Theo dõi các công trình nghiên cứu hoặc tài liệu liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu cho thấy: Trong chương trình đào tạo bậc đại học, một số vấn đề của pháp luật quản lý thuế được đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và
và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Hà Nội, tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn hoàn thành là sự kết hợp kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
ở nhà trường với kinh nghiệm thực tiễn của bản thân
Để hoàn thành tốt như hôm nay, trước hết tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với toàn thể các Thầy Cô giáo Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc biệt là Thầy giáo PGS.TS Phạm Quốc Trung người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tiếp đó, tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo, cán bộ Cục Hải quan Cao Bằng, Sở kế hoạch đầu tư, Sở tài chính và Cục thống kê, ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao bằng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người
đã luôn giúp đỡ, khích lệ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; bạn
bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu 6
1.2.1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 6
1.2.2 Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu 7
1.2.3 Phân loại thuế xuất nhập khẩu 8
1.2.4 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 9
.1.3 Quản lý thuế xuất nhập khẩu 14
1.3.1 Khái niệm 14
1.3.2 Nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan hải quan 14
1.3.5 Quản lý nộp thuế 23
1.3.6 Phòng chống buôn lậu, gian lân thương mại và hang nhái hàng giả 25
1.4 Kinh nghiệm quản lý thuế xuất nhập khẩu của một số địa phương 32
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Lạng Sơn 32
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Lào Cai 34
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Quảng Ninh 35
1.4.4 Kinh nghiệm quản lý thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Hà Giang 37
1.4.5 Bài học cho quản lý thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Cao bằng 38
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Quy trình nghiên cứu 41
2.1.1 Xác định vấn đề cần nghiên cứu 42
2.1.2 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 42
2.1.3 Nghiên cứu định tính 42
Trang 62.2.1 Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn 43
2.2.2 Số liệu sử dụng 46
2.2.3 Xử lý số liệu 46
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 48
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN CAO BẰNG 49
3.1 Khái quát về tình hình xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu 49
3.1.1 Giới thiệu về Cục Hải quan Cao Bằng 49
3.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu Cục Hải quan Cao Bằng 52
3.2 Phân tích thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại cục hải quan cao bằng 55
3.2.1 Quản lý khai thuế 55
3.2.2 Quản lý nộp thuế 57
3.2.3 Công tác hoàn thuế, miễn thuế, không thu thuế: 62
3.2.4 Công tác thanh tra, xử phạt vi phạm pháp luật, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại: 63
3.2.5 Công tác giải quyết khiếu nại về thuế: 65
3.3 Đánh giá thực trạng công tac quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan Cao Bằng 65
3.3.1 Những kết qủa đạt được trong công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Cao Bằng 65
3.3.2 Một sô hạn chế trong công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Cao Bằng 69
3.3 3 Nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thuế xuất nhapak khẩu tại Cục Hải quan Cao Bằng 77
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN CAO BẰNG 81
4.1 Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan 81
4.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 81
Trang 74.1.2 Công tác tuyển dụng nguồn nhân lực 84
4.2 Tăng cường phổ biến đường lối chính sách của đảng nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện liêm chính hải quan 85
4.3 Tăng cường tinh thần đoàn kết giữa các cán bộ nhân viên trong đơn vị 86
4.4 Nhóm giải pháp về chống buôn lậu, gian lận thương mại 87
4.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin,ứng dụng khai báo hải quan điện tử từ xa vào hoạt động nghiệp vụ của hải quan tỉnh Cao Bằng 88
4.5.1 Xây dựng triển khai hệ thống thông tin,cở sở hạ tầng mạng hiện đại 89
4.5.2 Ứng dụng khai báo hải quan điện tử từ xa 90
4.6 Đẩy mạnh cải cách hành chính,ở cục hải quan tỉnh Cao Bằng 91
4.7 Tăng cường kiểm tra,thanh tra nghiệp vụ của cục hải quan Cao Bằng 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
cho khu vực
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê hàng hóa xuất khẩu của tỉnh Cao Bằng 54 Bảng 3.2 Thống kê các mặt hàng nhập khẩu của tỉnh Cao Bằng 55 Bảng 3.3 So sanh mức thu thuế XNK tại Cục Hải quan Cao Bằng các năm 2004-
2014 so với cùng kỳ năm trước 59
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Phương pháp, hình thức quản lý thuế 16
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa DN và Hải Quan trong quy trình quản lý thuế 19
Sơ đồ 1.3 Tiếp nhận khai báo thuế của Doanh nghiệp 20 Biểu đồ 3.1: Kết quả thu thuế XNK vào ngân sách Nhà nước của Cục Hải quan Cao bằng từ năm 2010 đến năm 20014 ( Đơn vị: VNĐ) 58 Biểu đồ 3.2 Số vụ vi phạm được phát hiện, lập biên bản và xử lý tại Cục Hải quan Cao bằng từ năm 2010-2014 (Đơn vị: Triệu VNĐ) 64 Biểu đồ 3.3: Tình hình nợ thuế tại Cục Hải quan Cao Bằng từ năm 2010 đến năm
2014 71
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, chính vì vậy mà trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế để đáp yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết để chuyển nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Thương mại hóa đã và đang trở thành động lực phát triển của mỗi quốc gia và kinh
tế thế giới Tự do hóa thương mại đã làm cho lưu lượng hàng hóa qua biên giới giữa các nước ngày càng tăng, quan hệ giao lưu kinh tế ngày càng phát triển và su thế toàn cầu hóa hiện nay với sự gia tăng của su thế hội nhập, với cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình quảnlý thuế nói chung và quản lý thuyế xuất nhập khẩu (XNK)nói riêng trở nên kho khăn, phức tạp hơn
Hoạt động Hải quan luôn gắn liền với hoạt động đối ngoại, an ninh quốc gia, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK), đầu tư và du lịch quốc tế Hải quan Việt Nam đã chủ động tiến hành cải cách và đã có những bước tiên phong trong hội nhập trong
đó vấn đề quản lý chặt chẽ các hoạt động XNK, thu đúng, đủ tiền thuế cho Nhà nước, vừa tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong điều kiện tự do hóa thương mại
Hải quan Việt Nam càng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trong bối cảnh thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh cả về giá trị và khối lượng, cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) và sự phát triển gia tăng của nạn buôn lậu, gian lận thương mại và những loại hình tội phạm mới cũng đang đặt ra cho Hải quan Việt Nam nhiều nhiệm vụ mới.Với yêu cầu cam kết trong điều kiện hôi nhập kinh tế quốc tế như từng bước cắt giảm thuế quan Bên cạnh các chính sách thuế XNK của Việt Nam trong thời gian qua còn tồn tại rất nhiều bất cập Điều đó làm hạn chế tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế, phát triển kinh tế đối ngoại, thương mại và đầu tư giữ Việt Nam và các
