Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan điểm khách quan hơn, không xoá bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn nhận trên quan điểm phát huy những mặt tích cực, gạt bỏ những mặt tiêu cực trong các tôn giáo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, quốc tế hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay cần đánh giá xác đáng những tác động của nó đến thế giới quan tôn giáo của một bộ phận nhân dân, để từ đó phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong bài thu hoặc ngắn của mình, tác giả muốn tìm hiểu những tác động của quá trình hội nhập quốc tế tới vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.
Trang 1Đất nước ta đang bước những bước dài trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đạt được những thành tựu quan trọng Nền kinh tế thị trường đã tạo nên động lực to lớn nhưng cũng tạo nên nhiều áp lực không nhỏ bởi những mặt trái của nó Tôn giáo là một trong những vấn đề rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở từng quốc gia, dân tộc cũng như trên phạm vi toàn thế giới Ở nước ta, tôn giáo đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan điểm khách quan hơn, không xoá bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn nhận trên quan điểm phát huy những mặt tích cực, gạt bỏ những mặt tiêu cực trong các tôn giáo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, quốc
tế hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay cần đánh giá xác đáng những tác động của nó đến thế giới quan tôn giáo của một
bộ phận nhân dân, để từ đó phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Trong bài thu hoặc ngắn của mình, tác giả muốn tìm hiểu những tác động của quá trình hội nhập quốc tế tới vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
ta hiện nay
* Khái quát quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
Hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc
và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2015, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) lên
Trang 2đến cấp độ toàn cầu Việt Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an, cơ quan quyền lực hàng đầu của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008 - 2009 Việt Nam cũng đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm ASEAN 2010 Chặng đường 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước
Mười năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt trước những khó khăn thử thách hết sức nghiêm trọng: nền kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng gay gắt, an ninh quốc gia bị đe dọa bởi tình trạng vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, các thế lực đế quốc thù địch xiết chặt bao vây cấm vận, quan hệ đối ngoại bị thu hẹp Bởi vậy, bước vào thời kỳ đổi mới (1986), Việt Nam đứng trước đòi hỏi cấp bách mang ý nghĩa sinh tử là phải tìm cách thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá được thế bị bao vây
cô lập về đối ngoại, tiếp tục phát triển đất nước theo con đường đã lựa chọn
Trong bối cảnh đó, trên phương diện đối ngoại Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
về“thêm bạn, bớt thù”, mở rộng và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế,
tìm ra khâu đột phá để thoát vòng bao vây cô lập của các thế lực chống đối Sau Đại hội VI, đặc biệt là sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa VI (1989), Việt Nam đã có những điều chỉnh cơ bản về chính sách đối ngoại Theo đó, cùng với chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam coi trọng cải thiện quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á, tạo môi trường quốc tế hoà bình, ổn định ở khu vực, thuận lợi cho phát triển đất nước
Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VI của
Đảng nêu chủ trương chiến lược: “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế” Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế
sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế
Trang 3Chủ trương chiến lược của Đại hội VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng
định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” Như vậy, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa
đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ
“rộng mở”, “là bạn” đến “đa dạng hóa, đa phương hoá quan hệ quốc tế” và
“sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” Đây là sự thể hiện tinh thần độc lập tự chủ,
sáng tạo, kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước vào những xu thế phát triển của thời đại Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại như đã nêu, Việt Nam đã từng bước phá được thế bị bao vây cấm vận, hóa giải tương đối thành công những khó khăn, bất cập trong quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc
tế, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới
Có thể nói rằng, trong những thắng lợi to lớn và toàn diện của sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Ðảng ta suốt ba mươi qua, không thể không kể đến những thắng lợi của sự nghiệp ấy về tư duy lý luận, đường lối và chính sách tôn giáo
* Một số vấn về nhận thức và chính sách với công tác tôn giáo hiện nay.
