn Tâm lý học lí trí ( 1734) của Volf, nhà triết học Đức
* Thế kỷ XIX: Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập
Nền sản xuất lớn phát triển ngày càng mạnh mẽ, càng thúc đẩy khoa học phải phát triển Nhiều lĩnh vực khoa học phát triển đã góp phần xây
dựng nên một ngành khoa học chuyên nghiên cứu tâm lý Trong đó có học
thuyết tiến hoá của S Đacuyn ( 1809 – 1892), nhà duy vật Anh; Thuyết tâm sinh lý học các giác quan của Hemhôm ( 1821 – 1894), người Đức; Thuyết tâm vật lý học của Phecsne ( 1801- 1887) và Vebe ( 1795 – 1878), người Anh, các công trình nghiên cứu tâm thần học của bác sĩ Saccô ( 1875 – 1893) , người Pháp…
Trang 5Năm 1879, nhà tâm lý học Đức V Vuntơ (Wundt, 1832 – 1920) đã sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới tại thành phố Laixic, ghi nhận sự trưởng thành đầy đủ của khoa học tâm lý học
1879 được lấy làm mốc đánh giá sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập
* Đầu thế kỷ XX, để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, các dòng
phái tâm lý học khách quan ra đời: tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, phân tâm học…
3 Các quan điểm của tâm lý học hiện đại
a Tâm lý học hành vi
Tâm lý học hành vi do nhà tâm lý học Mỹ J Watson ( 1878 – 1958) sáng lập năm 1913
Nội dung cơ bản của tâm lý học hành vi:
* Tâm lý học hành vi không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi Hành vi được xem như là một tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài
Hành vi được hiểu: - Là hành vi thực: các phản ứng, cử động của
con người để tích nghi môi trường sống
( hành vi quan sát được)
- Là hành vi thuần tuý, những cử động bên
ngoài, không liên quan đến ý thức
- Hành vi xuất phát từ kích thích môi trường
* Bằng các kết quả nghiên cứu hành vi của động vật, các nhà hành vi đã đi đến kết luận rằng việc giải quyết vấn đề đạt được bằng phương pháp “ thử và sai” và được giải thích như việc lựa chọn một cách hú hoạ, may rủi các vận động cần phải tiến hành trong các tình huống cụ thể
“ Hãy cho tôi một tá trẻ em khoẻ mạnh, phát triển bình thường và thế giới riêng của tôi, trong đó tôi có thể chăm sóc chúng và tôi cam đoan rằng khi chọn một cách ngẫu nhiên một đứa trẻ, tôi có thể biến nó thành một chuyên gia bất cứ lĩnh vực nào - một bác sĩ, một luật sư, một thương gia hay thậm chí một kẻ trộm cắp hạ đẳng – không phụ thuộc vào tư chất và năng lực của nó, vào nghề nghiệp
và chủng tộc của cha ông nó” J Watson
Trang 6Nhận xét:
Hạn chế: Tâm lý học hành vi xuất phát từ một phương pháp luận sai lầm
là phủ nhận ý thức như là hình thức đặc biệt của việc điều chỉnh hành vi, đồng nhất các nguyên tắc hành động sống của con người và động vật,…
Ưu điểm: phương pháp nghiên cứu là quan sát khách quan, đối tượng nghiên cứu là hành vi thực của con người, chỉ ra mối quan hệ môi trường và tâm
lý người
Về sau, chủ nghĩa hành vi mới ra đời, đại diện có Tomen, Hulơ, Skinơ… đưa vào cấu trúc S – R biến số trung gian O ( nhu cầu, trạng thái…) nhưng về cơ bản vẫn mang tính thực dụng, máy móc của hành vi cổ điển
b Tâm lý học Gestalt ( Tâm lý học cấu trúc)
Tâm lý học Gestalt ra đời ở Đức, do ba nhà tâm lý học Vecthaimơ (Wertheimer 1880 – 1943), Côlơ ( Kohler, 1887 – 1967), Côpca ( Koffka, 1886 – 1947) sáng lập
Đây là một trong những dòng tâm lý học duy tâm khách quan chuyên nghiên cứu tri giác và ít nhiều nghiên cứu tư duy trong mối liên hệ thực giữa sự vật được tri giác hay hoàn cảnh đòi hỏi tư duy với người tri giác hay tư duy Nhờ vậy đã tìm ra tính chất ổn định của tri giác, quy luật hình và nền trong tri giác, quy luật bổ sung khi tri giác, quy luật bừng hiểu trong tư duy …
c Phân tâm học
Phân tâm học do bác sỹ người Áo S Freud ( 1859 – 1939) xây dựng trên
khái niệm vô thức Theo Freud: Tất cả các hiện tượng tâm thần người về bản
chất là hiện tượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong cuộc sống tâm lý con người Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những quy luật khác hẳn với ý thức Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục
có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống tâm lý của con người
d Tâm lý học nhân văn
Tâm lý học nhân văn do C Rôgiơ ( 1902 – 1987) và H Maslow sáng lập
Tâm lý học nhân văn quan niệm: bản chất con người vốn tốt đẹp, có lòng
vị tha, có tiềm năng kỳ diệu Nhiệm vụ của các nhà tâm lý là phải phát hiện và tạo điều kiện phát triển tiềm năng đó, phải giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình, để có thể sống một cách thoải mái, cởi mở, hồn nhiên và sáng tạo
Trang 7Tâm lý học nhân văn đề cao những điều cảm nghiệm, htể nghiệm chủ quan của bản thân mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chú ý đến mặt nhân văn trừu tượng trong con người ( vì thế thiếu vắng con người trong hoạt động thực tiễn)
e Tâm lý học nhận thức
Đại diện cho Tâm lý học nhận thức là G Piagiê ( Thuỵ Sĩ) và Brunơ Tâm
lý học nhận thức coi hoạt động nhận thức, phát triển trí tuệ là đối tượng nghiên cứu của mình Họ nghiên cứu tâm lý người, nhận thức của con người trong mối
quan hệ với môi trường, với cơ thể, với não bộ Theo tâm lý học nhận thức: Sự
phát triển tâm lý, phát triển trí tuệ là quá trình cá thể thích nghi với môi trường,