Trang 11nước Việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã đưa đến cho Việt Nam những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện những thách thức, đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực XNK phải được đổi mới về thẩm quyền, kỹ năng, biện pháp quản lý Các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu (XK), thuế nhập khẩu (NK) cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc
tế, góp phần tăng cường quản lý, giám sát thực thi công tác quản lý thuế XNK nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia về quyền thu thuế Bên cạnh đó, trước yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, các quy định về thủ tục hành chính trong quản lý thuế XNK phải tiếp tục cải cách hơn nữa, đi đôi với việc tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hiện đại hoá công tác quản lý thuế như kê khai thuế điện tử, hải quan điện tử
Đồng thời, thực tiễn của Việt Nam về hoạt động XNK trong những năm qua cũng
có nhiều biến chuyển Số lượng hàng hóa XNK tăng lên nhanh chóng, nhu cầu XNK hàng hóa dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú Điều này kéo theo việc quản lý hàng hóa cần phải có sự thay đổi để phù hợp với thực tiễn Công tác quản quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế cần phải được điều chỉnh linh hoạt và phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời cũng phù hợi với vai trò bảo hộ sản xuất trong nước tạo nguồn thu nhập cho ngân sách nhà nước
Thời gian qua quản lý thuế XNK Tổng cục Hải quan nói chung và Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận hương mại còn khá phổ biến; hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế hàng hoá XNK chưa được coi trọng đúng mức gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ thuế cũng chưa được đảm bảo
Xuất phát từ những tồn tại trong quản lý thuế XNK nêu trên đòi hỏi phải luôn quan tâm hoàn thiện Để đạt hiệu quả cao, đây là yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường quản lý thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc của tổ quốc có
Trang 12đường biên giới kéo dài giáp với Trung Quốc, việc phát triển kinh tế của Cao bằng gắng liền với phát triển kinh tế đối ngoại, góp phần gia tăng nguồn thu từ Hải quan biên giới Mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh hoạt động thương mại, du lịch, XNK hàng hóa và khai thác lợi thế các cửa khẩu một cách hiệu quả nhất Điều kiện kinh tế - xã hội còn chậm phát triển, địa hình của khu vực biên giới rất phức tạp nên quá trình quản lý hàng hoá XNK nói chung, và quản lý thuế XNK nói riêng còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, quản lý thuế XNK là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cục Hải quan Cao Bằng Trong bối cảnh đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng”, để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết từ thực tế quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Giải pháp nào để hoàn thiện quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu luận văn Đánh giá thực trạng việc quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng
b Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Để đạt được mục tiêu trên tác giả đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về quản lý thuế xuất nhập khẩu
- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan trong những năm vừa qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Luân văn nghiên cứu phân tích các vấn đề liên quan đến quản lý thuế xuất nhập khẩu
3.2 Phạm vi nghiên cứu -Về nội dung : Luận văn nghiên cứu chủ yếu hoạt động quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan Cao Bằng
- Về thời gian: từ năm 2010 – 2014
-Về không gian: Tại chi cục Hải quan Cao Bằng
4 Một số đóng góp của luận văn
- Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan Cao Bằng giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014
- Nêu lên những quan điểm cơ bản cần quán triệt trong quản lý thuế XNK hiện nay
- Đề xuất các giải pháp cơ bản và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện quản lý thuế XNK hiệu quả tại Cục Hải Quan Cao Bằng
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, tổng kết, đánh giá về quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan Cao Bằng và làm cơ sở để xây dựng một số kế hoạch, đề án… về quản lý thuế XNK tai Cục Hải quan Cao Bằng giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014
5 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, các phụ biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Nội dung luận văn có 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế xuất nhập khẩu
- Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng của quá trình quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Cao Bằng
- Chương 4: Gải pháp tăng cường quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Cao Bằng
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đề tài về pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả cả ở phương diệnlý luận và thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên phương diện chuyên sâu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thì chưa có nhiều
Theo dõi các công trình nghiên cứu hoặc tài liệu liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu cho thấy:
Trong chương trình đào tạo bậc đại học, một số vấn đề của pháp luật quản lý thuế được đề cập ở nội dung giảng dạy như, “ Giáo trình Luật tàichính Việt Nam”
của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002; “Giáo trìnhLuật thuế Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005; “Giáotrình nghiệp vụ thuế” và “Giáo trình
lý thuyết thuế” của Học viện Tàichính năm 2005…
Ở chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành luật, một số luận vănvà luận án đề cập đến vấn đề quản lý thuế dưới giác độ nghiên cứu về từngvấn đề riêng
lẻ trong toàn bộ quá trình quản lý thuế nói chung, chẳng hạn nhưluận án tiến sỹ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý thuếtheo cơ chế tự khai, tự nộp”
của nghiên cứu sinh Vũ Văn Cương; luận vănthạc sỹ luật học “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về thuế ở Việt Nam” của tácgiả Trần Trung Nhân; luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật Quản lý thuế vàvấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan” của tác giả Đoàn Mạnh Hải…
Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí liên quan đếnquản
lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như bài viết “Thông tin về người nộpthuế trong luật quản lí thuế ở nước ta hiện nay” của ThS.Vũ Văn Cương đăngtrên Tạp chí Luật học số 4/2009; “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các họcthuyết thuế cổ điển và hiện đại” của TS Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạpchí luật học số 4/2009; “Các nguyên tắc của pháp luật thuế và mô hình cấuThuế xuất nhập khẩu trúc của hệ
Trang 15thống pháp luật thuế” của TS Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2008; bài viết “Phát triển bền vững và một số vấn đề đặt ra cho hệ thống pháp luật thuế Việt Nam” của TS Phạm Thị Giang Thu đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2009
