1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An

46 697 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 11,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về nấm ở Việt Nam, và các công trình, đề tài này đều đi đến kết luận về sự đa dạng của các hợp chất thiên nhiên và giá trị to lớn chúng trong sản xuất thực phẩm, dược liệu. Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Ganoderma pfeiferi vẫn còn rất ít, một phần vì loài này chỉ mới được phát hiện ở Việt Nam, trong khi tiềm năng của nó là rất lớn. Do vậy, việc nghiên cứu về Ganoderma pfeiferi là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu tiềm năng dược liệu và giá trị kinh tế của loài nấm này. Vì lý do đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, nấm được công nhận là một giới riêng biệt, khác biệt hẳn vớithực vật hay động vật, chúng đã tách ra và xuất hiện xấp xỉ hơn một tỷ năm trước[18], tạo thành một giới riêng biệt trên hành tinh chúng ta Nấm phân bố trên toànthế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trường sống khác nhau, đa phần nấmsống ở trên cạn, nhưng một số loài lại chỉ tìm thấy ở môi trường nước Dựa theo

sự theo tỉ lệ giữa số loài nấm với số loài thực vật ở trong cùng một môi trường,người ta ước tính giới Nấm có khoảng 1,5 triệu loài [21] Tuy nhiên mới cókhoảng hơn 80000 loài nấm đã được các nhà phân loại học phát hiện và địnhdanh Giới nấm ngày càng có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc dân, trong khoahọc cũng như trong vòng tuần hoàn vật chất

Nấm đã được sử dụng trong dân gian từ hàng ngàn năm nay và một có ýnghĩa rất quan trọng trong đời sống con người Chúng là nguồn thực phẩm giàuchất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D,E ) [1,2,3] Nhiều loài nấm được ứng dụng trong công nghiệp dược phẩm, lànguồn nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh Những loại nấm nhưnấm hương, nấm linh chi đã được tập trung nghiên cứu về khả năng chống ungthư, chống virus và tăng cường hệ miễn dịch của chúng

Từ hơn 2000 năm trước, Linh chi đã được sử dụng trong dân gian như mộtloại thuốc quý chỉ vua chúa mới được sử dụng Hiện nay các nhà khoa học đãphát hiện thêm nhiều loài linh chi có những đặc tính quý, rất tốt cho phòng và

chữa bệnh Các chế phẩm từ nấm linh chi (Ganoderma) được dùng để hỗ trợ

điều trị nhiều bệnh như bệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thư, AIDS Trong dịch

Trang 2

chiết methanol, hexane, ethyl acetate từ các quả thể của Ganoderma lucidum có

các hoạt chất như có hoạt tính kháng virus Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh

trưởng và phát triển của virus HIV Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có

hiệu lực chống khối u cao, chúng được sử dụng trong điều trị ung thư: ung thư

phổi, ung thư vú, ung thư dạ dày Các dẫn xuất adenosine có trong G.capense và

G amboinense có tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu [1, 2,

4, 7, 30, 31, 33]

Loài Ganoderma pfeiferi là một loài nấm quý nằm trong chi Ganoderma,

tương đối phổ biến ở châu Âu, nơi có khí hậu ôn đới, thường mọc trên cây cókhả năng cố định đạm Tuy ở Việt Nam, loài nấm này mới chỉ được phát hiệngần đây, nhưng với thể quả lớn, hàm lượng hoạt chất như sterol, flavonoit,ancaloit và tritecpenoit cao, loài này hứa hẹn sẽ là một nguồn dược liệu đáng kể

Nghệ An là tỉnh có vườn Quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn thiên nhiên PùHuống và khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt Đây là những vùng được đánh giá là

có tính đa dạng sinh học rất cao, tại đây có chứa đựng nguồn lợi rất lớn về đadạng sinh học, trong đó có nguồn lợi lớn về nấm và có thể sử dụng chúng làmnguyên liệu tốt cho các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm Tại đây cũng

đã phát hiện loài nấm Ganoderma pfeiferi.

Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về nấm ở Việt Nam, và các côngtrình, đề tài này đều đi đến kết luận về sự đa dạng của các hợp chất thiên nhiên

và giá trị to lớn chúng trong sản xuất thực phẩm, dược liệu Tuy nhiên, các

nghiên cứu về loài Ganoderma pfeiferi vẫn còn rất ít, một phần vì loài này chỉ

mới được phát hiện ở Việt Nam, trong khi tiềm năng của nó là rất lớn Do vậy,

việc nghiên cứu về Ganoderma pfeiferi là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực

Trang 3

tiễn, góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu tiềm năng dược liệu và giá trị kinh

tế của loài nấm này Vì lý do đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Phân lập và xác

định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres ở Nghệ An”.

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi có các nhiệm vụ:

- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các hợp

chất từ nấm linh chi Ganoderma pfeiferi.

- Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ nấm linh

chi Ganoderma pfeiferi.

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thể quả loài nấm linh chi

Ganoderma pfeifferi Bres thuộc chi Nấm Linh chi (Ganoderma) ở Nghệ An.

Trang 4

Nấm lớn (macrofungi) được định nghĩa với quả thể (fruiting body) phânbiệt rõ, mà nó có thể mọc trên mặt đất hay dưới mặt đất và đủ to để thấy đượcbằng mắt thường và thu hái bằng tay” [25].

Số lượng các loài nấm đã được định danh là 80060 loài Trong đó, sốlượng loài nấm lớn có khoảng 14 nghìn loài và có thể lên tới 22 nghìn loài [21]

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm sinh học

Nấm lớn có cấu tạo căn bản gồm hai phần: hệ sợi tơ nấm và quả thể Quảthể các nấm lớn rất đa dạng: hình dù với mũ nấm và cuống nấm, có bao ngoài,giống vỏ sò như nấm sò, hình cúp uốn nhăn, dạng cầu, dùi cui nhỏ, dạng giống

lỗ tai như nấm tai mèo Màu sắc của nấm lớn cũng rất khác nhau: trắng, xám,vàng, nâu đỏ, đen, tím,…

Nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho nấm lớn là các chất xơ lignocellulose củathực vật Các nấm lớn có thể tiết ra các enzyme mạnh (như cellulase,ligninase, ) phân rã các vật liệu lignocellulosic thành các chất dinh dưỡng dễhấp thu

Trang 6

1.1.3 Phân bố

Các loài nấm lớn được phân bố ở nhiều nơi trên trái đất, đặc biệt nhữngnơi ẩm ướt, như các lớp lá cây mục và các vùng rừng mưa Ở các vùng đất khôcác nấm lớn chỉ có thể xuất hiện sau cơn mưa [25]

1.1.4 Phân loại nấm lớn

1.1.4.1 Phân loại nấm lớn theo giá trị sử dụng

Có thể chia nấm lớn thành 4 loại: Nấm ăn (như nấm hương L edodes, nấm rơm V volvacea); Nấm y dược (như nấm linh chi G lucidum); Nấm độc (như nấm A phalloides); Nhóm nấm hỗn hợp hay “các nấm khác” số lượng lớn

các nấm còn lại chưa xác định rõ được giá trị sử dụng Dĩ nhiên, kiểu phân loạinày chỉ có giá trị tương đối [25]

1.1.4.2 Phân loại nấm lớn theo môi sinh

Nấm là những sinh vật không thể thiếu cho sự sống trên trái đất, chúngphân huỷ những chất bã hữu cơ, và là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn

tự nhiên, tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất Có thể chia nấm lớn thành 3loại: Hoại sinh: thu nhận dinh dưỡng từ vật liệu hữu cơ chết; Ký sinh: sinh vật kýsinh lấy chất dinh dưỡng từ thực vật và động vật sống, gây bất lợi cho vật chủ;Nấm cộng sinh thường gọi là rễ - nấm hay khuẩn căn: rễ - nấm có quan hệ sinh

lý chặt chẽ hai bên đều có lợi với rễ thực vật sống chủ: nấm thu nhận dinh dưỡng

từ thực vật đồng thời làm cây tăng trưởng tốt hơn Nấm Cep Bordeaux Boletus, thường cộng sinh với rễ cây sồi Quercus; nấm matsutake lúc đầu xuất hiện như

nấm cộng sinh với rễ non, sau đó thành ký sinh và cuối cùng là hoại sinh [25]

Trang 7

1.2 Chi Ganoderma (Linh chi)

1.2.1 Đặc điểm hình thái cơ bản và phân loại nấm Linh chi

Linh chi đã được sử dụng từ rất lâu, theo cách hiểu dân gian thì Linh chichỉ là một loại nấm có lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, hoặc nâu đen, bóng, không

có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm, mũ nấm có màu đỏ hoặc đỏ hồng Nhưng đó

chỉ là một loài nấm trong họ nấm Linh chi - Ganodermataceae.