cụ thể là kết quả của sự tác động qua lại giữa môi trường bên ngoài và não bộ
Tâm lý học nhận thức có nhiều thành tựu có giá trị ứng dụng trong dạy học và giáo dục
Nhận xét: Các dòng phái tâm lý nói trên đều có những đóng góp nhất định cho
sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lý Nhưng do hạn chế lịch sử, thiếu phương pháp luận khoa học biện chứng, nên chưa có quan niệm đúng đắn về con người
Tâm lý học macxit ( tâm lý học hoạt động) ra đời khắc phục những hạn chế trên, đưa tâm lý học lên đỉnh cao của sự phát triển
f Tâm lý học hoạt động
Trang 8Tâm lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Xôviết sáng lập như: L X Vưgôtxki ( 1896 – 1934), X L Rubinstein ( 1902 – 1960), A.N Lêonchiev (
1903 – 1979),…
Tâm lý học hoạt động lấy triết học Mác – Lênin làm cơ sở lý luận và
phương pháp luận Tâm lý học hoạt động coi tâm lý là sự phản ánh thế giới
khách quan vào não thông qua hoạt động Tâm lý người mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, tâm lý người được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động và trong các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội
4 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học
Đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện
tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não người sinh ra ( gọi chung là hoạt động tâm lý)
Cụ thể tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý
Nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu bản chất hoạt động tâm lý, quy
luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật
về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, góp phần hình thành và phát triển tâm lý người có hiệu quả nhất
Trang 9II BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM
LÝ
1 Bản chất tâm lý người
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tân lý người là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người mang bản chất xã hội - lịch sử
a Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan và não người thông qua chủ thể
Theo triết học: Muốn có tinh thần ( tâm lý ) phải có thế giới khách quan (
hệ thống vật chất ngoài ta), có não ( vật chất có tổ chức cao nhất)
- Duy tâm: Tâm lý do thượng đế sinh ra, hoặc do thần linh, lực lượng siêu nhiên nào đó Tâm lý do di truyền ( tiền định) Tâm lý có sẵn trong đầu óc con người ( khối tinh thần)
- Duy vật máy móc: Tâm lý do tgkq quyết định một cách máy móc, cơ học Não tiết ra tâm lý ( như gan tiết ra mật) – Canbanic, Bucsô
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tâm lý người không phải
do thượng đế, do trời sinh ra, không phải do não tiết ra Tâm lý người
là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người
Hiện thực khách quan : là tất cả những gì tồn tại ngoài ý thức ta Đó là
những hiện tượng vật chất và tinh thần
Hiện thực khách quan có cái ta nhìn thấy được, sờ mó được, nhưng có cái
ta không thấy, không nghe được Tất cả những cái đó vẫn tồn tại trong thiên nhiên, tồn tại và phát triển theo quy luật tự nhiên Những hiện tượng tinh thần cũng tồn tại ngoài ý muốn của ta, phát triển theo quy luật khách quan của nó
Trang 10Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động
Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ hống này và hệ thống khác Kết quả để lại dấu vết ( hình ảnh ) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu
+ Phản ánh xã hội, trong đó có phản ánh tâm lý
Phản ánh tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người
thông qua chủ thể:
Trang 11Hiện thực khách quan tác động vào hệ thần kinh, não người ( tổ chức vật chất cao nhất) tạo ra các dấu vết, dưới dạng các quá trình sinh lý, sinh hoá trong
hệ thần kinh và não bộ Đó chính là hình ảnh tinh thần, tâm lý
* Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo
Ví dụ : Hình ảnh về một bông hoa trong não người ( phản ánh tâm lý) khác xa về
chất so với hình ảnh bông hoa đó ở trong gương ( qua sự phản ánh vật lý)
Thật vậy, bông hoa tồn tại trước mắt ta, ta có những hình ảnh của cảm
giác, tri giác; Bông hoa không còn trước mắt, ta vẫn có thể nhớ lại hình ảnh của
nó dưới dạng biểu tượng của ký ức; Ta còn có thể dựa vào những hình ảnh đã tri giác được, đã nhớ lại được mà tưởng tượng ra những hình ảnh khác hoặc suy
nghĩ để rút ra những kết luận mới; Đứng trước bông hoa, con người biểu thị thái
độ của mình, tình cảm của mình… Đó chính là những biểu hiện muôn hình
muôn vẻ của sự phản ánh tâm lý
Trang 12Hình ảnh bông hoa trong gương là hình ảnh vật lý Trong gương hình ảnh bông hoa chỉ là một bản sao chép máy móc, nguyên bản, thụ động, chết cứng Gương không có thái độ, hành vi đối với bông hoa Cất bông hoa đi, hình ảnh bông hoa trong gương không còn nữa
* Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân Sở dĩ
như vậy là vì mỗi người phản ánh hiện thực khách quan thông qua kinh nghiệm vốn có của mình, thông qua thái độ, cảm xúc riêng của mình đối với hiện thực
đó Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện:
- Cùng nhận tác động của hiện thực khách quan nhưng ở những chủ thể khác nhau sẽ xuất hiện những hình ảnh tâm lý khác nhau
Ví dụ : “ Cùng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.”