Kể từ khi có Nghị quyết 24/NQ/TƯ ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị (khóa VI) về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới", lần đầu tiên trong lịch sử Ðảng ta, vấn đề tôn giáo được nhìn nhận, xem xét với tư duy mới, nhận thức mới Không chỉ có những luận điểm có "tính đột phá" trong nhận thức, Ðảng và Nhà nước ta còn có hàng loạt chính sách đổi mới về tôn giáo, góp phần quyết định tạo ra sự ổn định và có nhiều điểm sáng trong đời sống ở nước ta, giải quyết tốt hơn mối quan hệ Ðạo - Ðời
Tuy nhiên để tiếp tục sự nghiệp đổi mới cũng như tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo, trước mắt, chúng ta cần nhìn nhận tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế một số vấn đề cơ bản
Trang 4Thứ nhất, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo còn là một thực tại xã hội, thậm chí nó có thể đồng hành lâu dài với dân tộc và với chủ nghĩa Xã hội
Bản thân nước ta, với ý thức hệ khác biết với các nước khác, cũng đang hòa mình cùng với dòng chảy của thế giới đương đại để thích ứng, tồn tại và phát triển Vì vậy, với tính cách là một "thực thể xã hội", tôn giáo có thể thích ứng với chủ nghĩa xã hội Khi các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuân khổ của văn hóa dân tộc, một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hóa dân tộc, mặt khác tạo thêm con đường đoàn kết dân tộc Vì vậy, chúng ta khai thác tốt các giá trị đạo đức của tôn giáo là cách tốt nhất cho người tôn giáo thuận tiện hơn trong quá trình tìm về cội nguồn dân tộc và hơn bao giở hết phải tạo cho nó khả năng tham gia tích cực hơn vào một số lĩnh vực xã hội thích hợp, đóng góp vào việc xây dựng phát triển đất nước và thỏa mãn nhu cầu của đời sống tôn giáo
Ăng-ghen đã nói mọi sự phát triển không có định hướng đúng đều để lại phía sau một bãi hoang mạc Tôn giáo là một bộ phận trong xã hội loài người nó
có một số mặt tốt như đạo Phật quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo , Thiên Chúa giáo răn dậy các tín đồ của mình phải sống lương thiện đó là những
ưu điểm mà con người cần phát huy Dưới chủ nghĩa xã hội, chúng ta không thể một sớm một chiều gạt bỏ tôn giáo ra khỏi tâm thức của một bộ phận quần chúng nhân dân, mà cần phải phát huy những giá trị tốt đẹp của nó một cách cao nhất để tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội Trong cuộc Tổng tuyển
cử bầu ra các đại biểu của Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:
"Hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử, không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam đều có hai quyền đó"1 Việc thực hiện các chính sách tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội và trong tình hình hiện nay cần luân găn chặt và quan tâm đến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân phải luôn gắn chặt với yêu cầu chung của xã hội, với lợi ích
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 9
Trang 5chung của Tổ quốc và dân tộc nhằm đảm bảo cho quyền lợi cá nhân có điều kiện được thực thi Người nói: "Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hoá cũng như chính trị, kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều phát triển tự do” Tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với độc lập tự do của Tổ quốc, dân tộc Công tác tôn giáo hiện nay trước hết và cơ bản vẫn là công tác vận động quần chúng và song song với đó là kiên quyết lên án những âm mưu, hoạt động núp bóng tôn giáo nhằm trục lợi, trái với lợi ích của Tổ quốc, dân tộc Theo Người, Đạo - Đời phải luôn gắn chặt với mục tiêu chung của dân tộc là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận định mang tính khách quan, khoa học về tôn giáo, xác định tôn giáo còn tồn tại lâu dài và có một số giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích của toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới và do vậy, cần phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo Điều này có
