Vì thế, cách thức giáo dục cho học sinh về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc thông qua các bài học lịch sử cụ thể còn đơn điệu, nhàm c
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cục 6
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số quan niệm 7
1.1.2 Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử 13
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 15
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Thực trạng của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 20
1.2.2 Nguyên nhân thực trạng 22
1.2.3 Định hướng 23
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung của khóa trình lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 25
Trang 22.1.2 Mục tiêu 25
2.1.3 Nội dung 27
2.2 Những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 28
2.2.1 Thời cổ đại 29
2.2.2 Thời trung đại 29
2.2.3 Thời hiện đại 31
2.3 Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông 32
2.3.1 Trong giờ học nội khóa 33
2.3.1.1 Sử dụng tài liệu tham khảo 33
2.3.1.2 Sử dụng tranh ảnh lịch sử 42
2.3.2 Trong hoạt động ngoại khóa 45
2.3.2.1 Tổ chức cuộc thi: “Tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử” 46
2.3.2.2 Tổ chức báo cáo chuyên đề về vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch sử dân tộc 49
2.3.2.3 Tổ chức sân khấu hóa lịch sử theo chủ đề 51
2.4 Thực nghiệm sư phạm 53
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 53
2.4.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 54
2.4.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 54
2.4.4 Kết quả thực nghiệm 55
KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3Dưới góc độ triết học, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, giữ vai trò quyết định đối với tiến trình lịch sử Từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay, lịch sử xã hội là do nhân dân lao động xây dựng nên, họ chính là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, các giá trị văn hóa tinh thần và là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển
Thực tiễn của lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh
to lớn của quần chúng nhân dân trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước được đúc kết trong câu nói bất hủ của Nguyễn Trãi:“Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”
[1; 139]
Kế thừa quan điểm triết học của các nhà tiền bối đi trước, Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng khẳng định rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân, và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai
trò quan trọng của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn nhận thức được tầm quan trọng đó
và vận dụng trong quá trình xây dựng đất nước
Ngày nay, Việt Nam đang trong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, đòi hỏi khách quan đặt
ra là phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự đóng góp
Trang 4để thực hiện thành công định hướng đề ra Vì thế, trong mỗi công cuộc cách mạng thì vai trò của quần chúng nhân dân là cực kì quan trọng
Sức mạnh, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân là như vậy, nhưng một vấn đề đặt ra là làm thế nào để khơi gợi, phát huy được tối đa nguồn lực của sức mạnh ấy? Trọng trách này đặt lên vai của sự nghiệp giáo dục trong đó có bộ môn lịch sử
Môn lịch sử cũng như các môn khoa học khác, có ưu thế riêng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông và đặc biệt có ưu thế trong việc giáo dục cho học sinh biết về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Tuy nhiên, trong những năm qua, việc giáo dục cho học sinh biết về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử còn chưa được chú trọng và đặt đúng
vị trí của nó Thông thường, ở những bài học lịch sử có chứa đựng nội dung về vai trò của quần chúng nhân dân, giáo viên chỉ giới thiệu sơ qua hoặc chỉ cung cấp kiến thức cơ bản trong bài học cho học sinh rồi thôi chứ chưa chú trọng tạo biểu tượng sinh động hay sử dụng các hình thức, biện pháp khác để lôi cuốn học sinh Vì thế, cách thức giáo dục cho học sinh về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc thông qua các bài học lịch
sử cụ thể còn đơn điệu, nhàm chán và kém hấp dẫn Do đó, học sinh không hiểu được hết sức mạnh, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, tình hình chính trị đang có những diễn biến phức tạp, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn vấp phải sự chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, những tranh chấp xung quanh vấn
đề chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc ngày càng trở nên căng thẳng Trong bối cảnh đó, việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử nhất là giai đoạn hiện nay càng trở nên cần thiết Thông qua việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, việc lồng ghép, giáo dục cho học sinh
về vai trò của quần chúng nhân dân không chỉ làm rõ hơn nội dung kiến thức cơ bản, giúp học sinh nhớ kĩ, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức, có thái độ đúng đắn với các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn giúp học sinh nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong mỗi giai đoạn lịch sử; giáo dục niềm tự hào,
Trang 5niềm tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân; bồi dưỡng, vun đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số biện
pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông” làm khóa luận tốt nghiệp
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với bộ môn lịch sử, vấn đề giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên trước đó, ở các bộ môn khoa học khác, đặc biệt là bộ môn Triết học, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch
sử đã trở thành đề tài được nhiều nhà lý luận quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, được đề cập nhiều trong các sách giáo trình, sách chuyên khảo dùng trong các trường đại học Có thể kể đến một
Các công trình trên đã đề cập một cách tương đối có hệ thống những vấn
đề lý luận về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử Đưa ra các luận điểm cơ bản về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển của lịch sử xã hội, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và
cá nhân trong lịch sử, trong đó quần chúng nhân dân giữ vai trò là lực lượng
Trang 6Khi đề cập đến vấn đề con người, vai trò, chức năng của nguồn lực con
người đối với sự phát triển xã hội, tác giả Đỗ Nguyên Phương trong “Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002” khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quyết định sự phát triển của
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới, mà con người ở đây chính là lực lượng quần chúng nhân dân lao động
Trong cuốn giáo trình“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 2008” (Phan Công Nghĩa chủ biên), tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề quần chúng nhân dân và vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử nhưng mang tính khái quát, chưa đi sâu vào từng giai đoạn, thời kì lịch sử cụ thể
Trong tác phẩm“Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 9), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996” tuy không nói nhiều về vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử nhưng Người cũng đã đề cập đến vai trò to lớn của quần chúng trong việc sáng tạo ra những của cải vật chất, các giá trị văn hóa tinh thần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc
Tác giả Lê Duẩn trong cuốn “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1976” cũng đã đề cập đến vai trò của quần chúng nhân dân
với tư cách là động lực của các cuộc cách mạng xã hội, mà cụ thể là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1930 đến 1945
Ngoài các nguồn tài liệu nêu trên, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử còn được luận bàn trong các văn kiện Đảng, đặc biệt là trong “Văn kiện Đảng toàn tập (tập 3,6,7) Mặc dù được diễn giải với các ngôn từ khác nhau nhưng tựu chung lại các văn kiện đề thống nhất cho rằng quần chúng nhân dân
là lực lượng đông đảo nhất, mạnh mẽ nhất, đấu tranh kiên quyết nhất trong các phong trào cách mạng
Như vậy, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử đã thu hút
sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà lý luận Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên chỉ mang tính định hướng về thế giới quan và phương pháp luận liên quan đến vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Cho đến nay chưa có một công
Trang 7nghiên cứu chuyên sâu nào đưa ra được các hình thức và biện pháp để giáo dục cho học sinh biết về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử nói chung, lịch sử Việt Nam nói riêng Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới của nước