Các công trình nghiên cứu trên phần nhiều đề cập đến một khía cạnh trong công tác quản lý thuế nói chung mà chưa đề cập chuyên sâu về quản lý trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.2 Cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu 1.2.1.Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế XKN
Thuế XNK thường có tên gọi chung là thuế quan (Custom duty) Đây là loại
thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia
Giáo trình thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam [33, tr 104]
Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt
duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu Thuế nhập khẩu
được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [46, tr 439]
Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế XK, thuế NK cùng như các quan niệm về thuế XK, thuế NK ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm chung về thuế XK, thuế NK như sau: Thuế XNK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XNK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XNK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Trang 16Thuế XNK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XNK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XNK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
1.2.2 Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu
Từ khái niệm về thuế XNK cho thấy, thuế XNK cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là:
Thứ nhất, thuế mang tính quyền lực Nhà nước Nhà nước là người duy nhất
có quyền đặt ra thuế XNK qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XNK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN
Thứ hai, thuế mang tính pháp lý cao Thuếlà khoản đóng góp bắt buộc cho
Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo
Thứ ba, thuế chứa đựng các yếu tố KT - XH Điều này được thể hiện ở chỗ
thuế XNK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế XNK vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu KT - XH của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ
Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là:
- Thuế XNK chỉ đánh vào hàng hoá được phép XNK qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và
từ khu phi thuế quan đưa vào tiêu thụ trong nước
- Thuế XNK là một loại thuế gián thu Nhà nước sử dụng thuế XNK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XK, NK Vì vậy, thuế XNK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa XK,
NK, người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa XK, NK Nhà nước thu thuế XNK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa XK, NK
Trang 171.2.3 Phân loại thuế xuất nhập khẩu
Có nhiều cách phân loại thuế xuất nhập khẩu
Thứ nhất, Nếu căn cứ vào mục đích của thuế XNK, có thể chia thuế XNK
thành các loại sau:
- Loại để tạo nguồn thu: Thuế XNK được quy định đối với tất cả các mặt
hàng để tăng nguồn thu cho Ngân sách quốc gia, không phân biệt khả năng sản xuất, nhu cầu bảo hộ và chính sách thương mại của quốc gia đó
- Loại để bảo hộ: Loại thuế này thường được quy định có lựa chọn Nếu
trong nước có sản xuất hoặc có khả năng sản xuất nhưng chưa đủ sức cạnh tranh, cần có sự bảo hộ của Nhà nước thì cần phải xây dựng mức thuế bảo hộ để giảm bớt
sự cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu
- Loại để trừng phạt: Loại thuế này thường được sử dụng để trả đũa lại
những hành vi phân biệt đối xử của một quốc gia này đối với hàng hoá của một quốc gia khác
Ví dụ, Mỹ áp dụng mức thuế NK đối với hàng may mặc của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ cao hơn mức thuế thông thường đang áp dụng với các nước khác Để trả đũa lại hành vi phân biệt đối xử này, Trung Quốc đã áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với ô tô của Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc cao hơn mức thuế thông thường đang áp dụng với các nước khác
Thứ hai, Nếu căn cứ vào phạm vi tác dụng của thuế XNK, có thể chia thuế
XNK thành 2 loại:
- Thuế XNK tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia, loại
thuế này không phụ thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương nào đã ký kết, nó được quy định tuỳ ý theo mục tiêu của mỗi quốc gia
- Thuế XNKtheo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết
trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết Ví dụ phân loại thuế
NK thành thuế NK ưu đãi, ưu đãi đặc biệt, thông thường tuỳ theo quan hệ thương mại giữa các nước mà áp dụng cho phù hợp
Thứ ba, Nếu căn cứ vào cách thức đánh thuế, có thể chia thuế XNK thành:
Trang 18- Thuế tuyệt đối: là loại thuế tính theo một số tiền nhất định cho mỗi đơn vị
hàng hoá XNK
Ví dụ, quy định thuế NK xăng phải nộp là 500 VNĐ/1lít xăng không phân biệt giá NK là bao nhiêu
- Thuế theo tỷ lệ phần trăm: loại thuế này được tính theo tỷ lệ phần trăm (%)
trên trị giá XNK thực tế của mỗi đơn vị hàng hoá XNK Số thuế XNK phải nộp theo
tỷ lệ % sẽ thay đổi tuỳ theo trị giá XNK thực tế của hàng hoá
Ví dụ, quy định thuế NK phải nộp của một lít xăng là 20%/giá NK thực tế 1lít xăng
- Thuế hỗn hợp: là trường hợp áp dụng hỗn hợp thuế tuyệt đối và thuế theo tỷ
lệ % Ví dụ: xăng thu thuế NK 15% + 30 usd/tấn
- Thuế theo lượng thay thế: là trường hợp một mặt hàng được quy định đồng
thời thuế tính theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối; nhưng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế nào cao hơn
Ví dụ, hải quan sẽ thu thuế NK 500 VNĐ/1lít xăng hoặc 20% tuỳ theo số thuế nào lớn hơn
Ngoài ra có thể phân loại thuế XNK theo xu hướng vận động của hàng hoá (thuế XK, thuế NK).v.v
Thuế XK và NK đều tác động tới giá cả hàng hoá có liên quan Nhưng thuế
XK lại khác thuế NK ở chỗ:
Một là, nó áp dụng cho hàng xuất khẩu chứ không phải hàng nhập khẩu
Hai là, nó làm giảm giá cả quốc tế của hàng bị đánh thuế vượt giá cả trong
nước, dẫn đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu Mức thuế xuất khẩu cao và duy trì lâu sẽ có lợi cho đối thủ cạnh tranh, vì vậy các nước phát triển hầu như không đánh thuế xuất khẩu Riêng ở Việt Nam, thuế xuất khẩu chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng để bổ sung nguồn thu ngân sách nhằm hạn chế xuất khẩu những thứ không
khuyến khích
1.2.4 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu
Trang 19 Tạo nguồn thu cho NSNN
Khi thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo hộ sản xuất trong nước, thuế XNK góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu cho NSNN Mặc dù quá trình tham gia, hội nhập kinh tế quốc tế thu thuế XNK ở mức cao vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách Ngược lại, thu thuế NK thấp, tức khuyến khích NK, nhìn bề ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng kể, nhưng xét trong tổng thể quy trình sản xuất xã hội, thì thu ngân sách sẽ tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa
Thông qua thuế XNK Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động XK, NK hàng hoá để tập trung vào ngân sách Tùy thuộc vào từng thời
kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng mà thuế XNK có vai trò khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN Đối với các nước phát triển, số thu từ thuế XNK chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong tổng thu NSNN Còn ở các nước đang phát triển, thuế XNK luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách Ở Việt Nam trong những năm qua, thuế XNK chiếm khoảng 25 - 30% trong tổng thu về thuế Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế bước II và thực hiện các cam kết cắt giảm thuế: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Châu ÂU (EU) nguồn thu về thuế XNK giảm dần trong tổng thu về thuế
