1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu thi tốt nghiệp môn Luật cạnh tranh topica phần bài tập

12 2,2K 33

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 95,5 KB
File đính kèm Muc luc thi tot nghiep Luat canh tranh_Bai tap.rar (16 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo đảm cho bạn làm tốt 95% bài tập trắc nghiệm về nhà và 85% bài thi trở lên các môn học ngành luật kinh tế hệ văn bằng 2 topica. Mỗi loại tài liệu đều được xắp xếp theo vần ABC, đảm bảo cho bạn đễ tra cứu, tìm kiếm với thời gian tiết kiệm nhất mà hiệu quả nhất

Trang 1

VD1 : 6 công ty sản xuất, lắp ráp máy tính ở VN có thị phần 30% trên thị trường liên

quan đã ký thỏa thuận hợp tác lắp ráp máy tính giá rẻ với thương hiệu chung và ấn định giá bán loại máy tính này phải dưới 4 tr đồng

- Khả năng có thể VP: Vì 6 công ty sản xuất, lắp ráp máy tính ở VN có thị phần 30% trên thị trường liên quan nên khả năng có thể vi phạm TTHCCT hoặc lạm dụng VTTLTT lên quan

đến ấn định giá

- Phân tích: Việc ký thỏa thuận hợp tác là có hành vi thỏa thuận nhưng là thỏa thuận hợp

tác, tham gia vào thỏa thuận hợp tác các bên không còn tư cách độc lập, việc ấn định giá bán là đối với SP chung

- Nhóm DN có thị phần 30% chưa đủ xác định là TLTT theo K2 Đ11 LCT;

=>Kết luận: Không vi phạm

VD2 : A là một DN sx chiếm 32 % trên thị trường liên quan Sản phẩm của doanh

nghiệp A rất có uy tín trên thị trường và được người tiêu dùng ưa thích Doanh nghiệp A cũng

có chế độ ưu đãi cho các đại lý bán hàng của mình Đại lý B rất muốn bán hàng cho doanh nghiệp A Tuy nhiên, hiện nay đại lý B cũng lại đang phân phối sản phẩm của doanh nghiệp C.

A không muốn B bán sản phẩm đó nữa nên đã yêu cầu B không được bán hàng của C nếu muốn trở thành đại lý của A

Xét hành vi của A là bắt B, để bán hàng của A thì không được bán hàng của C, đối thủ cạnh tranh của A Căn cứ Khoản 5 Điều 13 LCT “Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa

vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng”, hành vi của A được coi là hành vi

áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng Đây là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm

VD3 : Doanh nghiệp A và doanh nghiệp B cùng nhau áp dụng mức giá thống nhất đối

với hàng hóa mà hai doanh nghiệp cung cấp tại các khu vực phía Bắc

- Khả năng VP: Theo khoản 1 Điều 8 “Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp” thì có khả năng vi phạm TTHCCT.

- Phân tích:

+ Doanh nghiệp A và Doanh nghiệp B là các doanh nghiệp độc lập

+ Mức giá thống nhất đối với hàng hóa mà hai doanh nghiệp cung cấp tại khu vực phía bắc nếu đã được thỏa thuận thống nhất cùng hành động thì có thể làm giảm, sai lệch, cản trở sự cạnh tranh trên thị trường

=> Kết luận: Có thể vi phạm

Trang 2

VD4 : A và B đều là doanh nghiệp sản xuất vòng bi A chiếm 17% thi phần trên thị

trường liên quan, B chiếm 12% trên thị trường liên quan A và B ký HĐ thỏa thuận thực hiện việc sáp nhập A vào B mà không tiến hành thủ tục thông báo.

- Khả năng VP: Theo Khoản 1, Điều 17 “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một

số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” thì A và

B ký HĐ thỏa thuận thực hiện việc sáp nhập A vào B là hành vi Tập trung kinh tế

- Phân tích: A và B ở cùng trên thị trường liên quan Thị phần kết hợp của A và B là 29

% trên thị trường liên quan Căn cứ quy định tại Điều 20 LCT “Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ

và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo”, A và B có thể tiến hành sáp

nhập mà không cần thông báo Việc sáp nhập của A vào B không thuộc trường hợp bị cấm

theo quy định tại Điều 18 LCT “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh

tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp”.