( Truyện Kiều - Nguyễn Du)
- Cùng một chủ thể nhưng ở những thời điểm khác nhau sẽ có những
phản ánh tâm lý khác nhau đối với cùng một sự vật, hiện tượng
Ví dụ : “ Một miếng khi đói bằng một gói khi no”
“ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
- Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm
và thể hiện nó rõ nhất
Ví dụ : “ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”
- Thông qua các mức độ sắc thái tâm lý khác nhau mà chủ thể tỏ thái độ
khác nhau đối với hiện thực
Tâm lý là chức năng của não ( Tâm lý có cơ chế phản xạ)
Trang 13Triết học duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất sinh ra tinh thần Tinh thần tác động trở lại vật chất thông qua cử chỉ, hành vi của con người
Thế giới khách quan tác động vào não ( vật chất có tổ chức cao nhất), sinh
Ngại vì ở nhà người khác ( phản ánh tâm lý )
Quá trình tâm sinh lý - quyết định không ăn
Như vậy, mọi hiện tượng tâm lý con người đều do não chúng ta điều khiển, nên não phải bình thường mới có tâm lý bình thường Phải bảo vệ bộ não, rèn luyện
bộ não khoẻ mạnh để có trí tuệ sáng suốt, để nhận thức thế giới
Tại sao tâm lý người này khác tâm lý người khác?
Tâm lý người này khác tâm lý người khác do nhiều yếu tố chi phối:
- Do mỗi người có đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ
- Do mỗi người có hoàn cảnh sống riêng, điều kiện giáo dục khác nhau
Trang 14- Do mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao tiếp khác nhau trong cuộc sống
Kết luận sư phạm:
+ Tâm lý người có nguồn gốc là tgkq, vì thế khi nghiên cứu cũng như khi hình thành và cải tạo tâm lý người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động
+ Tâm lý người mang tính chủ thể, và vậy trong dạy học, giáo dục cũng như trong quan hệ ứng xử phải chú ý nguyên tắc sát đối tượng ( chú ý đến cái riêng trong tâm lý mỗi người)
+ Biết giữ gìn, chăm sóc và bảo vệ cho sự phát triển khoẻ mạnh của bộ não…
b Bản chất xã hội - lịch sử của tâm lý người
Con vật cũng có tâm lý, tâm lý động vật ( Thậm chí người ta mới nghiên cứu cây cối cũng có tâm lý, tâm lý thực vật) Nhưng tâm lý của động vật, thực vật đều mang tính di truyền
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não,
là kinh nghiệm xã hội - lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người
Tâm lý con người khác xa tâm lý động vật ở chỗ tâm lý người mang bản chất xã hội, mang tính lịch sử, diễn ra theo cơ chế lĩnh hội chứ không phải theo
Trang 15Bản chất xã hội - lịch sử của tâm lý người thể hiện:
- Tâm lý người có nguồn gốc là tgkq ( thế giới tự nhiên và xã hội ), trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định
Thế giới tự nhiên bao gồm các sự vật, hiện tượng có sẵn trong thiên nhiên
như cây cối, đất đai, khí hậu, môi trường tự nhiên… Thế giới tự nhiên có ảnh hưởng tới tâm lý người nhưng không quyết định
Từ khi con người ra đời thì tự nhiên đã không còn là tự nhiên vốn có của nó nữa mà đã mang dấu ấn của con người, do lao động của con người tạo ra, nói cách khác thế giới tự nhiên đã được xã hội hoá
Ví dụ : Đất đai khô cằn; rừng bị xói mòn; khí hậu khắc nghiệt; không khí,
nguồn nước ô nhiễm; môi trường ồn ào…
Phần xã hội bao gồm các quan hệ xã hội như: quan hệ kinh tế, quan hệ đạo
đức, pháp quyền, các mối quan hệ người - người… các mối quan hệ này quyết định bản chất tâm lý con người
Ví dụ : Ngày xưa rau lang để cho lợn, ngày nay trở thành đặc sản
Xưa có thời thành kiến với váy, giờ trở thành mốt
Xưa không chồng mà có con thì cạo trọc bôi vôi, thả trôi sông Nay
không còn có nhiều định kiến như vậy nữa
Trên thực tế, nếu con người không được sống trong các quan hệ xã hội thì tâm lý sẽ mất bản tính người ( không có tâm lý người)
Trang 16Thế giới khách quan ( phần xã hội nói riêng) tác động đến tâm lý con người , nhưng không quyết định trực tiếp, mà quyết định thông qua vai trò của chủ thể: Thông qua hoạt động của cá nhân
Thông qua quan hệ của cá nhân ( giao tiếp)
Thông qua quan hệ xã hội
- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội
Con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội :
Phần tự nhiên ở con người: Đặc điểm cơ thể, hệ thần kinh, các giác quan… được xã hội hoá ở mức cao nhất Trong bản thảo kinh tế triết học 1844, C Mác đã nói: Năm giác quan của con người là kết quả phát triển của lịch sử Nói cách khác, sự tác động của thiên nhiên đối với con người và tâm lý người cũng mang tính chất xã hội
Ví dụ : Tai của con người không nghe được tốt như tai động vật ( chó,
mèo…) nhưng tai người có thể nghe được ngôn ngữ, thưởng thức âm nhạc… ( nghe một nền văn hoá xã hội)
