Trường đại học Kinh Tế TP.HCMViện Du Lịch QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ Chuyên đề 1 : Phân tích lợi thế cạnh tranh của mặt hàng áo jacket Việt Nam xuất khẩu sang Canada so với Indonesia dự
Trang 1Trường đại học Kinh Tế TP.HCM
Viện Du Lịch
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Chuyên đề 1 : Phân tích lợi thế cạnh tranh của mặt hàng áo jacket Việt Nam xuất khẩu sang Canada so với Indonesia dựa trên mô hình “ Kim cương của
Michael Porter”
GV hướng dẫn: Th.S Quách Thị Bửu Châu Lớp : DL1_2 K39
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
I Thị trường áo jacket ở Việt Nam 3
1 Tình hình xuất khẩu áo jacket của Việt Nam sang các nước 3
Trang 22 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Canada 4
II Thị trường nhập khẩu áo jacket của Canada 4
III Mô hình kim cương của Michael Porter – Phân tích lợi thế cạnh tranh mặt hàng áo Jacket Việt Nam so với Indonesia 7
1 Khái quát về mô hình kim cương của Michael Porter 7
2 Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm áo jacket Việt Nam xuất khẩu sang Canada so với Indonesia dựa theo mô hình kim cương của Michael Porter 7
2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất 7
2.1.1 Nguồn nhân lực: 8
2.1.2 Cơ sở hạ tầng 9
2.2 Các điều kiện về nhu cầu 10
2.3 Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ 11
2.4 Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
2.5 Các yếu tố khác 13
IV Kết luận về những điểm mạnh và điểm yếu trong việc xuất khẩu áo jacket của Việt nam so với Indonesia thông qua MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3I Thị trường áo jacket ở Việt Nam.
1 Tình hình xuất khẩu áo jacket của Việt Nam sang các nước.
10 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu áo khoác sang các thị trường chủ lực như : Mỹ, EU và Nhật Bản tiếp tục xu hướng tăng Trong đó: xuất khẩu áo khoác sang thị trường Mỹ tăng 21% về lượng và 14,9% về trị giá so với cùng kỳ, đạt 24,6 triệu cái, trị giá 219,4 triệu USD, chiếm 45,4% tổng kinh ngạch xuất khẩu mặt hàng này
Bên cạnh đó, xuất khẩu áo khoác sang thị trường EU xét về lượng chỉ tăng 4,4% nhưng xét về trị giá lại tăng khá trên 29,5% so với cùng kỳ, đạt 12,6 triệu cái, trị giá 135 triệu USD Nguyên nhân là do giá xuất khẩu sang một số nước thuộc khối EU được giá như: Anh, Đức, Ai Len, Ba Lan…
Đáng chú ý, xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật Bản tăng cả về lượng và trị giá do giá xuất khẩu khá ổn định, với mức tăng trên 89% về lượng và 83% về trị giá so với cùng kỳ, đạt 3,84 triệu cái, trị giá 51,3 triệu USD Ngoài ra, các doanh nhiệp đẩy mạnh xuất khẩu áo khoác sang một số thị trường mới như: Afganistan, Suriname, Tokelau, Qata…
Thị trường xuất khẩu áo khoác của Việt Nam 10 tháng năm 2009
Thị
trường
Nhật
83,5
10 tháng đầu năm 2009, giá xuất khẩu áo khoác trung bình của Việt Nam tăng nhẹ 0,6%
so với năm 2008, đạt 10,26 USD/cái
Giá xuất khẩu trung bình áo khoác sang thị trường Mỹ trong 10 tháng giảm 5,1% so với cùng kỳ, đạt 8,91 USD/cái
Trang 4Trái lại, giá xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Nhật Bản 10 tháng năm 2009 tăng nhẹ 4,3% so với cùng kỳ, đạt 18,78 USD/cái, FOB Và giá xuất khẩu áo khoác sang thị trường Đức cùng xu hướng, tăng 14,8% so với cùng kỳ, đạt 10,6 USD/cái
2 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Canada.