Tuy nhiên để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu NSNN, thuế XNK phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh XNK hàng hoá của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế XNK vào NSNN
hàng hoá:
Kiểm soát hàng hóa XNK là mục tiêu sống còn của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hoá thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới Thông qua việc kiểm tra thu thuế XNK để biết được thực chất hàng hóa qua cửa khẩu như thế nào,
số lượng bao nhiêu… Thì nhà nước mới kiểm soát được tất cả hàng hóa XNK Kết
Trang 20hợp với chính sách ngoại thương thích hợp, nhà nước cho phép XNK hàng hóa gì
Cấm XNK hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời, không để lọt vào thị trường trong nước
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra ở hầu khắp các nước, dưới nhiều hình thức đa dạng về chủng loại hàng hoá, có hàng hoá phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu,
có loại hàng hoá xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân như
ma tuý, vũ khí, văn hoá phẩm đồi truỵ … Thông qua việc kiểm tra hàng hóa và thu thuế đối với hàng hoá XNK các cơ quan chức năng nắm được thực trạng hàng hoá XNK: loại hàng gì ? số lượng bao nhiêu? XK đi nước nào?, qua đó Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hoá XNK, để có những điều chỉnh chính sách đối với hàng hoá XNK phù hợp thực tiễn
Để điều tiết hoạt động XNK hàng hoá ngoài các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép, cấp phép tự động,… thì biện pháp sử dụng công cụ thuế XNK được các nước áp dụng một cách phổ biến Thông qua công cụ thuế XNK, Nhà nước khuyến khích hay hạn chế hoạt động XNK đối với từng loại hàng hoá chẳng hạn: để khuyến khích XK sản phẩm hoàn chỉnh, Nhà nước quy định thuế suất thuế XK cao đối với nguyên liệu thô, sản phẩm chưa qua chế biến nhằm hạn chế
XK những nguyên liệu và sản phẩm này Đối với nguyên liệu NK cần cho sản xuất nội địa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc đã sản xuất được nhưng chưa đủ đáp ứng được nhu cầu thì Nhà nước quy định mức thuế NK thấp thậm chí bằng 0%
để khuyến khích NK cho phát triển sản xuất trong nước Đối với những sản phẩm
mà đã được sản xuất trong nước và đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (ô tô, điều hoà…), thuế suất thuế NK thường được quy định ở mức thuế cao để hạn chế NK và hạn chế tiêu dùng Như vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK, Nhà nước thực hiện điều tiết đối với hoạt động XNK hàng hoá
Trang 21 Bảo hộ sản xuất trong nước
Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thuế XNK còn có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc tác động vào giá cả hang hóa XNK trên thị trường Tuy nhiên tác động này chỉ ảnh hưởng lên giá cả chứ không làm chất lượng hàng hóa giảm xuống và mục tiêu này không bền vững, lâu dài và chỉ mang tính tình thế
Thuế XNK mà đặc biệt là thuế NK tác động trực tiếp vào giá cả hàng hoá
NK trên thị trường, vì vậy thuế XNK là một trong những công cụ của Nhà nước để bảo hộ sản xuất trong nước Đối với những hàng hoá NK là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế
NK cao sẽ hạn chế tiêu dùng hàng NK, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước Nhờ đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh so với hàng NK nhờ giá bán sản phẩm thấp hơn Mặt khác, khi đánh thuế NK hàng hóa thấp, tức là Nhà nước không hạn chế NK mặt hàng NK đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) trong nước cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến mẫu mã,
hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập Đối với hàng hoá là đầu vào của các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết
bị phục vụ cho sản xuất trong nước, việc đánh thuế NK thấp sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước
Như vậy, thông qua công cụ thuế XNK Nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng tiêu dùng và thu hút đầu tư Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế NK được thực hiện thì vai trò bảo hộ của thuế NK phần nào bị hạn chế Bên cạnh đó, việc quá nhấn mạnh đến vai trò bảo hộ của thuế NK sẽ làm cho nền sản xuất trong nước trở nên trì trệ kém phát triển do sự ỷ lại của các DN trong nước vào sự bảo hộ của Nhà nước Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuế NK buộc phải có sự lựa chọn những ngành nghề phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, đồng thời buộc các ngành được bảo
hộ phải có chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để
Trang 22nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, chủ động trong cạnh tranh với hàng
NK khi hết thời hạn bảo hộ
quốc tế
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước nước và vùng lãnh thổ, tham gia rất nhiều hiệp định thương mại, rất nhiều hiệp định hợp tác đầu tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước, là thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2006 Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hang hóa chịu thuế khi XK hoặc NK Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia Cho nên thuế quan còn có vai trò thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia trong từng thời kỳ
Vai trò này của công cụ thuế XNK được thể hiện ở chỗ, bất kể một loại hàng hoá nào khi nhập khẩu vào Việt Nam đều phải khai báo, xuất trình để kiểm tra và nộp thuế (nếu có), mọi hành động phân biệt đối xử của nước ngoài đối với hàng hoá của Việt Nam nếu làm tổn hại đến nền sản xuất trong nước thì đều phải chịu các biện pháp trả đũa thông qua việc áp dụng chính sách thuế XNK bổ sung, thuế chống bán phá giá… Nhưng để làm được điều này trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay quả thật rất khó
Trong nền cơ chế thị trường, với sự trao đổi giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng, vai trò của thuế XNK trở nên vô cùng quan trọng được thể hiện trên các mặt sau đây:
Thứ nhấtvề tài chính:Thuế XNK là một nguồn thu lớn trong tổng thu NSNN
Hoạt động XNK phát triển càng mạnh thì số thuế thu được càng nhiều Trong điều kiện kinh tế thị trường các hình thức XNK ngày càng phong phú đa dạng, do vậy
thuế XNK luôn được coi là một nguồn thu lớn trong tổng thu NSNN
Trang 23Thứ hai về kinh tế:Thuế XNK là công cụ góp phần quản lý điều tiết vĩ mô
hoạt động XNK, vừa kích thích định hướng hoạt động XNK, vừa hướng dẫn tiêu dùng Thông qua chính sách thuế suất thích hợp đối với từng loại hàng hoá XNK, Nhà nước có thể thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đường lối
phát triển từng giai đoạn nhất định
Thứ ba về mặt xã hội:Thuế XNK góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng
xã hội, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và tạo điều kiện mở cửa nền kinh tế
.1.3 Quản lý thuế xuất nhập khẩu 1.3.1 Khái niệm