Mắt người không đẹp như mắt bồ câu, không nhìn xa được như mắt đại bàng, không nhìn trong bóng đêm được như cú mèo… nhưng mắt người có thể nhìn được nhiều thứ động vật không nhìn được
Là thực thể xã hội, con người là chủ thể nhận thức, có lao động, có ngôn ngữ,
có ý thức, làm chủ thể của các quan hệ xã hội
Tâm lý là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội, vì thế tâm lý người mang đầy đủ dấu ấn xã hội – lịch sử của con người
- Tâm lý mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm
Trang 17giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định
- Tâm lý mỗi người hình thành, phát triển và biến đổi cùng cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc, lịch sử cộng đồng Vì thế tâm lý mỗi người chịu sự chế ước bởi lịch sử cá nhân và của cộng đồng
Nền văn hoá xh biến thành Tâm lý cá nhân
kinh nghiệm xh lịch sử mỗi người
( cái chung) thông qua hoạt động ( cái riêng)
giao tiếp, quan hệ xh
Ví dụ : Cái bút: cái để viết, cách dùng bút
Trong cái bút có cái hồn của loài người gửi vào, đó là kinh nghiệm xã hội
lịch sử - chứa đựng nền văn hoá xã hội
+ Trẻ nhỏ ( chưa biết cái bút): cầm, sờ vào cái bút, cho cảm nhận theo
kiểu vật lý, sinh vật ( cứng, nhọn, đau…) Trẻ không biết dùng làm gì ( ngoáy tai, đánh nhau…)
+ Trẻ đi học, giao tiếp với người lớn: Người lớn giải thích, dạy trẻ biết đây là cái để viết ( dạy trẻ nền văn hoá xã hội, kinh nghiệm xã hội) Người lớn tổ chức, dạy trẻ tập cầm bút để viết
Trang 18Trẻ hiểu : cái bút là kinh nghiệm nền văn hoá xã hội, bản chất cái bút là cái để viết, cách dùng cái bút
Trẻ có năng lực làm chủ cái bút ( có năng lực người về cái bút)
2 Chức năng của tâm lý
Hiện thực khách quan quyết định tâm lý người, ngược lại chính tâm lý con người lại tác động trở lại hiện thực khách quan thông qua hoạt động Mỗi hoạt động ấy alị do tâm lý người điều khiển, sự điều khiển này thể hiện các chức năng của tâm lý:
Trang 19- Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động thông qua vai trò của động cơ, mục đích của hoạt động
- Tâm lý là động lực thúc đẩy con người hoạt động, khắc phục khó khăn
để đạt được mục đích đề ra
- Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp … làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức và đạt hiệu quả
- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu
đã xác định cũng như phù hợp điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép
Nhờ có các chức năng trên mà tâm lý giúp con người không chỉ thích ứng với hoàn cảnh khách quan mà còn nhận thức, cải tạo, sáng tạo ra thế giới và sáng tạo ra chính bản thân mình
Nhờ có chức năng này mà nhân tố tâm lý giữ vai trò cơ bản, có tính quyết định trong hoạt động của con người
Ví dụ: Năm 1902 các bác sĩ ở Côpenhaghen (Đan Mạch) đã làm một thí
nghiệm có một không hai trên thế giới: Một phạm nhân bị kết án phải xử bắn
Do yêu cầu của các bác sĩ và được sự đồng ý của chính phủ, chánh án tuyên bố rằng án xử bắn được thay thế bằng cách cắt mạch máu cho máu ra hết Đến ngày thi hành án, các bác sĩ bịt mắt phạm nhân lại và cắt một lớp da mỏng nhưng chưa chạm đến mạch máu Cùng lúc đó, bằng một hệ thống ống dẫn, nước ấm được chảy liên tục vào vết cắt Tin chắc là mình đã bị cắt đứt mạch máu, phạm nhân từ từ nằm xuống và sau đó chết thật Toàn bộ quá trình hấp hối giống hệt như một người mất máu dần Phạm nhân đã chết do mạch máu não thắt lại
3 Phân loại các hiện tượng tâm lý
Trang 20Có những cách phân loại hiện tượng tâm lý sau:
- Phân chia thành hiện tượng tâm lý cá nhân và hiện tượng tâm lý xã hội
- Phân chia thành hiện tượng tâm lý sống động và hiện tượng tâm lý tiềm tàng
- Phân chia thành hiện tượng tâm lý có ý thức và hiện tượng tâm lý chưa được ý thức
- Phân chia thành các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý Đây
là cách phân chia dựa vào thời gian tồn tại và vị trí tương đối của hiện tượng tâm
lý trong nhân cách:
Các quá trình tâm lý: là hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Quá trình tâm lý là nguồn gốc của đời sống tinh thần Có ba loại quá trình tâm lý:
+ Quá trình nhận thức: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ( con người nhận thức thế giới khách quan)
+ Quá trình cảm xúc: sự dễ chịu, khó chịu, ưa thích, ghét bỏ, yêu thương, căm giận…( con người biểu thị thái độ của mình đối với thế giới khách quan)
+ Quá trình ý chí: việc xác định mục đích, đấu tranh tư tưởng, huy động sức mạnh…( biểu hiện ý chí của con người trong hành động cải tạo thế giới khách quan)
Các trạng thái tâm lý: là hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, thường ít biến động nhưng lại chi phối một cách căn bản các quá trình tâm lý đi kèm với nó