Điểm đặc biệt chỉ có ở nhóm nấm này là màng bào tử đảm 2 lớp - mộtdấu hiệu di truyền nổi bật, cho nên nhiều nhà khoa học đã đề nghị xếp chúng

thành một họ độc lập là họ Linh chi (Ganodermataceae Donk) Theo Donk (1993) họ Ganodermataceae thuộc bộ nấm lỗ (Alphyllophorales), ngành nấm đảm (Basimydiomycetes), Giới nấm (Mycetalia) Năm 1971, Ainsworth G.C

dựa vào đặc điểm hình thái quả thể, cấu trúc bào tử đảm, đã đưa ra hệ thốngphân loại một cách hoàn chỉnh Cho đến nay hệ thống phân loại này đã và đangđược nhiều nhà khoa học trên thế giới sử dụng [12]

Họ có đặc điểm chung của ngành là: được cấu tạo bởi các tế bào có nhânthật, không có diệp lục, nhận thức ăn từ môi trường bên ngoài bằng cách hấpthu từ giá thể (sống dị dưỡng) Ngoài ra còn có các đặc điểm riêng [12, 15]:

- Sợi nấm gồm nhiều đoạn ngăn cách với nhau bởi các vách ngang.Mỗi đoạn được coi như một tế bào có một hay nhiều nhân Trên các vách ngang

đó có lỗ nhỏ, từ đó chất nguyên sinh và cả nhân có thể đi qua

- Cuống quả thể biến dị lớn: Các loại đa niên thường không cuống còncác loài có cuống thì rất phong phú: Từ loài có cuống rất ngắn (0,5cm), rấtmảnh (0,2cm) cho đến các loài dài cỡ hàng 5–10cm hoặc rất dài (20–

Trang 8

25cm), to và mập (đường kính có thể tới 3,3cm) Cuống nấm có thể phân nhánhhoặc không, màu sắc thay đổi khác nhau tuỳ từng loài Cuống thường đính bên,đôi khi đính gần tâm do quá trình liên tán mà thành

- Mũ nấm: Dạng thận, gần tròn đôi khi xoè thành hình quạt hoặc ítnhiều dị dạng Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ.Màu sắc từ vàng nâu, vàng cam, đỏ nâu, đỏ tím, nâu đen, nhẵn, bóng, láng nhưvecni, sẫm màu dần khi già Lớp vỏ láng phủ suốt trên mặt mũ và chạy dàitheo cuống nấm Kích thước tán biến động từ 2–30cm, dày 0,8 – 2,5cm tuỳtừng loại Phần đính với cuống hoặc gồ lên hoặc lõm xuống

- Thịt nấm dày từ 0,4–1,8 cm màu vàng kem, nâu nhạt, trắng Nấm mềmdai khi tươi, khi khô chắc, cứng và nhẹ Hệ sợi có đầu tận cùng phình hình chuỳ,màng rất dày, đan kết vào nhau tạo thành lớp vỏ láng phủ trên mặt mũ

- Bào tầng là một lớp ống dày từ 0,2–1,7cm, gồm các ống nhỏ thẳng,miệng tròn, trắng, vàng ánh xanh

- Đảm đơn bào mang 4 bào tử đảm hình trứng, trứng cụt

- Bào tử đảm có cấu trúc vỏ kép, màu vàng mật ong sáng, ở giữa tụdạng giọt dầu, kích thước (5 –6) x (8,8 – 12)µm Vỏ bào tử khá dày cỡ 0,7 –

12µm, có cấu trúc phức tạp: Màng ngoài trong suốt, màng trong sần sùi mụncóc, gai nhọn, gò trống

Đặc biệt, dù hình thái bên ngoài của nấm biến đổi rất đa dạng, song về cấutạo của bào tử đảm thì có độ ổn định rất cao Các bào tử đảm đơn bào trongđiều kiện thuận lợi nảy mầm tạo ra hệ sợi sơ cấp rồi qua một loạt sự phát triểntạo tán nấm Tán nấm hình thành bào tầng rồi lại phát tán bào tử đảm tạo thành

Trang 9

chu trình sống của nấm Linh chi Chu trình sống này tương tự như chu trìnhsống của những nấm đảm khác.

