Công ước 169 của tổ chức Lao động thế giới định nghĩa về người dân và bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của cộn
Trang 1em hoàn thành đề tài
Đề tài của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ đạo, góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn la, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Lò Thị Hồng Duyên
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 6
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc của đề tài……… …… 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀTHỰC TIỄN VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA DÂN TỘC THÁI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên 9
1.1.2 Tri thức bản địa 14
1.1.3 Mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên và tri thức bản địa 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Một số vấn đề chung về tri thức bản địa của các dân tộc miền núi phía Bắc 21
1.2.2 Dân tộc Thái với việc sử dụng tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng 22
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA DÂN TỘC THÁI TẠI XÃ MƯỜNG SANG, HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 26
2.1 khái quát chung 26
2.1.1 Vị trí địa lí 26
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 29
Trang 32.2 Tài nguyên rừng 39
2.3 Tri thức bản địa của dân tộc Thái trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 42
2.3.1 Tri thức bản địa của dân tộc Thái trong việc sử dụng tài nguyên rừng tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 42
2.3.2 Tri thức bản địa của dân tộc Thái trong việc bảo vệ tài nguyên rừng tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 50
2.4 Thực trạng trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 51
Tiểu kết chương 2 59
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA DÂN TỘC THÁI TẠI XÃ MƯỜNG SANG, HUYỆN MỘC CHÂU, SƠN LA 60
3.1 Giải pháp phát huy và bảo tồn tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng 60
3.2 Kiến nghị để sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững 65
Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 1: Bảng so sánh tri thức bản địa và kiến thức khoa học 17
Bảng 2: Bảng so sánh tri thức bản địa và chi thức hàn lâm 18
Bảng 3: Diện tích cây trồng qua các năm của xã Mường Sang 29
Bảng 4: Bảng dân số các dân tộc xã Mường Sang 31
Bảng 5: Bảng phân bố các dân tộc tại xã Mường Sang 32
Bảng 6: Hiện trạng rừng xã Mường Sang phân theo trạng thái và lưu vực…….40
Bảng 7: Hiện trạng rừng xã Mường Sang phân theo 3 loại rừng 41
Bảng 8: Kinh nghiệm sử dụng một số cây gỗ, tre, nứa, bương, giang của đồng bào dân tộc Thái xã Mường Sang 43
Bảng 9: Kinh nghiệm sử dụng một số cây dược liệu trong rừng của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Sang 44
Bảng 10: Một số kinh nghiệm trong sử dụng cây măng, rau, quả rừng của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Sang 47
Bảng 11: So sánh việc sử dụng tài nguyên rừng trước kia và hiện nay 52
Bảng 12 : So sánh việc bảo vệ rừng trước kia và hiện nay 55
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Mộc Châu 27
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây tri thức bản địa đã được sưu tầm, nghiên cứu và
áp dụng trong nhiều đề tài nghiên cứu, dự án phát triển cộng đồng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển
Tri thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa, góp phần làm nên bản sắc dân tộc Tri thức bản địa có thể coi như là tài sản của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển, phản ánh mối quan hệ của từng dân tộc đối với môi trường tự nhiên và xã hội Kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi trong những thập kỉ qua cho thấy cách tiếp cận khoa học và công nghệ phương Tây không đủ đáp ứng những quan niệm phức tạp và đa dạng của nông dân cũng như những thách thức về kinh tế, xã hội, môi trường
mà ngày nay chúng ta đang phải đương đầu Ngược lại rất nhiều kĩ thuật truyền thống đã đưa lại hiệu quả cao, được thử thách, và được chọn lọc trong một thời gian dài, có sẵn tại địa phương phù hợp với văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc nơi đó
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số,
cư trú ở những địa bàn khác nhau Trong quá trình lao động và phát triển mỗi dân tộc đã tích lũy được những tri thức trong các lĩnh vực của cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, quản lí xã hội,… nhằm thích ứng với điều kiện tự nhiên nơi cư trú Đây được coi là kho tàng tri thức thực nghiệm quý báu của dân tộc Mặc dù tri thức bản địa của các dân tộc mới chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm và cảm nhận nhưng nhờ được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn nên có giá trị thiết thực trong đời sống và sản xuất Do đó cần phải kế thừa và phát huy những tri thức bản địa đó trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và vấn đề phát triển bền vững của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi nước ta
Nét đặc trưng của các dân tộc miền núi là sống gần rừng và dựa vào rừng
Vì vậy họ có một vốn kiến thức và kinh nghiệm sản xuất rất phong phú trong
Trang 6việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng Tuy nhiên, đặc trưng của kiến thức bản địa là phạm vi sử dụng hẹp Nó phù hợp với từng điều kiện của từng địa phương nhất định, mỗi địa phương đều có tri thức bản địa riêng, ngay cả khi cùng một dân tộc nhưng sống ở địa phương khác nhau cũng có tri thức bản địa khác nhau Chính vì vậy để phát huy tối đa vai trò của tri thức bản địa ta cần phải nghiên cứu và chọn lọc một cách kĩ lưỡng sao cho phù hợp với sự phát triển của từng địa bàn
Sơn La là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, nơi đây có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm dân số rất đông Là một tỉnh có diện tích đồi núi chiếm chủ yếu chính vì vậy Sơn La có diện tích rừng lớn cùng với đó là nguồn gen động thực vật phong phú Tuy nhiên trong những năm gần đây do nhu cầu của nền kinh tế cùng với đó là tập quán du canh
du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi đã làm cho tài nguyên rừng
ở đây có sự suy giảm đáng kể
Mộc châu là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Sơn La có rất nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống(Kinh, Thái, H’Mông, Dao, Xinh Mun,….) Trong đó, dân tộc Thái chiếm đến 33,55% dân số toàn huyện
Mường Sang là một xã thuộc huyện Mộc Châu, nơi đây là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc Thái thuộc nhóm Thái Trắng là chủ yếu Sinh sống ở một thung lũng bao quanh xã bốn bên đều là rừng núi chính vì vậy tài nguyên rừng đối với dân tộc Thái ở đây rất quan trọng, từ thời xưa họ đã biết khai thác tài nguyên rừng để phục vụ cho đời sống của họ Rừng là nơi cung cấp gỗ để làm nhà, là nơi để họ tìm kiếm thức ăn như hái măng và rau rừng, cung cấp thuốc và nhiều dược liệu quý để chữa bệnh,… Trong quá trình đó người dân ở đây đã có rất nhiều những kinh nghiệm để khai thác và sử dụng tài nguyên rừng một cách hiệu quả Do đó việc tìm hiểu những kinh nghiệm trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng ở đây là cần thiết Nó góp phần gìn giữ, phát huy giá trị của tri thức bản địa tại đây sao cho phù hợp với đời sống và việc khai thác bền vững nguồn tài nguyên rừng của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Sang nói riêng,
Trang 7Nam nói chung Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu tri thức bản địa trong
việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trước đây tri thức bản địa được coi là những kiến thức nông cạn, hời hợt không mang tính khoa học Ngày nay, tri thức bản địa đã được nhìn nhận đúng với vai trò của nó Hầu hết mọi người đều thừa nhận vai trò của tri thức bản địa như một nhân tố then chốt trong mọi chương trình phát triển đã và đang được hiện hành, đặc biệt đối với những chương trình có mục tiêu và đạt tới sự bền vững Tuy nhiên, ngược trở lại bối cảnh thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai, khái niệm phát triển theo từng giai đoạn biến đổi của nền kinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với các nghĩa mới bổ sung Bắt đầu từ giai đoạn phát triển tập trung chủ yếu vào việc khôi phục nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến, tiếp theo giai đoạn này là sự tăng trưởng đồng đều trên mọi lĩnh vực cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Trong công cuộc này họ coi các nguồn tri thức bản địa của địa phương như là những trở ngại cần phải vượt qua để có thể đạt tới mục tiêu của phát triển Các nhà khoa học coi truyền thống và các kinh nghiệm của các tộc người trên toàn thế giới như một điều gì đó yếu kém, lạc hậu cần phải hủy bỏ hơn là động viên sử dụng Tính hợp pháp của tri thức truyền thống
bị nghi ngờ Những kinh nghiệm, hiểu biết của các dân tộc bản địa bị bỏ qua hoặc bị đánh giá là không khoa học và không được xem xét
Bắt đầu từ những năm 60 - 70 của thế kỉ XX, vai trò của các tri thức bản địa được xem xét lại: nguyên nhân là do:
Thứ nhất do sự thất bại của các chính sách phát triển Các chuyên gia phát triển dần dần nhận ra rằng các tộc người bản địa cùng với các hoạt động văn hóa, xã hội kinh tế của họ đã và đang sống cuộc sống hài hòa với môi trường xung quanh
Trang 8Thứ hai, do sự xuất hiện của khái niệm bền vững Phát triển bền vững được thay thế hoàn toàn cho phát triển truyền thống, khi nó nhấn mạnh đến khả năng đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến tương lai
Khái niệm “Kiến thức bản địa” được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm
90 của thế kỉ XX Năm 1987 Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển cùng
với tuyên ngôn về một “Tương lai chung của chúng ta” ra cảnh báo về sự suy
thoái của môi trường do nghèo đói kể cả khi không có sự hiện diện của các ngành công nghiệp trên toàn thế giới Dần dần các chuyên gia phát triển, những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường các tổ chức phi chính phủ nhận ra rằng những tri thức truyền thống, thế giới quan và văn hóa các dân tộc bản địa
ẩn chứa mối quan hệ hài hòa thân thiện với môi trường xung quanh Các dân tộc bản địa được xem như là nhà sinh thái học tự sự với những hiểu biết sâu sắc
về môi trường, những quan niệm, niềm tin, và cả cách họ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Công ước 169 của tổ chức Lao động thế giới định nghĩa về người dân và
bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của cộng đồng quốc gia và địa vị của họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi những luật lệ đặc biệt hay quy định riêng của họ.”