=> Kết luận: Không có vi phạm

VD5 : Nhận thấy DN A sản xuất gạch men AKIRA rất nổi tiếng trên thị trường, doanh

nghiệp B chuyên kinh doanh VLXD khi thành lập đã lấy tên TAKIRA Co.Ltd

- TAKIRA và AKIRA là hai tên thương mại có dấu hiệu tương tự, SP cùng loại

- Vì AKIRA là thương hiệu nổi tiếng nên DN B phải biết điều này (nhận thấy), đây là hành vi cố ý, hoàn toàn có thể xác định hành vi này nhằm gây nhầm lẫn cho khách hàng nhằm mục đích cạnh tranh

- B là một DN và hành vi của B đã đủ dấu hiệu cấu thành vi phạm tại Đ 40 LCT “Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh”.

=> Kết luận: Có vi phạm

VD6: Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những DN không phải là một bên của thỏa thuận cỏ thể đuơc xem xét miễn trừ nếu tạo ra sự giảm giá thành hàng hóa, có lợi cho người tiêu dùng.

Trả lời: Sai

Căn cứ Điều 10 LCT, thỏa thuận này trên không được quy định tại Điều này nên không được xem xét hưởng miễn trừ

Trang 3

VD7: Tháng 10/2010 Beeline – nhà mạng chiếm khoảng 5% thị phần mạng di động tại

Việt Nam, đã chào bán sim tỷ phú với giá 20 nghìn đồng x 12 tháng x 10 năm = 2,4 triệu đồng Khách hàng thanh toán cho Beeline theo tiến độ thanh toán là 120 lần (V) mỗi tháng nộp 20 nghìn đồng) Số tiền khuyến mãi (cước dịch vụ viễn thông của Beeline) mà người mua được hưởng (1 tỷ đồng) cao hơn giá trị số thuê bao mà khách hàng phải bỏ tiền ra mua (2,4 triệu đồng) là 416,67 lần (1 tỷ : 2,4 triệu = 416,67)

Các hành vi có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Tại sao?

- Khả năng vi phạm: lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc cạnh tranh không lành mạnh về khuyến mại

- Phân tích:

+ Theo Khoản 1 Điều 11 “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu

có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh

và hành động và việc khuyến mãi của beeline theo dữ kiện đề bài sẽ không có khả năng gây ra hạn chế cạnh tranh Nên Beeline không có vị trí thống lĩnh trên thị trường

+ Việc khuyến mại của Beeline nêu trên không thuộc quy định tại Điều 46 LCT “Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” Nên việc khuyến mãi của Beeline là không vi phạm

pháp luật cạnh tranh

- Kết luận: Beeline không có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh

VD8: Công ty A ký hợp đồng với công ty B để công ty này phân phối các sản phẩm của

A Trong hợp đồng có điều khoản “B chỉ được ký hợp đồng cung ứng sản phẩm của A với giá trị 100 triệu đồng cho khách hàng Tất cả các hợp đổng có giá từ 100 triệu đồng trở lên B phải thông báo cho A để A trực tiếp ký với khách hàng”.

Các hành vi có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Tại sao?

Trả lời:

- Khả năng VP: Các hành vi có thể vi phạm pháp luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường bị cấm

- Phân tích: Xét hành vi của A là bắt B chỉ được ký hợp đồng cung ứng sản phẩm của A với giá trị 100 triệu đồng cho khách hàng Tất cả các hợp đổng có giá từ 100 triệu đồng trở lên

B phải thông báo cho A để A trực tiếp ký với khách hàng Căn cứ Khoản 5 Điều 13 LCT “Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng”, hành vi của A được coi là hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp

đồng Nếu A có vị trí thống lĩnh thị trường thì đây là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm

- Kết luận: Có vi phạm pháp luật cạnh tranh: là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm

Trang 4

VD9: Tháng 9/2005, để kỷ niệm một năm hoạt động Viettel – nhà màng chiếm 10% thị

phần trên thị trường mạng viễn thông Việt Nam, giảm phí thuê bao di động từ 100.000 đồng xuống 59.000 đồng 1 tháng bắt đầu từ ngày 01/10/2005 Ban giám đốc điều hành thậm chí thông báo rằng công ty sẽ giữ mức phí thuê bao thấp hơn 10-15% so với các mạng di động khác.