Hình 1.3 Chu trình phát triển của nhóm Nấm họ Linh chi

Nấm Linh chi sinh sản chủ yếu bằng bào tử nằm ở mặt dưới của quảthể Phần có chức năng sinh dưỡng chính là hệ sợi của nấm mọc ẩn trong gỗmục hoặc đất

Nấm Linh chi có thể mọc trên cây gỗ (thường là thuộc bộ Fabales) sốnghay đã chết Quả thể gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11), có thể mọctrên thân cây, quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây, thích hợp với bóng rợp, ánhsáng khuyếch tán nhẹ với nhiệt độ ôn hoà Nên ở các vùng núi đồi cao trên1000m so với mực nước biển, thường có các chủng thích hợp nhiệt độ thấp từ 21

- 260 như các vùng ở Tam Đảo, Pù Mát, Thừa Thiên Huế, Trường Sơn nướcta

Trang 10

Các loài Nấm Linh chi được phát hiện ở Việt Nam khá sớm Dựa theomàu sắc mũ nấm, y học phương Đông phân biệt sáu loại Linh chi với tên gọitương ứng: Linh chi trắng (Bạch chi hay Ngọc chi), Linh chi vàng (Hoàng chihay Kim chi), Linh chi xanh (Thanh chi hay Long chi), Linh chi đỏ (Xích chihay hồng chi), Linh chi tím (Tử chi), Linh chi đen (Hắc chi hay huyền chi).

Năm 1881, Karsten xác lập chi Ganoderma Karst Chi Ganoderma thuộc ngành nấm đảm (Basidiomycota), lớp nấm tán (Agaricomycetes), bộ nấm lỗ (Polyporales), họ nấm lim (Ganodermataceae) Trên thế giới, chi Ganoderma có trên 250 loài đã được phân loại, ví dụ như : G adspersum, G applanatum, G australe, G boninense, G cupreum, G incrassatum, G lipsiense, G lobatum,

G lucidum, G oerstedii, G oregonense, G pfeifferi, G planse, G resinaceum,

G sessile, G sinense, G tornatum, G tsugae và một số loài khác Riêng ở Việt

Nam có khoảng 30 loài Chúng phân bố khắp nơi trên thế giới, nhưng thườngmọc rộng rãi nhất tại các nơi có khí hậu nhiệt đới, môi trường sống của nấmthường ở rừng kín xanh ẩm, độ cao từ vài chục mét đến 1500 m [5, 12, 18]

Ganoderma lucidum Ganoderma sinesis – Huyền chi

Trang 11

Ganoderma tropicum Ganoderma tsugae

Ganoderma appalanatum Ganoderma Australe

Hình 1.4 Một số loài thuộc chi Ganoderma

1.2.2 Thành phần hóa học

Tổng kết từ những nghiên cứu trước đây, thành phần hoá học của loài

Ganoderma lucidum và một số loài khác trong chi Ganoderma có thành phần

chính như sau [3, 11, 13, 18]:

- Nước 12 - 13%, lignin 13 - 14%

- Hợp chất nitơ: 1,6 - 2,1%

Trang 12

Ngoài ra nấm còn chứa các nguyên tố vô cơ: Ag, Br, Ca, Fe, K, Na,

Mg, Mn, Sn, Zn, Bi Cùng với những tiến bộ các khoa học kỹ thuật và bằng cácphương pháp hiện đại: Phổ hồng ngoại (IR), phổ tử ngoại (UV), Sắc ký khí -Khối phổ liên hợp, phổ cộng hưởng từ hạt nhân, và đặc biệt là kỹ thuật sắc kýlỏng cao áp (HPLC) và phổ kế plasma (ICP) từ những năm 1980 đến nay, người