Quản lý thuế XNK của Hải quan là các phương pháp, hình thức quản lý thuế (khai thuế, nộp thuế, thủ tục hoàn miễn giảm thuế, xem xét khiếu nại thuế và kiểm tra thanh tra thuế …), các công cụ quản lý (các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ, phương tiện quản lý), cơ cấu tổ chức bộ máy (các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan hải quan, đội ngũ cán bộ công chức hải quan) đối với hàng hóa XNK qua của khẩu, biên giới lãnh thổ Việt Nam, hàng hóa được đưa vào từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước, hàng hóa từ khu chế xuất vào thị trường trong nước, ra nước ngoài và ngược lại
1.3.2 Nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan hải quan
Cơ quan hải quan có những nhiệm vụ, trách nhiệm sau đây:
Tổng cục hải quan có trách nhiệm quy định thủ tục khai báo, kiểm hoá, tính thuế, nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và tổ chức thực hiện việc thu thuế thống nhất trong toàn ngành hải quan Hải quan tỉnh, thành phố và hải quan cửa khẩu có trách nhiệm thực hiện đúng quy định về thủ tục đăng kí tờ khai hàng khi tổ chức, cá nhân có hàng hoáXK, NK cung cấp đủ các chứng từ hợp lệ để tính thuế; Tính đúng số thuế mà tổ chức, cá nhân phải nộp thuế, đảm bảo thuận lợi cho
tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Trang 24Hướng dẫn đối tượng nộp thuế thực hiện chế độ đăng ký kê khai, nộp thuế theo đúng quy định cuả Luật thuế XK, thuế NK và các văn bản hướng dẫn thi hành
Bố trí cán bộ tiếp nhận và làm thủ tục đăng ký tờ khai hàng hoá cho đối tượng nộp thuế XK, thuế NK đảm bảo nhanh chóng, kịp thời
Tiến hành kiểm hoá đối với lô hàng XK hoặc nhập khẩu theo đúng với tờ khai hàng hoá cuả đối tượng nộp thuế
Trong một số trường hợp cần thiết, tiến hành giám định hàng hoá XNK theo quy định của pháp luật
Trong thời hạn 8 giờ làm việc, kể từ khi đăng ký tờ khai hàng hoá XNK, cơ quan hải quan phải thông báo chính thức cho đối tượng nộp thuế số thuế phải nộp
và thời hạn phải nộp xong thuế là trong 15 ngày, 30 ngày hoặc 90 ngày tuỳ theo từng trường hợp Ðối với một số mặt hàng có số lượng NK lớn hoặc phải có giám định phức tạp thì thời hạn thông báo thuế có thể được kéo dài nhưng không quá 3 ngày làm việc
Phối hợp với Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc thu thuế XK, thuế NK nhằm đảm bảo cho việc thu thuế XK, thuế NK hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch được giao; đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại
Kiểm tra, thanh tra việc kê khai nộp thuế, hoàn thuế cuả đối tượng nộp thuế
để đảm bảo thực hiện đúng quy định cuả pháp luật
Xử lý vi phạm hành chính về thuế và giải quyết khiếu nại về thuế
Yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ và
hồ sơ, tài liệu khác có liên quan đến việc tính thuế và nộp thuế
Lưu giữ và sử dụng số liệu, tài liệu mà đối tượng nộp thuế và đối tượng khác cung cấp theo quy định cuả pháp luật
Trang 25Sơ đồ 1.1 Phương pháp, hình thức quản lý thuế
Hải quan
Khai thuế
Nộp thuế
Làm thủ tục miễn giảm thuế
Phục vụ thanh tra thuế
Khiếu nại thuế (nếu có)
Doanh Nghiêp
Quản
lý khai thuế
Quản
lý nộp thuế
Xét hoàn thuế, miễn giảm thuế
Thanh tra thuế
Giải quyết khiếu nại thuế (nếu có)
Nguồn: tác giả tổng hợp 1.3.3 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan
Thuế XNK là loại thuế chiếm tỉ trọng lớn trong các sắc thuế mà cơ quan Hải quan quản lý và thu thuế Việc quản lý sắc thuế này chịu sự chi phối bởi rất nhiều nguồn luật trong nước và quốc tế, các cam kết trong hội nhập Đối với luật trong nước, hiện nay sắc thuế này chịu sự tác động của thuế Luật thuế XNK; Luật Hải quan; Luật quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như sau:
+ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH ngày 29/11/2006;
+ Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát HQ;
+ Thông tư 112/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát Hải quan;
+ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
Trang 26+ Nghị định 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Thông tư 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;
+ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;
+ Thông tư 59/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
+ Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;
+ Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan;
+ Thông tư 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài Chính huớng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định việc
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan;
+ Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
+ Quyết định 2422/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008 về việc ban hành Quy trình kiểm tra thuế, ấn định thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu khi làm thủ tục Hải quan
+ Quyết định 2424/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008 về việc ban hành Quy trình miễn thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế, hoàn thuế không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trang 27+ Luật Hải quan sửa đổi đã được Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014, có hiệu lực từ ngày 01/1/2015 Luật Hải quan năm 2014 tập trung vào quy định các nhóm vấn đề: Cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan, nội luật hoá các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan
+ Thông tư số 22/2014/TT-BTC Ngày 14/02/2012 của Bộ Tài chính về quy định thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
+ Quyết định 2924/QĐ-TCHQ ngày 3/10/2014 ban hành quy chế trao đổi thông tin về thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, các khoản thu khác của NSNN
và bảo lãnh thuế liên quan đến hoạt động XK, NK tại Cổng thanh toán điện tử của TCHQ
+ Nghị định 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ sửa đổi các Nghị định quy định về thuế
+ Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28/8/2014 quy định một số thủ tục về
kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
+ Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế
1.3.4 Nội dung quản lý thuế xuất nhập khẩu Theo mô hình tự khai tự nộp, việc quản lý thuế gồm 4 nhóm công việc như sau: quản lý khai thuế, quản lý nộp thuế, xét miễn giảm hoàn thuế, xem xét khiếu nại về thuế và thanh tra thuế
1.3.4.1 Quản lý khai thuế
Quản lý khai thuế là khâu đầu tiên và đặc biệt quan trọng trong quy trình quản lý thuế Quản lý khai thuế tại cơ quan Hải quan là quá trình công chức hải quan kiểm tra các tiêu chí khai báo về thuế của DN trên tờ khai hải quan, kiểm tra
sự phù hợp giữa các loại chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan với việc khai báo thuế của DN
Trang 28Quá trình quản lý khai thuế diễn ra theo trình tự như sau:
- Tiếp nhận khai báo của DN;
- Kiểm tra việc khai báo thuế của DN;
- Ra QĐ ấn định thuế nếu phát hiện DN khai chưa đúng, chưa chính xác, gian lận qua khai báo;
- Thực hiện công tác kế toán theo dõi thu nộp tiền thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa DN và Hải Quan trong quy trình quản lý thuế
(xem phụ lục 3)
Nguồn: tác giả tổng hợp n jn nơ
Quản lý khai thuế
Tiếp nhận khai báo
Kiểm tra khai báo thuế của
DN
Ra quyết định
ấn định thuế ( nếu có)
Thực hiện công tác kế toán thuế
Trang 291.3.4.2 Tiếp nhận khai báo thuế của Doanh nghiệp
Sơ đồ 1.3 Tiếp nhận khai báo thuế của Doanh nghiệp
(xem phụ lục 4)
1.3.4.3.Thanh tra, kiểm tra việc khai báo thuế của Doanh nghiệp( xem phụ lục 5)
Bao gồm việc kiểm tra bộ hồ sơ Hải quan về yếu tố tính thuế, phương pháp tính thuế, giá tính thuế và ra quyết phải nộp Trong quy trình quản lý, hồ sơ hải quan sẽ được phân thành ba luồng: xanh, vàng và đỏ Mục đích của việc phân thành