Các hành vi có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Tại sao?

Trả lời:

- Khả năng VP: Đây có thể là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Theo Điều 39 LCT

- Phân tích:

+ Theo Khoản 1 Điều 11 “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu

có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh

Hành động giảm phí thuê bao di động từ 100.000 đồng xuống 59.000 đồng trong 1 tháng từ ngày 01/10/2015 sẽ không có khả năng gây ra hạn chế cạnh tranh

+ Tuy nhiên Ban giám đốc điều hành thậm chí thông báo rằng công ty sẽ giữ mức phí

thuê bao thấp hơn 10-15% so với các mạng di động khác, Theo Khoản 1 Điểu 45“ So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”, hành

vi của Ban giám đốc điều hành là hành vi của Ban giám đốc là hành vi Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

- Kết luận: Có vi phạm pháp luật cạnh tranh: à hành vi Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Bài 1_HCCT: Nhận thấy doanh nghiệp A áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng với mình,

doanh nghiệp B rất bất bình B sẽ phải nộp đơn kiện ở đâu? Cơ quan nào có thẩm quyền thụ lý

hồ sơ và giải quyết vụ việc này cho B?

Trả lời:

Theo các dữ kiện của bài, hành vi này của A có thể bị xem xét ờ dạng hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường nếu thị phần của A chiểm từ 30% trên thị trường liên quan hoặc nếu

A có khả năng gây hạn chế cạnh tranh Căn cứ Điều 58 LCT, B được quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền thụ lý hồ sơ Tuy nhiên, cơ quan giải quyết vụ việc này lại là Hội đồng cạnh tranh, căn cứ Điều 53 LCT, vì đây là vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh

Trang 5

Bài 2_HCCT: Nhận thấy có một nhóm doanh nghiệp kinh doanh taxi đang liên kết lại

với nhau nhằm tăng giá cung ứng địch vụ làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng, người tiêu dùng

có thể kiện các doanh nghiệp này theo quy định của pháp luật cạnh tranh không? Nêu phương thức để kiểm soát hành vi của nhóm doanh nghiệp này theo quy định của pháp luật cạnh tranh

Trả lời:

Căn cứ vào dữ kiện của bài, đây có thể được xem xét dưới dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, làm giảm, sai lệch cạnh tranh trên thị trường Neu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận này chiếm từ 30% trên thị trường liên quan, hành vi này sẽ bị cấm Người tiêu dùng không thể trực tiếp làm hồ sơ khiếu nại bởi không phải là tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, bởi người tiêu đùng không cạnh tranh với các doanh nghiệp nảy Tuy nhiên, người tiêu dùng có thể phản ánh đến cơ quan quản iý cạnh tranh

về hành vi này của các doanh nghiệp Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền tiến hành điều tra hành vi này cãn cứ Điều 65 LCT và Điều 54 LCT Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc này là Hội đồng cạnh tranh

Bài 3_HCCT: Nhận thấy một số doanh nghiệp kinh doanh sim thẻ 3G cùng tiến hành

tăng giá dịch vụ 3G lên 5% so với giá trước đó, doanh nghiệp A, cũng cung cấp địch vụ 3G, liền tăng giá dịch vụ 3G của mình với cùng mức giá so với giá cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp kia Hành vi của A có hợp pháp không? cỏ bị kiểm soát theo quy định của pháp luật cạnh tranh không? Để xác định dược cần phải tiến hành những trình tự, thủ tục nào?