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt động trong mọi lĩnh vực nghiên cứu tri thức bản địa nhằm tăng tính hiệu quả trong quá trình phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, ở nhiều nơi trên thế giới tri thức bản địa đang được nghiên cứu hỗ trợ cho các nghiên cứu khoa học, làm tăng nguồn cơ sở tư liệu về môi trường, được sử dụng như một công cụ lựa trọn
để quyết định Vì vậy, việc phát triển nghiên cứu tri thức bản địa nhằm thu thập, lưu trữ, nâng cao sự hiểu biết các tiến trình phát triển, ứng dụng và điều chỉnh
kỹ thuật của các cư dân địa phương Các tổ chức quốc tế cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các chính phủ sử dụng tri thức bản địa trong các kế hoạch phát triển của mình
Trang 92.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, vai trò của người dân bản địa cùng với kiến thức trong quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng được thừa nhận nhiều hơn Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kiến thức bản địa cũng đã bắt đầu được quan tâm, trong đó có một số công trình liên quan đến tài nguyên rừng Các nhóm cộng đồng được nghiên cứu chủ yếu là các nhóm dân tộc Dao, Mường, Thái, H’Mông, Tày, Nùng (ở vùng núi phía bắc) và J’rai, M’nông ở Tây Nguyên hay Cơ tu ở Thừa Thiên - Huế Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thường(2003), Lê Thị Diên (2002), Hoàng Xuân Tý(2000), Lê Trọng Cúc (1998), Vương Xuân Tình(1998), Nguyễn Thị Qùy (1998), Hoàng Cầm (1998),…., và của nhiều tác giả khác là những nghiên cứu cụ thể về kinh nghiệm và thực hành bản địa, nghiên cứu về luật tục Những nghiên cứu này cho thấy kiến thức bản địa là nguồn lực quan trọng đối với bảo tồn và phát triển nếu chúng được phát huy và kết hợp sử dụng với các kiến thức khoa học tiên tiến, phù hợp
Ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ là cơ quan đầu tiên áp dụng việc sử dụng tri thức bản địa trong việc cải thiện khả năng canh tác trồng trọt, nâng cao chất lượng ở địa phương
Nghiên cứu đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được thạc sĩ Hoàng Xuân Tý và các
cộng tác viên thực hiện trong khuân khổ dự án: “Đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc trong nông nghiệp và quản lí tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam” do chung tâm nghiên cứu phát triển Canada tài trợ (1997- 1999) Kết
quả đã được xuất bản thành ấn phẩm do Nhà xuất bản Nông nghiệp in ấn viết
về những tri thức bản địa của đồng bào các dân tộc vùng cao trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
Trong tác phẩm “văn hóa và lịch sử của người Thái tại Việt Nam” của
Cầm Trọng (1998 )đã đề cập đến một số quy ước về quản lý, bảo vệ rừng, rẫy Cuốn người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của tác giả Cầm Trọng (1978) là một trong những công trình công phu, nghiêm túc và bao quát nhiều lĩnh vực của tộc
Trang 10người Thái như: lịch sử tộc người Thái ở Tây Bắc, các loại hình kinh tế, ruộng đất, xã hội bản mường, về tôn giáo, nghệ thuật, văn học,… qua đó cho người đọc hiểu biết thêm về những luật tục văn hóa trong đời sống của đồng bào dân tộc Thái
Cuốn những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng (2005) là
sự tổng hợp những công trình nghiên cứu về người Thái của tác giả trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của ông Nó được tổng hợp tất cả các công trình nghiên cứu về tộc người Thái trong cuộc đời nghiên cứu của ông, về lịch sử hình thành, đời sống, văn hóa, cùng các nghi lễ,… của tộc người Thái
Trong báo cáo: “điều tra nghiên cứu kiến thức bản địa về quản lý, phát triển tài nguyên rừng của một số cộng đồng thôn bản miền núi phía Bắc Việt Nam” đã đề cập đến những quy ước luật tục, kinh nghiệm của đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc trong quản lí phát triển, khai thác tài nguyên rừng do tác giả Đỗ Đình Sâm và cộng sự năm (2002)
Ngoài ra, các nghiên cứu kiến thức bản địa trước đây về một số vấn đề liên quan tới quản lý, phát triển tài nguyên rừng đã được đề cập:
- Luật tục quy định bảo vệ nương rẫy, tài nguyên rừng của đồng bào Thái, H’mông, Tày, Nùng
- Kinh nghiệm phát triển và sử dụng một số lâm sản ngoài gỗ như quế, sa nhân, một số cây thuốc
- Tuy vậy việc thu thập kiến thức bản địa cũng chưa được đầy đủ nhất là những vấn đề có liên quan tới quản lý các loại rừng khác nhau và một số vấn đề kinh nghiệm kĩ thuật, áp dụng các kiến thức bản địa, phát huy các đặc tính truyền thống cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là cộng đồng tộc người Thái trong quản lí và bảo vệ rừng trong thời gian gần đây [15]
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu hệ thống tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến
Trang 11rừng, cũng như đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong phạm vi xã xã Mường Sang,
huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những tri thức bản địa
và những biến đổi về tri thức bản địa của dân tộc Thái ở xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống tri thức bản địa và những biến đổi về tri thức bản địa của dân tộc Thái ở xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về vị trí địa lý, dân số, tình hình phát triển kinh tế, tài nguyên
rừng và về dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, đề tài làm rõ hệ thống kiến thức bản địa về cách sử dụng và bảo vệ hợp lí nguồn tài nguyên rừng
- Tìm hiểu những yếu tố làm thay đổi những kiến thức bản địa và đánh giá những mặt tích cực của những kinh nghiệm dân gian trong việc sử dụng và bảo
vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tính tích cực
của kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu tài liệu thư tịch: được tôi chú
trọng nhằm kế thừa các kết quả đã đạt được của các học giả đi trước và các tài liệu thứ cấp ở địa phương nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu Nghiên cứu các tài liệu đã được công bố về hệ thống tri thức bản địa, văn hóa của đồng bào dân tộc Thái
Trang 12- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:
+ Thu thập tài liệu từ sách thư viện, Internet, …
+ Thu thập các số liệu thống kê ở các phòng tài nguyên, kiểm lâm xã
+ Thu thập và chọn lọc tài liệu từ nguồn địa chí Mộc Châu
- Phương pháp thực địa: Phương pháp này thu thập các thông tin cho
phiếu điều tra, đồng thời kiểm chứng, đánh giá được những yếu tố thực tế và lý thuyết đã có
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là kĩ năng quan trọng giúp em thu thập
các thông tin chính của đề tài Với đề tài này chọn các đối tượng phỏng vấn sâu chủ yếu là những người dân như trưởng bản, già làng, những người có kinh nghiệm, kiến thức trong việc sử dụng và bảo về tài nguyên rừng ví dụ như những người làm nghề hái thuốc, thợ săn,… bên cạnh đó em cũng phỏng vấn những người làm công tác quản lí, tham gia chính quyền ở địa phương Nội dung các cuộc phỏng vấn được chuẩn bị sẵn bằng hệ thống những câu hỏi phù hợp với nội dung nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu Để người dân tham gia trả lời các câu hỏi một cách linh hoạt hơn em có thể giao tiếp bằng tiếng bản địa để giúp người dân thoải mái và tự tin hơn trong các câu trả lời để đạt được hiệu quả tốt hơn trong những hệ thống câu hỏi