ta hiện nay Đề tài đi sâu làm rõ vai trò, ý nghĩa cũng như những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử, đồng thời đề xuất một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân thông qua dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Vị trí, ý nghĩa, những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân Qua đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục và giáo dục lịch sử, lý luận về phương pháp dạy học bộ môn
Trang 8Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như: nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,… đề tài còn sử dụng phương pháp thực nghiệm - tiến hành soạn giáo án thực nghiệm
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Khẳng định vai trò, ý nghĩa, những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân Đồng thời đề xuất một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam
ở trường phổ thông Việc đề xuất những biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử Việt Nam nói riêng; giúp các em có những nhận thức đúng đắn về vai trò và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân; góp phần giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm đối với quê hương đất nước, với những thành quả mà ông cha ta đã giành được, lòng tự hào, niềm tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân lao động trong mỗi thời kỳ lịch sử; tạo cho học sinh sự hứng thú, yêu thích đối với môn học
Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho sinh viên các trường đại học
sư phạm, cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn cả nước
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
Trang 9CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ - LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số quan niệm
* Quan niệm về quần chúng nhân dân
- Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Theo quan điểm duy vật lịch sử, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
nhưng không theo phương thức hành vi đơn lẻ, rời rạc, cô độc của mỗi con người mà theo phương thức liên kết những con người lại với nhau để tạo thành sức mạnh cộng đồng xã hội, có tổ chức, có lãnh đạo nhằm giải quyết các nhiệm
vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội - cộng đồng đó chính là quần chúng nhân dân
Với quan niệm đúng đắn, khoa học về con người và bản chất của con người, Triết học Mác - Lênin đã lý giải một cách khoa học, thuyết phục về quần chúng nhân dân Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng nhân dân bao gồm tất cả nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong xã hội mà qua hoạt động của họ thúc đẩy sự phát triển của xã hội [2; 483, 484]
Khái niệm quần chúng nhân dân theo Chủ nghĩa Mác - Lênin được xác định bởi những nội dung sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là những người lao động sản xuất ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần để duy trì cho sự tồn tại và phát triển của xã hội (gồm những người lao động tự giác và sáng tạo)
Thứ hai, quần chúng nhân dân là những bộ phận dân cư chống lại giai cấp
thống trị áp bức bóc lột, đối kháng với nhân dân và chống lại các kẻ thù xâm lược
Thứ ba, quần chúng nhân dân là những giai cấp, những tầng lớp thúc đẩy
sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, từ sự phân tích trên cho thấy, quần chúng nhân dân là một phạm
Trang 10- Quan niệm của Hồ Chí Minh:
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ít lần đưa ra quan niệm về quần chúng nhân dân
Có lúc Người cho rằng quần chúng nhân dân bao gồm tất cả “trai, gái, già, trẻ” của “năm lớp Sĩ, Nông, Công,Thương, Binh” [12; 622]
Có lúc Người chỉ rõ rằng: “quần chúng nhân dân là bốn giai cấp công nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước” [14; 586]
Người còn nhấn mạnh rằng bốn giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản
dân tộc và những phần tử khác yêu nước “đó là nền tảng của quốc dân”
Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì quần chúng nhân dân bao gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau và chủ yếu
là những người lao động trong xã hội Đó là các tầng lớp trí thức (Sỹ); giai cấp nông dân - người sống bằng nghề làm ruộng (Nông); giai cấp công nhân (Công)
- người lao động chân tay, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, hầm mỏ…; tầng lớp thương nhân hay tầng lớp những người buôn bán (Thương); những người làm việc trong quân đội nhân dân hay là quân nhân của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (Binh) Các tầng lớp, giai cấp này “đoàn kết thành một khối” như “năm cánh ngôi sao vàng trên nền đỏ quốc kì Việt Nam” và là “nền tảng của quốc dân Việt Nam” [15; 498]
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định quần chúng nhân dân là bộ phận có chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp, giai cấp khác nhau liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế, chính trị,
xã hội của một thời đại nhất định Họ là những người sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần nuôi sống toàn bộ xã hội, họ là những người đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, đồng thời họ là lực lượng thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội thông qua những hoạt động của mình
Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàm những thành phần, những tầng lớp và giai cấp khác nhau, biến đổi theo sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất
Trang 11Ví dụ: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ với phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ thì quần chúng nhân dân là giai cấp nô lệ Trong xã hội phong kiến với phương thức sản xuất phong kiến thì quần chúng nhân dân là giai cấp nông dân, thợ thủ công, thương nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản, … Trong xã hội tư bản chủ nghĩa với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quần chúng nhân dân chính là giai cấp công nhân, nông dân, … Trong xã hội xã hội chủ nghĩa với phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, quần chúng nhân dân là giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức,…
Ngày nay, quần chúng nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng tiến bộ của nhân loại, trong đó lực lượng cơ bản là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đoàn kết đấu tranh phấn đấu thực hiện cho các mục tiêu cơ bản của thời đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Thực chất, quần chúng nhân dân là sự liên kết những cá nhân thành một khối thống nhất, được xây dựng trên cơ sở nền tảng là lợi ích căn bản nhằm thực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động và biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội
* Quan niệm về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
- Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Trước khi Chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và triết học duy vật đều chưa nhận thức được vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân trong lịch
sử, cụ thể:
Tư tưởng tôn giáo cho rằng, mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó được các cá nhân thực hiện
Đối lập với quan điểm nêu trên, triết học duy tâm lại khẳng định lịch sử nhân loại là lịch sử của các bậc vua chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc Còn quần chúng nhân dân chỉ là công cụ, phương tiện để sai khiến [4; 620]
Trong khi đó, những nhà duy vật trước Mác tuy không tin vào Thượng đế, thần linh, nhưng cũng không hiểu được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Họ cho rằng nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo
Trang 12Ở thời cổ trung đại, cũng có nhà tư tưởng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân nhưng lại không nhận thức được một cách khoa học vai trò đó
Bằng những lý luận sắc bén mang tính khoa học và cách mạng, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã bác bỏ luận điểm của các nhà triết học duy tâm và duy vật không triệt để trước đó và chứng minh được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử và khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử Bởi vì mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động của quần chúng nhân dân Hơn nữa tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, để biến lý tưởng, ước
mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở 3 nội dung chính sau:
Thứ nhất: Quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực
tiếp sản xuất ra của cải, vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội
Thứ hai: Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc cách mạng nào không
có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Họ là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng
Thứ ba: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa
tinh thần