3 luồng là nhằm quản lý được thuận lợi, chặt chẻ đồng thời đảm bảo được yêu cần nhanh chóng, đơn giản hóa thủ tục Hải quan, giảm bớt các thủ tục không cần thiết, phân loại được đối tượng quản lý từ đó thúc đẩy được ý thức chấp hành pháp luật Hải quan của DN Việc kiểm tra khai báo thuế của DN chỉ tiến hành đối với hồ sơ
Doanh nghiệp
Hải quan
Thuộc đối tượng chịu thuế
Thuộc đối tượng chịu thuế
Thuộc đối tượng miễn thuế
Kiểm tra khai báo
về thuế
Đối tượng chịu thuế
Không thuộc đối tượng chịu thuế
Làm thủ tục miễn giảm, hoàn thuế
Thông quan
Trang 30được phân luồng ở luồng vàng và luồng đỏ Đối với hồ sơ luồng xanh, nếu phát hiện
DN có dấu hiệu gian lận thì chuyển sang luồng đỏ để quản lý Việc kiểm tra khai báo thuế giống như hồ sơ đối với luồng đỏ Kiểm tra khai báo về thuế của hồ sơ luồng vàng và luồng đỏ về cơ bản là như nhau Chỉ khác nhau là đối với hồ sơ luồng vàng đến bước kiểm tra khai báo về thuế là giải phóng hàng nhưng đối với hồ sơ luồng đỏ, có thêm bước kiểm tra thực tế hàng hóa nên căn cứ vào thực tế kiểm tra hàng hóa để xác định chính xác số thuế phải nộp rồi sau đó mới tiến hành giải phóng hàng
- Hồ sơ được phân vào luồng xanh: Đối tượng và loại hàng hóa được phân
vào luồng xanh là các DN có quá trình chấp hành tốt pháp luật Hải quan; không còn nợ thuế quá hạn; các trường hợp mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu thường xuyên;
hàng nông sản, hải sản XK, NK của khu chế xuất; hàng gửi kho ngoại quan, hàng đưa vào khu vực ưu đãi Hải quan; hàng quá cảnh; hàng cứu trợ khẩn cấp; hàng hóa chuyên dùng trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng; hàng hóa viện trợ nhân đạo và hàng hóa tạm nhập tái xuất có thời hạn; hàng hóa NK là máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định thuộc diện được miễn thuế của dự án đầu tư Đối với hồ sơ luồng này thì công chức Hải quan tiếp nhận hồ sơ xem xét sơ bộ tính hợp lệ của bộ hồ sơ, trình lãnh đạo duyệt miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, ký thông quan hàng hoá ngay
Không thực hiện bước kiểm tra thuế đối với hồ sơ được phân vào luồng này Nhưng trong quá trình thông quan hàng hóa nếu phát hiện vi phạm pháp luật Hải quan thì thực hiện kiểm tra thuế và kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng
-Hồ sơ được phân vào luồng vàng : Đối tượng và loại hàng hóa được phân
vào luồng vàng là DN có quá trình chấp hành tốt pháp luật Hải quan, các trường hợp mặt hàng XK, NK thường xuyên và hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế NK
-Hồ sơ được phân vào luồng đỏ: Đối tượng và loại hàng hóa được phân vào
luồng đỏ là DN thường xuyên vi phạm pháp luật Hải quan, hàng hóa trọng điểm, hàng hóa có thuế suất cao
1.3.4.4.Kiểm tra khai báo về thuế của hồ sơ luồng vàng và luồng đỏ
Bước 1: Kiểm tra khai báo về thuế
Trang 31Bước 2: Xác định số tiền thuế phải nộp sau khi người khai hải quan giải trình
bổ sung tài liệu, sau khi kiểm tra thực tế hàng hóa, giám định hàng hóa, hoặc tham vấn giá
Công chức Hải quan làm thủ tục hải quan kiểm tra, đối chiếu kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa, kết quả giám định hàng hóa, kết quả tham vấn giá, nội dung giải trình và tài liệu bổ sung của người khai hải quan với các quy định của pháp luật
về thuế để xác định các yếu tố tính thuế và phương pháp tính thuế, số tiền thuế phải nộp của mặt hàng và lô hàng làm thủ tục thông quan
- Trường hợp có sự khác nhau về yếu tố tính thuế và phương pháp tính thuế,
số tiền thuế phải nộp do công chức hải quan xác định so với khai báo của người khai Hải quan thì tính lại số tiền thuế phải nộp của mặt hàng bị ấn định thuế
-Trường hợp không có sự khác nhau về yếu tố tính thuế và phương pháp tính thuế, số tiền thuế phải nộp do công chức hải quan xác định so với khai báo của người khai Hải quan và hàng hóa chưa thông quan thì kết thúc việc kiểm tra thuế trong thông quan, thông quan hàng hóa
Bước 3: Quyết định việc ấn định thuế:
Khi có đủ cơ sở xác định người khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai báo thuế, không kê khai thuế hoặc khai báo không đầy đủ, chính xác, trì hoãn việc khai báo, khai báo trị giá không đúng với giá trị giao dịch thực tế, không tự tính được số thuế phải nộp thì cơ quan Hải quan căn cứ hàng hoá thực tế
XK, NK; căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, tài liệu có liên quan để ấn định
số thuế phải nộp
1.3.4.5 Kế toán theo dõi thu nộp tiền thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế
Sau khi kiểm tra tính chính xác, hợp lệ của việc khai báo thuế của DN, cơ quan Hải quan tiến hành nhập số liệu vào mạng theo dõi nợ và ra một chứng từ “ chứng từ ghi số thuế phải thu” Chứng từ này là căn cứ để DN thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình đồng thời cũng là cơ sở để Hải quan theo dõi việc chấp hành nộp thuế của DN
Trang 32Đối với Quyết định ấn định thuế, sau khi ra quyết định công chức Hải quan cũng phải nhập chứng từ này vào mạng theo dõi nợ
1.3.5.Quản lý nộp thuế Đối tượng nộp thuế ở đây là các tổ chức cá nhân có hàng hóa XNK thuộc diện chịu thuế XNK, các cá nhân có hàng hóa khi XNK, các tổ chức nhận uỷ thác, các DN cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, các tổ chức nhận bảo lãnh cho đối tượng nộp thuế
Mục tiêu: Kịp thời phát hiện và xử lý các ĐTNT cố tình chây ỳ, nợ thuế và
chiếm đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN, phù hợp với pháp luật về thuế
Xây dựng và thực hiện các phương pháp, biện pháp theo dõi, đánh giá nợ thuế và thu nợ thuế phù hợp nhằm thu đủ số nợ thuế nợ đọng vào NSNN, không để thất thu và bảo đảm công bằng xã hội
Công tác thu nợ thuế phải bảo đảm xác định kịp thời, chính xác các khoản nợ của từng ĐTNT Xác định nguyên nhân, tình trạng nợ của ĐTNT Từ đó có biện pháp thu nợ phù hợp, hiệu quả; sử dụng một cách có hiệu quả các biện pháp thu nợ thuế với nguồn lực ít nhất thu được số nợ nhiều nhất cho NSNN
Quá trình quản lý nộp thuế diễn ra theo trình tự như sau:
-Tiến hành theo dõi quá trình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của DN;
-Tiếp nhận chứng từ nộp thuế của DN và tiến hành xóa nợ thuế cho DN trên
-Sử dụng các biện pháp đốc thu thu hồi nợ đọng thuế như phối hợp với các
cơ quan ban ngành Công an, Tòa án, các sở ban ngành…
Tại Việt Nam, có rất nhiều loại hình kinh doanh XNK Mỗi loại hình XNK đều có những đặc thù riêng cho nên việc quản lý nộp thuế, theo dõi nợ thuế và
Trang 33cưỡng chế thuế đã có những chính sách quản lý thuế riêng Ví dụ như đối với loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng XK thì để khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này, chính sách thuế đã có những ưu đãi đặc biệt như thời gian được phép nộp thuế là 275 ngày, DN tạm nộp thuế NK phần nguyên liệu vào tài khoản của Hải quan, sau đó DN sẽ được hoàn thuế NK nếu DN có sản phẩm được xuất ra
Tùy theo đặc điểm của từng loại hình hàng hoá mà có cách thức quản lý riêng:
1.3.5.1 Hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán
Là loại hàng hoá được NK theo hợp đồng thương mại ký kết giữa người mua
và người bán, theo đó người mua phải làm nghĩa vụ nộp thuế NK cho lô hàng đó