- Phương pháp phân tích hệ thống: Dựa trên quá trình khảo sát đại
phương và các số liệu thu thập được để đưa ra được những đánh giá chung về kiến thức bản địa của người dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của đề tài gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tri thức bản địa trong việc sử dụng
và bảo vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái
Chương 2: Tìm hiểu việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Chương 3: Định hướng trong việc sử dụng và bảo vệ bền vững tài nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA
DÂN TỘC THÁI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
1.1.1.1 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên
“Tài nguyên thiên nhiên đó là các thành phần của tự nhiên mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể
sử dụng làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liệu lao động) và đối tượng tiêu dùng”
Tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh của chúng ta thật đa dạng và phong phú, trên đất nổi, trong lòng đất, đáy đại dương, trong các lớp thủy quyển, khí quyển… Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người trở thành một thực thể chí tuệ, từng bước khai thác tài nguyên thiên nhiên làm tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt cùng với sự tiến bộ của trình độ phát triển của xã hội loài người
Khái niệm tài nguyên thiên nhiên được mở rộng cả về không gian và thời gian, theo chiều rộng và chiều sâu Tài nguyên thiên nhiên có thuộc tính kép, có thể phân biệt được dựa theo các dạng vật chất, đó là các vật thể và các lực của
tự nhiên mà nguồn gốc phát sinh các thuộc tính và nguồn gốc của chúng được quy định bởi các quy luật tự nhiên Các tài nguyên thiên nhiên cũng có thể phân theo giá trị sử dụng mà điều này lại bị quy định bởi mức độ nghiên cứu độ nghiên cứu, khả năng kỹ thuật, tính hợp lý về mặt kinh tế và về mặt xã hội Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, xét về tiềm năng là đa dạng
và có mặt phong phú Khí hậu nội chí tuyến ẩm đã cung cấp một nguồn bức xạ dồi dào và một lượng nước khá lớn Đồng thời lịch sử địa chất kiến tạo và sự đa dạng của tự nhiên tạo nên các chủng loại tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và
cơ cấu tài nguyên sinh vật tương đối phong phú trên đất liền, trong lòng đất, thềm lục địa và biển Đông.[9]
Trang 141.1.1.2 Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Có nhiều cách phân loại tài nguyên thiên nhiên, dưới đây là ba cách phân loại tài nguyên thiên nhiên khá phổ biến:
- Cách thứ nhất: Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo thuộc tính tự nhiên của chúng, bao gồm các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khí hậu, …
- Cách thứ hai: Phân loại theo mục đích sử dụng, bao gồm nhóm tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên công nghiệp, tài nguyên du lịch Song do tính chất tổng hợp, đa mục đích trong sử dụng tài nguyên, việc phân loại này trong nhiều trường hợp là không thực sự theo đúng nghĩa vì một loại tài nguyên cũng
có thể xếp vào các nhóm khác nhau
- Cách thứ ba: Đây là cách phân loại tài nguyên thiên nhiên phổ biến hơn,
đó là phân loại theo tính có thể bị hao kiệt của tài nguyên trong quá trình sử dụng
Tài nguyên không bị hao kiệt là những vật thể và hiện tượng tự nhiên mà
số lượng và chất lượng của chúng trên thực tế không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể trong quá trình lâu dài như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy triều, nhiệt lòng đất, tổng trữ lượng nước trên trái đất
Tài nguyên có thể bị hao kiệt là những vật thể và những hiên tượng tự nhiên mà số lượng vật chất của chúng thay đổi một cách căn bẳn trong quá trình
sử dụng lâu dài
Tài nguyên không khôi phục được là những tài nguyên có thể bị hao kiệt, nghĩa là nguồn dự trữ của chúng sẽ bị cạn kiệt do sử dụng lâu dài.[9]
1.1.1.3 Đa dạng sinh học - nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đa dạng sinh học là “Sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ mọi nguồn, trong tất cả hệ sinh thái trên cạn, ở biển các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi
tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinh học gồm sự đa dạng trong loài,
sự đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái” Nói một cách ngắn gọn: Đa dạng sinh học là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống
Trang 15sinh vật sống và tất cả các nguồn duy trì tồn tại của chúng Đa dạng sinh học gồm ba thành phần chính: đa dạng về gen, đa dạng về loài, đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng sinh học là một thuật ngữ nói lên mức độ phong phú của thiên nhiên, là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên; đó là cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của loài người
Năm 1992, Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc tại Rio de Janeiro đã quy tụ các nguyên thủ quốc gia và các chuyên gia môi trường của tất cả các nước trên thế giới Hội nghị đã đánh giá tình trạng môi trường toàn cầu và đề ra các hành động cho thời gian tới Hội nghị đã soạn thảo và thông qua các công ước về vấn đề môi trường toàn cầu, trong đó Công ước đa dạng sinh học đã được thông qua với ba mục tiêu chính: (1) Bảo tồn đa dạng sinh học - sự đa dạng của các gen, các loài và các hệ sinh thái; (2) Sử dụng bền vững của thành phần của đa dạng sinh học; (3) Chia sẻ một cách công bằng và thỏa đáng các lợi ích của việc sử dụng các tài nguyên di chuyền/ nguồn gen
Để thực hiện các mục tiêu trên, công ước yêu cầu các bên tham gia phải cam kết thực hiện công việc sau: thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, phục hồi các hệ sinh thái suy thoái, bảo vệ bằng pháp luật các loài có nguy cơ bị tiêu diệt, hạn chế và quản lý các hoạt động có nguy hại đến đa dạng sinh học, xây dựng
và thực hiện các chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên sinh học…
Các chuyên gia về đa dạng sinh học khuyến cáo rằng chúng ta phải bảo vệ
đa dạng sinh học bởi vì: “Bảo vệ đa dạng sinh học đòi hỏi một sự thay đổi từ quan điểm của việc bảo vệ - bảo vệ thiên nhiên khỏi các tác động của sự phát triển - tới nỗ lực tìm kiếm tài nguyên sinh học để đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi vẫn đảm bảo được tính bền vững lâu dài của trái đất” [9]
1.1.1.4 Vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quan trọng của môi trường đối với hoạt động kinh tế Dường như, khi loài người bắt đầu được hình thành thì sự tiến hóa của giới tự nhiên đã chuẩn bị sẵn sàng những nguồn tài nguyên cần thiết để xã hội loài người sinh thành, phát triển Loài người bước vào đời sống