Những năm gần đây, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam luôn có kim ngạch đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Hiện nay chưa có rào cản thương mại, thuế quan hay phi thuế quan được áp dụng, đây là cơ hội tốt cho doanh nghiệp Việt Nam Canada là thị trường trọng điểm Việt Nam hướng đến, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc tăng cao , trong
đó, áo jacket là mặt hang trọng điểm…
9 tháng năm 2007, xuất khẩu áo jacket sang Canada đạt kim ngạch lớn nhất, hơn 24 triệu USD tương đương 1,39 triệu chiếc, chiếm tới 24% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Canada
Trong đó, tháng 9/2007, xuất khẩu áo jacket sang thị trường này tiếp tục duy trì khá, đạt 3,2 triệu USD tương đương 1,39 triệu chiếc, giảm 5% về trị giá và 7% về lượng so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng hơn gấp hai lần cả về lượng và trị giá
Đây là mặt hàng đang được tiêu thụ khác mạnh tại Canada trong thời gian qua Dự báo, xuất khẩu áo jacket sang Canada sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong các tháng cuối năm nay
Giá xuất khẩu áo jacket sang Canada trong tháng 9/2007 đạt 18,55 USD/chiếc , tăng 3%
so với tháng trước và tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái
Như vậy, sau khi giảm nhẹ trong tháng trước, giá xuất khẩu áo jacket sang Canada đã hồi phục trở lại trong tháng 9 này
Dự báo, giá xuất khẩu áo jacket sang đây sẽ tiếp tục tăng nhẹ trong các tháng cuối năm nay do nhu cầu tiêu thụ ở đây còn khá lớn
Giá xuất khẩu mặt hàng quần sang Canada trong tháng 9/2007 lại giảm đáng kể, chỉ đạt 7,16 USD/chiếc, giảm hơn 1 USD/chiếc so với tháng trước, và giảm 19% so với tháng 7/2007 Tuy nhiên thị phần áo jacket việt nam tại Canada vẫn giữ được thị phần và mức giá sẽ tăng nhẹ trong quý cuối năm 2007, mặc dù phải đối mặt với những áp lực cạnh tranh từ phía nhà dệt may trung quốc
II Thị trường nhập khẩu áo jacket của Canada.
Bảng 2: Giá trị nhập khẩu hàng may mặc vào thị trường Canada
theo từng nước xuất khẩu (Mã HS 61 và 62 )
Đơn vị:triệu C$
Trang 5Nước xuất
khẩu 2011 2012 2013
2013/
2012
2013/
2011
QI,QII /2013
QI,QII /2014
Q1,QII 2014 /Q1,QII 2013
China 4.259,17 3.935,12 4.270,79 9% 0% 2.293,92 1.933,70 -16% Banglades
h 940,24 994,54 1.063,31 7% 13% 563,68 550,48 -2% Cambodia 485,11 536,15 619,59 16% 28% 328,80 327,09 -1% Viet Nam 336,13 387,21 502,81 30% 50% 268,09 285,10 6% United
States of
America
422,37 450,76 443,34 -2% 5% 224,60 229,44 2%
Indonesia 235,48 237,59 281,33 18% 19% 150,72 152,15 1% Mexico 305,06 317,73 340,70 7% 12% 180,77 168,36 -7% India 308,56 271,04 298,32 10% -3% 154,63 176,39 14% Các nước
khác 1.259,53 1.361,24 1.501,11 10% 19% 778,15 793,34 2%
Tổng 8.551,66 8.491,37 9.321,30 10% 9% 4.943,36 4.616,05 -7%
Nguồn: canhbaosom.vn
Trong năm 2013, tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng may mặc vào thị trường Canada đạt 9,32 tỷ đô C$, tăng 10% so với năm 2012 và tăng 9% so với năm 2011 Trong giai đoạn
2011 – 2013, các nước đều tăng mạnh lượng hàng xuất sang thị trường Canada, đặc biệt là nhóm ba nước trong khối ASEAN bao gồm Campuchia, Việt Nam và Indonesia (tăng trên 20% năm 2013 so với năm 2011) Bước sang năm 2014, Canada vẫn là một trong những thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn trên thế giới với tổng giá trị nhập khẩu Quý I, Quý II năm 2014 lên đến 4,61 tỷ đô C$ (tương đương với bao nhiêu 4,21 tỷ USD)….)
Khi so sánh lượng xuất khẩu của Quý I, II năm 2014 với cùng kỳ năm ngoái, điểm nổi bật có thể nhận thấy là chỉ có Việt Nam, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Indonesia có mức tăng trưởng lượng hàng xuất vào thị trường Canada Trong đó, Việt Nam có mức tăng cao và ấn tượng với
tỷ lệ 16%
Đồ thị 2: Thị phần nhập khẩu áo jacket Canada - Năm 2013
Trang 6Đồ thị 3: Thị phần nhập khẩu hàng áo jacket Canada - Quý 1, Quý II Năm 2014
Việt Nam được xếp trong nhóm nước xuất khẩu mặt hàng áo jacket nhiều nhất vào thị trường Canada trong năm 2013, trong đó Trung Quốc dẫn đầu khi chiếm thị phần 46% trên tổng thị phần nhập khẩu, tiếp theo là Bangladesh (11%), Cambodia (7%) và Việt Nam (5%)
Trang 7Tuy nhiên, có thể thấy rằng lượng hàng áo jacket của nhóm các nước dẫn đầu này xuất khẩu sang thị trường Canada chiếm thị phần xấp xỉ bằng ½ thị phần của riêng Trung Quốc
III Mô hình kim cương của Michael Porter – Phân tích lợi thế cạnh tranh mặt hàng áo Jacket Việt Nam so với Indonesia.
