1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến dịch tây bắc 1952, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

58 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 870,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chiến dịch Tây Bắc, tuy nhiên hầu như các công trình nghiên cứu chỉ ca ngợi công lao và những chiến thắng vẻ vang của chiến dịch Tây Bắc

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Sử- Địa, Trường đại học Tây Bắc, đặc biệt là PSG.TS Phạm Văn Lực, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên để em trong quá trình triển khai khóa luận này

Em cũng xin cảm ơn đến tỉnh ủy 3 tỉnh: Sơn La, Lai Châu,Yên Bái, thư viện Trường Đại học Tây Bắc, thư viện khoa Sử- Địa, thư viện tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp em trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ cho khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn!

SINH VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục đích và ý nghĩa của đề tài 2

4 Cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu: 3

5 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined KHÁI QUÁT VỀ TÂY BẮC 4

CHƯƠNG 2 8

TRUNG ƯƠNG ĐẢNG QUYẾT ĐỊNH MỞ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 8

CHƯƠNG 3 35

KẾT QUẢ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI, Ý NGHĨA LỊCH SỬ 35

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 35

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 3

Với chiến thắng này quyền chủ động về chiến lược của ta tiếp tục được giữ vững và mở rộng Lực lượng vũ trang của ta tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, bước đầu làm quen với cách tấn công tập đoàn cứ điểm

Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chiến dịch Tây Bắc, tuy nhiên hầu như các công trình nghiên cứu chỉ ca ngợi công lao và những chiến thắng vẻ vang của chiến dịch Tây Bắc mà gần như không đề cập đến những bài học kinh nghiệm trong trận đánh Nà Sản trong chiến dịch Tây Bắc Vì thế việc lựa chọn: “Chiến dịch Tây Bắc 1952, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về khoa học

+ Trên cơ sở khôi phục lại một cách cụ thể chi tiết chính xác chiến dịch Tây Bắc để khẳng định thêm vị trí vai trò và sự đóng góp to lớn của quân và dân Tây Bắc trong công cuộc đấu tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc

+ Làm sáng tỏ thêm về lý luận chiến tranh nhân dân của Đảng

+ Khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân mà Đảng đề ra trong thời kỳ này là đúng đắn khoa học và phù hợp

Trang 4

+ Các cuốn sách giáo trình: “Đại cương lịch sử Việt Nam tập III” – NXB Giáo dục năm 1998, “Tiến trình lịch sử Việt Nam” – NXB Giáo dục năm 2010, các SGK lớp 9 THCS và lớp 12 THPT, của NXB Giáo dục cũng nói về diễn biến và kết quả của chiến dịch Tây Bắc 1952…

+ Cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 tập II” – NXB Quân đội nhân dân 1995 cũng đề cập qua về chiến dịch

+ Các bài báo, bài viết về chiến dịch Tây Bắc 1952 đề cập đến nhiều vấn

đề khác nhau như diễn biến chiến dịch, đánh giá về thắng lợi của ta…như: Hệ thống phòng ngự của thực dân Pháp ở Nà Sản của PGS.TS Nguyễn Thanh Tâm,

cứ điểm Nà Sản trong chiến dịch Tây Bắc – dẫn đến chiến thắng Điên Biên Phủ của Th.s Lê Xuân Nam, nghệ thuật tác chiến chủ yếu trong quá trình tiến công cụm cứ điểm Nà Sản của Thiếu tướng Phạm Ngọc Châu…

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục đích và ý nghĩa của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của chiến dịch Tây Bắc 1952

Nghiên cứu ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của chiến dịch đối với thắng lợi quyết định của nhân dân ta trong việc đánh đuổi giặc Pháp 1954

Trang 5

3

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài đi sâu vào tìm hiểu chiến dịch Tây Bắc diễn ra ở các tỉnh như Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Nghĩa Lộ trong thời gian từ 14–10–1952 đến 10–12–

1952 nơi trực tiếp diễn ra các cuộc đấu tranh của nhân dân ta Trong đó tập trung

đi sâu vào tìm hiểu chiến dịch Tây Bắc diễn ra ở tỉnh Sơn La, mà trọng điểm là chiến dịch tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản

3.3 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu

Bổ sung thêm về kiến thức lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1952-1954, nhất là kiến thức về lịch sử Tây Bắc

Làm phong phú thêm về tư liệu để bổ sung cho quá trình dạy học lịch sử trong trường phổ thông đặc biệt về lịch sử địa phương

Nghiên cứu chi tiết về chiến dịch Tây Bắc để các bạn sinh viên trong khoa Sử- Địa có thêm hiểu biết đặc biệt đối với những ai quan tâm đến chiến dịch này

Tìm hiểu thêm về chiến lược tấn công tập đoàn cứ điểm mà Nà Sản là tập đoàn cứ điểm đầu tiên mà quân đội ta tiến công

4 Cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện trên cơ sở các nguồn văn kiện Đảng, Nhà nước tài liệu lưu trữ ở trung ương và địa phương, tài liệu điền dã, tài liệu trên internet

- Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp chuyên ngành lịch sử như phương pháp Logic, phương pháp thống kê, phương pháp phân loại, phương pháp giám định kết hợp với phương so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Khái quát về Tây Bắc

Chương 2: Chiến dịch Tây Bắc 1952

Chương 3: Kết quả, nguyên nhân thắng lơi, ý nghĩa lịch sư và bài học

kinh nghiệm

CHƯƠNG 1

Trang 6

Phía Bắc, vùng đất này giáp Trung Quốc với khoảng 513 km biên giới chung với tỉnh Vân Nam Đây là đường biên mang nhiều dấu ấn lịch sử trong quan hệ hai nước Việt – Trung; trên đường biên này có các cửa khẩu quan trọng như Phong Thổ (Lai Châu), Lào Cai Phía Tây của các tỉnh Sơn La và Lai Châu giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Phong Xa Lì của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào có đường biên giới khoảng 552 km với các cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), Sông Mã, Mộc Châu Phía Đông và Nam giáp với các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thanh Hoá

Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m Dãy núi Sông Mã dài 500 km,

có những đỉnh cao trên 1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là Địa máng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh

1.2 Cộng đồng dân cư

- Tây Bắc là một vùng có dân cư là nhiều dân tộc khác nhau sinh sống từ lâu đời nay Ngoài người Kinh còn có trên 30 dân tộc khác nhau sinh sống như: Thái, Tày, Mường, Mông, Dao… Là những dân tộc có số lượng dân cư đến hàng trăm nghìn người, nhưng cũng có những dân tộc chỉ chiếm số lượng rất ít như: Phù Lá, Pa Thẻn, Cơ Lao…

- Các dân tộc thiểu số Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung thường cư trú trên những vùng cao, vùng núi Tuy vậy, với truyền thống chung là người Kinh thường định cư trên khắp mọi miền tổ quốc, cho nên giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số cũng như giữa các dân tộc thiểu số với nhau thường cư trú

Trang 7

5

theo thế xen kẽ, cài răng lược Mặc dù vậy, mỗi tộc người ở đây lại cư trú tập trung theo từng tụ điểm dân cư Do vậy giữa các thành viên tộc người trong từng bản làng được rang buộc, gắn chặt với nhau bằng cả mối quan hệ dòng tộc bền vững, bằng những phong tục tập quán của dân tộc mình, và những phong tục của dòng họ mình

1.3 Vị trí chiến trường Tây Bắc trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp

Đối với ta, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do yêu cầu bố trí địa bàn chiến lược kháng chiến, địa giới Tây Bắc có sự thay đổi nhiều lần Tháng 10- 1945, chính phủ quyết định chia cả nước thành các chiến khu: 1,2,3,4,5,6,7,9,11 Theo đó các tỉnh Yên bái, Lào Cai, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh thuộc chiến khu 1

Tháng 10 – 1946 cả nước chia thành 12 chiến khu Các tỉnh Yên bái, Lào Cai, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc chiến khu

10 Ngày 25 – 1 -1948, chính phủ ra xác lệnh số 120/SL và 124/SL chính thức sáp nhập Khu 10 và Khu 14 thành liên khu 10 Liên khu 10 bao gồm 9 tỉnh của quân khu 2 ngày nay Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái,

Lào Cai, Lai Châu, Điên Biên, Sơn La.[16.Tr.6]