Tóm lại, theo Chủ nghĩa Mác - Lênin xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử
- Quan niệm của Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Người khẳng định vai trò lao động, sản xuất ra của cải vật chất của quần chúng nhân dân là vô
cùng to lớn Người nói “xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Trí thức mở mang cũng là nhờ người lao động Vì vậy, lao động là sức
Trang 13chính của sự tiến bộ loài người” Vì thế, Người luôn nhắc nhở: “cơm chúng ta
ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi, nước mắt của nhân dân mà ra Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân” [14; 250]
Hồ Chí Minh còn khẳng định, dân là lực lượng chủ yếu, là gốc của các
cuộc cách mạng Người nhiều lần chỉ ra rằng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, quần chúng tự mình giải phóng lấy mình, không có anh hùng hào kiệt nào có thể cứu vớt được quần chúng, mà chính bản thân quần chúng được giác ngộ, được tổ chức đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Đông Dương mới có thể giải phóng cho mình được” [11; 11]
Quần chúng nhân dân không chỉ là những người sáng tạo ra của cải vật chất hay là lực lượng chủ yếu của các cuộc cách mạng xã hội mà theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân còn là những người tạo ra các giá trị văn hóa tinh
thần Người đã từng nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, quần chúng còn là những người sáng tác nữa” “Những câu tục ngữ của ta do ai làm ra? Đó là do quần chúng làm ra Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác
ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây muống Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý” [13; 250] Vì thế, những giá trị tinh
thần do nhân dân sáng tạo là cơ sở cho sự phát triển văn hóa nghệ thuật Sự hoạt động của quần chúng nhân dân là cơ sở sản xuất ra giá trị tinh thần cho xã hội Những tâm tư tình cảm, nguyện vọng là cơ sở vô tận cho sự nghiệp sáng tác, xây dựng và phát triển ngày càng cao về văn hóa tinh thần
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: quần chúng nhân dân đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử thì vai trò của quần chúng nhân dân cũng đều được xác định bởi các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất đảm
Trang 14Chúng ta biết rằng, con người muốn tồn tại trước hết cần thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu như: ăn, ở, mặc,… Để đáp ứng những nhu cầu đó, người ta phải không ngừng sản xuất Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động của toàn bộ xã hội, chứ không phải của một cá nhân nào Trong đó, lực lượng cơ bản, đông đảo và quyết định nhất là quần chúng nhân dân
Thứ hai, quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu của các cuộc cách
mạng xã hội
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Khi những mâu thuẫn đó lên tới đỉnh điểm, không thể dung hòa được thì tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấp phát triển đến giai đoạn đỉnh cao của nó sẽ thực hiện cuộc cách mạng xã hội để xóa
bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, đồng thời nó sẽ xóa bỏ chế độ xã hội cũ, thiết lập chế độ xã hội mới tiến bộ hơn
Quần chúng nhân dân bao giờ cũng là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định đến thắng lợi của mọi cuộc cách mạng Trong các cuộc cách mạng vĩ đại làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội, quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, tự giác, tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi Cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân, là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải sự nghiệp riêng của mỗi cá nhân, anh hùng nào Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh điều đó
Ở Việt Nam, vào thời kì cách mạng gay go nhất trong giai đoạn 1930 -
1945, Đảng ta đã xây dựng được khối liên minh giữa các cao trào cách mạng
1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945 Thông qua các cao trào đó mà Đảng ta
đã tập hợp, giác ngộ và đưa quần chúng nhân dân vào các cuộc đấu tranh Nhiều
tổ chức quần chúng, nhiều đoàn thể cách mạng được thành lập đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia, biến cách mạng trở thành ngày hội của quần chúng mà đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trang 15Thứ ba, quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra những giá trị văn
hóa tinh thần
Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản xuất vật chất, trong các cuộc cách mạng xã hội, mà còn đóng vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học,… đồng thời áp dụng những thành tựu đó trong hoạt động thực tiễn Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, y học, chính trị, đạo đức, … của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của các dân tộc trong mọi thời đại Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội
Ví dụ: Từ những hoạt động sản xuất vật chất, quần chúng nhân dân đã đúc kết ra những kinh nghiệm sản xuất, điều đó được thể hiện rõ qua những câu ca dao, tục ngữ:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
hay
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Chính hoạt động sản xuất vật chất và những sáng tạo của quần chúng đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của dân tộc trong mọi thời đại Các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng trở thành giá trị phổ biến
Tóm lại, xét từ góc độ kinh tế - chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư tưởng thì quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong tiến trình lịch
sử dân tộc
1.1.2 Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân không bao giờ có thể tách rời vai trò cụ thể của mỗi cá nhân, đặc biệt là vai trò của các cá nhân ở vị trí thủ lĩnh, lãnh tụ hay ở tầm vĩ nhân Ở bất cứ một thời kì nào, một cộng đồng xã hội nào, nếu lịch sử đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào
Trang 16Theo V.I.Lênin: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [26; 473]
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò của quần chúng nhân dân và vai trò của cá nhân trong lịch sử không tách rời nhau, trái lại có mối quan
hệ khăng khít với nhau, trong đó quần chúng nhân dân giữ vai trò quyết định, không có quần chúng nhân dân thì không thể có vĩ nhân - lãnh tụ Lãnh tụ là lãnh tụ của quần chúng, anh hùng là anh hùng của tập thể, là con đẻ của phong trào cách mạng, có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu mà lịch sử đặt ra đưa phong trào đi lên Cá nhân ưu tú, lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của phong trào quần chúng nên sức mạnh trí tuệ của họ bắt nguồn từ quần chúng nhân dân Như vậy có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với vĩ nhân
- lãnh tụ là mối quan hệ biện chứng Tính biện chứng của mối quan hệ này được biểu hiện trên những mặt sau:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ
Không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng không thể xuất hiện vĩ nhân - lãnh tụ Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của thời đại, nên họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển phong trào của quần chúng
Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi
ích của mình Sự thống nhất về mục tiêu cách mạng, hành động cách mạng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa, … Quan hệ lợi ích là cầu nối, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý chí và hành động Lợi ích đó vận động và phát triển tùy thuộc vào thời đại, vào địa vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà lãnh tụ là đại biểu Từ đó cho thấy mức
Trang 17độ thống nhất về lợi ích là cơ sở quy định sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa quần chúng và lãnh tụ trong lịch sử
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ biểu
hiện trong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn vĩ nhân - lãnh tụ là người định hướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ là quan
hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa khác biệt Không thể tuyệt đối hóa vai trò của quần chúng nhân dân mà bỏ qua vai trò của các vĩ nhân - lãnh tụ, hay tuyệt đối hóa vai trò của vĩ nhân - lãnh tụ mà xem nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, đồng thời cũng đánh giá cao vai trò của vĩ nhân - lãnh tụ, kiên quyết chống lại tệ sùng bái cá nhân
Những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều hết sức khiêm tốn, gần gũi với nhân dân, đề cao vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, xứng đáng là những vĩ nhân kiệt xuất
mà toàn thể loài người tôn kính và ngưỡng mộ
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
* Tình hình, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới:
Đất nước Việt Nam với một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, sau ngày độc lập thống nhất, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bước vào công cuộc xây dựng đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội với một nền nông nghiệp lạc hậu và bao tàn tích của chiến tranh để lại Bên cạnh đó, nước ta còn chịu sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch hòng chống phá công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nhìn lại quá trình cách mạng, nhân dân ta đã phải đánh đổi biết bao công sức, xương máu để giành lại độc lập tự do cho dân tộc
Ngày nay, từ quá độ đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội là một quá trình dài
Trang 18hành theo cơ chế thị trường và với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, có thể nói đây vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với nhân dân ta Vì thế đòi hỏi khách quan đặt ra là phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhà nước và sự đóng góp của nhân dân từ mọi phương diện nhằm tạo thành một sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công định hướng đề ra Vì thế trong mỗi công cuộc cách mạng thì vai trò của quần chúng nhân dân là vấn đề cực kì quan trọng
Hiện nay, trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định mục tiêu đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội là vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xác định rõ sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, sự nghiệp dựng nước và giữ nước không chỉ dành riêng cho một tộc người, một địa phương hay một giai cấp nào
đó mà là sự nghiệp chung của tất cả các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, thử thách lớn: nguy cơ tụt hậu, cạnh tranh khốc liệt với bên ngoài; nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; tình hình chính trị - xã hội có nhiều bất ổn; công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc luôn bị các thế lực bên ngoài lăm le chống phá, … thì ý thức đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân cần phải được đề cao hơn nữa
Để thực hiện thành công công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan
trọng nhất là phải có yếu tố con người Như Bác Hồ đã dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” Con người ở đây
chính là quần chúng nhân dân Chính vì lẽ đó đòi hỏi Đảng ta trong lãnh đạo phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải tăng cường chăm lo xây dựng, giáo dục quần chúng, phải xuất phát từ tâm tư nguyện vọng và lợi ích chính đáng của
quần chúng nhân dân Bác Hồ nói: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội nó chỉ có ở hàng chục triệu con người” Nói như thế để thấy rằng lực lượng ấy chỉ có ở
quần chúng nhân dân khi họ đã có ý thức tự giác cách mạng Do đó, quan điểm, đường lối của Đảng ta từ trước đến nay luôn khẳng định cách mạng là sự nghiệp
Trang 19của quần chúng nhân dân Mọi hoạt động phải dựa vào dân và vì lợi ích của nhân dân
Như vậy, trước những biến đổi của tình hình, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường hơn nữa công tác rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện quan liêu hống hách, xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân Nhìn nhận mọi sự phê bình, đóng góp của quần chúng nhân dân Có như vậy mới có thể lãnh đạo được nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
* Ưu thế của bộ môn lịch sử:
Lịch sử là một trong những môn học cơ bản được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Với tư cách là một môn khoa học xã hội, môn lịch sử có ưu thế đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Môn lịch sử thực hiện chức năng và nhiệm vụ do đặc trưng của nó quy định
Đối với học sinh trung học phổ thông, lịch sử không chỉ khơi dậy cho các
em lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với
Tổ quốc mà còn góp phần phát triển tư duy, nhất là tư duy biện chứng, giúp các
em độc lập suy nghĩ, sáng tạo, từng bước hình thành nhân cách con người Việt Nam, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
Chính vì ưu thế đặc biệt của bộ môn như vậy nên việc lồng ghép nội dung giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong các bài học lịch
sử là rất cần thiết Việc làm này không chỉ giúp các em “biết” mà còn “hiểu” sâu sắc về lịch sử, rằng lịch sử của dân tộc Việt Nam là thành quả quá trình hoạt động sáng tạo của quần chúng nhân dân hay nói cách khác, quần chúng nhân dân là những người làm nên lịch sử, là những người đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
* Vai trò:
Giáo dục thế hệ trẻ bao giờ cũng là mối quan tâm đặc biệt và được ưu tiên
Trang 20Nhà trường phổ thông đóng vai trò quan trọng cùng với xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay Cũng giống như các môn khoa học khác, môn lịch sử với chức năng, nhiệm vụ của mình đã góp phần tích cực vào công việc này
Tác dụng giáo dục quan trọng nhất của bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ thông là giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, lý tưởng sống và xác định thái độ với cuộc sống hiện tại
Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, bên cạnh những thay đổi mang tính tích cực trong biên soạn sách giáo khoa, chương trình học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì một biện pháp không thể thiếu song song với đó là trong quá trình dạy và học lịch sử
ở trường phổ thông, giáo viên lồng ghép, giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc
Việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử đóng một vai trò rất quan trọng, nó không chỉ góp phần làm cho bài giảng thêm sinh động, dễ hiểu, hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý của học sinh vào bài giảng, qua đó giúp các em tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách cụ thể, sinh động và chân thật mà còn giúp các em nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong các thời kì lịch sử Để các em hiểu được rằng, chính quần chúng là những người làm nên lịch sử Chính họ là những người lao động, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống toàn bộ xã hội, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Họ là lực lượng chủ yếu tham gia vào các cuộc cách mạng xã hội, giữ vai trò quyết định đến thắng lợi của cách mạng Quần chúng nhân dân còn là cội nguồn phát sinh những sáng tạo văn hóa tinh thần của
xã hội, là chủ nhân của những câu chuyện truyền miệng, những câu ca dao, tục ngữ, những thành ngữ răn dạy các thế hệ đi sau biết được cái đạo làm người thế nào cho tốt Đồng thời còn giáo dục cho học sinh niềm tự hào, lòng biết ơn, niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Từ đó bồi dưỡng, vun đắp thêm tình yêu quê hương
Trang 21đất nước, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, viết tiếp những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc
* Ý nghĩa:
Việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông có ý nghĩa trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ
- Kiến thức: Giúp các em nắm được quần chúng là người sáng tạo, là chủ
nhân của lịch sử Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay, lịch sử xã hội là do nhân dân lao động xây dựng nên và quần chúng là lực lượng thúc đẩy sự phát triển của xã hội Tất cả mọi sự kiện xảy ra trong xã hội đều có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân Nhất
là trong quá trình dựng nước và giữ nước, vai trò của quần chúng nhân dân luôn
được đề cao Như Trần Quốc Tuấn đã từng khuyên vua: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách để giữ nước” [23; 106], hay công thần Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, hay như Bác Hồ của chúng ta vẫn thường nói: “Dễ muôn lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, … [15; 212]
Vai trò của quần chúng nhân dân thấy rõ nhất là trong các cuộc cách mạng, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, từ thời dựng nước, giữ nước cho đến thời cận đại, với những chiến thắng
vẻ vang có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân
Vì vậy cần phải có quan điểm đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc Phải chăm lo sâu sát đến lợi ích, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân Tích cực phát huy vai trò của quần chúng bằng cách phát huy dân chủ, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt quy chế dân chủ Phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, mọi công việc phải biết dựa vào dân vì dân mà phục vụ Phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm trái với quan điểm của Triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân
Trang 22- Thái độ: Thông qua việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử sẽ giúp các em biết quý trọng những thành quả lao động của quần chúng nhân dân, yêu lao động, hứng thú, say mê với những sáng chế, phát minh, giữ gìn và phát triển những thành quả lao động của cha ông Đồng thời, hình thành cho học sinh thế giới quan đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Giáo dục cho học sinh tình cảm yêu mến, niềm tin vững chắc vào sự phát triển của dân tộc trong xây dựng đất nước, vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà quần chúng nhân dân đã tự nguyện, quyết tâm, kiên trì thực hiện Biết quý trọng những thành quả đấu tranh kiên cường của ông cha để từ đó xác định rõ trách nhiệm của mình trong cuộc sống hiện tại
Giúp các em hiểu được rằng, nền văn hóa mà các em được thừa hưởng ngày nay đã được xây đắp từ cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của bao thế hệ cha ông đi trước Vì vậy, các em không chỉ hưởng thụ mà phải ra sức bảo vệ, phát huy những di sản văn hóa dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú thêm cho nền văn hóa của chúng ta
- Kĩ năng: Với ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh qua phần trình bày của
giáo viên sẽ góp phần rèn luyện được ngôn ngữ nói cho học sinh; khả năng suy luận, khái quát hóa, năng lực trình bày, phân tích một vấn đề, một sự kiện, hiện tượng lịch sử; cách khai thác tư liệu lịch sử để phục vụ cho việc “biết - hiểu” lịch sử, đồng thời làm phong phú thêm vốn từ, cách sử dụng từ của các em Từ
đó hình thành cho các em thái độ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo ra sự hứng thú, yêu thích đối với môn học
Như vậy, việc lồng ghép giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu dạy học bộ môn Cần thấy được vai trò, ý nghĩa đó để có cách sử dụng hợp lý và hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 23Trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay, quần chúng nhân dân đóng một vai trò rất quan trọng đối với tiến trình phát triển đi lên của đất nước Trong tất cả các hoạt động xã hội đều có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, từ hoạt động sản xuất vật chất, sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần đến các cuộc cách mạng xã hội và các hoạt động xây dựng, bảo vệ đất nước.,,
Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn như vậy, song một thực tế đáng buồn là trong chương trình, sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, vai trò của quần chúng nhân dân cũng đã được đề cập đến nhưng còn khá mờ nhạt, chủ yếu là trong các bài nội khóa và việc khai thác nó để giáo dục cho học sinh còn rất hạn chế
Thực tế cũng cho thấy, ngày nay phần lớn giáo viên cũng đều đã nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, tuy nhiên việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng với những hình thức, biện pháp mới mẻ, hấp dẫn thì được rất ít giáo viên quan tâm, chú ý
Đa số giáo viên khi nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong các sự kiện lịch sử đều trình bày lướt qua, nêu một cách chung chung chứ chưa đi sâu phân tích kĩ, làm rõ cho học sinh hiểu vai trò đó là gì? Do đó chưa mang tính giáo dục cho học sinh về tầm quan trọng của quần chúng nhân dân Học sinh chỉ biết được rằng, trong các sự kiện lịch sử đó có sự tham gia của quần chúng nhân dân mà không biết được rằng sức mạnh của quần chúng là vô cùng to lớn, chính quần chúng nhân dân mới là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của cách mạng
Hơn nữa, các biện pháp giáo dục mà giáo viên lựa chọn khi giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân còn chưa được phong phú, chủ yếu vẫn là sử dụng phương pháp trình bày miệng có sử dụng một số tài liệu tham khảo hoặc kể chuyện lịch sử và hầu hết được giáo viên cung cấp trong các bài học nội khóa Các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là chương trình sân khấu hóa lịch sử về vai trò của quần chúng nhân dân hầu như vắng bóng Chính vì các biện pháp giáo dục chưa phong phú, hấp dẫn nên đã không thu hút, lôi cuốn
Trang 24được sự chú ý của học sinh Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho học sinh chán ghét, không yêu thích môn lịch sử
1.2.2 Nguyên nhân thực trạng
Mặc dù giáo viên nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc nhưng chưa thật sự tâm huyết với việc giáo dục nó cho học sinh hoặc chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay Có những giáo viên cho rằng việc đó không thật
sự cần thiết, không quan trọng Có giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc phải giáo dục cho học sinh vai trò của quần chúng nhân dân nhưng lại chưa
có những biện pháp giáo dục phù hợp mà chủ yếu vẫn sử dụng biện pháp truyền thống là trình bày miệng Giáo viên trình bày và học sinh ngồi dưới chỉ biết lắng nghe và ghi nhớ chứ chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Học sinh không được bộc lộ những quan điểm, ý kiến cá nhân về các
sự kiện, hiện tượng lịch sử mà giáo viên đề cập đến
Một nguyên nhân nữa đó là, việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân hầu hết chỉ được giáo viên nói đến trong các bài học nội khóa theo chương trình sách giáo khoa lịch sử hiện hành Vai trò của quần chúng chỉ được giáo viên nhắc đến ở những sự kiện lịch sử lớn có ý nghĩa quan trọng mang tính chất bước ngoặt Vai trò của quần chúng được nhắc đến ở đây chỉ là với tư cách là lực lượng của các cuộc cách mạng xã hội, còn vai trò lao động sản xuất hay sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần của quần chúng thì hầu như không được giáo viên nhắc tới trong các bài xây dựng và phát triển nền kinh tế, văn hóa dân tộc trong các giai đoạn lịch sử
Thêm vào đó, thông thường giáo viên chỉ quan tâm chú trọng đến việc giáo dục cho học sinh về vai trò của các vĩ nhân, các nhân vật lịch sử quan trọng như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, … mà ít đề cập đến việc giáo dục cho học sinh vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch sử dân tộc
Trang 25Hầu hết ở các trường phổ thông, giáo viên chỉ chú trọng vào các bài học nội khóa chứ chưa quan tâm đến việc tổ chức những buổi ngoại khóa tìm hiểu về lịch sử nói chung và những cuộc thi tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử nói riêng Đa số giáo viên cho rằng việc này là không cần thiết, chỉ cần truyền đạt đầy đủ những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa cho học sinh
là đủ chứ chưa chú trọng đến việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng trong mỗi bài học lịch sử nên không tạo được sự hứng thú, yêu thích môn học cho học sinh
1.2.3 Định hướng
Trên cơ sở khai thác nội dung các sự kiện lịch sử trong các bài học nội khóa, giáo viên tiến hành lồng ghép giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong mỗi bài học lịch sử, nhất là trong các bài nghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, sơ kết, tổng kết
Khi tiến hành giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân, giáo viên sử dụng nhiều biện pháp giáo dục khác nhau, có thể là sử dụng tài liệu tham khảo như: văn kiện Đảng, tài liệu Hồ Chí Minh, tài liệu văn học; có thể sử dụng thêm tranh ảnh lịch sử để minh họa hoặc kể các câu chuyện lịch sử về vai trò của quần chúng nhân dân
Ngoài các bài học nội khóa trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông, giáo viên có thể khai thác, tìm hiểu thêm một số biện pháp giáo dục phong phú hơn, hấp dẫn hơn như: tổ chức các buổi ngoại khóa, dạ hội lịch sử, tổ chức sân khấu hóa lịch sử, các cuộc thi tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân dân hay tổ chức những buổi thăm quan các bảo tàng, di tích lịch sử có sự hướng dẫn của giáo viên, … Như vậy sẽ tạo được sự thoải mái, hứng thú cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức Biến những kiến thức mà các em học được trong sách vở thành bài học cụ thể trong thực tiễn cuộc sống, giúp các em bộc lộ
và phát huy khả năng sáng tạo, tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, bộc lộ những quan điểm, ý kiến cá nhân về các sự kiện, hiện tượng lịch sử và có cái nhìn đúng đắn, khách quan đối với lịch sử dân tộc Để các em biết được rằng trong tất cả các sự
Trang 26có sự đóng góp rất lớn của quần chúng nhân dân Không có quần chúng nhân thì
sẽ không làm nên lịch sử Qua đó giáo dục lòng biết ơn, niềm tự hào, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng trong mọi thời đại Hiểu rõ công lao, sự đóng góp
to lớn của quần chúng nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm đối với quê hương đất nước
Trang 27CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung của khóa trình lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
2.1.1 Vị trí
Chương trình sách giáo khoa lịch sử trung học phổ thông (lớp 10, 11, 12) gồm hai phần: Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam
Để đảm bảo nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa kiến thức lịch sử thế giới