Trang 21Ví dụ: Sự chú ý, tâm trạng vui vẻ, trạng thái nghi ngờ, chú ý tập trung hay lơ
đãng phân tán, tích cực hoạt bát hay mệt mỏi ủ ê, thắc mắc băn khoăn hay hồ hởi thoải mái, chần chừ do dự hay quyết tâm say sưa…
Các thuộc tính tâm lý: là hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành
và khó mất đi, tạo thành nét riêng của nhân cách, chi phối cá quá trình và trạng thái tâm lý của cá nhân Các thuộc tính tâm lý đơn giản như tình cảm, ý chí và các thuộc tính tâm lý phức hợp như xu hướng, tính cách, năng lực…
Sự phân biệt các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý chỉ là một sự tách biệt để phân tích khoa học Trong thực tế thì các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý luôn luôn quyện chặt vào nhau, chi phối lẫn nhau, thể hiện đời sống tâm lý toàn vẹn của con người
III NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ
1 Các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học khoa học
a Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng
- Tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào não thông qua “ lăng kính chủ quan” của con người
- Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó yếu tố xã hội là quan trọng nhất
b Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động
Trang 22Hoạt động là phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lý, yư thức, nhân cách Ngược lại, tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động
Vì thế chúng thống nhất với nhau
Tâm lý luôn vận động và phát triển
Phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó, nghiên cứu tâm lý qua
sự diễn biến, qua sản phẩm của hoạt động
c Phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong mối liên hệ giữa chúng với nhau
và trong mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác
Sở dĩ như vậy vì các hiện tượng tâm lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, chuyển hóa cho nhau Ngoài ra các hiện tượng tâm lý chi phối và chịu ảnh hưởng các hiện tượng khác ( sinh lý)
d Phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ
thể, chứ không nghiên cứu tâm lý một cách chunhg chung, nghiên cứu tâm lý ở một con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng
2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý
Tâm lý học dùng nhiều phương pháp nghiên cứu: quan sát, thực nghiệm, trò chuyện ( phỏng vấn), điều tra, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phân tích tiểu
Trang 23a Phương pháp quan sát
+ Quan sát là loại tri giác có chủ định, nhằm xác định các đặc điểm của đối tượng qua những biểu hiện bên ngoài (như hành động, cử chỉ, dáng điệu, vẻ mặt, cách nói năng… ) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên, bình thượng của người ta Trên cơ sở đó có thể kết luận về những quá trình tâm lý bên trong
Ngoài việc sử dụng các giác quan, để thu thập được tài liệu có độ chính xác khoa học , trong quan sát có thể dùng các kỹ thuật ghi chép như chụp ảnh, quay phim, ghi âm …
Cũng như đối với nhiều khoa học khác, quan sát là một phương pháp quan trọng không thể thiếu đối với tâm lý học
“ Hãy quan sát, quan sát và quan sát nữa” ( Páp- lốp)
+ Ưu điểm: Các hiện tượng trực tiếp quan sát được trong cuộc sống thượng mang tính chân thực, khách quan
+ Nhược điểm: Những sự kiện quan sát được không phải lúc nào cũng phân biệt được sự kiện ngấu nhiên và sự kiện có quy luật, đồng thời việc giải thích những tài liệu thu thập được mang tính chủ quan của người quan sát Nói chung phương pháp này rất mất thời gian và tốn nhiều công sức
b Phương pháp thực nghiệm
Trang 24Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động, trong những điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện
về nhân quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và đo đạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu
Có hai loại thực nghiệm cơ bản là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, người làm thực nghiệm tự tạo ra các điều kiện để làm nảy sinh hay phát triển một nội dung tâm lý cần nghiên cứu
- Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong những điều kiện sinh hoạt bình thường, người nghiên cứu chỉ thay đổi một số yếu tố của hoàn cảnh
Phương pháp thực nghiệm khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan của người bị thực nghiệm, vì thế phải tiến hành thực nghiệm nhiều lần và phối hợp với nhiều phương pháp khác
c Phương pháp trắc nghiệm ( Test )
Test là một phép thử để “đo lường” tâm lý đã được chuẩn hoá trên một số lượng người đủ tiêu chuẩn
Test có khả năng làm hiện tượng tâm lý cần đo trực tiếp bộc lộ qua hành động giải bài tập test Test tiến hành đơn giản Test có khả năng lượng hoá chuẩn hoá chỉ tiêu tâm lý cần đo