Thàng 10-19949, Trung ương Đảng quyết định giải thể liên khu 10 sáp nhập cơ quan hành chính của liên khu 10 và liên khu 1 thành liên khu Việt Bắc Đồng thời Trung ương còn quyết định thành lập mặt trận Tây Bắc nhằm thống nhất tổ chức và chỉ đạo các chiến dịch hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc Ngày 17-7-1952 để đáp ứng với ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc, Trung Ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La , Lào Cai , Yên Bái thuộc liên khu Việt Bắc để thành lập khu Tây Bắc

Từ trước ngày kháng chiến toàn quốc (19-12-1946), giặc Pháp đã chiếm tỉnh Lai Châu và một phần tỉnh Sơn La Từ mùa xuân đến mùa thu năm 1947, chúng lại chiếm nốt Sơn La và tỉnh Hòa Bình Đến cuộc tiến công Việt Bắc thu đông năm 1947, chúng chiếm Lào Cai, Nghĩa Lộ, Văn Bàn thuộc Yên Bái và

Trang 8

6

một phần nam tỉnh Phú Thọ Trong năm 1947, địch chiếm ưu thế về mọi mặt, kiểm soát phần lớn đất đai Tây Bắc với trên 2 vạn km2, gần 20 vạn dân Chính quyền bù nhìn đã được chúng thành lập xong Chúng thiết lập một phòng tuyến dài khoảng 400 km từ Hòa Bình đến Hà Giang Bắt đầu từ sông Đà, cứ điểm Tu

Vũ là đầu mút , qua Thu Cúc, Nghĩa Lộ, Bảo Hà, Yên Bình Xã và cứ điểm cuối

là Hoàng Xu Phì Tùy theo địa hình , dân tình mà chúng lập cứ điểm, thường trong những khu vực đông dân, kinh tế dồi dào hay trên đường giao thông quan trọng Chúng đóng tất cả 35 cứ điểm, trung bình mỗi cứ điểm cách nhau hơn 10km Phòng tuyến Tây Bắc có tác dụng rất lớn với địch Mục đích của chúng nhằm:

- Bảo vệ cho vùng hậu phương mới kiểm soát được an toàn, bóc lột nhân lực, vật lực địa phương để tiếp cuộc chiến tranh xâm lược

- Uy hiếp và ép dân căn cứ địa Việt bắc từ phía tây sang phía đông, bảo

vệ Thượng Lào Phong tỏa biên giới Việt Nam– Trung Quốc để ta không liên lạc được với nước ngoài, còn chúng thì cấu kết với thổ phỉ, tàn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền biên giới Vân Nam để đánh ta

- Chặng đường giao thông liên lạc của ta từ Việt Bắc vào khu tự do ở vùng sau lưng địch (Sơn La, Lào Cai) Mỗi khi lập xong cứ điểm, lấy thêm được phân khu địa phương, chúng lại tìm cách lấy ra phân khu tự do để thực hiện chiến thuật “tằm ăn lá dâu”

Đối với ta, Tây Bắc là địa bàn bảo vệ phía sau cho căn cứ địa Việt Bắc, là bàn đạp để tiến sang Thượng Lào Sau khi địch mở rộng phạm vi khiểm soát, nhược điểm của chúng đã bộc lộ rõ rệt Do quân số có hạn, lại phải rải ra đóng trên nhiều cứ điểm, thành lập phòng tuyến để bảo vệ hậu phương nên quân lính của chúng bị phân tán lẻ tẻ mà hậu phương thì vẫn sơ hở và gặp khó khăn về vận tải tiếp tế Về phần ta, ưu thế mỗi ngày càng phát huy mạnh mẽ Năm 1947, ta kém địch về mọi mặt, nhưng sang đến năm 1948 đã chuyển hướng công tác kịp thời, ta đã áp dụng chiến dịch du kích vận động một cách linh hoạt, bằng các đội

vũ trang tuyên truyền và các đại đội độc lập đi sau vào vùng sau lưng địch hoạt động và dùng các tiểu đoàn đánh mạnh khi địch lấn ra hoặc co cụm lại Ta tăng cường hỏa lực cho những đơn vị nhỏ này để có đủ điều kiện đánh những cứ

Trang 9

7

điểm nhỏ có tính chất tiêu diệt Từ mùa thu năm 1948 thế của ta ngang bằng với địch, cuối năm 1948, thế chủ động của ta hơn hẳn địch ở Sơn La, một phần Lào Cai và Yên Bái Địch đã bình định Bắc Phi bằng chiến thuật cứ điểm Chúng đem chiến thuật đó áp dụng vào chiến trường Việt Nam Chiến thuật cứ điểm của địch bước đầu phá sản Những cứ điểm của địch ở Tây Bắc không khống chế được ta về chính trị, kinh tế, đường giao thông, trái lại chúng còn bị quân ta bao vây Ngày 6-5-1949, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch Tây Bắc là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng Nó sẽ làm đà cho việc chuẩn bị tổng phản công của ta Năm 1949, hơn 10 cứ điểm của địch bị tiêu diệt, phòng tuyến vững chắc của địch bị phá vỡ nhiều mảng dài trên 200km Quân địch hoảng sợ, không tin vào chiến thuật cứ điểm của tướng Cốc (Koch) Chúng áp dụng phòng thủ co dãn, rút về đồn lẻ tập trung thành những khối lớn

để tránh bị tiêu diệt

Ngày 6 - 1- 1950, để đánh lạc hướng địch đề chuẩn bị, phối hợp với chiến dịch Biên Giới 1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về mở chiến dịch Tây Bắc và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc: “Hiện nay ở Bắc Bộ và Tây Bắc là yếu nhất và sơ hở nhất của địch Ở Tây Bắc, những việc chuẩn bị phải

gấp rút ”.[16, tr.8] Sau nhiều tháng hoàn thành nhiệm vụ nghi binh rồi tiêu

diệt địch quân dân Tây Bắc buộc địch phải rút khỏi Lào Cai, Sa Pa, Hòa Bình tháng (11 – 1950), giải phóng hàng vạn dân và biên giới Địch lui về cố thủ tại phía hữu ngạn sông Hồng, thiết lập phòng tuyến và ra sức củng cố hậu phương, càn quét khủng bố ác liệt, do đó vùng hậu địch của ta gặp nhiều khó khăn nhất là sang năm 1952, khu du kích Mai Thuận, Mường La (Sơn La), Tuần Giáo, Điện Biên (Lai Châu), Than Uyên (Yên Bái) của ta bị phá vỡ, lực lượng bán vũ trang của ta nhiều nơi bị tan rã

Trang 10

8

CHƯƠNG 2 TRUNG ƯƠNG ĐẢNG QUYẾT ĐỊNH MỞ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

2.1 Sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến dịch Tây Bắc năm 1952

Ngày 23-2-1952, quân Pháp rút khỏi Hòa Bình, bốn ngày sau, nội các Phelixơ Phổrơ từ chức Ngày 6-3-1952, Ăngtoa Pinây ngồi vào ghế Thủ tướng

và thiết lập nội các mới Đây là vị thủ tướng thứ 17 sau 6 năm xâm lược Đông Dương Từ Pari đến Hà Nội, Sài Gòn, bộ máy chiến tranh mới được tân trang Dựa vào viện trợ Mỹ, họ sớm biểu thị quyết tâm theo đuổi chiến tranh nhằm giành lại chủ quyền chiến lược

Về phía ta, thắng lợi của Đại hội Đảng lần thứ II của Đảng, tiếp đến là thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình (10-12-1951=>25-2-1952), đã đem lại cho toàn quân, toàn dân ta một niềm cổ vũ mới Vấn đề đặt ra là làm thế nào thực hiện chỉ thị ngày 16-3-1952, của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 (4-1952), với ba nhiệm vụ, bốn công tác chính đã chỉ ra cho quân và dân cả nước phương hướng hành động nhằm duy trì cuộc chiến đấu sau lưng địch, xây dựng và tăng cường lực lượng về mọi mặt, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và phục

vụ chiến đấu trong thu đông 1952 Từ kinh nghiệm của các chiến dịch đó (cả thành công và thất bại), bước vào mùa khô năm 1952, Tổng quân ủy đề đạt Trung Ương chọn Tây Bắc là hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đồng bằng sông Hồng là hướng phối hợp quan trọng So với chiến trường khác, Tây Bắc là chiến trường địch yếu , sơ hở, nhưng lại là một địa bàn chiến lược hiểm yếu, khi

ta tiến công, chắc chắn địch sẽ đưa lực lượng lên ứng cứu

Tháng 4-1952, sau khi Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Tây Bắc, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch được xúc tiến khẩn trương, trước hết là chuẩn bị đường xá, lực lượng, lương thực, thực phẩm Tháng 6 năm 1952, để chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, Liên khu ủy Việt Bắc (lúc này Tây Bắc vẫn thuộc Việt Bắc) ra nghị quyết về phát triển du kích chiến tranh tại Tây Bắc: “Nhìn chung toàn Tây Bắc phong trào phát triển du kích chiến tranh không đồng đều giữa các tỉnh Việc thực hiện chiến tranh du kích không phải chỉ là nhiệm vụ