1 Khái quát về mô hình kim cương của Michael Porter.
Lý thuyết về cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào những năm 1990 Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao một quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói khác đi tại sao lại có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một sản phẩm
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố Mối liên kết của 4 nhóm này tạo thành mô hình kim cương (diamond) Các yếu tố đó bao gồm:
Điều kiện các yếu tố sản xuất
Sự phong phú dồi dào của yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia, các quốc gia có lợi hơn khi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố đầu vào mà quốc gia đó có nhiều
Điều kiện về cầu
Tốc độ tăng nhu cầu thị trường sẽ buộc các doanh nghiệp liên tục đổi mới và cải tiến, tạo sức ép giảm giá, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường khả năng cạnh tranh
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan
Ngành hỗ trợ là chất xúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác, đẩy nhanh tốc độ đổi mới toàn bộ nền kinh tế
Chiến lược, cơ cấu và năng lực của doanh nghiệp
Mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức doanh nghiệp đối phó với sự cạnh tranh trong nước và quốc tế góp phần quyết định khả năng cạnh tranh cảu doanh nghiệp Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia
Ngoài ra còn hai yếu tố khác là cơ hội và chính sách của chính phủ Đây là 2 yếu tố có thể tác động đến yếu tố cơ bản trên
2 Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm áo jacket Việt Nam xuất khẩu sang Canada
so với Indonesia dựa theo mô hình kim cương của Michael Porter.
2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất
Trang 82.1.1 Nguồn nhân lực:
Về nguồn nhân lực, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn một số nước trong khu vực Điển hình nhất là giá nhân công dệt may hiện nay ở nước ta thuộc nhóm rẻ nhất thế giới, chỉ
từ 0.3 – 0.6 USD/giờ Hơn nữa Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, năm 2014 nước ta có khoảng 53,9 triệu người lao động
Dệt May hiện là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất Lao động của ngành Dệt May khoảng 2,5 triệu người chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần 5% trong tổng lực lượng lao động toàn quốc Nguồn nhân lực của ngành Dệt May Việt Nam
có những đặc thù sau:
Gần 80% là lao động nữ, trình độ văn hoá của người lao động tương đối cao chủ yếu là đã tốt nghiệp PTTH, PTCS Lao động trực tiếp của ngành đa số tuổi đời còn rất trẻ, tỷ
lệ chưa có gia đình cao sẽ là lợi thế cho việc đào tạo và nâng cao năng suất lao động
Mức độ tập trung lao động dệt may trong các doanh nghiệp không cao, do có hơn 70% các doanh nghiệp Dệt May là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số lao động dưới 300 người,
số doanh nghiệp từ 1000 người trở lên chỉ có 6% Với độ phân tán như vậy, nếu không liên kết lại thì hoạt động đào tạo sẽ khó triển khai hiệu quả Lao động trong ngành Dệt May hiện nay tăng nhanh và tập trung chủ yếu trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành Dệt May Thường các doanh nghiệp này hiện nay lại có khuynh hướng đầu tư cho việc thu hút lao động, chứ không có khuynh hướng đầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo
Lao động có trình độ thạc sĩ và đại học của toàn ngành hầu hết cũng tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ Hai vùng này cũng tập trung hầu hết các
cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cấp độ đại học, cao đẳng của ngành Xét tỷ lệ lao động có trình
độ cao đẳng trở lên trên tổng số lao động toàn ngành thì đó là một con số quá khiêm tốn – hơn 4%
Đối với Indonesia, quốc gia có dân sồ rất đông, đứng thứ nhất khu vực Đông Nam Á, số dân trong độ tuổi lao động của nước này là 114 triệu người và có xu hướng tiếp tục tăng Trong đó lao động của ngành Dệt May khoảng 4 triệu lao động (chiếm 3.5% lực lượng lao động cả nước) Năng suất lao động bình quân năm 2011 là 9.500 USD/người, trong khi năng suất lao động bình quân của Việt Nam là 5.500 USD/người Năm 2013, năng suất lao động ngành dệt may của Indonesia là 0,4875 tấn/người gấp đôi so với Việt Nam là 0,247 tấn/người