Trả lời:

Để xác định hành vi của A có hợp pháp hay không, cần xác định xem liệu hành vi của A

và của các doanh nghiệp kia có tạo nên thỏa thuận ấn định giá không Căn cứ Điều 14 Nghị định 116/2005, cần phải chứng minh giữa A và các doanh nghiệp kia có sự thống nhất để cùng hành động chung Ngoài ra, A và các doanh nghiệp này phải ở cùng trên thị trường liên quan

Để xác định được tính hợp pháp của hành vi thì cần phải điều tra Cơ quan quản lý cạnh tranh

có quyền tiến hành điều tra trên cơ sở phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm căn cứ Điều 68 LCT Sau khi đã có kết quả điều tra, cơ quan quản lý cạnh tranh phải gửi hồ sơ đến Hội đồng cạnh tranh Hội đồng cạnh tranh sẽ thành lập Hội đồng xử ỉý vụ việc Hội đồng xử lý vụ việc nếu thấy kết quả điều tra là có cơ sở sẽ tiến hành mở phiên điều trần và ra quyết định xử lý vụ việc

Trang 6

Bài 2_HCCT: Sản phẩm của doanh nghiệp A rất có uy tín trên thị trường và được

người tiêu dùng ưa thích Doanh nghiệp A cũng có chế độ iru đãi cho các đại íý bán hàng của mình Đại ỉý B rất muốn bán hàng cho doanh nghiệp A Tuy nhiên, hiện nay đại lý B cũng lại đang phân phối sản phẩm của doanh nghiệp C đang được giới trẻ ưa thích A không muốn B bán sản phẩm đó nữa nên đã yêu cầu B không được bán hàng của c nếu muốn trở thành đại lý của A Hành vi của A có hợp pháp không? Biết rằng thị phần của A chiếm 32 % trên thị trường liên quan.

Trả lời:

Căn cứ Điều 1 LCT “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”, A chiếm 32% trên thị trường liên quan, do vậy, A là doanh nghiệp có vị trí

thống lĩnh thị trường

Tiếp theo, xét hành vi của A, A bắt B, để bán hàng của A thì không được bán hàng của c,

đổi thủ cạnh tranh của A Căn cứ Điều 13 LCT “Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng”, hành vi của A được coi là hành vi

buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trục tiếp đến đối tượng của hợp đồng Đây là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm

Bài 3_HCCT: A là doanh nghiệp có thị phần 55% trên thị trường liên quan B, C, D là

các doanh nghiệp có thị phần lần lưọt là 15%, 10%, 20% trên cùng thị trường liên quan Tuy nhiên A lại chiếm 55% vốn điều lệ của B, 51% vốn điều lệ của c và có quyền bổ nhiệm đa số các thành viên trong Hội đồng quản trị của D F là một đoanh nghiệp thường xuyên mua hàng của A để có thể cung ứng các dịch vụ cùa mình trên thị trường Vào tháng I/2014, A quyết định không cung cấp hàng cho F nữa vì lý do F không thanh toán sớm tiền hàng cho À theo yêu cầu của A Hỏi hành vi cùa A có hợp pháp?

Trả lời:

Việc A chiếm 55% vốn điều lệ của B, 51% vốn điều lệ của C và có quyền bổ nhiệm đa

số các thành viên trong Hội đồng quản trị của D cho thấy A là công ty mẹ của các cồng ty B,C,

D theo quy định của Luật doanh nghiệp Trong khi đó, trên thị trường liên quan chỉ có A, B, C,

D Do vậy, A có thể được coi là có vị trí độc quyền do không có doanh nghiệp nào cạnh tranh

trên thị trường, căn cứ Điều 12 LCT “Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không

có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan” Hành vi của A ngừng cung cấp hàng cho F không có` lý do chính đáng sẽ bị coi là hành vi lạm đụng vị trí độc quyền, cãn cứ vào khoản 3 Điều 14 LCT “Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng”

Trang 7

Bài 4_HCCT: A là doanh nghiệp sản xuất kem que, kem ốc quế trên thị trường, chiếm

20% trên thị trường liên quan A muốn sáp nhập vào B B là doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sữa, trong đó có kem que vả kem ốc quế Thị phần kem cùa B chiếm 15% trên thị trường liên quan Hỏi A có được sáp nhập vào với B không? Cơ chế kiểm soát áp dụng cho trường hợp này là như thế nào?

Trả lời:

Theo đề bài, A và B ở cùng trên thị trường liên quan về sản xuất và kinh doanh kem que

và kem ốc quế Thị phàn két hợp của A và B là 35 % trên thị trường Hên quan Căn cứ quy

định tại Điều 20 LCT “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế”, đại diện hợp pháp của

A và B sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cơ quan quản lý cạnh tranh, trừ trường hợp doanh nghiệp tạo thành sau sáp nhập vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa A và B chỉ có thể tiến hành sáp nhập sau khi nhận được thông báo bằng văn bàn của cơ quan quàn lý nhà nước xác nhận việc

sáp nhập của A vào B không thuộc trường hợp bị cấm theo quy định tại Điều 18 LCT “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ

và vừa theo quy định của pháp luật”.

Bài 6_HCCT: Các doanh nghiệp A, B, C, D là các doanh nghiệp đều cung ứng một sản

phẩm có cùng một thương hiệu trên thị trường trên cơ sở hợp đồng với doanh nghiệp X, doanh nghỉệp khỏi tạo ra thương hiệu đó Để đảm bảo cho việc cung ứng sản phẩm đạt được chất lượng mà thương hiệu đã tạo ra, trong hợp đồng ký kết lần lượt với A, B, C, D, doanh nghiệp X

đã yêu cầu 4 doanh nghiệp này phải mua cùng một nguồn nguyên liệu được cung cấp bởi doanh nghiệp z Trong các hợp đồng ký lần lượt với A, B, C, D, doanh nghiệp X cũng yêu cầu mỗi doanh nghiệp sẽ chỉ được kinh doanh ở một khu vực nhất định, không được đặt cơ sờ cung ứng sản phẩm tại những khu vực khác Các thỏa thuận này có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Giải thích.

Trả lời:

Với các dữ kiện của đầu bài, hợp đồng X ký kết lần lượt với A, B, c, D có thể được xem xét dưới dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Theo đó, X thống nhất với các doanh nghiệp trên là chỉ được mua hàng tại doanh nghiệp z, cũng như thống nhất địa điểm bán hàng

đối với mỗi bên của thỏa thuận, căn cứ Điều 8 khoản 2 LCT “Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ” Tuy nhiên, các hành vi này chỉ bị coi là

vi phạm pháp luật cạnh tranh khi thị phần kết hợp của X và A, B, c, D chiếm tới 30% trên thị

trường liên quan, căn cứ Điều 9 Khoản 1 LCT “Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 6, 7 và 8 Điều 8 của Luật này” Hành vi này vẫn có thể được phép thực hiện nếu hướng tới giảm giá thành sản phẩm, có lợi cho người tiêu dùng căn cứ Điều 10 LCT

“Thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng”.

Trang 8

Bài 7_HCCT: Doanh nghiệp A là doanh nghiệp chuyên cung cấp nguyên liệu cho các

Doanh nghiệp khác trên thị trường Do một số rào cản thị trường nên hiện nay chỉ có một số ít doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp A có thể cung cấp nguyên liệu này trên thị trường Trong hợp đồng ký kết với các doanh nghiệp mua hàng của mình, A thường yêu cầu các doanh nghiệp phải mua bảo hiểm hàng hóa ở một công ty mà A chỉ định Ngoài ra, A cũng yêu cầu các doanh nghiệp phải thanh toán tiền hàng trước khi tiến hành giao hàng Các hành vi này của A có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Giải thích

Trả lời:

Theo dữ kiện của đề bài, đây là hành vi của một doanh nghiệp, hành vi này sẽ có thể xem xét ở dạng hành vi lạm đụng vị trí thống lĩnh thị trường Để xác định được A có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh không cần phải xác định được thị phần của A trên thị trường Nếu A có thị phần chiếm từ 30% trở lên trên thị trường liên quan, A có vị trí thống lĩnh Trường hợp thị phần của A không đạt mức nêu trên, A vẫn có thể bị coi là có vị trí thống lĩnh khỉ chứng minh được A có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường Nếu xác định được A có vị trí thống lĩnh thị trường thì hành vi của A có thể xem xét cụ thể ở hành vi buộc doanh nghiệp khác phải chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, khi chứng minh được rằng A buộc các doanh nghiệp phải mua bảo hiềm hàng hóa

tại công ty mà A chỉ định, căn cứ Điều 30 khoản 2 Nghị định 116/2005 “Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là hành vi gắn việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng” Còn hành vi yêu cầu

doanh nghiệp phải thanh toán tiền hàng trước khi tiến hành giao hàng không có vi phạm pháp luật cạnh tranh