Do đó, đối tượng kinh doanh loại hàng hóa này phải chịu toàn bộ thuế NK, thuế GTGT, thuế TTĐB( nếu có) Để ĐTNT chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, chính sách thuế cho phép loại hình này được ân hạn thuế trong vòng 30 ngày
kể từ ngày ĐTNT kê khai tính thuế với điều kiện ĐTNT có quá trình chấp hành tốt pháp luật Hải quan, thường là 365 ngày trước đó Nếu hàng hoá là hàng tiêu dùng thì phải nộp thuế ngay trước khi giải phóng hàng Sau thời gian trên nếu DN chưa đóng thuế thì cơ quan Hải quan sẽ tiến hành tính phạt chậm nộp thuế với mức phạt
là 0.05%/ngày/tổng số thuế phải nộp Nếu quá 90 ngày tính từ ngày hết hạn nộp thuế nhưng DN vẫn cố tình chây ỳ không nộp thuế thì cơ quan HQ tiến hành cưỡng chế không cho làm thủ tục các lô hàng tiếp theo của DN này và tiến hành đưa DN này vào tiêu chí theo dõi, đôn đốc nợ thuế thường xuyên Nếu xét thấy cần thiết cơ quan Hải quan sẽ phối hợp với các ban ngành chức năng như Công an… để thu hồi
nợ
1.3.5.2 Hàng hoá tạm nhập, tái xuất
Là loại hàng hóa tạm nhập vào lãnh thổ Việt Nam trong một thời gian nhất định nào đó sau đó sẽ được tái xuất Vì loại hàng chỉ tạm nhập vào lãnh thổ Việt Nam nên cơ quan Hải quan không tiến hành thu thuế, tuy nhiên thời gian được phép lưu lại Việt Nam tối đa chỉ có 90 ngày, quá thời hạn 90 ngày cơ quan Hải quan sẽ
Trang 34tiến hành thu thuế Thời hạn ân hạn thuế là 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập theo quy định của cơ quan có thẫm quyền Nếu quá thời hạn nêu trên thì cơ quan Hai quan sẽ áp dụng các biện pháp tính phạt, cưỡng chế và thu hồi nợ đọng như đối với hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán
1.3.5.3 Hàng là nguyên liệu nhập để sản xuất hàng xuất khẩu
Là loại hình NK nguyên liệu về để sản xuất ra sản phẩm XK Trong phương thức này người mua và người bán hoàn toàn độc lập nhau Chủ trương của Đảng và nhà nước đối với loại hình NSXXK là khuyến khích XK, thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với nguyên vật liệu NK để sản xuất hàng XK nhằm tạo công ăn việc làm, khai thác nguồn lực trong nước, tranh thủ vốn, khoa học nước ngoài… nên thời gian ân hạn thuế của loại hình này là 275 ngày Số thuế này sẽ không thu khi nguyên vật liệu được đưa vào sản xuất sản phẩm và sản phẩm đã thực XK trong thời gian ân hạn thuế hoặc được hoàn thuế khi sản phẩm thực XK ngoài thời gian ân hạn thuế Tuy nhiên nếu DN không XK được sản phẩm trong thời gian ân hạn thuế thì vẫn phải chịu tính phạt, cưỡng chế và thu hồi nợ đọng như đối với hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán
1.3.6 Phòng chống buôn lậu, gian lân thương mại và hang nhái hàng giả
1.3.6.1 Gian lận thương mại
Gian lận thương mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, XNK hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính Mục đích của hành vi gian lận thương mại là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá Chủ thể tham gia hành vi gian lận thương mại bao gồm: người mua, người bán, hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hóa
Gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ khi có sản xuất hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua, người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hóa thì gian lận thương mại cũng mới xuất hiện Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi, buôn bán trên thị trường ngày càng
Trang 35nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú thì gian lận thương mại cũng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn Ngày nay, mặc dù người ta khó
có thể tiến hành xã hội hóa toàn cầu nhưng toàn cầu hóa về kinh tế lại là một quá trình tất yếu khách quan dẫn đến gian lận thương mại mang tính toàn cầu trên cơ sở
sự khác biệt các Nhà nước, quốc gia độc lập
Gian lận thương mại ở Việt nam không phải là vấn đề mới, từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết hành vi gian lận thương mại thành câu:" Buôn gian, bán lận" để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khóe, lừa dối khách hàng của các gian thương Hiện nay chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh
Cạnh tranh là động lực để phát triển Nguyên nhân và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh
sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng
Ở nước ta hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào đề cập một cách đầy
đủ khái niệm về gian lận thương mại cũng như gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan Mặc dù vậy, thuật ngữ gian lận thương mại được sử dụng một cách rộng rãi ở các Bộ, ngành, các tổ chức khác nhau Xét quan điểm của tổ chức Hải quan Thế giới định nghĩa về gian lận thương mại
1.3.6.2 Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan
Khác với gian lận thương mại nói chung, gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận nhằm trốn tránh việc kiểm soát của cơ quan Hải quan để trốn thuế XNK
Việc xác định khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan đã được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là tổ chức Hải quan thế giới World Customs Organization-WCO) thảo luận nhiều lần Ngày 9/6/1977, các nước thành
Trang 36viên họp tại Nairobi (CH Kenya) đã đưa ra định nghĩa: "gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế XNK, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nào đó qua việc
vi phạm pháp luật này”
Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, thương mại quốc tế ngày càng phát triển, gian lận thương mại ngày càng phức tạp và tinh vi hơn Vì vậy, tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan do WCO triệu tập tại Brussels, Bỉ ngày 9/10/1995 đã thống nhất đưa ra một định nghĩa mới như sau:
"gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính" Hội nghị cũng đã phân tích, tổng hợp, đúc kết và liệt kê 16 loại hành vi gian lận thương mại chủ yếu
Trên cơ sở đó với thực tiễn ở Việt Nam, khái niệm gian lận thương mại được biết đến như sau: "gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi gian lận các luồng sản phẩm XNK bằng cách lợi dụng sơ hở của luật pháp, chính sách và quản lý của các cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình"
1.3.6.3 Sự khác nhau giữa buôn lậu và gian lận thương mại
Căn cứ vào điều 153 Bộ luật hình sự có thể, rút ra khái niệm buôn lậu "Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa"
Theo tổ chức Hải quan Thế giới WCO: "gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một
Trang 37phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế XNK, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được khoản lợi nào đó trong việc vi phạm này"
So sánh khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan với khái niệm buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới có thể thấy
có những điểm khác nhau sau:
+ Gian lận thương mại thực chất đó là tiến hành hoạt động XNK có phép tắc, công khai đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục (khai báo, kiểm tra, nộp thuế) và công khai, hợp pháp đưa hàng hóa qua cửa khẩu nhưng lợi dụng những kẽ hở để khai báo gian dối như về mẫu mã,về số lượng, về chất lượng nhằm đạt được kết quả cuối cùng là gian lận về mức thuế phải nộp Hành vi này có khi chỉ là thủ đoạn riêng của chủ hàng khi có sự tiếp tay của một số nhân viên Hải quan biến chất