Trang 16kinh tế của mình bằng lao động sản xuất ra của cải vật chất; sự phát triển của loài người xét cho cùng là sự phát triển của sản xuất Sự thay đổi của phương thức sản xuất cũng chính là sự thay đổi trong phương thức biến đổi, chế biến, lợi dụng những nguồn lực tự nhiên Như vậy tài nguyên thiên nhiên chính là đối tượng ban đầu của quá trình sản xuất, hay có thể nói tài nguyên thiên nhiên là
cơ sở tự nhiên của đối tượng sản xuất
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vô cùng quý giá và không thể thiếu đối với sự phát triển của xã hội loài người Thực chất của quá trình sản xuất là quá trình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên Trong thời kỳ xa xưa khi con người còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, người ta chỉ biết sử dụng những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên (tài nguyên rừng), chủ yếu là các động vật hoang dại trên cạn và dưới nước để làm nguồn thức ăn Dần dần khi con người biết làm nông nghiệp, thì đất và nước trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng Sự ra đời của các ngành công nghiệp dẫn đến việc khai thác mạnh
mẽ các tài nguyên khoáng sản
Đất là nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại Mọi hoạt động sinh sống,
cư trú, di chuyển, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai thác tài nguyên đều xảy ra trên mặt đất và ở các lớp đất phần mặt Tài nguyên đất là cơ sở vật chất quan trọng; đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu Trong quá trình lịch sử, loài người đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác và sử dụng các loại đất cho sản xuất và cư trú
Nước là một nguồn tài nguyên có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với sự sống và sự phát triển của xã hội loài người Nước là thành phần cấu thành sinh quyển và tác động trực tiếp đến các yếu tố của thạch quyển, khí quyển Nước có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nước tham gia vào phản ứng quang hợp của cây xanh để tạo thành chất hữu cơ, là thành phần của mọi cơ thể sống
Tài nguyên khoáng sản là cơ sở của nguyên liệu Người ta tính rằng có tới 90% sản phẩm công nghiệp nặng được sản xuất từ nguyên liệu khoáng sản Do quy luật tự nhiên, sự phân bố khoáng sản trên trái đất rất không đều, vì vậy có
Trang 17nước có nền kinh tế phát triển, các ngành khai khoáng và luyện kim phát triển rất mạnh; ở những nước kém phát triển do thiếu vốn và kỹ thuật nên tài nguyên khoáng sản của họ thường do các nước phát triển khai thác và sử dụng
Tài nguyên rừng có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người Rừng không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế mà còn có vai trò chủ chốt trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái Rừng là nguồn cung cấp gỗ, nhiều loại lâm sản và các sản phẩm từ gỗ Số liệu thống kê từ nhiều nguồn tài liệu cho thấy trung bình trên thế giới có 45% lượng gỗ khai thác được con người sử dụng làm chất đốt, 35% dùng cho xây dựng và trang trí, 12% sử dụng làm bột giấy và số còn lại sử dụng cho nhiều nhu cầu khác của con người Rừng là môi trường sống của nhiều loài động vật, đồng thời rừng là kho thực phẩm, dược liệu vô giá cho con người Rừng còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự cân bằng sinh thái của tự nhiên như: cân bằng thành phần khí quyển ; cân bằng nhiệt ẩm, điều hòa khí hậu; bảo vệ và điều hòa nguồn nước; bảo vệ đất; chống xói mòn; chắn bụi, cát, giữ vệ sinh môi trường
Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, sự bùng nổ dân số cùng với kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho nguồn tài nguyên rừng ngày càng bị giảm sút và môi trường bị tác động hết sức mạnh mẽ Quy mô ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên không chỉ hạn chế ở từng khu vực, từng quốc gia mà trở thành vấn đề toàn cầu Nhiều số liệu đưa ra để cảnh báo nhân loại rằng: nguồn tài nguyên rừng bị tài phá mạnh mẽ, nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nặng nề, tài nguyên động vật bị giết hại tàn bạo, môi trường nước và không khí bị ô nhiễm nặng, tài nguyên khoáng sản đã kiệt quệ đến mức báo động (quặng nhôm chỉ đủ cho loài người được 570 năm, các quặng sắt, kẽm chì chỉ còn tương ứng 250, 19, 23 năm)
Cùng với sự phát triển của dân số và tiến bộ khoa học kĩ thuật thì nhu cầu của con người về vật chất và năng lượng cũng tăng mạnh Những nguồn tài nguyên này không phải là vô hạn, và những quan niệm ngây thơ, lạc quan về việc tận dụng sự giàu có về thiên nhiên đã vĩnh viễn đi vào quá khứ Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhu cầu về khai thác và sử dụng tài nguyên
Trang 18đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Do vậy, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách tiết kiệm, hợp lí và hiệu quả có vai trò quan trọng đối với các quốc gia và toàn cầu [9]
1.1.2 Tri thức bản địa
1.1.2.1 Khái niệm
Tri thức bản địa (Indigenuos Knowledge) được coi trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi Cho tới nay, khái niệm tri thức bản địa hay tri thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng Mặc dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng tri thức bản địa được nghiên cứu luôn là một hệ thống các tri thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ tri thức bản địa (indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (local knowledge) dùng để chỉ những thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Đó là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết tri thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan Những tri thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại.[6]
Song song với thuật ngữ tri thức bản địa có thuật ngữ “tri thức chính thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật
Trang 19lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Trong khi đó tri thức bản địa được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của tri thức bản địa là tính đặc hữu, nó là
hệ thống tri thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất định (R Chambers, M.Warren,1992)
Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống tri thức tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với
sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993) Như vậy ở đây có ba yếu tố góp phần hình thành nên tri thức bản địa đó là: (1) môi trường địa lý xác định, (2) trong thời điểm không gian nhất định và (3) là của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể đóng góp nên Hay nói một cách khác, tri thức bản địa hình thành trong điều kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng góp của một cộng đồng tại khu vực cụ thể Tri thức bản địa luôn được kế thừa và phát triển, bản chất của nó là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác, nó được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống và nó chỉ tồn tại trong môi trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996)
Định nghĩa tri thức bản địa theo quan điểm tri thức kỹ thuật bản địa là Hệ thống tri thức bản địa là bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định Hệ thống tri thức bản địa của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và vẫn duy trì phát triển Như vậy trong cách tiếp cận này, tri thức bản địa
được xem xét trên cơ sở hệ thống tri thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại Các tổ hợp này được xem là bản địa khi
nó tồn tại, phát triển trong một phạm vi nhất định và nó mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định Cách định nghĩa này sát thực đúng với bản chất của tri thức bản địa và phù hợp với hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài Quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng cách phân
Trang 20loại của E.Mathias về hệ thống tri thức bản địa (E.Mathias, 1995) được xem xét nghiên cứu theo các nội dung sau:
1- Các kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất đã được sàng lọc
2- Niềm tin tín ngưỡng thần linh
3- Cách thức tổ chức sản xuất
4- Các thao tác kỹ thuật trong hoạt động sản xuất
5- Các loại công cụ sản xuất tương ứng
6- Quá trình vận động tiếp thu và thử nghiệm
Cách phân loại trên được đề tài áp dụng nghiên cứu trong phạm vi một số giá trị tri thức bản địa ở lĩnh vực sản xuất (nông nghiệp trồng trọt, nghề thủ công) và hoạt động quản lý khai thác tài nguyên Tuy nhiên trên quan điểm hệ thống, tri thức bản địa luôn nhấn mạnh đến tính tổng thể, tất cả các thành phần trong hệ thống đều có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Do đó các vấn đề nghiên cứu của đề tài được đặt trong một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ lẫn nhau phản ánh được các đặc trưng và giá trị của nó [6]
1.1.2.2 Đặc điểm
Tri thức bản địa có đặc tính phân cấp độ thuộc lứa tuổi, giới tính và đặc điểm của nhóm xã hội Có những tri thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồng hiểu biết; có những tri thức bản địa tồn tại theo gia đình, dòng họ chỉ phạm vi một số người hiểu biết; lại có những tri thức chuyên nghiệp - chuyên biệt, chỉ có ở một số ít người mang tính đặc thù …[6]
Tri thức bản địa được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trong cộng đồng được hoàn thiện củng cố dần và truyền lại cho thế hệ sau bằng truyền khẩu, bằng các bài hát, ngôn ngữ, luật tục, (G.Broding và M.Schonberger, 2000) Để phân tích các đặc trưng của tri thức bản địa, các nhà khoa học thay
vì giảng giải các kiến thức khoa học cho người dân hiểu mà ngược lại họ ngồi lắng nghe những kinh nghiệm của người dân như một học trò thực thụ Kiến thức bản địa bắt đầu được nhìn nhận một cách nghiêm túc trong sự so sánh với các kiến thức khoa học
Trang 21Bảng 1: Bảng so sánh tri thức bản địa và kiến thức khoa học [10] Các lĩnh
- Hội nhập toàn thể, dựa vào
hệ thống
- Được lưu giữ thông qua truyền miệng và trong các thực hành văn hoá
- Chỉ tính tới thế tục; loại trừ siêu nhiên
- Phân tích hay quy giản, dựa vào các tập hợp nhỏ của các đoàn thể
- Được lưu giữ thông qua sách vở và máy tính
- Chân lí được tìm thấy từ
sự lí giải của con người
- Giải thích dựa vào giả thuyết, lí thuyết và quy luật
- Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương Cách dạy
và học
- Lĩnh hội mất nhiều thời gian (kiến thức chậm)
- Học thông qua cách sống, trải
- Lĩnh hội nhanh (kiến thức nhanh)
- Học thông qua giáo dục
Trang 22Bảng 2: Bảng so sánh tri thức bản địa và chi thức hàn lâm [6]
Học qua quan sát và thực hành Học qua lý thuyết được ứng dụng Tiếp cận tổng thể hay hệ thống Tiếp cận đơn lẻ bộ phận
Kiểu suy nghĩa trực giác Lý luận phân tích và quy nạp
Dữ liệu do người lao động làm ra (có
Dùng ngôn ngữ đương đại
Môi trường như một bộ phận của
những mối quan hệ xã hội - thần linh
Quản lý môi trường có tổ chức, có thứ bậc, ngăn nắp
Dựa trên những kinh nghiệm thu
Trang 23được bảo lưu trong ký ức cộng đồng và hoàn thiện qua kế thừa phát triển của các thế hệ trong cộng đồng
Các đặc tính cơ bản của tri thức bản địa bao gồm:
- Tính hệ thống là đặc tính cơ bản của tri thức bản địa, khả năng bao hàm rộng lớn ở nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản
lý sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, chọn giống cây trồng); sinh học (thực vật học, kỹ thuật chăn nuôi); chăm sóc sức khoẻ con người (bằng các phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên … nên việc nghiên cứu tri thức bản địa phải xem xét trong mối liên quan tổng thể trong cộng đồng, các vấn đề đều có mối liên quan
- Tính tiếp biến và tích hợp, luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh môi trường là đặc tính quan trọng của tri thức bản địa Chính đặc tính này khiến cho tri thức bản địa luôn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh
- Tính đồng quy cũng là một đặc tính của tri thức bản địa, hầu hết đó là sự đồng quy về kỹ thuật bản địa, do đó đôi khi rất khó xác định một kỹ thuật hoặc một phương pháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó là một sự kết hợp giữa các yếu tố địa phương và kiến thức được đưa đến địa phương đó Tri thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên được kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng người Nhìn chung tri thức bản địa có một số đặc điểm sau:
1- Đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định
2- Dựa trên những kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời khác qua những kênh thông tin thầm lặng
3- Có quá trình nghiệm sinh (vận động thử nghiệm, tích luỹ và hoàn thiện theo thời gian trong hoạt động sống của con người) Phù hợp với môi trường, văn hóa từng vùng, từng cộng đồng, tộc người
4- Vận động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới 5- Tri thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của người dân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền
Trang 24nghề dân gian
Tri thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng các ví dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng Các hình thức giao tiếp và tổ chức của cộng đồng có ý nghĩa sống còn đối với các quá trình ra quyết định ở cấp độ địa phương; có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo tồn, phát triển và phổ biến các tri thức bản địa (Hà Hữu Nga,2009) [6]
1.1.3 Mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên và tri thức bản địa
Kiến thức bản địa của mỗi dân tộc, chứa đựng những bài học về cách ứng
xử cần thiết của con người với môi trường xung quanh để tồn tại và phát triển
Đó cũng là những quy tắc ứng xử của cá nhân, của cộng đồng và của các cộng đồng với nhau Những kiến thức, luật tục được trao truyền qua nhiều thế hệ, chủ yếu là truyền miệng của từng dân tộc, từng địa phương là một trong những nền tảng của việc đưa ra những giải pháp sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường
Trên thế giới đã có không ít những công trình nghiên cứu về những kiến thức bản địa trong quản lý, sử dụng tài nguyên và đã khẳng định việc phát triển bền vững nguồn tài nguyên phải dựa vào kiến thức địa phương Kết quả nghiên cứu của Ruguelito M.Pastores và Romeo E SanBuenaventura đã chỉ ra rằng những người dân bản xứ đóng góp rất lớn và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tìm hiểu và lựa chọn những loài cây cơ đặc tính sinh thái và sinh học phù hợp với địa phương Công trình nghiên cứu của Paul Henbinck về “Mạng lưới kiến thức chính thống và không chính thống trong bảo tồn lâm nghiệp ở Zimbabuê” cũng đã cho thấy để quản lý và bảo tồn rừng bền vững phải dựa vào tri thức địa phương
Trong bài viết “Sử dụng kiến thức bản địa trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao” (Báo cáo trình bày tại tại hội thảo, Hà Nội năm 1999), Gs Lê Trọng Cúc cho rằng: kiến thức bản địa có vai trò rất quan trọng trong việc xác định các vấn đề, các hạn chế ảnh hưởng đến việc quản lý hệ sinh thái Nó cũng có giá trị như một nguồn thông tin có xu hướng dài và những sự
Trang 25khoa học đang tiến hành nghiên cứu ở địa phương đó Kiến thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham gia của người dân và đạt được
sự bền vững Các dự án phát triển dựa trên cơ sở kiến thức địa phương sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì người dân biết phải làm gì và làm như thế nào, đó chính là cơ sở của sự thành công
Kiến thức bản địa là cơ sở của sự hiểu biết về các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên Loại kiến thức này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nhà khoa học, các nhà lập kế hoạch Nó có thể được xem xét
và so sánh với hệ thống kiến thức quốc tế, từ đó xác định được những khía cạnh
bổ ích của hệ thống, cũng như khía cạnh có thể cải tiến thông qua các kỹ thuật, công nghệ trên cơ sở khoa học hiện đại
Trong điều kiện khoa học kĩ thuật hiện đại, kiến thức bản địa vẫn đang được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu rất nhiều Chúng ta có thể tìm thấy ở kiến thức bản địa một nguồn trí tuệ to lớn và cũng chính nhờ kho kiến thức này mà nhiều giải pháp công nghệ mới ra đời Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta, một đất nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.[9]
Khu vực miền núi phía Bắc đặc có vị trí chiến lược quan trọng, nơi cư trú lâu đời của các dân tộc ít người như Thái, H’Mông, Tày, Nùng, Dao, Hà Nhì…Cũng giống như cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm lịch sử thích nghi và gắn bó với các điều kiện tự nhiên của từng địa
Trang 26phương, mỗi dân tộc ở miền núi phía Bắc đã hình thành một kho tàng kiến thức riêng, đặc sắc và phong phú trên nhiều lĩnh vực Đó có thể là về tự nhiên (Sinh quyển, thảm thực vật, nguồn nước, vốn rừng…), về xã hội (Quản lý xã hội, truyền thống tự quản, quản trị xã hội ở miền núi…), về sản xuất (Tập quán canh tác, phương thức sản xuất…), về văn hóa, y tế… cần được kế thừa, phát huy trong xây dựng đời sống văn hóa mới
Nét đặc sắc về tri thức riêng ta nhận thấy trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của dân tộc H’Mông,Dao Trong quá trình khai thác rừng, đặc biệt là khai thác gỗ tự nhiên đồng bào đã rút ra khinh nghiệm là khi chặt cây bao giờ cũng để lại một đoạn gốc khoảng 50cm đến 1 mét, như vậy sau một thời gian cây sẽ lên chồi và tái sinh trở lại.[9]
Chính hệ thống tri thức phong phú này đã giúp các dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc ở miền núi phía Bắc nói riêng tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ, tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây tri thức bản địa đang đứng trước nguy cơ bị mai một dần do nhiều lý do khác nhau Tri thức bản địa được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ Do vậy những người hiểu biết là những người già, thầy cúng, phụ nữ lớn tuổi Khi những người này chết đi do tuổi già, chiến tranh hay dịch bệnh thì kiến thức rất dễ bị thất truyền Mặt khác do truyền bằng miệng cho nên kiến thức bản địa thường có nhiều dị bản, bên cạnh đó việc phát triển để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội hiện đại cũng là một trong những lý do đang làm những tri thức của các dân tộc ở miền núi phía Bắc dần bị biến đổi và mai một
1.2.2 Dân tộc Thái với việc sử dụng tri thức bản địa trong việc sử dụng
và bảo vệ tài nguyên rừng
Vùng cư trú của đồng bảo dân tộc Thái là những nơi tiếp cận với rừng rậm nhiệt đới, á nhiệt đới Sự giàu có về tài nguyên của rừng đã cung cấp cho cuộc sống của cư dân Tây Bắc Rừng được hình thành từ rất sớm nên có hệ thực vật lớn trên thế giới Như hệ Vân Nam- Hymalaya, hệ Nam Trung Hoa và hệ Ấn
Trang 27Độ - Mã Lai Về chủng loại có đến 100 họ, 500 loại gỗ lớn, 30 loại tre nứa,… Cây rừng có đủ cây ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới [12]
Từ xưa bản mường của người Thái đã được dựng lên từ những nguyên liệu lấy từ rừng Gỗ, tre từ hàng ngàn năm đã giúp họ dựng thành ngôi nhà sàn vững chắc Gỗ, tre dùng để làm cột kèo và kiến trúc của sàn, vỏ cây để buộc néo dằng dịt các bộ phận trong kiến trúc của ngôi nhà Nhiều nhà học giả khi nghiên cứu
về nhà sàn của người Thái đã hết lời khen lối buộc bằng vỏ cây của kiến trúc cổ Thái Đó là lối buộc cổ truyền vững chắc, chống được những trận gió xoáy khủng khiếp của vùng núi Cỏ tranh để lợp, tre làm lạt, nứa làm phên bương làm giát,… Có thể nói từ ngôi nhà sàn xinh xắn của đôi vợ chồng trẻ mới ra ở riêng đến cái nhà sàn cột kê đồ sộ năm, bảy gian trở lên của những đại gia đình, khi dựng nó người ta không hề sử dụng một tấc kim loại nào Gỗ tre còn giúp cho họ giả quyết đầy đủ nhu cầu về dụng cụ trong sinh hoạt, đồ trang sức,… Từ những dụng cụ đan lát để đựng rau cỏ đến những vật đựng châu báu, vải vóc,… đều đan bằng nan tre nứa Từ những máng đựng thức ăn cho gia súc đến những vật dụng đựng thức ăn cho người cũng thường làm bằng tre, gỗ Như vậy bất cứ một nhu cầu gì mà người ta cần đến tre, gỗ,… đều lấy ở trong rừng
Trong khuân khổ của một nền kinh tế tự nhiên, công cụ sản xuất của họ cũng phải lấy tre gỗ ở rừng về chế tác Cán thuổng, dao mai, bắp cày, cài bừa, gậy chọc lỗ,… bằng gỗ Tre gỗ còn dùng làm các công trình thủy lợi
Người Thái có rất nhiều loại gỗ tre quý Họ đã đặt tên cho những thứ gỗ tre
đó và đưa nó vào từng khâu sử dụng rất hợp lí Ví dụ như một loại gỗ mọc ở rừng vùng núi đá vôi gọi là “co pha mạy” (cây vách cây) dùng làm cột nhà; vì loại cây gỗ này có thể chôn xuống đất hàng chục năm mà không bị mối xông hay các chất hóa học trong đất ăn hao mòn Ván thì xẻ bằng các loại gỗ lát gọi
là “mạy dốm”, có vân đẹp và có độ bền Gỗ để làm mái hồi nhà sàn tròn như mai rùa gọi là “lúa mạy lạn” vừa bền, dẻo lại cứng Ngoài ra, để dùng vào các việc phải chôn xuống đất hoặc ngâm nước lâu năm, hoặc phơi sương, phơi gió, người ta dùng thứ gỗ gọi là “mạy lỉ” “mạy kén”… Rừng tre cũng có rất nhiều loại đã thuần chủng có đường kính bình quân từ 10- 12cm Tre nứa đã được họ