Trang 25Test có hạn chế khó soạn thảo bộ test chuẩn, chủ yếu cho ta biết kết quả,
ít bộc lộ quá trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết quả
d Phương pháp trò chuyện (đàm thoại)
Trò chuyện là cách đặt ra câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ
để trao đổi, hỏi thêm nhằm thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu
Trò chuyện có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Trực tiếp là trao đổi thẳng những vấn đề cần nghiên cứu, gián tiếp là di theo đường vòng để đạt đến vấn đề cần biết
Trò chuyện nhằm mục đích nghiên cứu tâm lý nên phải tuân theo những yêu cầu nhất định:
- Xác định rõ mục đích yêu cầu nghiên cứu
- Trước khi trò chuyện, cần tìm hiểu đặc điểm tâm lý của đối tượng
- Chủ động dẫn dắt câu chuyện đến chỗ cần tìm hiểu
- Tránh lối đặt câu hỏi sẵn liểu vấn đáp
- Nên làm cho câu chuyện mang sắc thái tranh luận khi cần thiết
e Phương pháp điều tra
Điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào
đó
Phương pháp điều tra có thể trong thời gian ngắn thu thập được một số ý kiến của rất nhiều người Tuy nhiên ý kiến đó lại mang tính chủ quan
Trang 26g Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
Đó là phương pháp dựa vào kết quả, sản phẩm ( vật chất, tinh thần) của hoạt động do con người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của con người đó, bởi vì trong sản phẩm do con người làm ra có chứa đựng “dấu vết” tâm lý, ý thức, nhân cách của họ
h Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân
Có thể nhận ra các đặc điểm tâm lý cá nhân thông qua việc phân tích tiểu
sử cuộc sống của cá nhân đó, góp phần cung cấp một số tài liệu cho việc chẩn đoán tâm lý
Các phương pháp nghiên cứu tâm lý người khá phong phú Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Muốn nghiên cứu tâm lý một cách khoa học, khách quan, chính xác phải sử dụng phương pháp thích hợp với
đề tài nghiên cứu, đồng thời phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu tâm lý học
2 Bản chất hiện tượng tâm lý người
3 Vị trí tâm lý học trong hệ thống các khoa học và đối với công tác giáo dục
Trang 27CHƯƠNG II
CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI
I CƠ SỞ TỰ NHIÊN CỦA TÂM LÝ NGƯỜI
1 Di truyền và tâm lý
+ Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, đảm bảo sự tái tạo ở thế hệ mới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước, đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn
+ Tư chất là một tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu vừa là những đặc điểm chức năng tâm – sinh lý mà cá thể đã đạt trong một giai đoạn phát triển nhất định dưới ảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động: đó là các đặc điểm của giác quan, của hệ thần kinh tạo nên tiền đề vật chất cho việc phát triển năng lực của con người
Bàn về vai trò của di truyền đối với sự phát triển tâm lý của con người thì
có nhiều quan điểm khác nhau:
Một số nhà tâm lý học tư sản cho rằng những đặc điểm tâm lý là những cấu tạo bẩm sinh, do tiềm năng sinh vật gây ra, mọi đặc điểm tâm lý đều do tiền định, đều có sẵn trong các cấu trúc sinh vật Sự phát triển của các thuộc tính đã
có sẵn trong gen và được quyết định bằng con đường di truyền
Họ lý luận rằng: Nếu ta nhìn kỹ đứa trẻ và thấy em giống bố như đúc – cũng cái mắt, cái miệng hệt như thế - thì tại sao ta lại không được phép nghĩ
Trang 28rằng những khả năng trí tuệ, hay tâm lý của em cũng sẽ giống hệt như ông cha em?
Người đầu tiên cố chứng minh ý kiến trên là Phê – rên – xi Gan – tơ ( Anh) bằng quyển “ Tính di truyền tài năng, các quy luật và hậu quả của nó” ( 1869)
( Bản thân ông là người có tài: là nhà địa lý học, khí tượng học, xã hội học; và ông là em họ của S Đacuyn – nhà sinh vật học người Anh, người đưa ra thuyết tiến hoá nổi tiếng)
Trong tác phẩm của mình ông dẫn ra những ví dụ về các nhà bác học nổi tiếng thế giới để chứng minh Ông đi đến kết luận: Các chủng tộc khác hẳn nhau
về mặt tài năng, người da đen là chủng tộc kém giá trị và ngu đần
Kết luận của ông phù hợp luận điệu các học giả tư sản mưu toan đặt nền móng vững chắc cho chế độ tư sản
Các nhà bác học khác lại hướng vào nghiên cứu trẻ sinh đôi, nếu cặp song sinh ngay từ khi để ra đã được dạy dỗ ở hai nơi khác nhau mà tính nết giống nhau thì khẳng định được vai trò của tính di truyền Kết quả họ nghiên cứu 120 trường hợp, 160 trường hợp giống nhau về hưúng thú và khuynh hướng, 20 trường hợp khác nhau
Một nhà nghiên cứu khác lại miêu tả có 188 cặp sinh đôi độ nhanh khi đọc, viết, sự chú ý, mức độ hiểu khi đọc, giống nhau như đúc
Có thể kết luận về yếu tố di truyền hay chưa?