và lịch sử Việt Nam trong chương trình học, chương trình lịch sử ở trường trung học phổ thông của nước ta được sắp xếp theo hướng giảng dạy khóa trình lịch sử thế giới trước, khóa trình lịch sử Việt Nam sau để học sinh dễ tiếp thu, tiếp nhận kiến thức lịch sử; giúp các em hiểu được sự phát triển của lịch sử thế giới qua các thời kì; đồng thời xác định được vị trí, vai trò, những đóng góp của dân tộc mình đối với nhân loại trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như những tác động của lịch sử thế giới đối với lịch sử dân tộc
Trong sách giáo khoa lịch sử, phần lịch sử Việt Nam luôn được ưu tiên dành thời lượng nhiều hơn phần lịch sử thế giới và học sinh sẽ được tiếp cận ngay sau khi đã học xong phần lịch sử thế giới
Khóa trình lịch sử Việt Nam trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông sẽ giúp các em có cái nhìn toàn diện, hệ thống và khái quát về toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc cho đến năm 2000
2.1.2 Mục tiêu
Căn cứ vào thực tiễn triển khai chương trình trung học phổ thông, mục tiêu chung của khóa trình lịch sử Việt Nam thể hiện trên những phương diện sau:
* Kiến thức
Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về các sự kiện, hiện tượng lịch
sử một cách có hệ thống, cơ bản, khái quát về tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc cho đến năm 2000 Cụ thể:
Trang 28- Đối với chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10: Từ buổi đầu dựng nước Văn Lang - Âu Lạc cho đến giữa thế kỉ XIX, dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lao động và chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ nhưng hết sức kiên cường, anh dũng, sáng tạo để xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc
- Đối với chương trình sách giáo khoa lịch sử 11:
+ Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX gắn liền với sự xâm lược của thực dân Pháp, ách thống trị, bóc lột tàn bạo của chúng ở Việt Nam; thái độ của triều đình Huế và phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta
+ Việt Nam trong gần hai thập niên đầu thế kỉ XX gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, cùng với đó là phong trào vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng mới của các văn thân, sĩ phu yêu nước trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) và phong trào dân tộc trong những năm 1914 - 1918
- Đối với chương trình sách giáo khoa lịch sử 12: Cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, làm chuyển biến phong trào yêu nước ở Việt Nam từ lập trường tư sản sang lập trường vô sản và sáng lập ra Đảng cộng sản Đông Dương Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ với những thắng lợi lớn mang ý nghĩa trọng đại như: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành độc lập dân tộc, thành lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ xâm lược trong 30 năm từ 1945 đến 1975 và những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
* Thái độ
- Giúp học sinh nhận thức được một cách đúng đắn, khách quan về nguồn gốc lịch sử dân tộc
- Biết trân trọng và có ý thức gìn giữ nền văn hóa dân tộc được xây dựng
và phát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước
Trang 29- Lòng căm thù các thế lực ngoại bang xâm lược, đồng thời bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu trong cuộc đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc
- Tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công cuộc xây dựng và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
- Lòng biết ơn tổ tiên, những anh hùng dân tộc đã lao động, chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước; đồng thời có ý thức vươn lên trong học tập, lao động để góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
- Hiểu rõ sự tất yếu của hội nhập quốc tế, phát triển theo xu thế toàn cầu hóa, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa
- Niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ của cách mạng, tin tưởng vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước
* Kĩ năng
Bồi dưỡng và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong học tập, góp phần nâng cao nhận thức, nắm chắc sự kiện theo định hướng đã chọn như:
- Kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các sự kiện lịch sử để
từ đó rút ra kết luận, bài học kinh nghiệm từ các sự kiện lịch sử đó
- Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng thực hành bộ môn như: Kĩ năng quan sát, khai thác tranh ảnh, lược đồ, bản đồ lịch sử; kĩ năng lập niên biểu, bảng thống kê; kĩ năng khai thác trình bày một vấn đề lịch sử; rèn luyện được ngôn ngữ nói cho học sinh
- Hoàn thành tốt việc kiểm tra - đánh giá, trên cơ sở đó bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra - đánh giá
- Bồi dưỡng năng lực tự học và sáng tạo, say mê tìm tòi nghiên cứu
Trang 30phát triển của lịch sử Việt Nam trong buổi đầu dựng nước; lịch sử Việt Nam trong 1000 năm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; quá trình xác lập chế độ phong kiến Việt Nam cũng như sự khủng hoảng của chế độ phong kiến từ nửa đầu thế kỉ XIX
- Trong chương trình sách giáo khoa lịch sử 11, học sinh sẽ được tìm hiểu: nguyên nhân và quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Sau khi hoàn thành xong quá trình xâm lược nước ta, chúng đã bắt tay ngay vào tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) tạo ra những chuyển biến lớn trong kinh tế, xã hội Việt Nam Các phong trào đấu tranh chống Pháp tiêu biểu từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
- Nội dung chính của chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 12 là: Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 thành công sau
15 năm chuẩn bị; cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp kết thúc với chiến
thắng Điện Biên Phủ“lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” năm 1954; cuộc
kháng chiến chống Mĩ với đại thắng mùa xuân năm 1975 và công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 đến nay Mỗi sự kiện là một mốc đánh dấu một thời kì phát triển của lịch sử dân tộc
2.2 Những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến năm 2000 với thời lượng tương đối dài, trải qua rất nhiều giai đoạn với nhiều sự kiện lịch sử
Dựa vào những nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông (lớp 10, 11, 12), có thể chia khóa trình lịch sử Việt Nam ra thành ba thời kì:
- Thời cổ đại
- Thời trung đại
- Thời hiện đại
Trang 31Ở mỗi thời kì luôn có những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
Hơn nữa vì cư dân Việt cổ lúc này sinh sống chủ yếu ở ven các con sông lớn nên việc trị thủy, làm thủy lợi rất quan trọng, cùng với đó yêu cầu chống giặc ngoại xâm cũng được đặt ra
Những hoạt động trên một người không thể làm được mà phải huy động sức lực của rất nhiều người và cần phải có một người đứng đầu, để chỉ đạo các công việc chung Chính những điều đó đã dẫn đến sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc Như vậy, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của quần chúng nhân dân
Sang thời Bắc thuộc, với cuộc xâm lược của Triệu Đà (thế kỉ II TCN),
Thục phán An Dương Vương đã không bảo vệ được đất nước khiến nước ta rơi vào 1000 năm Bắc thuộc Dưới ách cai trị tàn bạo của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhân dân ta không cam chịu bị đô hộ đã không ngừng vùng lên đấu tranh nhằm giành lại nền độc lập, tự chủ với hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ Các cuộc đấu tranh nổ ra luôn nhận được sự ủng hộ và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Chính quần chúng nhân dân là động lực, là nhân tố quan trọng đưa cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi và xây dựng chính quyền tự chủ trong một thời gian
2.2.2 Thời trung đại
Trang 32được tính từ thế kỉ X với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 cho đến năm 1945
gắn với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
Ở sách giáo khoa lịch sử lớp 10, những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong giai đoạn này là:
Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiêu biểu trong các thế kỉ X - XVIII gắn liền với vai trò của quần chúng nhân dân thông qua các bài 18, 19, 20, 23 trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Sang sách giáo khoa lịch sử lớp 11:
Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, nhân dân ta đã phối hợp với quân đội triều đình anh dũng chống trả Đi đến đâu quân Pháp cũng vấp phải
sự kháng cự quyết liệt của quần chúng nhân dân, kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng bị thất bại, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi bước
đầu Nhưng triều đình nhu nhược, sợ giặc đã không đoàn kết cùng nhân dân chống Pháp, thậm chí còn đàn áp các phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân, thỏa hiệp với Pháp, lần lượt cắt ba tỉnh miền Đông, ba tỉnh miền Tây đến
dâng cả nước ta cho thực dân Pháp