Bài 8_HCCT: 5 doanh nghiệp A, B, D, E, F chuyên cung ứng dịch vụ internet và 3G

cùng nhau thòa thuận về việc yêu cầu khách hàng của mình là những người tiêu dùng để kết nối được internet phải mua thiết bị lắp đặt internet được nêu trong hợp đồng cung ứng dịch vụ Thiết bị này là sản phẩm của doanh nghiệp z Các hành vi này có vi phạm pháp luật cạnh tranh không? Giải thích Biết rằng các doanh nghiệp này chiếm 80% trên thị trường liên quan.

Trả lời:

Xét về chủ thể, Vì 5 doanh nghiệp này có thị phần kết hợp chiếm 80% trên thị trường

liên quan nên các doanh nghiệp này đã tạo nên sức mạnh thị trường Căn cử Điều 11 khoản 2

LCT “Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan”, 5 doanh nghiệp này không phải !à nhóm doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh thị trường Do vậy, sẽ chỉ xét hành vi của các doanh nghiệp này ở loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Căn cứ Điều 8 LCT, không có hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nào phù hợp với dữ kiện đề ra của đầu bài Do vậy, hành vi yêu cầu người tiêu dùng phải mua sản phẩm của doanh nghiệp z khi được lắp đặt internet, của 5 doanh nghiệp này không vi phạm

pháp luật cạnh tranh Tuy nhiên, hành vi cùa 5 doanh nghiệp cùng nhau thỏa thuận mua sản phẩm của doanh nghiệp z để cung cấp dịch vụ cho khách hàng lại có thể vi phạm pháp luật

cạnh tranh Hành vi của các doanh nghiệp này có thể được xem xét ở dạng hành vi thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa khi các bên thống nhất là chỉ mua thiết bị lắp đặt internet của doanh nghiệp z, căn cứ Điều 15 khoản 2 LCT

Trang 9

Bài 9_HCCT: Doanh nghiệp A dự định mua lại cổ phần của một cổ đông X một cổ

đông lớn của doanh nghiệp B Biết rằng cổ đông X nắm 51% tổng số cổ phần biểu quyết của

B Hỏi việc mua lại cổ phần này của doanh nghiệp A có bị kiểm soát theo quy định của pháp luật cạnh tranh không? Giải thích

Trả lời:

Hành vi này của A được coi là hành vi mua lại doanh nghiệp căn cứ Điều 17 khoản 3

LCT “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp

bị mua lại” và Điều 34 Nghị định 116/2005 “Kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật Cạnh tranh là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát” Hành vi này sẽ bị kiểm soát

nếu có thị phần cùa doanh nghiệp A và doanh nghiệp B chiếm từ 30% trên thị trường liến quan, trừ trường hợp doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế vẫn là doanh nghiệp nhò và vừa Nếu thị phần kết hợp của 2 doanh nghiệp chiếm từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, đại diện của 2 doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo đến cơ quan quản lý cạnh tranh A chỉ có thể mua lại cổ phần cùa cổ đông X khi nhận được thông báo bằng văn bản đến cơ quan quản lý canh tranh xác nhận về việc mua lại không vi phạm quy định cấm của LCT Nếu thị phần kết hợp của A và B chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, hành vi mua lại bị cấm Tuy nhiên, đại diện của A và B có thể làm hồ sơ miễn trừ nếu thuộc các quy định tại Điều 19 LCT

Bài 10_HCCT:

Nhận thấy việc hợp nhất của các doanh nghiệp A, B, C, D có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp E đã làm hồ sơ khiếu nại lên cơ quan quản lý cạnh tranh Theo doanh nghiệp E, thị phần kết hợp của 4 doanh nghiệp này chiếm khá cao, thậm chí có thể trên 50% trên thị trường liên quan Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đã không tiến hành thủ tục thông báo đến cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc bất kỳ thủ tục đề nghị hưởng miễn trừ nào Liệu hành vi của E có hợp pháp? Việc hợp nhất của A, B, c, D có đúng pháp luật không? Giải thích Hướng xử ỉý đối với hành vi vi phạm nếu có.

Trả lời:

Hành vi của E là hợp pháp E có quyền khiếu nại lên cơ quan quản lý cạnh tranh nếu việc hợp nhất của A, B, c, D ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường và hoạt động kinh doanh của

E Việc hợp nhất của A, B, c, D được tiển hành mà không phải thực hiện thủ tục thông báo hoặc không bị cấm nếu doanh nghiệp hình thành sau hợp nhất vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật Trường hợp không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp chiếm từ 30%-50% trên thị trường liên quan, đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp phải làm nghĩa vụ thông báo A, B c, D chỉ được quyền thực hiện hợp nhất khi nhận được văn bân xác nhận của cơ quan quản lý cạnh tranh là thị phần kết hợp không

thuộc trường hợp bị cấm Nếu thị phần kết hợp chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, hành

vi hợp nhất là vi phạm pháp luật cạnh tranh Hành vi này sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt chính

là cảnh cáo hoặc phạt tiền; có áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là tịch thu lợi nhuận thu được từ thời điểm hình thành doanh nghiệp Ngoài ra còn có thể áp đụng các biện pháp khắc phục hậu quả là chia doanh nghiệp đã sáp nhập, buộc cải chính công khai

Trang 10

Bài 12_HCCT: Doanh nghiệp A là một doanh nghiệp chuyên cưng cấp xăng dầu trên

địa bàn tình X B là một doanh nghiệp chuyên cung ứng dịch vụ vận tài và chở khách, hoạt động chủ yếu ở tỉnh này B cũng là khách hàng thường xuyên của A Do mâu thuẫn về khâu thanh toán hợp đồng khi A yêu cầu B phải thanh toán tiền hàng trước khi tiến hành giao hàng.

A quyết định ngừng bán xăng dầu cho B B đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị A cho phép

B được quyền giãn thời gian thanh toán tiền, nhưng A không đồng ý Việc làm của A đã làm doanh nghiệp B không thể hoạt động kinh doanh được vì không thể mua hàng của doanh nghiệp khác Hành vi của A có hợp pháp không theo quy định của pháp Luật Cạnh tranh? Giải thích.

Trả lời:

Với dữ kiện của đề bài, hành vi của A là hủy bỏ hợp đồng với B Để xác định hành vi của A có vi phạm pháp luật cạnh tranh không cần phải xác đinh được liệu A có vị 'trí độc quyền không Nếu A có vị trí độc quyền thi hành vi của A sẽ bị xem xét ở dạng hành vi lạm

dụng vị trí độc quyền theo khoản 3 Điều 14 LCT “Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng” Nếu A không

chứng minh được việc hủy hợp đồng là có lý do chính đáng thì hành ví của A là vi phạm pháp luật cạnh tranh

Bài 1_CTKLM: Nhận thấy sản phẩm bim bim cùa doanh nghiệp A đang bán chạy trên

thị trường và được trẻ em ưa chuộng, doanh nghiệp B đã thiết kế bao bì bim bim của mình sao cho thật giống với sản phẩm của doanh nghiệp A Hành vi của doanh nghiệp B có hợp pháp, biết rằng tên sản phẩm bim bim của doanh nghiệp B hoàn toàn khác so với tên sản phẩm của doanh nghiệp A Nếu hành vỉ cùa B là không hợp pháp, A cần phài làm gì để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

Trả lời

B đã có hành vi thiết kế bao bì sản phẩm của mình giống với bao bì sản phẩm của A Việc làm này sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi mua sản phẩm, đặc biệt là khi đối tượng

hướng tới của sản phẩm này là trẻ em (bim bim) Căn cứ vào khoản 1 Điều 39 “Chỉ dẫn gây nhầm lẫn” và Khoản 1 Điều 40 LCT “Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh”

=> đây là hành vi không hợp pháp vì đã sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về bao bì, hoặc biểu tượng kinh doanh nếu có làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa nhằm mục đích cạnh tranh

A cần làm hồ sơ khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh, cụ thể là Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương

Ngày đăng: 14/09/2016, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w