Trang 28sử dụng khá phổ biến nên đã có thành ngữ “cày có gióng với lá dong” (mạy póng, long chinh) để nói là vật cần dùng cho cuộc sống hằng ngày không thể thiếu được [12]
Rừng còn là nguồn cung cấp thức ăn hằng ngày cho các hộ nông dân Thái Thức ăn về động thực vật ở rừng đã nuôi sống con người từ khi lọt lòng mẹ đến lúc già, lúc chết Lấy của rừng về ăn nhưng của lấy ở rừng cũng đã quyện vào tâm tình của con người khá sâu sắc:
… “Cha mẹ nuôi hai ta bằng măng mai mọc bên khóm
Cha mẹ mớm hai ta bằng củ mài lùi bên bếp
Của trong rừng đã gắn với số nghèo với phận khó
Đôi ta sinh ra để thương nhau”… [12]
(Trích tập Tản Chụ)
Trang 29
Tiểu kết chương 1
Vùng núi phía Bắc nước ta là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống Trong quá trình sinh sống thì cộng đồng các dân tộc đã có rất nhiều những tri thức bản địa được đúc rút ra trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng từ rất lâu đời Mỗi dân tộc đều có những kinh nghiệm riêng trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó có dân tộc Thái Dân tộc Thái trong quá trình sử dụng và bảo vệ rừng đã có nhiều tri thức bản địa quý báu mà vẫn còn được lưu truyền đến tận bây giờ Vì vậy, những kinh nghiệm từ xa xưa của đồng bào dân tộc Thái cần được nghiên cứu và phát triển và kết hợp với những kiến thức khoa học cùng với các chính sách phát triển của nhà nước để sử dụng
và bảo vệ tốt tài nguyên rừng đạt được hiệu quả cao
Trang 30CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
RỪNG CỦA DÂN TỘC THÁI TẠI XÃ MƯỜNG SANG,
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 2.1 khái quát chung
Mường Sang nằm cách trung tâm huyện Mộc Châu khoảng 5km về phía nam dọc theo đường đi cửa khẩu Pa Háng
Trang 31Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Mộc Châu
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình
Trang 32Đặc điểm địa hình của xã phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi, hướng núi chạy theo hướng từ đông sang tây, có các khe, dâng dẫn nước tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Xã có núi Pha Đáng, núi đá Phạ Khí Sút, Phà Đẹng, Phà Đặm, Phà Mọng
và dãy núi Na Ché phân cách Mường Sang với Đông Sang, Mường Sang với Chiềng Sơn và đặc biệt có dãy núi Sam Sao là 1 vị trí ranh giới giữa Mường Sang - Chiềng Khừa, Mường Sang - Lóng Sập Có hang Co Păn, hang Tà Hừa, hang Bó Chọ, hang Võng Có thác Dải Yếm đã được tỉnh công nhận là danh lam thắng cảnh năm 2012 Suối Sập được bắt nguồn từ bản Bó Sập xã Lóng Sập chảy qua xã Chiềng Sơn qua Mường Sang có chiều dài 15km và đổ về Sông Đà
- Đất đai
Tổng diện tích tự nhiên 9.165 ha Trong đó, đất nông nghiệp 2.433.34 ha; đất lâm nghiệp 4.798.55 ha; đất chuyên dùng 508 ha; đất ở 43.14 ha; đất nghĩa trang 24.68 ha; đất chưa sử dụng 1.314.67 ha
Nhóm đất đỏ vàng trên núi, diện tích 1.800 ha, chiếm 19,64% diện tích tự nhiên đất có tầng dầy trung bình, độ phì kém, thường bạc mầu ít thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
Nhóm đất đỏ vàng trên đá biến chất, diện tích 2740 ha, chiếm 29,9% diện tích tự nhiên đất có tầng dày và độ phì cao, tỷ lệ mùn lớn thích hợp trồng các loại cây ăn quả và cây chè
Nhóm đất đen đá vôi, diện tích 1500 ha, chiếm 16,37% diện tích tự nhiên, đây là loại đất giàu mùn, trung tính hoặc kiềm, kết cấu tốt
Các loại đất khác diện tích khoảng 2.917 ha Hầu hết các loại đất ở xã Mường Sang có độ dày tầng đất khá, rất phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp như chè và các loại cây ăn quả, rau mầu
- Khí hậu
Xã Mường Sang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất khí hậu á nhiệt đới theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn khu vực Mộc Châu, các yếu tố khí hậu thời tiết đo được như sau: Nhiệt độ trung bình
Trang 3311 đến tháng 4 năm sau Mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 Lượng mưa trung bình 1.559,9 mm/năm Có những năm sương mù, sương muối, mưa đá, rét đậm, rét hại Nguồn nước phục vụ dân sinh và sản xuất chủ yếu là nước mặt và nước ngầm
- Khoáng sản
Khoáng sản của xã chưa được thăm dò, khảo sát đầy đủ song nhìn chung
xã Mường Sang nghèo về khoáng sản trên địa bàn chỉ có một số điểm khai thác
đá, cát sỏi và đất sét chủ yếu để sản xuất gạch ngói phục vụ nhu cầu sinh hoạt trên địa bàn xã với trữ lượng không lớn nên khả năng đầu tư khai thác quy mô lớn bị hạn chế
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Bảng 3: Diện tích cây trồng qua các năm của xã Mường Sang.[5]
Cây rau và hoa màu
Cây ăn quả
190
190
20 126,35
203
960 41,5
153
190
1402 44,5
263
Có nhiều loại cây mới được đưa vào trồng tại xã như cây mận hậu diện tích
là 86,35 ha Diện tích cây chè đang dần được phục hồi năm 2015 đã phục hồi
Trang 34được 6,1ha Chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng rau là 13 ha, từ diện tích rau màu sang trồng cây ăn quả là 105ha (2015)
Năm 2015 năng suất lúa đạt 6,5 tấn/ha; ngô đạt 4,5 tấn/ha ,tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 5.510 tấn
Trong chăn nuôi cũng được đầu tư phát triển về cả số lượng và chất lượng Công tác chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được thực hiện có hiệu quả, đưa giống mới đưa vào chăn nuôi đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Năm 2015 đàn gia súc là 1394 con trong đó: đàn trâu 685 con, đàn bò 466 con, đàn ngựa 116 con, đàn dê 117 con, đàn lợn trên 2 tháng tuổi 3099 con, đàn gia cầm 49.776 con, đàn ong 400 đàn
Nuôi trồng thủy sản tuy không là thế mạnh của địa phương, song việc tận dụng, khai thác diện tích ao hiện có (năm 2015 có 9,6 ha) để nuôi cá giải quyết được một phần thu nhập và nhu cầu thực phẩm trong nội bộ nhân dân
Xã Mường Sang có tổng diện tích đất lâm nghiệp 4.978,55 ha Trong đó, rừng sản xuất 2.697,85 ha, rừng phòng hộ 2.100,70 ha Các loại lâm sản trong diện tích rừng tự nhiên có nhiều loại lâm sản có giá trị kinh tế cao như nghiến, trai, pơ mu, đinh hương Thu nhập từ lâm nghiệp của xã một số năm gần đây
đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân
- Công nghiệp
Theo thống kê trên địa bàn xã hiện có điểm khai thác đá sỏi, cùng một số
cơ sở sản xuất đồ mộc, sửa chữa cơ khí nhỏ Bên cạnh đó các ngành kinh tế truyền thống của địa phương như đan lát, dệt thổ cẩm đã được đầu tư đúng mức chủ yếu phục vụ cho gia đình không mang tính chất sản xuất hàng hoá Tổng giá trị ngành công nghiệp, xây dựng ước tính đạt 5 tỷ đồng năm 2012 Các cơ
sở chế biến nông sản, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn từng bước được đầu tư máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế
sự ô nhiễn về môi trường
- Dịch vụ
Hoạt động dịch vụ thương mại trên địa bàn xã trong những năm qua đã có
Trang 35nghiệp giữa các xã và vùng lân cận ngày càng được mở rộng, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ phù hợp với yêu cầu thực tiễn Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cung ứng hàng tiêu dùng Quy mô phát triển kinh