ý nghĩa quan trọng trong việc họach định chính sách tôn giáo, bảo vệ và tu tạo các di sản văn hóa tôn giáo
Việc tìm hiểu, chỉ ra chân giá trị của các tôn giáo còn có ý nghĩa nhất định trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi mà chúng ta cần phải huy động mọi nguồn lực tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có vấn đề quan trọng là củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và
kế thừa, phát huy những "hạt nhân hợp lý', những giá trị văn hóa đạo đức trong tôn giáo vào việc xây dựng nền đạo đức mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đặc biệt cần nhận thức đúng đắn và khai thác đa dạng những giá trị đạo đức của tôn giáo
Có quan điểm cho rằng, đạo đức tôn giáo không chứa đựng những yếu tố tích cực, tiến bộ, mà hoàn toàn đối lập với đạo đức trần thế, không thể áp dụng vào đời sống hiện thực Quan điểm khác lại cho rằng, tôn giáo không có đạo đức riêng, đạo đức tôn giáo chỉ là sự vay mượn đạo đức chung của nhân loại và mỗi tôn giáo có thể nhấn mạnh điểm này hay điểm khác Trước khi phân tích vai trò của đạo đức tôn giáo đối với đời sống xã hội
Trang 6Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối của nó Trong quá trình phát triển, các hình thái ý thức xã hội có
sự giao lưu, kế thừa và ảnh hưởng lẫn nhau Như vậy, ý thức tôn giáo không bao giờ tồn tại một cách biệt lập với các hình thái ý thức khác, như đạo đức, thẩm
mỹ, chính trị, pháp luật Giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sự phong phú của mỗi hình thái ý thức xã hội Trong ý thức tôn giáo không thể không có những yếu tố của tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa và trong điều kiện xã hội có giai cấp, nó còn có cả những yếu tố chính trị, đảng phái nữa Tôn giáo không thể tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm trong lịch sử của các dân tộc khác nhau trên thế giới, nếu như bản chất của nó chỉ bao gồm những sai lầm, ảo tưởng và tiêu cực Trong Phát hiện Ấn Độ, J.Nehru đã viết: "Rõ ràng là tôn giáo đã đáp ứng một nhu cầu trong tính chất con người và đa số người trên thế giới đều không thể không có một dạng tín ngưỡng nào đó Tôn giáo đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống con người, mà dù một số chuẩn mực ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại, nhưng những chuẩn mực khác vẫn còn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức"
Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ Đa số các tôn giáo đều tuyên bố về giá trị tối cao của các lực lượng siêu nhiên (Thượng đế, Chúa trời, Thần thánh) và mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn Thực tế cho thấy, quan niệm đạo đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loại, như sống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác Trong Khoa học và tôn giáo, Bertrand Russeli cho rằng, một tôn giáo lớn bao giờ cũng có hệ thống tín điều, hệ thống đạo đức và giáo hội Người theo tôn giáo không phải sống thế nào cũng được, mà phải sống theo những khuôn phép đạo đức hợp với tín điều của tôn giáo mình, hành động không phải chỉ là thực hành một số hình thức nghi lễ, mà còn phải sống theo những quy tắc đạo đức nhất định Vì vậy, đương nhiên, một số nội dung của đạo đức trở thành bộ phận cấu thành nội đung của tôn giáo
Trang 7Vấn đề trung tâm của Phật giáo là “diệt khổ" để hướng đến giải thoát, chứng được Niết bàn Muốn đạt được điều đó, con người không chỉ cần có niềm tin tôn giáo, mà còn cần cả sự phấn đấu nỗ lực của bản thân bằng cách thực hành một đời sông đạo đức Từ đó, Phật giáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất
cụ thể để con người tu tập, phấn đấu Trong đó, phổ biến nhất là Ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) và Thập thiện (ba điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, ba điều thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không
si mê, bốn điều thuộc về khẩu: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu) Những chuẩn mực này, nếu lược bỏ màu sắc mang tính chất tôn giáo sẽ là những nguyên tắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất
có ích cho việc duy trì đạo đức xã hội
Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn yêu thương được xem là nền tảng Con người trước hết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân mình Đây là
cơ sở để thực hiện tình yêu tha nhân Kinh thánh khuyên con người phải yêu chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm, cộng đồng Những điều mà Kinh thánh răn cấm cũng rất cụ thể: không giết người, không lấy của người, không nói sai sự thật, không ham muốn chồng hoặc vợ của người, không làm chứng giả
để hại người Ngoài ý nghĩa đức tin vào cái siêu nhiên (Thượng đế, Chúa), những chuẩn mực, quy phạm đạo đức ấy là những quy phạm đạo đức rất cụ thể hướng con người đến điều thiện, tránh xa điều ác
Phải nói rằng, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống thế tục và ít nhiều mang giá trị có tính nhân văn Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội Do vậy, có thể khẳng định rằng, "trong hệ thống những giá trị chuẩn mực tôn giáo, ngoài những điều khuyên răn cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo, còn có những điều khuyên răn cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà là biểu hiện của các mối quan hệ thuần tuý trần thế”
Trang 8Qua việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể khẳng định rằng, khi bàn về tôn giáo, các nhà kinh điển đã đề cập đến vấn đề đạo đức tôn giáo, trong đó, các ông không chỉ phê phán mặt tiêu cực, mà còn chỉ
ra một số ý nghĩa tích cực của đạo đức tôn giáo, điều đó tạo nên nét tương đồng
có tính chất tương đối của những giá trị đạo đức tôn giáo và chủ nghĩa xã hội
Khi mới ra đời, hầu hết các tôn giáo đều phản ánh khát vọng tự do, bình đẳng của người lao động C.Mác đã khẳng định: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa
là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy" Con người bất lực, không kiếm tìm được hạnh phúc nơi trần thế và đành phải tìm hạnh phúc ấy nơi Thiên đường Tôn giáo đã gieo vào họ mềm tin ở sự cứu vớt, giải thóat của các đấng siêu nhiên Ph.Ăngghen đã nghiên cứu lịch sử tôn giáo, đặc biệt là lịch sử Thiên chúa giáo và chứng minh rằng, sự xuất hiện của tôn giáo này là phản ứng chống lại sự bất công và tàn bạo của chế
độ nô lệ Tương tự như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ là khát vọng của quần chúng phản kháng lại sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội ấn Độ cổ đại Thiên chúa giáo kêu gọi tình yêu thương giữa con người với con người, Phật giáo chủ trương bình đẳng, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha Ngoài ra, chúng ta còn có thể nêu lên những nét tích cực của nhiều tôn giáo khác, khi các tôn giáo này xây dựng mối quan hệ yêu thương giữa người với người, hướng con người vào những việc thiện, biết giữ gìn đạo đức và xa lánh những điều ác
Nhận thức những giá trị đạo đức và văn hóa của tôn giáo một cách biện chứng mới có cơ sở để hoạch định các chính sách đúng đắn về tôn giáo Về chính sách của Đảng Cộng sản đối với tôn giáo, Lênin luôn nhắc nhở rằng, không được đối xử với tôn giáo một cách thô bạo, không được công khai tuyên chiến với tôn giáo, cần phải gắn việc phê phán tôn giáo với vận động quần chúng, đưa họ tham gia vào các họat động thực tiễn nhằm xây dựng "thiên đường trên trái đất"
Như vậy, có thể khẳng định rằng, có một đạo đức tôn giáo và đạo đức ấy mang tính đặc thù, đồng thời, có sự giao thoa giữa những giá trị đạo đức chung toàn nhân loại với đạo đức tôn giáo Tuỳ theo hoàn cảnh ra đời và những điều
Trang 9kiện lịch sử cụ thể, tư tưởng đạo đức trong mỗi tôn giáo có những nét đặc thù riêng biệt Ngoài mặt hạn chế, đạo đức tôn giáo cũng có một số giá trị nhất định trong đời sống xã hội, là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền đạo đức xã hội Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm tới nhu cầu và đời sống tinh thần của đồng bào có đạo, một mặt thể hiện sự tôn trọng, một mặt tạo nên chất keo dính kết để các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như sự nghiệp đổi mới hiện nay