ta đã xác định chính xác rất nhiều thành phần hoá học trong nấm Linh chi Chođến nay theo thống kê của một số tác giả thì đã phát hiện và chứng minh cấu

trúc hoá học của hàng trăm chất có trong G lucidum

Theo các tác giả Gao Y.H và Kim H.W trong quả thể của nấm Linhchi có polysacarit, axit amin, hợp chất steroit, saponin, protein, alcaloit, dầubéo, flavonoid, Một nhóm chất rất phổ biến, thường gặp trong các loài nấmLinh chi là terpenoit Các báo cáo cho thấy, các dẫn chất bậc hai có hoạt tínhsinh học chủ yếu thuộc hai nhóm triterpenoit và polysaccarit

1.2.2.1 Lanostanoit tritecpenoit

Lanostanoit là kiểu cấu trúc thường gặp nhất khi phân tích thành phần hóa

học của các loài Ganoderma.

Trong nhiều năm qua các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào Ganoderma lucidum , cung cấp một số lượng lớn các hợp chất, các chất chuyển hóa có hoạt

Trang 13

tính dược lý Những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã tập trung vào nhiều

loài nấm khác trong họ này như: G tsugae, G.applanatum, G australae…

Trong các lanostanoit phân lập được từ các loài này ta thấy số lượng cácaxit ganoderic chiếm một lượng lớn Dựa theo các nhóm chức khác nhau (như độlớn của các nhóm thế - hydroxyl oxo, acetoxyl,), đặc biệt là ở các nhóm thế ở vịtrí C-3, C-7, C-15 và C-22 thường quan sát thấy ở những bộ khung), kiểu mạch,cấu trúc bộ khung mà các axit ganoderic được chia thành 3 loại chính:

Hình 1.5 Các kiểu cấu trúc lanostanoit cơ bản

Trang 14

Năm 1982, từ dịch chiết clorofom của quả thể G.lucidum, Kubota và cộng

sự đã phân lập được hai hợp chất mới là axit ganoderic A (1), B (2)

(1) Axit ganoderic A (2) Axit ganoderic B

Nghiên cứu này mở đầu cho việc tìm ra những dẫn xuất lanosterol mớitrong họ nấm này Có khoảng 130 tritecpenoit loại lanostanoit oxy hóa cao đã

được phân lập từ sợi nấm và bào tử chủ yếu là của G.lucidum và G aplanatum,

trong các axit là ganoderic C, D, E, F, H, I, J, Md, Me, Mf, N, OP, Q, R, ST, U,

V, W, X, Y , Z; axit ganoderenic A, B, C, D; axit ganolucidic A, B, C, E; axitlucidenic A, B, C, D, E, F; ganoderiol A, B, C, D, E, F, G, H, I; ganoderol A, B,ganodermatriol, ganodermanontriol; hợp chất B8, B9, C5, C6; metyl ganoderat

M, N, O; metyl lucidenat H, I J, K, L, M, epoxyganoderiol A, B, C; ganoderal A

và B, axit ganoderma Ja, JB, P1, P2, R, T-N, T-O, T-Q, trong số các hợp chấtkhác [3, 23, 24]

Năm 1983, Toth và cộng sự phân lập từ quả thể thu được 6 lanostanoit là

axit ganoderic T (3), V (4), W (5), X (6).

Trang 15

(3) Axit ganoderic T (4) Axit ganoderic V

(5) Axit ganoderic W (6) Axit ganoderic X

Năm 1997, Wang.F.S và cộng sự đã tách được một ganolacton mới là 7β

-hydroxy-3,11,15-trioxo-lanosta-8-en-2420s lacton (7) và 3 chất đã biết, trong

đó có ganodermatriol (8)

(7) (8) Ganodermatriol

Trang 16

Năm 1999, Gonzales và cộng sự báo cáo phân lập được ganodermadiol

(9), ganodermenonol (10), axit ganoderic DM (11), lucidadiol (12) và lucidal (13).