Có thể thấy lao động Indonesia hoạt động hiệu quả hơn so với Việt Nam
So với các quốc gia khác, năng suất lao động khu vực sản xuất của Việt Nam rất thấp Chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất của Việt Nam chỉ đạt 2,4; trong khi các quốc gia sản xuất dệt may lớn khác như Trung Quốc, Indonesia là 6,9 và 5,2 Đây là một trong những
Trang 9điểm yếu lớn nhất của dệt may nói riêng và các ngành công ngành sản xuất thâm dụng lao động nói chung của nước ta
Về trình độ tay nghề, Việt Nam thiếu nguồn lao động có tay nghề cao về công nghệ, thiết kế và quản lý Trong khi nguồn lao động tại Indonesia có tay nghề ổn định hơn, mức biến động của lao động lành nghề cao (từ 22 – 33%) Tuy vậy, vì đa số là nữ nên lao động ở Việt Nam có tính chăm chỉ và tay nghề khéo léo, đây là một trong những yếu tố quan trọng cần thiết của người công nhân ngành dêt may
Chi phí lao động của Việt Nam không có tính cạnh tranh cao vì hiệu suất thấp và thiếu nhân công có trình độ chuyên môn
Biểu đồ chi phí lao động của Việt Nam và Indonesia (2007 – 2012)
(Nguồn: International Labor Comparisons)
2.1.2 Cơ sở hạ tầng
Với vị trí địa lý có ba mặt giáp biển, Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc giao thông đường biển Việc vận chuyển hàng hóa trên biển của Việt Nam tập trung chủ yếu vào 3 cảng lớn:
+ Miền Bắc có cảng Hải Phòng
+ Miền Nam có cảng Sài Gòn
+ Miền Trung có cảng Đà Nẵng
0
20
40
60
80
100
120
140
160
28.1
54.3
71.2
92.1
132.7
151
Việt Nam Indonesia
Trang 10Tuy nhiên khi so sánh với Indonesia, Việt Nam không có lợi thế về mặt này do chi phí vận chuyển, viễn thông, thuế áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài còn rất cao Indonesia có số lượng cảng biển lớn, hơn 1.200 cảng biển, nhưng các cảng hoạt động không hiệu quả, chi phí vận chuyển và lệ phí cảng cao
Ngành Dệt May Việt Nam còn yếu về cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị máy móc xuống cấp nghiêm trọng, vừa lạc hậu vừa thiếu đồng bộ Trong khi để duy trì lợi thế cạnh tranh trong khu vực, các doanh nghiệp Indonesia đã không ngừng cải thiện và ngày càng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ quá trình sản xuất
Ngành Dệt nước ta có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư hang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm làm ra thấp, giá thành cao Hàng ngàn máy dệt không thoi, có thoi đã được nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới, hiện đại
đã được trang bị thay thế cho các thiết bị qúa cũ Tuy ngành Dệt đã có nhiều cố gắng trong đầu tư đổi mới công nghệ nhưng cho đến nay trình độ kỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực và thế giới
Trong 5 năm gần đây, ngành May liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị, toàn ngành đã trang bị thêm được 20.000 máy may hiện đại để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới Các máy may được sử dụng hiện nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao (4000 – 5000 vòng/ phút), có bơm dầu tự động đảm bảo vệ sinh công nghiệp Một số doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặt hàng
Một điểm trừ cho Indonesia là giá điện tại nước này tương đối cao: 8.75 cents/kwh (xếp hạng 78/144) so với Việt Nam là 6.2 cents/kwh (xếp hạng 95/144), nhưng việc cung cấp điện lại không ổn định
2.2 Các điều kiện về nhu cầu.
Những đặc điểm của nhu cầu thị trường nội địa đặc biệt quan trọng trong việc định hình các thuộc tính của sản phẩm được chế tạo trong nước và trong việc tạo động lực cho việc sáng tạo, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm
Vì jacket là sản phẩm dùng vào mùa có thời tiết lạnh nên tại Việt Nam, đặc biệt ở khu vực miền Bắc, lượng tiêu thụ nội địa vào quí 1 và 4 là lớn nhất Người tiêu dùng Việt Nam cũng rất sành điệu, thường có xu hướng quan tâm đến những sản phẩm có chất lượng, khi mua sắm họ thường cân nhắc kỹ càng và mặc cả cao Ở các vùng miền khác nhau, thói quen tiêu dùng cũng như thẩm mỹ cũng khác, nên sản phẩm của các doanh nghiệp cũng được đa dạng hóa về kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân
Do khí hậu nóng, ẩm hơn so với nước ta, vì thế tại Indonesia chất liệu cotton, lụa là sự lựa chọn tối ưu Những chiếc áo jacket có vẻ không phù hợp với nhu cầu của người dân tại