tế dịch vụ nhìn chung còn nhỏ lẻ, chủ yếu phát triển mang tính chất hộ gia đình Giá trị sản xuất hàng thương mại - dịch vụ ước đạt trên 3 tỷ đồng
2.1.3.2 Xã hội
- Dân cư và xã hội
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, dân số các dân tộc xã Mường Sang là 5102 người trong đó dân tộc Thái chiếm 63,6%, dân tộc Kinh chiếm 32,2%, dân tộc Mường chiếm 3,9%, các dân tộc khác chiếm 0,3%
Bảng 4: Bảng dân số các dân tộc xã Mường Sang.[5]
Trang 36Bảng 5: Bảng phân bố các dân tộc tại xã Mường Sang.[5]
Tên bản Số
hộ
Số dân
Gồm các dân tộc
Cách trung tâm xã
Tọa độ trung tâm
Trang 37- Cơ sở hạ tầng
Hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu trên địa bàn xã bao gồm: 06 đập xây, trong đó có (02 đập tràn đang trong giai đoạn thi công là đập Bãi Sậy và đập Suối Sập); 07 phai, 09 mương với tổng chiều dài khoảng 5,96 km công suất đáp ứng được cho 166,2 ha Trên địa bàn xã Mường Sang có hệ thống điện lưới quốc gia đường dây 35KV, đường dây 04KV đã được kéo đến 12/12 bản Trong xã có công trình thuỷ điện nhỏ Mường Sang 1 Có các trạm 35/0,4 KV, đặt ngoài trời treo trên cột Các máy biến áp dùng loại 3 pha có 06 trạm đặt tại các bản như bản Sò Lườn, bản Thái Hưng, bản Bãi Sậy, Tiểu khu 2, Nhà máy gạch TuyNel, bản Là Ngà 1 Số hộ dùng điện 1.370 hộ Đường dây cao thế (35KV ) phục vụ nhân dân trong xã với chiều dài 30km Tổng đường dây hạ thế 25km
Xã Mường Sang có tuyến đường chính là quốc lộ 43 chạy qua với tổng chiều dài đường trục xã và liên xã khoảng 29km, đường trục bản 21,51km, đường ngõ xóm 3,21km Mạng đường chính của xã được phát triển dưới dạng xương cá Các tuyến đường liên bản và vào bản phát triển theo chiều ngang từ đường chính vào các bản, tạo ra sự thuận tiện, thông suốt trong giao thông Tuyến đường quốc lộ 43 có bề mặt đường rộng 3,5 - 5 m đường nhựa hoá Tuyến đường Mường Sang - Chiềng Khừa rộng 3,5 - 5 m chưa được bê tông hoá Tuyến đường Bản Sò Lườn - Bản Cóc rộng 3,5 - 5 m đường chưa bê tông hoá
Xã Mường Sang có hệ thống sông, suối gắn liền với địa hình của xã và có nhiều con suối nhỏ được chia tách từ suối Văng Lin chảy dọc theo hướng quốc
lộ 43 đổ về suối Sập có tổng chiều dài khoảng 15 km Hệ thống các cầu nằm trên quốc lộ 43 gồm những cầu như cầu Vòm, cầu Là Ngà 1, cầu trắng Bản Vặt, cầu Sò Lườn Mỗi cầu dài khoảng 10 - 15 m Xã có những phương tiện vân tải như ôtô tải dưới 3,5 tấn, ôtô tải trên 3,5 - 10 tấn, ôtô tải trên 10 tấn Tại trụ sở
Uỷ ban nhân dân xã có 01 trạm truyền thanh và 01 bưu điện văn hoá, 1398 hộ
có rađiô, tivi Điện lưới quốc gia về xã năm 2001, đến nay 100% số hộ được dùng điện lưới quốc gia.[5]
- Về giáo dục
Công tác dạy và học từng bước được nâng cao về chất lượng, hiệu quả,
Trang 38duy trì kết quả phổ cập tiểu học, trung học cơ sở, phổ cập giáo dục mần non đúng độ tuổi, quan tâm đến công tác đào tạo, phát triển các hình thức học tập, tăng cường nâng cấp sửa chữa cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, vận động con em trong độ tuổi đến trường đảm bảo 100%, duy trì sĩ số học sinh, số lớp học đảm bảo theo kế hoạch, giảm tối đa số học sinh bỏ học giữa chừng
Đến hết năm 2015, toàn xã có 3 nhà trường, 45 lớp học, 870 học sinh, 80 giáo viên Trong đó, giáo viên tiểu học có 37 giáo viên, 24 lớp, 345 học sinh; giáo viên trường trung học cơ sở có 16 giáo viên, 10 lớp, 219 học sinh; giáo viên mầm non có
27 giáo viên, 11 lớp, 306 cháu ở các nhóm tuổi Tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đến trường đạt 100%, tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%
Mở được 4 lớp học chữ Thái tại 4 bản: Nà Bó 1, Nà Bó 2, Bản Lùn, Bản Vặt Với 60 học viên Mở được 25 lớp tập huấn cho bà con về kỹ thuật trong sản xuất cây lúa, việc sử dụng các loại giống cây trồng như ngô lai, các loại cây
ăn quả, cây rau, củ quả có chất lượng, đồng thời mở các lớp tập huấn về việc sử dụng an toàn hiệu quả các loại thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc bảo vệ thực vật đem lại hiệu quả cao về kinh tế và bảo vệ môi trường
- Về y tế
Trạm y tế từng bước được nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, làm tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người già, người có công và các đối tượng chính sách khác, tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin cho trẻ em trong độ tuổi và phụ nữ có thai Phấn đấu đưa trạm y tế xã đạt trạm y tế xã quốc gia; không có trẻ em dưới 1 tuổi tử vong, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn 17%, tỷ lệ người mắc các bệnh xã hội 0,07%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 1,19%
2.1.4 Lịch sử hình thành vùng đất Mường Sang và người Thái ở Mường Sang
Theo truyền thuyết trước kia thì Mường Sang là một địa bàn khá lớn bao gồm một số vùng đất thuộc Lào Trong đó, cư dân chủ yếu là người Thái chiếm
đa số của vùng Hiện nay theo sự phân chia hành chính mới một phần khu vực
Trang 39Sang xưa nay thuộc huyện, hoặc một tỉnh khác Nhưng về dân cư và đặc điểm văn hóa về cơ bản vẫn giữ được những đặc điểm, truyền thống của người Thái ở vùng Mường Sang trước đây
Tên gọi Mường Sang xuất hiện trong truyền thuyết về cuộc di cư lớn của người Thái trắng di cư từ Lào sang Việt Nam Đó là tên phát âm chênh lệch của
“Mường Khang” có nghĩa là “Mường Gang”
Tương truyền, khi Pha Nha Nhọt Chom Cằm (Nhọt Cằm) thủ lĩnh cuộc di dân từ Lào sang Mường Sang Khi mới được sinh ra, trong ba năm đầu không
ăn, không nói, chỉ ngồi khóc Vua cha vô cùng lo lắng mới bế con đi chỉ tên tất
cả các món ăn ngon nhất trên thế gian để xem con thích ăn món nào sẽ cho ăn món đó Nhọt Cằm không chỉ vào những món “ăn cao lương mĩ vị” mà lại chỉ vào cái cày bằng gang thép Vua cha đành bẻ mũi nhọn của cày mang về tán nhỏ mớm cho chàng ăn, Nhọt Cằm đã ăn lưỡi cày đó mà lớn lên như thổi, trở thành một cậu thanh niên tuấn tú vạm vỡ Để tưởng nhớ công lao của Nhọt Cằm
đã dẫn đầu đoàn người di cư đến Mường Sang, khi đến nơi cư trú ổn định người dân mới đặt tên quê hương mới của mình là “Mường khang” - ngụ ý là “Mường Gang” Về sau, “Mường khang” biến âm thành Mường Sang Bên cạnh đó cũng
có ý kiến cho rằng Mường Sang còn có tên gọi khác là “Mường Mọk” với ý nghĩa (mường có nhiều mây bao phủ, hay có sương mù)
Về quá trình hình thành vùng đất này đã có lịch sử từ lâu đời, lại nằm ở vị trí biên cương cửa ngõ Tây Bắc của đất nước, nên Mường Sang từ xa xưa được gọi là vùng đất xung yếu, có một vị trí chiến lược quan trọng trong lịch sử dựng
và giữ nước của dân tộc ta Khoảng cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XIV, Nguyễn Bá Thống một danh nho nổi tiếng thời Trần khi lên miền Tây Bắc, ngang qua xứ này đã cảm kích làm một bài phú Thiên Hưng Trần, trong đó có đoạn nói về vùng đất này như sau:
“… Che giữ cho các trấn như dậu như phên
Án ngữ miền thượng du làm then làm chốt…”
Từ thửa các vua Hùng dựng nước, miền đất Mường Sang thuộc bộ Tân Hưng - một trong 15 bộ của nước Văn Lang Thời Bắc thuộc đời Trần thuộc