Trang 29Các lý thuyết khoa học thường có dặc tính quỷ quái Bất cứ lý thuyết nào cũng chỉ được coi là đã được chứng minh khi nó bao quát và giải thích được hết thảy mọi sự kiện
“ Mỗi lý thuyết phải là con thú dữ có thể nuốt chửng và tiêu hoá được mọi
sự kiện cùng một lúc Còn nếu như con thú dữ ấy không tiêu hoá nổi dù chỉ một trường hợp thôi, thì tức là có chuyện không ổn, tức là lý thuyết có điểm thiếu sót rồi”
Để chống lại các quan điểm tư sản nói trên, những thí nghiệm trên trẻ sinh đôi cùng trứng do các nhà tâm lý học Liên Xô đã chỉ rõ rằng: Với cơ sở bẩm sinh giống nhau, tuỳ thuộc vào các phương pháp giảng dạy, các trẻ sinh đôi cùng trứng thu được những kết quả khác nhau trong một số hoạt động sáng tạo khác nhau,
Sinh vật học hiện đại cũng chứng minh rằng, bản thân di truyền cũng bị biến đổi dưới tác động của môi trường và của hoạt động cá thể
Các nhà tâm lý học DVBC khẳng định: di truyền đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát triển của tâm lý người Thể hiện, di truyền tạo tiền
đề vật chất cho sự phát triển ( nói cách khác, di truyền là điều kiện cần cho sự phát triển )
(Điều kiện đủ cho sự hình thành, phát triển tâm lý người là nhiều yếu tố, trong
đó có hoạt động giao tiếp của cá nhân giữ vai trò quyết định)
Trang 302 Não và tâm lý
Nói về mối quan hệ giữa não và tâm lý, có nhiều quan điểm khác nhau:
- Quan điểm vật lý song song: các quá trình tâm lý và sinh lý thường song song diễn ra trong não người không phụ thuộc vào nhau, trong đó tâm lý được coi là hiện tượng phụ
- Quan điểm đồng nhất tâm lý và sinh lý: tư tưởng do não tiết ra giống như mật do gan tiết ra.( chủ nghĩa duy vật tầm thường)
- Quan điểm duy vật: coi tâm lý và sinh lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lý có cơ sở vật chất là hoạt động của não bộ, nhưng tâm lý không song song hay đồng nhất với sinh lý
Tâm lý là hiện tượng tinh thần do các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tác động vào bộ não gây nên Tâm lý gắn liền với hoạt động của bộ não
Bộ não nhận tác động của thế giới dưới các dạng xung động thần kinh cúng những biến đổi lý hoá ở từng nơron, từng xinap, các trung khu thần kinh ở
bộ phận dưới vỏ và vỏ não, làm cho não bộ hoạt động theo quy luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lý này hay hiện tượng tâm lý kia theo cơ chế phản xạ Như vậy tâm lý là kết quả của hệ thống chức năng định hướng, điều chỉnh, điều khỉên hành vi của con người
3 Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não
Vỏ não ở vị trí cao nhất của não bộ, ra đời muộn nhất trong lịch sử phát triển của vật chất và là tổ chức vật chất cao nhất, tinh vi nhất, phức tạp nhất
Trang 31Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não:
Quan niệm cổ xưa ( thế kỉ thứ 5 TCN) : lý trí ở đầu, tình cảm ở ngực, lòng đam mê ở bụng
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số nhà thần kinh học cho rằng: mỗi chức năng tâm lý được định khu ở một vìng trong não: có vùng trí nhớ, vùng tưởng tượng, vùng tư duy…
Theo quan niệm hiện đại: Vỏ não có nhiều miền ( còn gọi là vùng, thuỳ), mỗi miền là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng Mọi miền có thể tham gia voà nhiều hiện tượng tâm lý Các miền phục vụ cho một hiện tượng tâm lý tập hợp thành một hệ thốnh chức năng hệ thống chức năng này hoạt động một cach cơ động, tuỳ thuộc vào yêu cầu của chủ thể, vào đặc điểm không gian, thời gian và không có tính bất di bất dịch
- Cấu tạo của vỏ não
+ 6 lớp tế bào còn gọi là nơron, dày từ 2- 5 mm Vỏ não có S = 2200cm2, 14 –
17 tỉ noron, P = 1400 gam
+ Trên vỏ gồm bốn thuỳ lớn ( 4 miền) do 3 rãnh tạo ra:
Thuỳ trán còn gọi là miền vận động
Thuỳ đỉnh con gọi là miền xúc giac
Thuỳ chẩm còn gọi là miền thị giác
Thuỳ thái dương còn gọi là miền thính giác
+ Nằm ở các thuỳ trên của vỏ não có khoảng 50 vùng, mỗi vùng có nhiệm vụ nhận kích thích và điều khiển từng bộ phận cỏ thể
+ Ngoài ra còn miền trung gian, chiếm ½ diện tích vỏ bán cầu, miền này nằm giữa thuỳ đỉnh, chẩm và thái dương, có nhiệm vụ điều khiển, vận động và thụ cảm
Trang 32+ Vỏ não cùng với hạch dưới vỏ, tạo thành bán cầu đại não CÓ hai bán cầu đại não: phải và trái Hai bán cầu đại não được ngăn cách theo một khe chạy dọc từ trán đến gáy và khe được khép kín nhờ thể trai
- Nhiệm vụ ( chức năng chung) của vỏ não: điều hoà, phối hợp các hoạt động của cơ quan nội tạng và đảm bảo sự cân bằng của cơ thể và môi trường
- Klsp: Bảo vệ hệ thần kinh trung ương trong quá trình tham gia lao động,
học tập, vui chơi
4 Phản xạ có điều kiện và tâm lý
Phản xạ là phản ứng tất yếu, hợp quy luật của cơ thể đối với kích thích bên
ngoài, phản ứng thực hiện nhờ hoạt động của hệ thống thần kinh
I M Xêtrênôv, nhà sinh lý học Nga đã viết: “ Tất cả các hiện tượng tâm lý,
kể cả có ý thức lẫn vô thức, về nguồn gốc đều là phản xạ” ( 1863) Theo ông phản xạ có 3 khâu chủ yếu ( gọi là cung phản xạ : chuối tế bào thần kinh thực hiện một phản xạ):
Phần tiếp nhận tác động: nhận kích thích từ bên ngoài, biến kích thích ở dạng
cơ năng, nhiệt năng… thành xung động thần kinh và truyền xung động thần kinh vào hệ thần kinh trung ương