Mặc dù triều đình đã đầu hàng thực dân Pháp nhưng quần chúng nhân
dân trong cả nước vẫn không chịu khuất phục Dưới sự lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu yêu nước hưởng ứng chiếu Cần Vương, các phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, quyết liệt với quy mô lớn gây cho Pháp nhiều khó khăn, thất bại Ngoài các phong trào do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo còn có những cuộc đấu tranh tự vệ của nông dân và nhân dân các dân tộc thiểu số vùng núi, mà tiêu biểu nhất đó là khởi nghĩa nông dân Yên Thế
Như vậy, trong tất cả các cuộc đấu tranh chống Pháp trong giai đoạn này, quần chúng nhân dân luôn giữ vai trò chủ đạo, quyết định đến thắng lợi của phong trào Nhưng chính quyền phong kiến phản động đã đi ngược lại lợi ích của quần chúng nhân dân nên những thành quả đấu tranh của nhân dân không được phát huy
Ở sách giáo khoa lịch sử 12:
Trang 33Trong Bài 14 “Phong trào cách mạng 1930 - 1935” sức mạnh của quần
chúng nhân dân biểu hiện rõ nét nhất trong phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác trên phạm vi cả nước, đặc biệt là quần chúng nhân dân ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Đây được xem là cuộc tập dượt đầu tiên của quần chúng nhân dân chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Từ năm 1930 đến năm 1945, sức mạnh của quần chúng nhân dân được thể hiện thông qua hoạt động của các Mặt trận dân tộc thống nhất, trong đó tiêu biểu nhất là vai trò của Mặt trận Việt Minh Mặt trận Việt Minh là nơi tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước không phân chia tôn giáo, đảng phái nhằm chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai, đấu tranh giải phóng dân tộc Tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc góp phần cùng Đảng ta xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa
Đỉnh cao thể hiện sức mạnh của quần chúng nhân dân phải kể đến thời kì cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Sau
chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12/3/1945,
dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng nhân dân đã tiến hành khởi nghĩa từng phần Làn sóng khởi nghĩa phát triển mạnh mẽ, ngày càng lan rộng và dấy lên gần như đồng thời ở nhiều nơi Như vậy, Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi ngoài nhân tố sự lãnh đạo của Đảng, yếu tố thời cơ và sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt thì quần chúng nhân dân chính là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến thắng lợi của cách mạng
2.2.3 Thời hiện đại
Thời hiện đại trong lịch sử Việt Nam được tính từ năm 1945 khi cách mạng tháng Tám thành công, chế độ quân chủ sụp đổ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đứng trước vô vàn khó khăn, thử thách, cùng một lúc phải đương đầu chống lại ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mà đứng đầu
Trang 34thần “lá lành đùm lá rách”, “nhường cơm sẻ áo” đồng thời dấy lên phong trào
thi đua tăng gia sản xuất trên khắp cả nước để giải quyết nạn đói trước mắt; tham gia xóa nạn mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa, giải quyết nạn giặc dốt; đấu tranh chống lại các lực lượng phản cách mạng trong và ngoài nước
Với nguồn sức mạnh tổng hợp của ý chí chiến đấu, tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm, nguồn sức mạnh to lớn từ quần chúng nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc đã làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân - đế quốc trên đất nước ta; hoàn thành thống nhất đất nước, mở ra một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập tự do
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1975), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới Nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Thực hiện thành công đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 - đến năm 2000, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang trong thời kì quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tình hình chính trị - xã hội có nhiều biến động thì Đảng
ta cần phải đề cao và phát huy hơn nữa vai trò của quần chúng nhân dân Quần chúng luôn là những người đi đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh
tế, làm giàu cho đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra quần chúng còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy và bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm phong phú thêm cho nền văn hóa của dân tộc mình Quần chúng còn là lực lượng quan trọng trong đấu tranh chống lại những âm mưu chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hay chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước
2.3 Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân có ý nghĩa rất quan trọng và là nhiệm vụ cần thiết trong
Trang 35giai đoạn hiện nay Để làm được điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải có những biện pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả Trong thực tế dạy học nói chung và dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng, không có phương pháp nào là “tối ưu” nhất mà giáo viên thường phải kết hợp đan xen các phương pháp dạy học với nhau để tạo thành một hệ thống phương pháp liên hoàn, đáp ứng hoạt động dạy
và học lịch sử ở trường phổ thông Ngoài ra, giáo viên còn phải căn cứ vào nội dung kiến thức, yêu cầu cụ thể của từng bài học để đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; giúp các em nhớ kĩ, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức; tạo cho các em sự hứng thú, yêu thích đối với môn học
Căn cứ vào nội dung chương trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến nay, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm giáo dục cho học sinh
về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông như sau:
2.3.1 Trong giờ học nội khóa
2.3.1.1 Sử dụng tài liệu tham khảo
Bên cạnh sách giáo khoa, tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh cũng có vị trí, ý nghĩa quan trọng Tài liệu tham khảo không chỉ minh họa và làm rõ thêm cho các kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa mà còn góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện lại hình ảnh quá khứ; giúp học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất của các sự kiện; hình thành khái niệm, rút ra quy luật, bài học lịch sử
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, có nhiều loại tài liệu tham khảo khác nhau, có thể kể đến như: Tài liệu lịch sử, văn kiện Đảng, tài liệu Hồ Chí Minh, tài liệu văn học, Việc sử dụng các loại tài liệu tham khảo này trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần căn cứ vào mục đích, nội dung, yêu cầu của từng bài học để khai thác và lựa chọn các biện pháp giáo dục cho phù hợp, mang lại hiệu quả giáo dục tốt nhất Trong giới
Trang 36- Thứ nhất, sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh
Tài liệu Hồ Chí Minh là những tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện những quan điểm, đường lối, chủ trương chỉ đạo cách mạng của Người Có thể nói, hầu hết các tài liệu của Hồ Chí Minh đều có thể trích dẫn
và sử dụng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông Chính vì vậy trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông, tài liệu Hồ Chí Minh luôn là một trong những nguồn tài liệu tham khảo cần thiết phải sử dụng
để trình bày, cung cấp thêm kiến thức lịch sử cho học sinh Vì là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị nên tài liệu Hồ Chí Minh có ưu thế lớn trong việc tạo biểu tượng lịch sử, khôi phục bức tranh quá khứ, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử trên tất cả các mặt: giáo dưỡng, giáo dục, phát triển
Khi giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch
sử, giáo viên có thể lồng ghép sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh để minh họa hay cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử đang học Chẳng hạn, khi dạy bài 18:
“Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỉ X - XV” - sách giáo
khoa lịch sử 10 trung học phổ thông, sau khi cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về sự phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, để nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân trong hoạt động sản xuất
vật chất, giáo viên sử dụng câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xã hội có cơm
ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Trí thức mở mang cũng là nhờ người lao động Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ loài người” Vì thế Người luôn nhắc nhở: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều
do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra Vậy nên chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân” [20, 217]