Trang 11

9

của riêng du kích mà là nhiệm vụ của toàn dân trong thôn xã chiến tranh du kích

là chiến tranh của toàn dân nội dung của chiến tranh du kích bao gồm ba điểm: Đánh, phá và tránh”.[6, tr.508] Ngày 17 – 7-1952, Ban Bí thư ra nghị quyết về

thành lập khu Tây Bắc gồm 4 tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La (Trước

đó 4 tỉnh này thuộc liên khu Việt Bắc): “Nhiệm vụ và quyền hạn của Khu ủy Tây Bắc cũng giống như mọi khu ủy khác là lãnh đạo quân, dân, chính và Đảng

bộ Tây Bắc thực hiện các nhiệm vụ chủ trương, chính sách do Trung ưởng và

Chính phủ đề ra”[6, tr.210] Ngày 16 – 8 – 1952, Ban bí thư ra chỉ thị về thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Q.T (Quang Trung – Tây Bắc) [6, tr.255] Ngày 28-9-1952 Ban chấp hành Trung ương ra chỉ thị về mở chiến dịch

Tây Bắc:

“Mục đích của chiến dịch Tây Bắc là:

- Tiêu diệt sinh lực địch

- Tranh thủ nhân dân

- Giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược

Để thực hiện mục đích của chiến dịch Trung ương quyết định tập trung binh lực, tập trung cán bộ và phương tiện, tập trung nhân lực và vật lực, giành cho toàn thắng”[6, tr.304]

Ngày 9-9-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc: “Trung ương Đảng và Tổng quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi Quyết tâm của Trung ương còn chưa đủ, còn phải

để cho các chú cân nhắc kỹ thấy cái dễ cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú Các đơn vị đều có một số đông bào đi theo giúp Đối với đồng bào, dân công phải giáo dục, phải chăm nom thân mật, phải giải thích tuyên truyền cổ động, làm cho đồng bào vui vẻ công tác”[9,tr.558] Cùng ngày 9-9-1952, Chủ

tịch Hồ Chí Minh công bố 8 điều mệnh lệnh của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa

Ngày 1-10-1952, Người gửi thư cho cán bộ và chiến sỹ chiến dịch Tây Bắc: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng Các chú phải đánh cho

Trang 12

10

thắng”[9,tr.573] Ngày 1-10-1952, Bác gửi thư cho các chiến sỹ dân công ở mặt

trận Tây Bắc: “Chiến dịch này rất quan trọng Các cô, các chú cũng là chiến sỹ, cũng có công như các chiến sỹ, phải cùng anh em bộ đội giành cho được thắng

lớn”[9,tr.574] Tiếp đó, khi chiến dịch Tây Bắc đang diễn ra, Người lại gửi thư

cho bộ đội, dân công ở mặt trận Tây Bắc và đồng bằng (Thư không đề ngày tháng) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh quân đội đã có nhiều thư động viên các chiến sỹ và dân công tham gia chiến dịch Tây Bắc: Mệnh lệnh kỷ luật chiến trường (Ngày 12-10-1952), Thư khen các đơn vị chiến thắng trong trận Pú Chạng và Nghĩa Lộ (ngày 18-10-1952), Thư gửi cán bộ chiến sỹ trước lúc vượt sông Đà tiếp tục cuộc tiến công vào Tây Bắc (Ngày 3-11-1952), tiếp tục tấn công vào Tây Bắc (17-11-1952)

2.2 Chuẩn bị chiến dịch

Lực lượng của ta tham gia chiến dịch Tây Bắc gồm các đại đoàn: 308, 312

và 316 (Thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội địa phương do Bộ tổng tư lệnh tổ chức và chỉ huy

Lực lượng bên Pháp gồm: 8 tiểu đoàn và 43 đại đội bộ binh, bố trí thành

144 cứ điểm thuộc 4 phân khu: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập: Thuận Châu, Tuần Giáo, Phù Yên Trong quá trình chiến dịch diễn

ra được tăng thêm 9 tiểu đoàn bộ binh và du Âu- Phi, 3 tiểu đoàn Ngụy, 1 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, 1 tiểu đoàn pháo binh

Chiến thắng Tây Bắc là thắng lợi của niềm tin, của tinh thần hy sinh hết lòng phục vụ, hết sức vì tiền tuyến của nhân dân các dân tộc Tây Bắc Khu ủy Tây Bắc coi đây là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự tập trung lãnh đạo chặt chẽ từ trên xuống cơ sở Nhiều nơi giáp hạt, thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyên góp lương thưc, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa đánh giặc vừa bảo vệ hậu phương, vừa tham gia phục vụ tiền tuyến

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, phải huy động một khối lượng sức người, sức của rất lớn, đường tiếp tế lại xa, lắm đèo, nhiều suối, phải vượt qua sông

Trang 13

11

Hồng, sông Đà, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện vận chuyển thô sơ, nhưng quân và dân Tây Bắc đã quyết tâm hoàn thành nhiêm vụ phục vụ chiến dịch

Gần 20 vạn dân công với 7 triệu ngày công, 11.750 tấn gạo, 164 tấn muối,

235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, quân trang, quân dụng đã được vận chuyển kịp thời phục vụ chiến dịch

Trong số đóng góp đó, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy đông tại chỗ phục vụ chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công Đây là sự đóng góp có ý nghĩa to lớn khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta cho chiến dịch là đúng đắn Trong số đóng góp đó, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động tại chỗ phục vụ chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, cùng 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công Đây là sự đóng góp

có ý nghĩa to lớn, khẳng định chủ trương huy động sức người sức của, của vủng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta cho chiến dịch là đúng đắn

Trong chiến dịch , tỉnh Yên Bái đã huy động 5.428 dân công thường trực (chiếm 20% dân số), 1.000 dân công xung phong đi phục vụ một tháng; 730 tấn gạo, 622 con trâu , 368 con lợn, 16 tấn đậu, lạc ,vừng và 722 tạ muối ăn Dân quân cùng các đơn vị bộ đội tỉnh vận chuyển được hàng vạn tấn vú khí, lương thực, thực phẩm vào mặt trận, riêng khối lượng vận chuyển qua sông Hồng tới 47.309 tấn

Nhân dân các dân tộc Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công, cung cấp

694 tấn gạo, 88 tấn ngô, 48.321 thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên kho mặt trận tiền phương

Tại tỉnh Lai Châu, nhân dân đã đóng góp 1.959 tạ gạo, 93 tạ ngô, 21 tạ thóc, 21 tạ thịt bò, 39 tạ thịt lợn, 5 con trâu, 20 con bò, 31 con lợn, 130 tạ rau, 2.243 người đi dân công từ 1 đến 15 ngày, huy động được 100 con ngựa để vận chuyển lương thực, thực phẩm

Ở tỉnh Lào Cai, mặc dù mặc dù đang tiến hành chiến dịch tiểu phỉ, Đảng

bộ đã huy động nhân dân tham gia đóng góp được 739 tấn thóc và 16.000 ngày công phục vụ chiến dịch

Trang 14

12

Nhân dân Nghĩa Lộ, nơi sảy ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch cũng tự nguyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 còn bò và 9 con lợn thịt để nuôi quân

Tiếng súng trên chiến trường Tây Bắc vừa dứt, nhân dân các dân tộc Tây Bắc ra sức xây dựng và củng cố vùng mới giải phóng, truy lùng thổ phỉ, biệt kích khôi phục sản xuất; các đại đoàn chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh lại bước vào những ngày huấn luyện sôi nổi, tập đánh cứ điểm mạnh chuẩn bị cho những đợt tác chiến mới Xuân Hè 1953

2.3 Diễn biến chiến dịch

Chiến dịch được chia làm 3 đợt:

Đợt 1: Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952 Ta tiến công phân khu Nghĩa Lộ, tiểu khu Phú Yên Đập tan toàn bộ phong tuyến vòng ngoài của Pháp từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, Pháp đồn quân về xây dựng cứ điểm Nà Sản