Trang 17

Năm 2000, một báo cáo của Min B S và cộng sự cho biết đã tách được 6axit ganoderic (loại tritecpenoit lanostan) oxy hóa cao, được gọi là axit ganoderic

γ (14), δ (15), ε (16), ζ (17), η (18) và θ (19) phân lập từ các bào tử G.lucidum[17]

(14) Ganoderic γ (15) Ganoderic δ

(16) Ganoderic ε (17) Ganoderic ζ

(18) Ganoderic η (19) Ganoderic θ

Các hợp chất khác là axit lucidenic A (20) và metyl lucidenat F (21) phân

lập từ bào tử của G.lucidum bởi Tian-Shung Wu và các cộng sự (2001) [35].

Trang 18

(20) Axit lucidenic A (21) Metyl lucidenat F

Các axit 20(21)-dehydrolucidenic A (22), metyl 20(21)-dehydrolucidenat

A (23) và axit 20-hydroxilucidenic D2 (24), F (25), E2 (26), N (27), P (28) phân

lập từ bào tử nấm G.lucidum bởi Toshihiro A và các cộng sự (2005) [35].

Trang 19

Ba tritecpenoit loại lanostan với một nhóm andehit gọi là lucialdehit A

(29), B (30) và C (31) phân lập từ quả thể bở Jing G.C và các cộng sự.

Trang 20

(29) Lucialdehit A (30) Lucialdehit B

(31) Lucialdehit C

Năm 2011, nhóm của H.Moreno phân lập được Lucidumol B (32), nhóm

của Lee phân lập được methyl 7β,

15α-isopropylidenedioxy-3,11,23-trioxo-5α-lanost-8-en-26-oat (33)

Trang 21

Từ loài nấm G concinna, Antonio G G và cộng sự phân lập 5α7,9(11),24-trien-3β-hidroxi-26-al (34), 5α-lanosta-7,9(11),24-trien-15α-26-

-lanosta-dihidroxi-3-on (35), và 8α,9α-epoxi-4,4,14α-trimetyl-3,7,11,15,20-pentoxit-5α

-pregnan (36) [10]

(34) (35)

(36)

Từ quả thể của loài Hoàng chi (G Golossum), Peter K và cộng sự phân

lập sáu tritecpenoit mới, colosolacton B (37), C (38), D (39), E (40), F (41) và G

(42) [30].

Trang 23

Từ quả thể của G.applanatum, S.H.Lee và cộng sự (2006), đã tách được 8

chất, trong đó có hai chất là 7β

-hydroxy-3,11,15,23-tetraoxolanosta-8,20E(22)-dien-26-oic axit methyl este (43) và axit trioxolanosta-8-en-26-oic (44).

Năm 2008, Riham S D và cộng sự tách được 4 lanostan triterpen mới từ

quả thể của loài nấm G.colossum ở Việt Nam là colossolactone V (45),

colossolactone VI (46), colossolactone VII (47), and colossolacton VIII (48)

[31]

(45) Colossolactone V (46) Colossolactone VI

Ngày đăng: 14/09/2016, 18:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Nấm hương Hình 1.2. Nấm rơm - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.1. Nấm hương Hình 1.2. Nấm rơm (Trang 5)
Hình 1.3. Chu trình phát triển của nhóm Nấm họ Linh chi - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.3. Chu trình phát triển của nhóm Nấm họ Linh chi (Trang 9)
Hình 1.4. Một số loài thuộc chi Ganoderma 1.2.2. Thành phần hóa học - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.4. Một số loài thuộc chi Ganoderma 1.2.2. Thành phần hóa học (Trang 11)
Hình 1.8. G.pfeifferi non Hình 1.9. G. pfeifferi lâu năm - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.8. G.pfeifferi non Hình 1.9. G. pfeifferi lâu năm (Trang 33)
Hình 1.10. Bề mặt dưới của thể quả G. pfeifferi - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.10. Bề mặt dưới của thể quả G. pfeifferi (Trang 33)
Hình 1.11. Bào tử của loài G. pfeifferi - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Hình 1.11. Bào tử của loài G. pfeifferi (Trang 34)
Sơ đồ 2.1: Phân lập hợp chất trong nấm linh chi Ganoderma pffeiferi - Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất tritecpenoit từ loài nấm linh chi Ganoderma pfeifferi Bres. ở Nghệ An
Sơ đồ 2.1 Phân lập hợp chất trong nấm linh chi Ganoderma pffeiferi (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w