Việc làm trên không chỉ minh họa, làm rõ thêm kiến thức vừa học mà còn giúp học sinh hiểu được rằng quần chúng nhân dân lao động là lực lượng quan trọng trong việc sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống toàn bộ xã hội, quyết định
sự phát triển của xã hội, qua đó góp phần giáo dục cho học sinh lòng biết ơn đối với quần chúng nhân dân lao động, biết quý trọng, giữ gìn và phát huy những
Trang 37thành quả lao động của cha ông, rèn luyện tinh thần học tập tự giác, sáng tạo, yêu quý lao động
Hoặc trong bài 24: “Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI - XVIII” - sách
giáo khoa lịch sử 10 trung học phổ thông, khi dạy mục 2 Văn học, giáo viên khai thác những nội dung trong sách giáo khoa để giúp học sinh nắm được: Trong lúc văn học chính thống có phần suy thoái thì trong nhân dân đã dần hình thành và phát triển một trào lưu văn học dân gian khá rầm rộ Với sự sáng tạo của mình, nhân dân đã sáng tác hàng loạt những câu ca dao, tục ngữ, truyện cười, truyện dân gian, … làm phong phú thêm cho nền văn học của dân tộc Sau khi đã trình bày xong, để khắc sâu cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân với tư cách là lực lượng sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần, giáo viên
có thể sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh như sau:
Nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong sáng tạo văn hóa nghệ
thuật, Hồ Chí Minh nhận định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý” [13; 250] Với cách làm như
trên sẽ giúp học sinh hiểu được rằng quần chúng nhân dân là những người sáng tạo và hưởng thụ nền văn hóa dân gian trong lịch sử Họ là chủ nhân của những câu chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, những câu ca dao, tục ngữ và rất nhiều những sáng tác nghệ thuật độc đáo khác Là học sinh các em cần phải giữ gìn và phát huy những sáng tạo tinh thần đó Những tác phẩm nghệ thuật là những di sản văn hóa quý báu của dân tộc Bảo vệ di sản văn hóa dân tộc cũng là bảo vệ tiếng nói của dân tộc mình
Không chỉ lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất hay sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần mà quần chúng nhân dân còn là lực lượng chủ đạo trong các cuộc cách mạng xã hội Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ những phong trào đấu tranh của nhân dân trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, đến ba lần kháng chiến chống quân Mông -
Trang 38phong trào Tây Sơn đánh bại quân xâm lược Xiêm, Thanh và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ luôn có sự ủng hộ và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Thắng lợi của các cuộc đấu tranh thể hiện sức mạnh to lớn của tình đoàn kết
Trong quá trình chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được sức mạnh của sự cố kết cộng đồng dân tộc Trong quyển “Lịch sử nước ta” Bác viết:
Dân ta xin nhớ chữ đồng Đồng tình, đồng chí, đồng lòng, đồng minh
“Đồng” ở đây là “đoàn kết”, phát triển từ việc bày tỏ tình cảm, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa đến góp sức tham gia vào các tổ chức yêu nước, cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết đã trở thành “chiến lược đại đoàn kết” của Đảng - một cơ sở quan trọng đối với sự thành công của cách mạng Việt Nam
Sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh không chỉ giúp cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn góp phần khắc sâu kiến thức lịch sử cho học sinh, làm cho
bài học trở nên hấp dẫn và sinh động hơn Ví dụ khi dạy bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954)” - sách giáo khoa
lịch sử 12 trung học phổ thông, khi đề cập đến nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, bên cạnh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng với đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo thì một nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến đó là sức mạnh đoàn kết toàn dân Để giúp học sinh hiểu rõ hơn về điều này, giáo viên nhấn mạnh lại câu nói của Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Sự đoàn kết của nhân dân là sức mạnh vô địch Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi Sự đồng tâm của quần chúng đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu vào bức tường chúng cũng phải thất bại” [14; 276] Với cách làm như vậy sẽ
giúp học sinh nhận thức được rằng sự thành công của cách mạng đều do quần chúng nhân dân quyết định, chính sức mạnh đoàn kết một lòng của quần chúng
Trang 39đã đánh bại tất cả các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là gốc của cách mạng Qua đó giáo dục cho học sinh tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc; bồi dưỡng lòng tự hào, niềm tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Hay khi dạy bài 26: “Đất nước trên đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (1986 - 2000)” - sách giáo khoa lịch sử 12 trung học phổ thông, mục 2
Đường lối đổi mới của Đảng, trước khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung đường lối đổi mới của Đảng ta trong giai đoạn 1986 - 2000, giáo viên sử dụng đoạn tư liệu sau của Hồ Chí Minh để giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng, sự chi phối của quần chúng tới nội dung đường lối đổi mới của Đảng và vai trò của quần chúng nhân dân trong việc thực hiện
những mục tiêu, đường lối của Đảng đã đề ra: “Dân bao giờ cũng là gốc của nước, vì nước bao giờ cũng là của mọi người dân còn cách mạng thì như con thuyền mà dân trao cho Đảng làm người cầm lái Con thuyền cách mạng đi tới đích thắng lợi là nhờ sức dân Chính những ý kiến, nguyện vọng của dân là nguồn gốc hình thành đường lối cách mạng, đường lối đổi mới của Đảng Cũng chính trong phong trào cách mạng, dân là yếu tố quan trọng nhất biến đường lối đó thành hiện thực, tạo ra những thành tựu to lớn” [20; 410] Chính vì thế Đảng luôn khẳng định “lấy dân làm gốc” là bài học kinh nghiệm hàng đầu, là
nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là cơ sở cho việc hoạch định đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Với tất cả các dẫn chứng nêu trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử để làm sáng tỏ vai trò của quần chúng nhân dân là vô cùng cần thiết và hữu ích Nó giúp cho bài học trở nên sinh động, lôi cuốn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
- Thứ hai, sử dụng tài liệu văn học
Tài liệu văn học bao gồm các tác phẩm ra đời gắn với hoàn cảnh lịch sử của sự kiện hoặc phản ánh sự kiện Các tác phẩm văn học từ xưa đến nay trong lịch sử dân tộc có vai trò rất lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 40Sử dụng tài liệu văn học để giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử là một biện pháp khá mới mẻ nhưng vô cùng hấp dẫn và hiệu quả đối với học sinh Với chức năng phản ánh cuộc sống, tài liệu văn học có ưu thế rất lớn trong việc góp phần dựng lại bức tranh quá khứ một cách chân thực, sinh động, tạo ấn tượng sâu sắc đối với học sinh
Chẳng hạn, để giúp học sinh thấy rõ được vai trò của quần chúng nhân dân trong việc sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần trong đó có
việc xây dựng các công trình thủy lợi, trong bài 14: “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” - sách giáo khoa lịch sử 10 trung học phổ thông Mục 1
Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, khi giáo viên nói về hoạt động trị thủy, thủy lợi phục vụ nông nghiệp của cư dân Việt cổ sinh sống ven các dòng sông lớn, giáo
viên có thể sử dụng câu chuyện dân gian truyền miệng “Sơn Tinh - Thủy Tinh”,
để minh họa, khắc sâu thêm sự kiện lịch sử đang học cho học sinh Qua sự phân tích của giáo viên về ý nghĩa câu chuyện, các em sẽ hiểu dược rằng: Nội dung chuyện phản ánh về một trong số những sự kiện lớn trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc, đó là truyền thống lao động sáng tạo của quần chúng trong quá trình chinh phục tự nhiên, khắc phục thiên tai Ngay từ rất sớm, khi định cư ở dọc theo các con sông lớn, nhân dân ta đã phải lo việc trị thủy, làm thủy lợi, phòng chống thiên tai - một trong những điều kiện dẫn đến sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
Ngoài công tác trị thủy và làm thủy lợi trong nông nghiệp thì một trong những yếu tố dẫ đến sự ra đời nhà nước sớm là yêu cầu chống giặc ngoại xâm
Khi nhắc đến vấn đề này, giáo viên sử dụng câu truyện thần thoại “Thánh Gióng” (vẫn còn được lưu truyền cho đến tận ngày nay) để cụ thể hóa sự kiện
đang học Câu truyện sẽ giúp các em nhận thức rõ: Từ rất sớm, nhân dân ta đã phải đứng lên đấu tranh bảo vệ đât nước Câu chuyện phản ánh việc dựng nước
đi đôi với giữ nước Nhân dân ta đã đoàn kết, đồng lòng tiến hành cuộc “chiến tranh nhân dân” để giữ nước, giữ làng Đồng thời, qua chi tiết Gióng yêu cầu nhà vua sắm cho mình “một con ngựa sắt, một roi sắt và một áo giáp sắt” trong câu chuyện, chúng ta có thể thấy rằng trong quá trình lao động sản xuất nhân