Đợt 2: Từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952 Ta vượt sông Đà, tấn công hệ thống phòng ngự ở Mộc Châu, kết hợp với vu hồi chiến dịch từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, buộc Pháp từ thị xã Sơn La phải rút về Nà Sản

Đợt 3: Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952 Ta tấn công quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản

2.3.1 Tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ, đập tan tuyến phòng thủ vành đai ngoài Tây Bắc của địch

Phân khu Nghĩa Lộ chiều dài 15 km, chiều ngang chỗ rộng nhất 8km, chỗ hẹp nhất là 3km, chính giữa là thị trấn, cuối thị trấn về phía tây – nam là cứ điểm Nghĩa Lộ phố ( còn gọi là Nghĩa Lộ ) xây dựng trên một quả đồi có khoảng 500 quân đồn trú Sân bay dã chiến của quân khu trải dài từ cứ điểm Nghĩa Lộ phố

về phía đông Cuối sân bay nối liền dãy núi Pú Chạng Cứ điểm Pú Chạng ( còn gọi là Nghĩa Lộ đồi ) có 300 quân đội chiếm đóng, địa thế rất hiểm hóc, có tám

lô cốt, 15 ụ súng, có hầm ngầm kiên cố với nhiều hỏa điểm từ trên các điểm cao

bố trí rất lợi hại; có ba đến bốn hàng rào dây thép gai, xen kẽ là các bãi mìn đày

Trang 15

13

đặc Sở chỉ huy phân khu đóng ở Nghĩa Lộ đồi do tên quan Ti-ri-ông chỉ huy Sân bay dã chiến của phân khu trải dài từ cứ điểm Nghĩa Lộ về phía đông

Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch mở màn

Để tạo thế cho mũi tiến công chính của đại đoàn 308 vào sâu chiếm lĩnh trận địa tiêu diệt Nghĩa Lộ, trung đoàn 174 của đại đoàn 316 đánh trước vị trí Ca Vịnh; trung đoàn 141 đại đoàn 312 đánh trước vị trí Sài Lương, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện trên đường Gia Hội

Đêm 14 – 10 – 1952, quân ta nổ súng tiến công Nghĩa Lộ Bị đánh bất ngờ, địch không đối phó kịp, vội vàng rút ra Ca Vịnh, Sài Lương; đêm 15 tháng

10, rút Thượng Bằng La; đêm 16 tháng 10, bỏ Ba Khê chạy về Làng Nhì

Ngày 15 tháng 10, Đơ li-na-rét điều 3 tiểu đoàn lê dương từ đồng bằng lên

Nà Sản, ngày 16 tháng 10, thả tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 xuống Tú Lệ để chặn đường tiếp tế của ta, giữ Sơn La và giải tỏa cho Nghĩa Lộ

Ngày 17 tháng 10, đại đoàn 308 sử dụng 2 trung đoàn đánh Nghĩa Lộ phố

và Nghĩa Lộ đồi Kế hoạch của đại đoàn là diệt Nghĩa Lộ đồi (Pú Chạng) trước, sau đó gọi hàng hoặc diệt Nghĩa Lộ phố trong cùng một đêm

Trung đoàn 102 hành quân qua đèo Khâu Vác cao ngót 1.500 met, độ dốc tới 50 – 60 độ một bức thành thiên nhiên che chở cho mặt bắc thung lũng Nghĩa

Lộ Sau khi diệt bọn tuần tiễu ở Nậm Mười , Bản Tú, trung đoàn đã đến chiếm lĩnh trận địa bao vây Nghĩa Lộ đồi 17 giờ cùng ngày, địch phát hiện, chúng cho bốn bay ném bom bắn phá dữ dội vào đội hình tiến công của đại đội ở hướng chủ yếu Hơn 30 cán bộ, chiến sỹ hy sinh, nhưng trung đoàn vẫn giữ vững quyết tâm nổ súng và tìm mọi cách đưa thương binh, tử sĩ về phía sau

Từ 14 giờ 5 phút đến 17 giờ 15 phút, quân ta đột phá cửa mở dưới làn hỏa lực dày đặc của địch trong ba giờ liền Cối 120, 81, DKZ 57, ba-dô-ca của ta bắn dồn dập vào khu trung tâm cứ điểm Các tiểu đội dao nhọn của bộ binh xông vào đồn đánh thọc sâu Kết quả, ta tiêu diệt toàn bộ sở chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ với gần 400 tên địch, bắt sống 177 tên, trong đó có tên quan tư Ti-ri-ông, thu

nhiều vũ khí, toàn bộ quân trang, quân dụng [4,tr.214]

Trang 16

14

Trung đoàn 88 đánh Nghĩa Lộ phố, hướng thứ yếu, vào chiếm lĩnh chậm nên 3 giờ sáng mới nổ súng được Địch dùng máy bay thả pháo sáng và bắn phá nhiều nơi Từ trong cứ điểm, địch bắn phá dữ dội Giai đoạn mở của đột phá diễn ra rất gay go, bộ đội ta vừa phải đối phó với máy bay vừa phải khẩn trương, khôn khéo khắc phục mọi hành động đề kháng của địch trong cứ điểm 8 giờ sáng ngày 18, ta tiêu diệt toàn bộ Nghĩa Lộ phố Địch chết 45 tên, bị bắt 235 tên, trong đó có tên đại úy Bác-be chỉ huy đội tăng viện Trong số vũ khí ta thu

được có hai khẩu lựu pháo 105 và hàng nghìn viên đạn pháo [15, Tr.214]

Như vậy ngay từ đòn tiến công đầu tiên, ta đã san bằng một loạt vị trí then chốt, phá vỡ một bộ phận tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch Tạo nên một hình thái thuận lợi để ta phát triển tiến công

Trước đây, tháng 9 năm 1952 Ti-ri-ông tuyên bố phải 5 năm nữa Việt Minh mới đủ khả năng đánh vào Nghĩa Lộ Nhưng không phải 5 năm mà chỉ một tháng sau, Nghĩa Lộ thất thủ Điều đó nói lên sức mạnh mới của quân và dân ta

Trước sức mạnh tiến công của quân ta, Xa-lăng quyết định rút một loạt vị trí và đưa tiểu đoàn dù thuộc điạ số 6 ở Tú Lệ về Nà Sản Đêm 18 tháng 10, quân địch ở Của Nhì chưa kịp rút đã bị trung đoàn 36 bao vây, diệt và bắt sống

214 tên, binh lính ở Gia Hội rút về Tú Lệ cũng bị ta phục kích ở Nậm Mười, tổn thất khá nặng

Ngày 19 tháng 10, quân ở những vị trí Tú Lệ và xung quanh cùng tiểu đoàn dù số 6 về Nà Sản trung đoàn 165 được lệnh vân động truy kích địch trên đoạn đường dài 70Km Trong trận này, nổi bật lên gương chiến sỹ Chu Viết Sòi cùng tổ ba người đã vượt lên trước chặn địch ở đèo Tao Phạ dùng súng mày diệt

30 tên địch, thu nhiều vũ khí Ngày 23-10-1952, đại đoàn 312 hành quân tới sông, buộc địch phải rút chạy về phía hữu ngạn sông Đà Kết quả trong 4 ngày đêm liên tục truy kích địch trên quãng đường dài gần 100 km, đại đoàn 312 đã đánh tán số quân rút chạy, diệt và bắt sống gần 200 tên Tiểu đoàn dù số 6 bị đánh thiệt hại nặng

Trang 17

cơ động đến ứng cứu, cũng bị tiểu đoàn 910 đánh, tiêu diệt một đại đội ở Pắc

Má Ngày 23, số địch còn lại ở tả ngạn sông Thao cũng lui về hữu ngạn sông

Đà.[4,tr215]

Bộ đội địa phương và các đội du kích Cao Phạ, Mường La, .phối hợp lùng quét và gọi hàng tàn binh địch Các đội du kích, Văn Bàn, Văn Chấn bao vây Làng Chàng, Bản Lin, vừa truy kích vừa kêu gọi tàn binh rút chạy Đại đội