Đại hội IX, Đảng ta khẳng định: “phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo ”2 Đại hội X, XI, XII, Đảng ta tiếp tục bổ sung: “phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”3để chỉ rõ hơn tinh thần, cần tôn trọng và phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá đạo đức của mỗi tôn giáo cụ thể Điều đó cũng thể hiện dưới chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn song hành phát triển
Tuy nhiên phát triển đến bao giờ và như thế nào thì cần phải phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể và phải đi về nghiên cứu lý luận gốc về bản chất của tôn giáo chúng ta mới có cái nhìn toàn diện Tôn giáo dường như sẽ mất dần
đi chỗ đứng của mình, điều đó là tất nhiên bởi theo qui luật của sự phát triển thì cái cũ sẽ bị thay thế bởi cái mới phát triển hơn Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa hiện nay, tôn giáo có sự phát triển hết sức đa dạng, phức tạp Con người càng ngày càng phát triển và dưới sức mạnh của khoa học công nghệ thì con người ngày nay đã có những nhận thức đầy đủ về thế giới và họ có thể cải biến tự nhiên cũng như xã hội bằng khả năng và theo ý muốn của mình Nhìn nhận sự tồn tại của tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa và đặc điểm của những điều kiện lịch sử, truyền thống, phong tục, văn hóa ở nước ta hiện nay cần có cách nhìn khách quan, tránh phiến diện, áp đặt theo những khuân mẫu và nguyên tắc về chính sách Điều quan trọng nhất là
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG H, 2001 tr 128
3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG H, 2016 tr 165
Trang 10phát huy những giá trị của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
Hai là: Trong bối cảnh Toàn cầu hóa, hiện đại hóa, mọi tôn giáo đều có khuynh hướng trở thành "tôn giáo xã hội", thích ứng và hội nhập xã hội ngày càng cao.
Quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa đã tạo ra một “thị trường tôn giáo mới” không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Sự đa dạnh của các nền văn
hóa, của con người đã tạo nên những siêu thị tâm linh mà ở đó người ta có thể tự
do lựa chọn một hay nhiều món hàng tinh thần mà mình muốn Thực tế trong xã hội chúng ta cũng có thể dễ dàng quan sát và nhận thấy ngày càng có nhiều người từ bỏ quan điểm độc đoán bằng cách chấp nhận có một tôn giáo khác ngoài tôn giáo của họ và tôn giáo đó cũng có chân lý của nó Những hiện tượng tôn giáo mới, đạo lạ ngày càng xuất hiện nhiều Nếu như trước kia việc xuất hiện tôn giáo gắn với lịch sử các cuộc bành trướng thực dân, thì ngày nay xu thế toàn cầu hóa dường nhưn đang vượt qua tầm kiểm soát của nhà nước và vượt lên trên đường biên giới, lãnh thổ để thiết lập một bản đồ địa – tôn giáo
Ở Việt Nam, các tổ chức tôn giáo dù đã có tư cách pháp nhân (Hiện đã
có 14 tôn giáo và 37 tổ chức tôn giáo được công nhận với khoảng 25 triệu người (chiến hơn 27% dân số), 83000 chức sắc, nhà tu hành, 250000 chức việc,
46 cơ sở đào tạo chức sắc, 25000 cơ sở thờ tự trong cả nước) vẫn chưa thật sự
được coi như những "tổ chức xã hội" thông thường về mặt dân sự, và chưa thật hòa nhập vào các lĩnh vực hoạt động như giáo dục, y tế, từ thiện, kinh tế với tư cách một chủ thể pháp nhân Mức độ được tham gia hiện nay của các tôn giáo là vẫn còn khiêm tốn Ðiều này khiến Luật pháp về Tôn giáo ở Việt Nam còn có những điểm khác với thông lệ quốc tế
Dù điều này là phức tạp, nhiều trở lực xã hội và tâm lý, nhưng đây là con đường hiệu nghiệm để chứng tỏ Ðảng và Nhà nước ta thực sự tạo cho tôn giáo một đời sống xã hội bình thường, tôn giáo là việc tư nhân và các tổ chức tôn giáo phải được xem là "các tổ chức xã hội đặc biệt" như những hiệp hội theo lối nhìn của nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới Trong bối cảnh hiện nay,