Phần trung tâm: Đó là não, tiếp nhận những xung động thần kinh từ ngoài vào qua phần dưới vỏ và quá trình hưng phấn, ức chế xảy ra trong não để xử
lý thông tin, trên cơ sở đó xuất hịên các hiện tượng tâm lý cảm giác, tri giác,
tư duy, tình cảm…
Phần dẫn ra: nhận xung động thần kinh từ trung tâm truyền đến các cơ, các
Trang 33I P Pavlôv kế tục sự nghiệp của I M Xêtrênôv, sáng lập ra học thuyết phản
xạ có điều kiện – cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý
Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống của từng cá thể để đáp
ứng với môi trường luôn thay đổi, là cơ sở của hoạt động tâm lý
Đặc điểm của phản xạ có điều kiện:
+ Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống cá thể Mới sinh ra động vạt bậc cao và người chưa có phản xạ có điều kiện, phản xạ có điều kiện được thành lập trong quá trình sống và hoạt động của cá thể
+ Phản xạ có điều kiện được thực hiện trên vỏ não Có vỏ não hoạt động bình thường mới có phản xạ có điều kiện
+ Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kỳ Ở người, tiếng nói là một kích thích đặc biệt có thể thành lập bất cứ phản xạ nào
+ Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể
+ Không phải lúc nào phản xạ có điều kiện cũng xuất hiện, mà có lúc tạm thời ngừng trệ hoặc bị kìm hãm không hoạt động Hiện tượng đó được gọi là ức chế phản xạ có điều kiện
Kết luận: Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống cá thể, sự
xuất hiện của chúng đáp ứng kịp thời và phù hợp với những thay đổi của môi
Trang 34trường xung quanh, giúp cá thể tồn tại và phát triển bình thường Tất cả các hiện tượng tâm lý cấp cao ở người đều có cơ sở sinh lý là phản xạ có điều kiện
Kết luận sư phạm:
+ Cần chú ý kiên trì hình thành các phản xạ có điều kiện có ý nghĩa tích cực + Ức chế đi đến loại bỏ những phản xạ có điều kiện mang ý nghĩa tiêu cực
5 Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lý
Sự nảy sinh, diễn biến và tác động qua lại lẫn nhau giữa hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế diễn ra theo các quy luật xác định, được gọi
là các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao
a Quy luật hoạt động theo hệ thống
- Trong quá trình hoạt động, các vùng trên vỏ não phải phối hợp với nhau
để tiếp nhận các kích thích tác động, để tiến hành xử lý thông tin đó Trong khi
xử lý thông tin, vỏ não có khả năng tập hợp các kích thích thành nhóm, thành dạng, loại… thành một thể hoàn chỉnh, gọi là hoạt động theo hệ thống của bán cầu đại não
- Trong cuộc sống cá nhân, trước những điều kiện quen thuộc, ổn định thì các kích thích tác động nối tiếp nhau theo một trật tự nhất định và trong não hình thành một hệ thống phản xạ có điều kiện để phản ứng trả lời theo một trật tự nhất định Hiện tượng này gọi là định hình động lực, gọi tắt là động hình
- Động hình là cơ sở sinh lý, thần kinh của các kỹ xảo, thói quen, nó có thể
bị xoá bỏ hoặc xây dựng mới ( trong trường hợp cá thể rơi vào điều kiện sống mới)
b Quy luật lan toả và tập trung
Trang 35Biểu hiện: Hưng phấn hay ức chế nảy sinh ở một điểm trong hệ thần kinh, từ
đó lan sang các điểm khác của hệ thần kinh Đó là hưng phấn và ức chế lan toả Sau đó hai uqá trình thần kinh này lại tập trung về điểm ban đầu đó là hưung phấn và ức chế tập trung
Klsp:
+ Vận dụng quá trình hưng phấn lan toả để xây dựng những phản xạ có điều kiện cho học sinh, trong dạy học có thể khơi gợi vốn sống củ học sinh phục vụ cho dạy tri thức mới…
+ Duy trì trạng thái hưng phấn tập trung trong quá trình giáo viên giảng bài + Giáo viên khéo léo tạo ra những kích thích tương ứng để tạo ra quá trình hưng phấn hoặc ức chế theo quy luật lan toả và tập trung trong suốt quá trình bài
giảng Ví dụ: Đầu giờ học cần kích thích bằng ngôn ngữ để học sinh chú ý vào
thông báo của giáo viên
c Quy luật cảm ứng qua lại
- Cảm ứng là sự gây ra trạng thái đối lập của một quá trình hưng phấn hay
ức chế
- Biểu hiện:
+ Cảm ứng qua lại đồng thời ( giữa nhiều trung khu) là hưng phấn ở điểm này gây ra ức chế ở điểm kia hay ngược lại
Trang 36+ Cảm ứng qua lại tiếp diễn ( trong một trung khu) là hưung phấn ở trong một điểm chuyển sang ức chế ở chính điểm đó hay ngược lại
+ Cảm ứng dương tính là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn hay ngược lại ức chế làm cho hưng phấn mạnh hơn
+ Cảm ứng âm tónh là khi hưng phấn gây ra ức chế., ức chế làm giảm hưung phấn, hưng phấn làm giảm ức chế
Klsp: Cần tạo ra những cảm ứng dương tính trong quá trình dạy học, tạo ra
hưng phấn mạnh mẽ trong quá trình giảng dạy, qua đó ưc chế trạng thái mệt mỏi, kém tập trung chú ý
d Quy luật phụ thuộc vào cường độ kích thích
Biểu hiện: Độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ của kích thích tác
động trong phạm vi con người có thể phản ứng lại được Ở người, sự phụ thuộc này mang tính chất tương đối vì phản ứng của con người không chỉ phụ thuộc vào kích thích mà còn phụ thuộc vào chủ thể mỗi người
Tóm lại, các quy luật cơ bản nói trên của hoạt động thần kinh cấp cao coa quan hệ với nhau, cùng chi phối sự hình thành, diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lý của con người
6 Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lý