802 tỉnh Lai Châu cùng tiểu đoàn 910 nhanh chóng làm chủ khu vực

Như vậy, chỉ sau 11 ngày đêm chiến đấu, đợt một chiến dịch đã kết thúc thắng lợi: ta tiêu diệt 500 tên địch, bắt sống trên 1000 tên trong đó có 300 tên lính Âu Phi, nhiều sỹ quan chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ, tiểu khu Phù Yên Giải phóng hữu ngạn sông Thao, ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, làm chủ con đường 13 nối liền từ Nghĩa Lộ đến Yên Bái, thu 1.400 súng trường, tiểu liên, 75 trung liên, 22 trọng liên, đại liên và 34 súng cối, ba DKZ 37, hai khẩu

pháo 105, 14 máy vô tuyến cùng nhiều quân trang quân dụng.[15, Tr.215]

Quyết tâm của Trung ương Đảng, của Bác Hồ thấm nhuần đến từng cán

bộ, chiến sĩ ta đã biến thành hiện thực Mặt trận mở rộng về phía sông Đà đang tiến sâu vào Tây Bắc Chiến dịch đã có thêm một số yếu tố mới để phát triển

2.3.2 Vượt sông Đà, tiêu diệt phân khu Mộc Châu, giải phóng tỉnh Sơn La, Điện Biên Phủ

Bị thiệt hại nặng nề, bộ chỉ huy Pháp quyết định bỏ vùng tả ngạn sông Thao, rút sang hữu ngạn sông Đà và nhanh chóng thiết lập cầu hàng không Hà

Trang 18

16

Nội - Nà Sản, tăng cường lực lượng thiết lập tuyến phòng thủ sông Đà, xây dựng

Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh để quyết giữ vùng còn lại ở Tây Bắc

Bộ chỉ huy Pháp đưa chín tiểu đoàn cơ động từ vùng đồng bằng và từ nhiều nơi khác lên Tây Bắc, nâng số quân ở đây lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội

Ngày 16 tháng 10, tiểu đoàn số 6 dù (6e PBC) đổ xuống Tú Lệ; tiểu đoàn

lê dương ( 3/3e REI) đến Sơn La Ngày 20 và 21, thêm một số tiểu đoàn lê dương

và tiểu đoàn Ma-rôc( 3/1e RTM) đổ bộ xuống Nà Sản Ngày 26 tiểu đoàn ngụy từ đồng bằng Bắc Bộ tăng cường lên cho Nà Sản Phía Lai Châu, địch tăng cường tiểu đoàn Bắc Phi ( 27e BMTS) đến đóng chốt ở thị xã Ngày 2 tháng 11, tiểu đoàn ngụy Lào (958eBCL) từ thượng Lào sang Điên Biên Phủ và Quỳnh Nhai

Sau khi tăng cường lực lượng và co cụm về tả ngạn sông Đà, địch tổ chức Tây Bắc thành hai mặt trận: mặt trận Sơn La do đại tá Gin chỉ huy, mặt trận Lai Châu do đại tá Đờ-na-oa chỉ huy

Ở mặt trận Sơn La, từ Tạ khoa đến Ba lay, Mộc Châu địch tổ chức “cánh quân phía đông”, do đại tá Lăng-xát-dơ chỉ huy, có tiểu đoàn 3 lê dương, tiểu đoàn 3 Ma-rốc và tiểu đoàn 3 Thái chiễm giữ, tiểu đoàn 3 lê dương chiếm giữ vùng Tạ Khoa, Cò Nòi, Yên Châu

Ở mặt trận Lai Châu, tiểu đoàn 27eBMTS chiếm giữ thị xã, tiểu đoàn 17 Ta-bo vượt sông chiếm lại Pắc Má tiểu đoàn 2/2e RTA lên Phong Thổ, tiểu đoàn ngụy Lào giữ Điện Biên Phủ và Quỳnh Nhai Tại Tuần Giáo, Thuận Châu mỗi nơi có một tiểu đoàn

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản thuộc khu vực trung tâm bao gồm nhiều điểm tựa và nhiều sân bay được củng cố vững chắc Đây là một hình thức chiến thuật mới, cao hơn hẳn tập đoàn cứ điểm ở thị xã Hòa Bình Với biện pháp này, địch

hy vọng có thể đối phó có hiệu quả mọi cuộc tiến công của ta hoặc đè bẹp các đại đoàn chủ lực nếu như ta dám mạo hiểm tiến công

Địch sửa chữa đoạn đường Điện Biên- Tuần Giáo, xây dựng thêm công sự, đặc biệt chú trọng cấu trúc trận địa Nà Sản, đề phòng ta mở đợt tiến công mới

Trang 19

17

Đối phó về chiến lược, bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ còn quyết định mở cuộc hành quân Lo-Ren đánh lên Phú Thọ hòng phá vùng hậu phương chiến dịch và kéo quân chủ lực của ta ở Tây Bắc về, phá cuộc tiến công của ta lên Tây Bắc

Tuy nhiên, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trước sau vẫn nhất định: Địch căn bản là ở vào thế bị động dù chúng có tăng cường lực lượng cho Tây Bắc hay đánh lên Phú Thọ cũng chỉ là để đối phó với ta Những nhược điểm căn bản của

địch vẫn còn tồn tại, đặc biệt nhược điểm về tinh thần thì sâu sắc hơn trước.[15, Tr.217]

Tuy nhiên, địch đã tăng cường cả lực lương cơ động và chiếm đóng Chúng lại phán đoán hướng tiến công của ta nên chúng ra sức đề phòng, do đó thế bất ngờ về chiến dịch không còn nữa Cách bố trí của địch không cố định, khi ta đánh địch có thể thay đổi nhanh chóng Khi qua sông, ta có thể gặp địch trong hành quân Khi lực lượng ta xuất hiện, địch có thể tăng viện nhưng cũng

Sau đợt một, các đại đoàn khẩn trương rút kinh nghiệm cách đánh, đặc biệt tác chiến công kiên, củng cố quyết tâm, chấn chỉnh bổ sung lực lượng Cơ quan hậu cần tiền phương tiếp tục vận chuyển lương thực, thực phẩm, bố trí kho trạm cấp phát và cơ động lực lượng sang tả ngạn sông Đà Giải quyết xong Nghĩa Lộ, gạo trở thành yếu tố quyết định để phát triển chiến dịch, các đại đoàn đều phải dành một phần lực lượng để vận chuyển gạo, trung đoàn công binh, trung đoàn sơn pháo 75 có thêm nhiêm vụ trở ra Yên Bái đưa gạo vào, một tuyến đường gạo nữa được mở ra tiếp nhận từ Liên khu 4, Liên khu 3, theo dòng sông Đà đến vùng Hòa Bình, theo đường số 12 và số 41 Gần 40 ô tô lốp choàng xích sắt chống lầy được huy động để tải gạo

Trang 20

Trung đoàn 209 và 141 được tăng cường hai súng cối 120, chín khẩu 12,7 tiến công tiểu đoàn 3 địch (3/1e RMT) và vị trí Ba Lay

Trung đoàn 88 đánh vị trí Mường Lụm cắt đường số 41, chặn viện binh và không cho địch có đường rút và cơ động trong khu vực

Trung đoàn 174, trung đoàn 98 được một đại đội pháo 75 một đại đội cối

120 tăng cường đột phá Mộc Châu tiêu diệt địch, chặn viện không cho lên cứ Ba Lay về Mộc Châu, Cò Nòi

Trung đoàn 120 dự bị chiến dịch đứng chân tại Xốp Bua.[15, Tr.218]

Bước vào đợt hai, ở Lai Châu địch vẫn còn sơ hở Bộ chỉ huy chiến dịch coi đây là hướng phối hợp quan trọng nên đã tổ chức thành mặt trận bí danh Y13 Mặt trận được tăng cường thêm lực lượng đánh sâu vào phía sau đội hình chiến dịch

Trung đoàn 165, tiểu đoàn 910 của trung đoàn 148, lực lượng vũ trang địa phương nổ súng sớm đánh vào Quỳnh Nhai nhằm khai thông đường tiến quân vào Lai Châu, Thuận Châu, Tuần Giáo Mặt trận Y13 có nhiệm vụ tiêu diệt địch, đồng thời nghi binh lừa địch, làm cho chúng phán đoán Lai Châu là hướng tiến công chủ yếu của ta

Quyết tâm của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trước sau vẫn tập trung vào hướng chính đã chọn, thực hiện bằng được mục đích chiến dịch đã đề ra Tuy nhiên, ở hướng Phú Thọ, Bộ Tổng tư lệnh vẫn tăng cường trung đoàn 36 cùng với lực lượng tại chỗ chuẩn bị phá tan cuộc hành quân Lo-ren, bảo vệ vững chắch hậu phương Các đại đoàn 320, 304 và bộ đội điạ phương liên khu 3, Việt Bắc thừa lúc địch sơ hở, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiến công địch ở khắp nơi

Trang 21

19

Ngày 28 tháng 10, khi đợt một chiến dịch Tây Bắc vừa chấm dứt được năm ngày ta đang chuẩn bị tiến công địch đợt hai, thì địch tung toàn bộ lực lượng cơ động dự bị chiến lược đánh lên Phú Thọ, gồm chín tiểu đoàn bộ binh,

ba tiểu đoàn binh dù, hai thủy đội xung kích, ba tiểu đoàn công binh, cùng nhiều máy bay vận tải ném bom

Sự kiện đó diễn ra không nằm ngoài dự đoán của Tổng Bộ tham mưu ngày 21 tháng 9: “Phú Thọ là nơi kinh tế dồi dào, có nhiều nhân vật lực, lại có đường giao thông quan trọng, nối liền khu Việt Bắc với liên khu 3, 4; nối liền vùng trung du Việt Bắc với miền thượng du Tây Bắc cho nên thu đông năm nay

địch có thể đánh ra để thực hiện âm mưu của chúng ”[14,tr.394]

Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho trung đoàn 246, trung đoàn 176 và bộ đội đại phương chuẩn bị phương án nghênh chiến

Ngày 28 tháng 10, địch từ Trung Hà, Việt Trì theo đường sông đường số

2 lên Phú Thọ và nhảy dù xuống Đoan Hùng Ngày 13 tháng 11 một mũi tiến công lên Biến Hiên đi đến đâu chúng lùng sục, đốt phá kho tàng, thóc lúa Tại Tam Nông, Đoan Hùng, Đồng Vàng chúng phá ba kho gạo, một kho thóc, một kho muối, một kho vũ khí 100 tấn ta chưa kịp vận chuyển Để đề phòng địch có thể tiến sâu hơn nữa, quấy rối hậu phương, đánh phá cơ quan kho tàng và cắt đường tiếp viện của ta, ngày 19 tháng 11, trung đoàn 36 tách khỏi đội hình đại đội 308 cấp tốc hành quân về chặn địch ở hữu ngạn sông Thao, một đại đội công binh, pháo binh và cơ quan đoàn bộ của trung đoàn 151 trên đường số 13 cùng

cơ động sang thị xã Yên Bái, tổ chức thành một đơn vị phòng thủ Đảng Bộ, chính quyền nhân dân các địa phương nơi xảy ra chiến sự phối hợp chặt chẽ với

bộ đội chủ lực, thống nhất phương án đánh địch, kiên quyết bảo vệ hậu phương chiến dịch

Trước sức tiến công ào ạt của quân địch, lực lượng vũ trang cùng nhân dân đại phương phá hoại cầu đường, cất giấu tài sản, đánh địch ở khắp nơi, ngăn chặn từng bước tiến quân của chúng Ở Hiên, cán bộ, công nhân quân giới bố trí trận địa mìn dày đặc, địch không vào được xưởng, phải rút

Trang 22

20

Ngày 17 tháng 11, trung đoàn 36 đánh trận phục kích trên đèo Chân Mông – Năng Yên và Trạm Thản Lợi dụng địa hình hiểm hóc, bộ đội bố trí khôn khéo, bí mật, chờ địch lọt vào trận địa mới bất ngờ nổ súng đánh giáp lá

cà, tiêu diệt và bắt sống trên 400 tên, phá hủy 27 ô tô, 17 xe bọc thép

Trong trận này, nổi bật tấm gương chiến sĩ mới Lê Văn Hiến, tuy bị địch bắt, đánh đập dã man, nhưng vẫn không nhận mình là bộ đội chủ lực để giữ bí mật bất ngờ cho trận phục kích

Đêm 23 rạng sáng ngày 24 tháng 11, trung đoàn 36 lại tiến công núi Quyết (gần Cổ Tiết) diệt thêm một đại đội địch, làm cho binh đoàn cơ động số 4 của địch bị tổn thất nặng nề

Bị thiệt hại nặng, bộ chỉ huy của quân Pháp phải hạ lệnh cho Đờ li–na– rét kết thúc cuộc hành quân Lo – ren, rút lực lượng về đối phó với mặt trận đồng bằng và Tây Bắc

Gần một tháng đánh lên Phú Thọ, cuộc hành quân phản kích vào hậu phương chiến dịch được tính toán rất kỹ của các nhà quân sự Pháp ở Đông Dương đã không đem lại kết quả gì, không thay đổi được quyết tâm chiến lược của đối phương, mà còn bị tổn thất nặng nề: 1.800 tên bị loại khỏi vòng chiến

đấu, có 173 tên bị bắt, 60 xe cơ giới bị phá hủy.[15, Tr.220]

Thắng lợi ở hậu phương cổ vũ mạnh mẽ cho chiến trường, đặc biệt đối với mặt trận Tây Bắc Ở đây, bộ đội, dân công đang hăng hái bước vào đợt tiến công mới với khí thế thi đua giết giặc lập công sôi nổi

Theo chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, để tranh thủ yếu tố bất ngờ, nghi binh lừa địch, mặt trận Y13 ở hướng Lai Châu nổ súng trước mở đầu đợt hai chiến dịch Đêm 17 tháng 11, tiểu đoàn 910 đánh tan một tiểu đoàn ngụy ở Nâm Dím Quân ta vừa vượt sông Đà thì địch ở Tuần giáo, Lai Châu biết tin đã hoảng loạn, rút chạy Bộ chỉ huy Pháp phán đoán Lai Châu là hướng ta tiến công chủ yếu, vội vàng điều hai tiểu đoàn từ đồng bằng lên để đối phó ( 2e PBC và 2/1eRTM) Trong khi đó, ở hướng chủ yếu của chiến dịch, sáu trung đoàn của đại đoàn 308, 312, 316 nhích dần đội hình, bí mật vượt sông Đà vào chiễm lĩnh trận địa xuất phát tiến công Đại đoàn trưởng đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn, chính

Trang 23

69 tên lính Âu Phi thuộc tiểu đoàn 3 Ma-rôc

Tiểu đoàn 316 có nhiệm vụ tiến công Mộc Châu, một cứ điểm mạnh, then chốt nằm án ngữ đường số 41, do một tiểu đoàn địch chiếm giữ Đêm 19 tháng

11, trung đoàn 174, được tăng cường tiểu đoàn 215 của trung đoàn 98, một đại đội ba khẩu pháo 75, một đại đội cối hai khẩu 120, một tiểu đoàn 12 khẩu 12,7mm, một trung đội DKZ và một trung đội công binh chia làm nhiều mũi tiến công cứ điểm Mộc Châu Ở hướng sân bay, tiểu đoàn 439 trung đoàn 98 bố trí chặn đánh địch đề phòng chúng rút chạy

Cứ điểm Mộc Châu địa hình rất hiểm trở, địch bố trí binh lực, hỏa lực nhiều tầng, nhiều lớp từ trên các điểm cao, có những điểm cao đột xuất; cứ điểm

hệ thống lô cốt, bãi mìn, tường xây vững chắc, có vị trí Pom tám, Pom lót cao 80m ở tiền tiêu bảo vệ do một tiểu đoàn lính Thái chốt giữ Vì vậy cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất quyết liệt Các mũi tiến công ở hướng chủ yếu sau hơn một giờ liên tục mở của đột phá mà vẫn không thành công Ở múi thứ yếu tác chiến thuận lợi hơn, đã chiếm được hai vị trí tiền tiêu Từ trên cao, bộ đội ta phát huy các loại hỏa khí yểm hộ cho các hướng phát triển tiến công, lần lượt chiếm các lô cốt, ụ súng, trận địa pháo Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân ta, 2 giờ 15 phút, ngày 20 tháng 11, bọn chỉ huy ở cử điểm Mộc Châu xin đầu hàng Một số binh lĩnh tháo chạy rơi vào địa đón lóng của tiểu đoàn 439 Kết quả, ta lọai khỏi vòng chiến đấu 309 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hơn 1.000 dân bị bắt giam

Trang 24

22

Sau khi các vị trí then chốt ở tuyến phòng ngự trên cao nguyên Mộc Châu

bị tiêu diệt, địch ở chiềng Pan, sông Con, Tay Say, Sa Piệt, Tạ Khoa, vội vã rút chạy Quân ta tiếp tục truy kích tiêu diệt và bắt sống hơn một tiểu đoàn địch

Trước sức mạnh tiến công của quân ta, địch ở Chiềng Đông, Cò Nòi, Yên Châu phải rút về tập trung tại Nà Sản Những trận đánh mở đầu trận hai chiến dịch vào tuyến phòng thủ cao nguyên Mộc Châu giành thắng lợi lớn

Tại Lai Châu hướng thứ yếu, sau khi tiểu đoàn Thái ở Nậm Dín bị ta tiêu diệt, địch ở Tuần Giáo, Luân Châu rút chạy, vị trí Mường Sài, thị xã Lai Châu bị

uy hiếp, đường số 41 Sơn La –Lai Châu bị chặt đứt một đoạn dài 60km Ngày

14 và 15 tháng 11, địch điều hai tiểu đoàn (2e BPC và 56e BVN) đến chiếm lại Luân Châu, Nậm Dín nhằm khôi phục tiểu khu Quỳnh Nhai giữ vững trận địa bảo vệ thị xã

Tiểu đoàn 910, tiểu đoàn 542 và tiểu đoàn 564 hình thành hai mũi tiến công, sau khi vượt sông Đà đã nhanh chóng thọc sâu vào Nậm Dín Ngày 16 tháng 11, tiểu đoàn 910 tiến công tiểu đoàn dù ở ngã ba Nậm Dín, tiêu hao khoảng 3 đại đội, ngày 17 tháng 11, tiểu đoàn 542 đánh địch ở Nong Bò, Cha Mong, diệt một đại đội thuộc tiểu đoàn 56 ngụy

Tuy địch vẫn chiếm giữ ở ngã ba Nậm Dín, nhưng trước tình hình bị uy hiếp mạnh từ nhiều phía, chúng hết sức hoang mang lo sợ, cuối cùng phải dồn

về Luân Châu phòng ngự, bị uy hiếp mạnh, quân địch từ Tà Huôn, Tà Ôn, Tà Giang rút về Mường Sài Được nhân dân địa phương dẫn đường, tiểu đoàn 564 phái một đại đội vượt lên phía trước chặn địch, cả tiểu đoàn truy kích diệt và bắt sống gần như toàn bộ địch gồm bốn đại đội ở Mường Sài và hai đại đội ở Mường Piềng

Thừa thắng, tiểu đoàn 564 phát triển đến Thuận Châu, địch ở Thuận Châu hoảng sợ rút chạy Tiểu đoàn 564 chuyển đội hình bám sát địch, phối hợp với tiểu đoàn 115- tiểu đoàn dự bị từ Ít Ong – hình thành hai mũi truy kích địch đến tận Sơn La Ngày 22 tháng 11, toàn bộ quân địch ở các vị trí còn lại và quân chiếm đóng thị xã Sơn La rút về Nà Sản, ta tiếp quản Thuận Châu, thị xã Sơn

La, lùng quét bắt gần 400 tàn binh

Trang 25

23

Tiểu đoàn 542 thọc sâu vào Nậm Dín, qua Thuận Châu tiến về Điện Biên Phủ, đêm 30 tháng 11, tập kích tiểu đoàn ngụy Lào, tiếp đó truy quét bọn tàn binh đang lẩn trốn trong bảy ngày đêm liền, bắt sống 726 tên, có một tên quan tư tiểu đoàn trưởng, thu 600 súng các loại

Với tinh thần liên tục tiến công, tận dụng thời cơ, có cách đánh táo bạo, ở hướng phối hợp, bộ đội ta đã nhanh chóng phá tan hệ thống phòng ngự ở phía nam Lai Châu, diệt và bắt sống hơn 1.400 tên địch, tính cả đợt một trên hướng này, quân và dân ta đã tiêu diệt 12 đại đội địch, bắt sống 1.700 tên, thu nhiều vũ khí, giải phóng các huyện Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên phủ rộng trên 3.000km2 và 10 vạn dân Thắng lợi ở hướng Lai Châu còn tạo điều kiện để hướng Sơn La giành thắng lợi

lớn.[4,tr.223]

Kết quả toàn chiến dịch đến hết đợt hai, ta tiêu điệt và bắt sống hơn 3.000 tên địch, giải phóng 17.700 km2, tỉnh Sơn La ( trừ Nà Sản), một phần tỉnh Lai Châu không còn giặc

Mai (Mai Sơn).[16, Tr.86]

Trước cuộc tiến công lớn của ta lên Tây Bắc, sau khi mất Nghĩa Lộ, Mộc Châu Cuối tháng 11 năm 1952, tướng Xa Lăng đã tính đến việc gom các vị trí lại thành cứ điểm mạnh, hình thành tập đoàn cứ điểm Lúc đầu Nà Sản chỉ có một vị trí, một điểm tựa bằng bê tông và một sân bay dã chiến dài 1.100m Lực

Trang 26

số địch ở Nà Sản có 8 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, 8 đại đội độc lập, 1 đại đội công binh, trong số này có 8 tiểu đoàn Lê Dương, 2 tiểu đoàn Bắc Phi và

2 tiểu đoàn Ngụy mới được khôi phục Tổng số quân địch lúc này lên đến

12.000 tên.[16, Tr86]

Rút kinh nghiệm từ trận Xóm Phéo, Hòa Bình và qua tìm hiểu cách đánh của ta, tướng Xa Lăng đã đề ra chiến thuật mới “Chiến thuật tập đoàn cứ điểm, bằng cách phô ra trước kẻ địch vị trí tương đối yếu để nhử chúng (Quân ta), nhưng lại đủ chống cự lại các đợt xung phong, hoặc có thể đè bẹp chúng dưới

hỏa lực của pháo binh và không quân” [16, Tr86]

Mỗi ngày địch sử dụng khoảng 50 lượt bay từ Hà Nội lên Nà Sản ngoài việc hỗ trợ quân, vũ khí, phương tiện, còn đưa lên Nà Sản 1.600 tấn thép gai,

5000 quả mìn Chúng còn huy động 1 tiểu đoàn lính Lê Dương, 400 dân phu lên cải tạo địa hình, phá trụi các quả đồi, đào hầm hố, ẩn nấp, xây lô cốt, rào dây thép gai và bố trí các bãi mìn Địch đóng trên 24 cứ điểm đại đội và 4 cứ điểm trung đội Các cứ điểm này đều bố trí trên đồi cao, bao bọc xung quanh sân bay, trận địa pháo và sở chỉ huy

Lợi dụng đồi cao, chúng thiết lập cứ điểm hình thành vành đai trong khu vực phòng thủ: vành đai phía trong bảo vệ sở chỉ huy, trận địa pháo, sân bay, kho tàng Quân dự bị nối nhau bằng hầm giao thông và dây thép gai Vành đai ngoài gồm 7 cứ điểm cấu trúc trên những quả đồi, cách xa trung tâm ở ngoài tâm hỏa lực của súng cối Lực lượng của địch phân tán trên các đồi cao, công sự cải tiến từng bộ phận khi bị ta đánh chúng rút về các vị trí lẻ chuyển thành các cụm

cứ điểm, đặc điểm công sự của địch kiến trúc ngày càng nhiều, có nhiều công sự

dự bị, hầm ngầm, nhiều giao thông hào, công sự phụ, đội hình bố trí các cứ điểm

Trang 27

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, với một hệ thống bố phòng mạnh, những cứ điểm này nằm trong hệ thống cấu trúc chặt chẽ của tập đoàn cứ điểm, có thể chặn đánh từ xã và phản kích khi bị tấn công Bộ chỉ huy quân sự Pháp coi tập đoàn cứ điểm Nà Sản là “con đê ngăn sóng” là một chiến lược ngăn chặn mới, là cụm phòng ngự tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng ở Tây Bắc

Tuy địch phải vội vã rút về Nà Sản trong thế bị động, cô lập và tinh thần

sỹ quan, binh lính hoang mang lo sợ, nhưng lực lượng của chúng còn đông, có cầu hàng không đảm bảo tiếp tế, cấu trúc có nhiều điểm tựa hiểm hóc, tác chiến trong điều kiện có hỏa lực và không quân chi viện Đó là những khó khăn mà ta phải tính đến phương án khi ta tấn công vào Nà Sản

2.3.3.2 Trận đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản

Tập đoàn cứ điểm là một hình thức phòng ngự mới, xuất hiện trên chiến trường nước ta sau những thất bại liên tiếp của thực dân Pháp Từ tháp canh Đờ- La–Tua đến hệ thống nhỏ của tướng Cốc, đến hệ thống lô cốt boong ke của Đờ-Lát Đờ Tát–Xi–Nhi(Delattre de Tassigny) -(Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương), địch đã chuyển sang cụm cứ điểm lớn như Mộc Châu, Nghĩa Lộ Trước mỗi bước trưởng thành của quân đội ta về chiến thuật công kiên, địch lại thay đổi cách phòng ngự và cách ứng chiến Nhận thấy “Đám bụi

cứ điểm không còn giá trị”, quân địch buộc phải bỏ vị trí chỉ huy phân khu Sơn

La và tất cả các vùng xung quanh co cả về thung lũng Nà Sản Điều đó nói lên bước đường cùng của chúng đã tới Chúng bao giờ cũng muốn chiếm được

Trang 28

26

nhiều dân, nhiều đất, do đó buộc phải phân tán lực lượng Nhưng càng phân tán lại càng dễ bị tiêu diêt Vì vậy lại phải tập trung quân để phòng thủ một điểm, ngược với mục đích chiếm đóng Mâu thuẫn đó không tài nào giải quyết được

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản không phải là những cụm cứ điểm riêng lẻ mà

là các cứ điểm xem kẽ có liên hệ mật thiết với nhau bằng hỏa lực và lực lượng phản kích Tập đoàn cứ điểm bao gồm cả sân bay, hệ thống trận địa pháo, xe tăng thiết giáp, hệ thống chướng ngại vật gồm bãi mìn, dây thép gai dài hàng trăm mét, kết hợp với những hỏa điểm bí mật bắn lướt sườn khá hiểm Tập đoàn

cứ điểm có binh lực tương đương cỡ sư đoàn, phòng ngự cỡ binh chủng hợp thành Thua đau trong chiến dịch Tây Bắc – Thương Lào, Pháp co cụm và lập nên tập đoàn cứ điểm Nà Sản, ngang dọc từ 4 đến 6 km, chiếm diện tích khoảng hơn 10 km2 Tập đoàn cứ điểm được thiết lập theo hình thức phòng ngự hình vòng cung khép kín, 28 ngọn núi, đồi đất là các cứ điểm được xây dựng các đồn quan trọng dựa vào nhau, bao quanh sân bay Các trận địa pháo 105 mm nhằm tạo nên 1 vành đai bảo vệ cho sân bay, Sở chỉ huy và kho tàng quan trọng

Tại Nà Sản, chúng phải tập chung tới 10 tiểu đoàn, 4 đại đội pháo binh, trong đó có 2 tiểu đoàn của binh đoàn số 1 (GM1) vừa thất trận ở đường số 2 mới về Hà Nội cũng bị vội vã điều lên Để làm điều đó, Xa – Lăng phải huy động toàn bộ máy bay vận tải quân sự và dân dụng, lập cầu hàng không tới tấp gửi quân lính vũ khí lương thực đến cho Nà Sản Bộ chỉ huy Pháp còn huy động nhiều đợt máy bay đến oanh tạc, hòng ngăn chặn các con đường của ta từ Cò Nòi tiến lên và từ Sơn La đổ xuống

Ngày 24 -11- 1952 bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc hạ quyết tâm tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản 5 trận đánh dồn dập diễn ra:

- Đêm ngày 30 tháng 11, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 (Đại đoàn 312 – Đại đoàn chiến thắng) gấp rút tiến công vào Bản Hời phía bắc Nà Sản, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm 2 km để phối hợp với đơn vị bạn đánh Pú Hồng Do phải nổ súng gấp để chấp hành mệnh lệnh phối hợp với đơn vị bạn, tiểu đoàn

115 phải khắc phục rất nhiều khó khăn, dùng thuốc bom đánh bộc phá Mọi việc chuẩn bị của tiểu đoàn đều diễn ra dưới các đợt phi pháo địch Trận đánh công

Trang 29

27

kiên diễn ra vô cùng ác liệt từ phút đầu Do hết bộc pháo, mở không hết hàng rào, bộ đội ùn tắc ở cửa mở bị thương vong nhiều Sau hơn một giờ chiến đấu dũng cảm, tiểu đoàn 115 làm chủ bản Hời, diệt gần một đại đội địch

- Đêm ngày 30 tháng 11, trung đoàn 102 (trung đoàn Thủ Đô) và tiểu đoàn 322 của trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) chiếm được Phú Hồng, diệt hoàn toàn 4 trung đội của binh đoàn số 1 đóng trên cứ điểm 753, bắt sống tên quan

Mê – Tét (Métais), nhưng sau đó bị địch phản kích chiếm lại

- Đêm 1 tháng 12 phát huy chiến thắng của trận bản Hời, bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho trung đoàn 209, Đại đoàn 312 tăng cường lực lượng tiêu diệt Bản Vây – cứ điểm chính trong cụm cứ điểm phòng ngự phía nam Nà Sản Địch ở cứ điểm Bản Vây có hai đại đội lê dương, có hỏa lực cầu vồng, pháo 57, với nhiều

lô cốt, hầm ngầm vững chắc Do một mũi tiến quân của ta bị lộ, địch đã chủ động đối phó, trung đội bộc phá mở cửa hầu như thương vong hết Sau khi mở được cửa, bộ phận xung kích chiếm được một đoạn hào, nhưng do thương vong không đủ sức phát triển phải dừng lại Gần sáng địch tăng cường hỏa lực và phản kích Ta không đủ sức đánh tiếp, phải rút lui Trận đánh không thành công

-Đêm ngày 1 tháng 12 trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) cùng một bộ phận trung đoàn 88 tiến công Nà Si cũng không thắng lợi, các chiến sỹ của Đại đoàn quân xung phong 308 bắn rơi 1 máy bay B26 Hôm sau địch cho quân nhảy dù tăng cường cho Nà Sản

- Ngày 2 tháng 12, súng cối 120 và 82 mm của ta thỉnh thỏang lại tập kích vào sân bay và vào những toán địch đang đào thêm công sự Thêm hai chiếc Đa–cô–ta và một chiếc Mo–ran bị bộ đội ta bắn cháy khi vừa hạ cánh xuống đường băng

Ngày 3 và 4 tháng 12, tình hình mặt trận tương đối yên tĩnh, bọn chỉ huy tập đoàn cứ điểm lo lắng: Đối phương ngừng lại để chuẩn bị cho 1 cuộc tiến công mới nữa chăng? Chúng vội đánh điện về Hà Nội yêu cầu quân tăng viện để

bù vào số quân hao hụt Ở Nà Sản, chúng hạ lệnh cho quân lính phải ăn ngủ sinh hoạt tất cả dưới mặt đất Đêm nào máy bay cũng nối tiếp nhau bay lên thả pháo sáng để giữ tinh thần cho binh lính địch Chờ mãi chúng quyết định một trận

Ngày đăng: 14/09/2016, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La, (1994), Lịch sử Đảng bộ Sơn La tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Sơn La tập 2
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La, (2005), Lịch sử Đảng bộ Sơn La tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Sơn La tập 3
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
3. (1963) Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn (tập 2), Bộ tổng tham mưu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn (tập 2)
4. Bộ quốc phòng, Viện lịch sử quân sự, (1992), Chiến dịch tiến công Tây bắc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến dịch tiến công Tây bắc
Tác giả: Bộ quốc phòng, Viện lịch sử quân sự
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1992
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1977), Văn kiện quân sự của Đảng tập III, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện quân sự của Đảng tập III
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Năm: 1977
6. Đảng Cộng Sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Henri Nava, (1994), Thời điểm của những sự thật, Nguyễn Huy Cầu dịch, Nhà xuất bản Công an nhân dân-Viện lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời điểm của những sự thật
Tác giả: Henri Nava
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 1994
10. Bộ Tổng Tham mưu, Ban tổng kết biên soạn lịch sử, (1991), Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
Tác giả: Bộ Tổng Tham mưu, Ban tổng kết biên soạn lịch sử
Năm: 1991
11. Phạm Văn Lực, (2011), Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và Phương pháp dạy học Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và Phương pháp dạy học Lịch sử
Tác giả: Phạm Văn Lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2011
12. Cao Văn Lượng, (2003), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân khu Tây Bắc (1945 - 1954), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân khu Tây Bắc (1945 - 1954)
Tác giả: Cao Văn Lượng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
13. Lê Bá Mậu, (2004), Đại cương lịch sử Việt Nam III, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam III
Tác giả: Lê Bá Mậu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
14. (1963) Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của trung ương Đảng, Tổng quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của trung ương Đảng, Tổng quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh
9. (2000) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w