+ Buôn lậu là hành vi lén lút đưa hàng hóa XNK qua biên giới trốn tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng cách không đi qua cửa khẩu, hoặc tuy có đi qua cửa khẩu nhưng dùng thủ đoạn bí mật bất hợp pháp như trà trộn hàng lậu trong các hàng hóa khác có làm thủ tục, cấu tạo chỗ bí mật để giấu hàng lậu để che dấu hàng hóa, trốn tránh, chống lại sự kiểm tra của Hải quan, nhằm đạt được lợi ích cuối cùng là thu được lợi nhuận thặng dư siêu ngạch Hành vi buôn lậu có khi chỉ có giá trị nhỏ, nhưng hầu hết phải do những tổ chức bất hợp pháp có đường dây bất hợp pháp qua biên giới, có khi xuyên quốc gia thực hiện
Vấn đề đặt ra là ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hai khái niệm này chưa được phân định rõ ràng Nhiều nước coi buôn lậu cũng là hành vi gian lận thương mại Tổ chức Hải quan Thế giới tại hội nghị lần thứ 5 về chống gian lận thương mại đã xếp buôn lậu vào một trong những hình thức gian lận thương mại nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại đặc biệt nguy hiểm
Ơ Việt Nam hiện nay, buôn lậu được coi là hành vi vi phạm pháp luật, không đồng nhất với gian lận thương mại
Theo Bộ Luật hình sự 2000 quy định tại điều 153 và điều 154, buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, là hành vi vi phạm pháp luật hình sự và bị coi là phạm tội Hai tội danh này tương ứng với hai khung hình phạt
Trang 38khác nhau Tội buôn lậu (Điều 153) hình phạt thấp nhất là phạt tiền 10 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng, cao nhất là tử hình Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền
tệ qua biên giới (Điều 154) hình phạt thấp nhất là phạt tiền từ 5 triệu đồng, cải tạo không giam giữ 2 năm hoặc vào tù 3 tháng, hình phạt cao nhất là phạt tù 10 năm
Trong Bộ luật hình sự 2000, hành vi gian lận thương mại không được đề cập đến, như vậy có thể nói gian lận thương mại có sự tách biệt với tội danh buôn lậu
Xét về góc độ áp dụng luật pháp có thể khởi tố hình sự tất cả các chủ thể có hành vi thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội "vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới" (Điều 154 Bộ luật hình sự) Điều này cho phép xác định ranh giới giữa buôn lậu, vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới với hành vi gian lận thương mại
Tuy nhiên, đối với trường hợp chủ hàng giấu diếm hàng hóa hoặc không có giấy tờ hợp lệ khi xuất nhập khẩu hoặc khai báo gian dối khi qua biên giới, thì cũng
có thể coi là vận chuyển trái phép hàng hoá để khởi tố theo Điều 153 Bộ luật hình
sự hoặc xử phạt theo quy định tại điều 12, 13 Nghị định 138/2004/NĐ-CP về xử phạt hành vi trong lĩnh vực hải quan ở đây, một vấn đề nổi cộm là cùng một hành
vi vi phạm như không khai báo hoặc khai báo không đúng khi vân chuyển hàng hoá qua biên giới .việc xử lý có thể áp dụng điều 153 Bộ luật hình sự ghép vào tội danh "tội buôn lậu", nhưng cũng hành vi đó cũng có thể áp dụng điều 12 Nghị định 130/2004/NĐ- CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan Do đó, việc phân định rõ ràng ranh giới để xác định tội danh buôn lậu và gian lận thương mại là một vấn đề bức xúc cần được nghiên cưú giải quyết
Theo pháp luật Việt Nam, gian lận thương mại không phải là một tội danh trong Bộ luật hình sự, nhưng các biểu hiện đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu, một bộ phận của gian lận thương mại là buôn lậu và buôn lậu bao gồm cả gian lận thương mại Hai khái niệm này thường đi đôi, gắn liền với nhau trong tiềm thức xã hội, chúng có phần giao thoa với nhau nhưng không bao hàm tất cả Đặc biệt là gian lận thương mại, ngoài buôn lậu, gian lận thương mại còn bao gồm nhiều
Trang 39yếu tố khác như: buôn bán hàng giả, ăn cắp mẫu mã, khai báo sai về số lượng, chất lượng hàng hóa
Sự khác nhau cơ bản giữa gian lận thương mại và buôn lậu là buôn lậu trước hết là:
+ Hành vi gian lận thương mại nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp và nghiêm trọng hơn Nó là trường hợp đặc biệt của gian lận thương mại
+ Về bản chất của những kẻ buôn lậu là mạo hiểm, sử dụng "cơ bắp" và các phương tiện cần thiết để đưa hàng qua biên giới
+ Bản chất của gian lận thương mại là "cơ mưu, trí não" lợi dụng sự sơ hở, không rõ ràng, không chính xác khoa học và đầy đủ của luật pháp, chính sách của các cơ quan quản lý chức năng để thực hiện hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một cách công khai nhằm thu lợi bất chính Phạm vi của khái niệm gian lận thương mại rộng hơn khái niệm buôn lậu
+ Nếu xép ở mức độ nguy hiểm đối với nền kinh tế thì hành vi buôn lậu mang ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều
+ Nếu xét ở khía cạnh xử lý thì xử lý gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan khó khăn hơn và khung hình phạt nhẹ hơn
+ Nếu xét ở góc độ nhận biết thì buôn lậu dễ nhận thấy hơn còn gian lận thương mại thông thường núp dưới những vỏ bọc hợp pháp
Có thể nói, buôn lậu trước hết là hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan có mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể Điều đó có nghĩa là hành vi khách quan và hàng hóa gian lận thương mại phải ở mức bị coi là nguy hiểm đáng
kể, phải xử lý hình sự (về tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới) Dưới mức đó thì bị coi là gian lận thương mại nguy hiểm chưa đáng
kể và chỉ bị xử lý hành chính
1.4.6.4 Các hình thức gian lận thương mại
Trong nhiều năm, hiện tượng gian lận thương mại trong hoạt động quốc tế đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới và trở thành mối đe dọa thực sự đối với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh chính trị của các quốc gia Những hậu
Trang 40quả xấu của nó có tác động rõ rệt và nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội,
đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước, làm tổn hại đến quyền lợi của người dân, phá hoại môi trường cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế Thế giới, đồng thời gây tốn kém không nhỏ cho ngân sách các quốc gia trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống gian lận thương mại
Vì những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn này, tổ chức của Hải quan Thế giới
đã triệu tập Hội nghị chống gian lận thương mại với sự tham gia của đại diện Hải quan từ hơn 50 nước và tổ chức quốc tế Hội nghị đã xác định các hình thức gian lận thương mại và đề ra các biện pháp cụ thể phòng chống tệ nạn này
Theo tài liệu số 36 623 ngày 28/5/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại do WCO họp tại Brussels ( Bỉ ) đã khẳng định gian lận thương mại tồn tại dưới 16 hình thức sau:
1- Buôn lậu hàng hóa qua biên giới hoặc ra khỏi kho Hải quan 2- Khai báo sai
3- Khai tăng, giảm giá trị hàng hóa 4- Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế ) 5- Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công
6- Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất 7- Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu ( qua thỏa thuận lợi dụng giấy phép nhập hàng dệt cho trang bị quân đội để nhập hàng dệt nói chung)
8- Lợi dụng chế độ quá cảnh (mang hàng hóa quá cảnh để tiêu dùng ở nước hàng đi qua )
9- Khai sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa 10- Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được
ưu đãi thuế (Lợi dụng sự ưu đãi của Chính phủ về thuế xuất khẩu dành cho những đối tượng sử dụng nhất định )
11- Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
12- Sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã