Kế toán là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản trong đơn vị sản xuất, kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan nhằm kiểm
Trang 1Trình bày các tóm lược các nguyên tắc kế toán , cho ví dụ việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong hoạt động ngân hàng
Mục lục
I Khái niệm và khái quát chung về nguyên tắc kế toán 3
1 Khái niệm về kế toán 3
2 Khái quát chung về các nguyên tắc 3
II Các nguyên tắc kế toán và ví dụ minh họa trong hoạt động ngân hàng 3
1 Nguyên tắc cơ sở dồn tích 3
2 Nguyên tắc hoạt động liên tục 5
3 Nguyên tắc giá gốc 6
4 Nguyên tắc phù hợp 8
5 Nguyên tắc nhất quán 10
6 Nguyên tắc thận trọng 11
7 Nguyên tắc trọng yếu 14
III Bài học rút ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kế toán ngân hàng 15
Trang 2I Khái niệm và khái quát chung về nguyên tắc kế toán
1 Khái niệm về kế toán
Kế toán là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tài sản
và sự vận động của tài sản trong đơn vị sản xuất, kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị đó
2 Khái quát chung về nguyên tắc
Các nguyên tắc kế toán: là tuyên bố chung về các chuẩn mực, thước đo để phục vụ
việc hướng dẫn lập các báo cáo tài chính đạt được mục tiêu đầy đủ, dễ hiểu, đáng tin cậy và có thể so sánh
Cơ sở xây dựng: Các nguyên tắc cơ bản của kế toán được đúc ra từ những kinh
nhiệm thực tiễn tổ chức quản lý công tác kế toán, cũng như hoạt động của người thực hiện công tác kế toán và kết hợp với việc nghiên cứu của cơ quan chức năng các chuyên gia kế toán
Sự cần thiết của nguyên tắc kế toán: Kế toán là môn khoa học có vai trò quan trọng trong hoạt động của mỗi đơn vị, doanh nghiệp Thông tin kế toán cần thiết cho nhiều đối tượng khác nhau, hay một đối tượng cũng cần nhiều thông tin kế toán từ những đơn vị khác nhau Các nguyên tắc cần có như một chuân mực chung nhằm tạo sự thống nhất trong kế toán
II Các nguyên tắc kế toán và ví dụ minh họa trong hoạt động ngân hàng 1) Cơ sở dồn tích
a Nội dung
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 3Theo VAS 01 quyết định số 165/2002/QĐ-BTC thì các nghiệp vụ kinh tế phát sinh sẽ được kế toán ghi sổ tại thời điểm phát sinh và hoàn thành giao dịch có chứng từ đảm bảo chứ không phải thời điểm doanh nghiệp thực thu và chi tiền
b Phân tích đánh giá
Ghi sổ kế toán tại thời điểm phát sinh, quy định cho thời điểm ghi nhận tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí, có nghĩa là trên sổ sách
kế toán tất cả các tài khoản từ loại 1 đến loại 8 đều được xác định thời gian ghi nhân theo thời điểm thực tế phát sinh
Sự khác biệt giữa nguyên tắc cơ sở dồn tích và nguyên tắc cơ sở tiền mặt, nhấn mạnh việc ghi nhận các khoản mục trên không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền, trong khi đó nguyên tắc cơ sở tiền mặt lại ngược lại, nên tạo sự khác biệt ở những tài sản, nguồn vốn phát sinh nhưng chưa thu tiền đó là khoản vốn chiếm dụng của đối tượng khác hay bị các đối tượng khác chiếm dụng, nên theo cơ sở dồn tích sẽ không phản ánh đc tình hình TS, NV của DN
Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí,
từ đó BCTC nói chung và BCKQHĐKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng TS,
NV của một doanh nghiệp một các đầy đủ, hợp lý
Kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Ghi nhận dựa vào thời điểm phát sinh giao dịch phát sinh số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà kế toán
Kế toán theo cơ sở dồn tích mạng lại cơ hội, cho nhà quản trị thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán thông qua công cụ kế toán nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu
c Thực trạng áp dụng tại NH
Việc áp dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích ở các ngân hàng cũng giống như ở các loại hình doanh nghiệp khác Ghi nhận thu nhập, chi phí (gồm cả các khoản phí dịch
vụ và hoa hồng) tại thời điểm phát sinh theo cơ chế tài chính và chế độ kế toán,
Trang 4các khoản thu nhập được phản ánh theo từng nhóm nghiệp vụ chính của TCTD đảm bảo đầu đủ các thông tin yêu cầu theo VAS01, VAS22 và yêu cầu quản lý, giám sát của NHNN Tuy nhiên lãi dự thu phát sinh từ các khoản cho vay phân loại từ nhóm 2 -> 5 theo số 493/2005/QĐ-NHNN và số 18/2007/QĐ-NHNN sẽ không được hạch toán hàng tháng, cũng như không được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mà sẽ được thoái thu và chuyển ra theo dõi ở tài khoản ngoại bảng, ghi nhận vào BCKQHĐKD riêng khi NH thực nhận
Về việc lập BCTC trong ngân hàng, kế toán áp dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích để lập BCĐKT, BCKQHĐKD, TMBCTC Riêng với BCLCTT kế toán sử dụng nguyên tắc cơ sở tiền mặt
2) Hoạt động liên tục
a Nội dung
BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là NH đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là NH không có
ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy
mô hoạt động của mình Trường hợp một NH đã có dấu hiệu hoạt động không liên tục đặc biệt là tình trạng kiểm soát đặc biệt thì báo cáo tài chính phải được lập trên
cơ sở khác và Ban lãnh đạo đơn vị ngân hàng phải giải thích các cơ sở đã được sử dụng để lập BCTC
b Đặc điểm, phân tích đánh giá
Nguyên tắc hoạt động liên tục làm cơ sở cho các phương pháp tính hao mòn để phân chia giá trị tài sản cố định vào các chi phí hoạt động của NH theo thời gian hoạt động của nó
Ngoài ra nó còn là cơ sở cho nguyên tắc giá gốc , tức là nếu ngân hàng được giả định là hoạt động liên tục thì giá trị tài sản được tính theo giá gốc , nhưng nếu ngân hàng có dấu hiệu hoạt động không liên tục thì giá trị tài sản khi đó sẽ được tính theo giá thị trường hợp lý
Trang 5Nguyên tắc hoạt động liên tục được đặt trên cơ sở giả thiết một ngân hàng không
được bán hoặc sát nhập trên thị trường Nếu xảy ra thì giá trị cổ phiếu , các khoản
cho vay , nợ khó đòi … sẽ được đánh giá lại theo giá thị trường
c Thực trạng áp dụng tại ngân hàng
Ngày 29/2/2012 SHB định giá sát nhập với ngân hàng Habubank do Habubank
gặp khó khăn về tài chính do tập trung dư nợ cho vay, trái phiếu quá cao cho các
CTy con của tập đoàn Vinashin lên tới 3.345.347 tỷ đồng, lãi huy động phải trả
gần 500 tỷđồng/năm Khi Habubank sát nhập vào SHB thì giá trị tài sản của ngân
hàng Habubank cũng phải được đánh giá lại theo mức hợp lý thị trường :
Để bảo đảm tuân thủ nguyên tắc hoạt động liên tục , khi mua bán sát nhập giữa các
ngân hàng phải đánh giá lại giá trị các khoản mục cần thiết và hợp lý theo thị
trường Nếu ngân hàng Habubank tiếp tục hoạt động thì tổng tài sản sẽ không bị
đánh giá lại giảm tới hơn 2.000 tỷ đồng như vậy
Chính thức đến ngày 15/6/2012 thống đốc ngân hàng nhà nước việt nam ký công
văn quyết định sát nhập 2 ngân hàng SHB và Habubank
3) Nguyên tắc giá gốc
a Nội dung:
Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền
hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài
sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay
đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể
Trang 6b Phân tích đánh giá:
Giữa nguyên tắc giá gốc và nguyên tắc hoạt động liên tục có mối quan hệ nhất định Chỉ khi chúng ta thực thi nguyên tắc hoạt động liên tục thì việc áp dụng nguyên tắc giá gốc mới được thực hiện Nếu doanh nghiệp không còn hoạt động bình thường mà ở trong tình trạng phá sản chẳng hạn thì lúc đó nguyên tắc giá gốc không vận dụng nữa, vì lúc này tất cả tài sản của doanh nghiệp được đem ra bán,
và như vậy tài sản của doanh nghiệp sẽ được đánh giá và kế toán theo giá trị thị trường vào thời điểm bán Thông thường thì giá trị thị trường của tài sản của doanh nghiệp vào thời điểm này không còn bằng với giá gốc ghi sổ kế toán ban đầu khi mua hoặc nhận tài sản nữa, có nghĩa là lúc này phải điều chỉnh giá trị của tài sản trên sổ sách và báo cáo tài chính của doanh nghiệp
c Thực trạng áp dụng
Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác đều phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán, trong đó có nguyên tắc giá gốc Việc tuân thủ nguyên tắc giá gốc trong việc ghi nhận giá trị tài sản được Ngân hàng thể hiện rõ trong BCTC được ban hành hàng năm cho nhà đầu tư và cổ đông
Trong quá trình hoạt động , NH thường xuyên ký kết các hợp đồng làm phát sinh các tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu Các tài sản
và nợ tài chính được ghi nhận ban đầu tại ngày giao dịch khi ký hợp đồng liên quan đến các công cụ tài chính, theo giá trị giao dịch liên quan trực tiếp đến việc mua hoặc phát hành Một số khoản mục tài sản tài chính điển hình và cách ngân hàng sử dụng nguyên tắc giá gốc để ghi nhận (nguồn: BCTC 2013 Techcombank):
Chứng khoán đầu tư: chứng khoán đầu tư bao gồm chứng khoán sẵn sàng
để bán và chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn Ngân hàng ghi nhận ban đầu chứng khoán đầu tư theo giá gốc
Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình được thể hiện theo nguyên giá trừ đi khấu hao lũy kế Nguyên giá ban đầu của tài sản gồm: giá mua tài sản, bao gồm cả thuế nhập khẩu, các loại thuế đầu vào và không được hoàn trả
Trang 7lại và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái và vị trí hoạt động cho mục đích sử dụng dự kiến
Các khoản đầu tư dài hạn: thể hiện các khoản đầu tư vốn vào các đơn vị khác mà Ngân hàng có dưới 11% quyền biểu quyết và đồng thời ngân hàng là cổ đông sáng lập hoặc là đối tác chiến lược Các khoản đầu tư này được ghi nhận theo giá gốc vào ngày giao dịch và sau đó được phản ánh theo giá gốc trừ đi dự phòng giảm giá nếu có
4) Nguyên tắc phù hợp
a Nội dung:
“Việc ghi nhận Doanh thu và Chi phí phải phù hợpvới nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng vớidoanh thu gồm chi phí của kỳ tạo
ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chiphí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chiphí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”
b Đặc điểm, phân tích đánh giá:
- Chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí đã phát sinh thực tế trong
kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kỳ đó
- Chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
Như vậy, chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi phí đó được chi ra trong kỳ nào Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh giá đúng kết quả kinh doanh của từng thời kì kế toán, giúp cho công tác quản lý chi phí hiệu quả hơn
b Thực trạng áp dụng:
Trang 8• Trong ngân hàng, việc ghi nhận doanh thu và chi phí tuy vẫn đảm bảo nguyên tắc phù hợp nhưng không thể ghi nhận từng khoản (theo sản phẩm) mà thường được thể hiện dưới dạng lũy kế năm (kỳ kế toán) để đảm bảo tính phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong báo cáo tài chính niên độ (báo cáo của kỳ kế toán)
Ví dụ: Trong kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính của ngân hàng
- Định kỳ hàng tháng kế toán tính và hạch toán lãi dự thu
Nợ TK 3943- Lãi phải thu từ cho thuê tài chính
Có TK 705- Thu lãi cho thuê tài chính
- Giai đoạn kết thúc hợp đồng, bên thuê mua lại tài sản, kế toán hạch toán
Nợ TK 1011/4211
Nợ TK Chi phí về cho thuê tài chính- 842
Có TK 231: Giá trị còn lại
Ở đây ngân hàng đã ghi nhận doanh thu từ lãi cho thuê tài chính đồng thời cũng ghi nhận chi phí về cho thuê tài chính Đây chính là chi phí ngân hàng đã bỏ ra để tạo ra doanh thu trong kỳ
- Hoặc là trong nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi để cho vay của ngân hàng.Ngân hàng cho vay, kế toán ghi nhận một khoản thu lãi cho vay:
Nợ TK 3941
Có TK 702
- Nguồn vốn huy động được để cho vay, ngân hàng đi vay, kế toán ghi nhận một khoản trả lãi tiền gửi
Nợ TK 801
Có TK thích hợp
Ở đây khi ngân hàng ghi nhận doanh thu từ cho vay, đồng thời cũng phải ghi nhận chi phí trả lãi tiền gửi tương ứng để có vốn cho vay tạo ra doanh thu này Đây là sự phù hợp giữa thu nhập và chi phí
Tuy vậy khi xét rộng ra, có những khoản doanh thu, thu nhập rất khó để xác định chi phí đi kèm và hầu như không có chi phí đi kèm khi kế toán phản ánh
Trang 9Ví dụ:Thanh toán cho khách hàng một ủy nhiệm chi ngân hàng sẽ thu được
1 khoản phí( thu nhập), tuy nhiên khoản thu nhập đó không thể tương ứng với một khoản chi phí nhất định
Những khoản thu nhập và chi phí tương ứng với nhau thường là những khoản thu nhập có chi phí lớn có thể bóc tách rõ ràng
Việc ghi nhận doanh thu, chi phí mục đích để nhằm xác định lợi nhuận của ngân hàng tạo ra trongmột kỳ và bổ sung vốn kinh doanh hay các quỹ khác trong ngân hàng do vậy có những khoản doanh thu, thu nhập trực tiếp ghi tăng vốn kinh doanh hay chi phí ghi giảm nguồn vốn của ngân hàng nhằm các mục đích phúc lợi,
sự nghiệp ngoài kinh doanh thì đều được xác định và ghi nhận theo các nguyên tắc khác nhau của kế toán mà không kể đến việc xác định theo nguyên tắc phù hợp
5) Nguyên tắc nhất quán
a Nội dung:
Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách
và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
b Thực trạng áp dụng:
Nguyên tắc nhất quán đảm bảo cho thông tin mang tính ổn định và có thể so sánh được các kỳ kế toán với nhau và giữa kế hoạch, dự toán và thực hiện
Việc áp dụng nhất quán các chính sách và phương pháp kế toán của ngân hàng rất quan trọng, vì nó cho phép người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính có thể
so sánh và phân tích thông tin được cung cấp trên báo cáo tài chính qua các kỳ, hiểu được những thay đổi về tình hình tài chính trong đơn vị
Theo quy định chung, kỳ kế toán được quy định như sau:
- Kỳ kế toán năm: là 12 tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 của một năm đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch của năm đó
Trang 10- Kỳ kế toán quý: là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý đó
- Kỳ kế toán tháng: là trọn một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối
cùng của tháng đó
Tuy nhiên nhất quán không có nghĩa là đơn vị không được thay đổi các phương pháp, chính sách kế toán đã áp dụng mà đơn vị cũng có thể thay đổi nếu chứng minh phương pháp đó hữu dụng hơn khi cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính Trong năm tài chính nếu có sự thay đổi chính sách, phương pháp kế toán thì sự thay đổi này phải được thuyết minh, diễn giải trên báo cáo tài chính
VD:-Việc trích khấu hao tài sản cố định của ngân hàng phải theo một phương pháp nhất định, không được thay đổi trong kỳ kế toán, như là trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng hay khấu hao theo số dư giảm dần
-Các NHTM hiện nay thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ trong kỳ kế toán năm
6) Nguyên tắc thân trọng
a nội dung:
Nguyên tắc thận trọng được hiểu là việc phải xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra
b Phân tích, đánh giá:
Theo nguyên tắc thận trọng, kế toán cần:
-Phải trích lập đủ dự phòng nhưng không phản ánh cao hơn giá trị tài sản thực tế
có thể thực hiện Do thực tế, các khoản tổn thất đã phát sinh hoặc nhiều khả năng