1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH VÀ TUYÊN BỐ CÁ NHÂN CHẾT

18 955 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 319,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Về mặt thủ tục: Việc tuyên bố cá nhân mất tích phải thông báo tìm kiếm công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Có yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan: Người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu gửi đến Tòa án, yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân đó mất tích.

Trang 1

Chào mừng cô và các bạn đã đến với bài

thuyết trình của

nhóm 2

Trang 2

Khoa Luật

Môn học: Luật Dân Sự 1

Chủ đề:

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

VÀ TUYÊN BỐ CÁ NHÂN CHẾT

GVHD: NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

Trang 3

NỘI DUNG CHÍNH

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

I, Khái niệm tuyên bố cá nhân mất tích

II, Điều kiện tuyên bố cá nhân mất tích III, Nội dung tuyên bố cá nhân mất tích

IV, Hủy bỏ tuyên bố cá nhân mất tích

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN CHẾT

I, Khái niệm tuyên bố cá nhân chết

II, Điều kiện tuyên bố cá nhân chết

III, Nội dung tuyên bố cá nhân chết

IV, Hủy bỏ tuyên bố cá nhân chết

Trang 4

Điều kiện

tuyên bố

CN mất tích

Đk về mặt thời gian

ĐK về thủ tuc

Yêu cầu của người có quyền lợi liên quan

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

I, Khái niệm:

Tuyên bố cá nhân mất tích là việc Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một cá nhân mất tích theo yêu cầu của những

người có quyền, lợi ích liên quan khi có đủ những điều kiện luật định

II, Điều kiện tuyên bố cá nhân mất tích

* Điều kiện về mặt thời gian: Được quy định tại Điều 78 BLDS

2005 Trường hợp cá nhân biệt tích hai năm liền trở lên không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết

Trang 5

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng

về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo

tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng

có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng

* Về mặt thủ tục: Việc tuyên bố cá nhân mất tích phải thông báo tìm kiếm công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

* Có yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan:

Người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu gửi đến Tòa án, yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân đó mất tích

Trang 6

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

III, Nội dung của việc tuyên bố cá nhân mất tích

Về mặt tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích

được quản lí theo quy định của pháp luật tại khoản 1 điều 75, điều 79 BLDS 2005 và khoản 1 điều 65, điều 69 BLDS 2015

- Nếu trước khi vắng mặt người này đã uỷ quyền cho một

chủ thể quản lí thì chủ thể được uỷ quyền tiếp tục quản lí

- Tài sản chung trong khối tài sản chung với các đồng sở hữu chủ khác thì các đồng sở hữu tiếp tục quản lí

- Tài sản chung của vợ, chồng thì người vợ hoặc người

chồng tiếp tục quản lí; hoặc nếu không có thì Toà án sẽ chỉ định một người thân thích quản lí

Trang 7

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

- Nếu không có người thân thích thì Toà án sẽ chỉ định một chủ thể quản lí tài sản của người vắng mặt

- Trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng li hôn thì tài sản được giao cho con đã thành niên, cha mẹ hoặc

người thân thích của người bị tuyên bố mất tích quản lí

Nếu không có những người như trên thì Toà án chỉ định một người khác quản lí

- Riêng đối với điểm c khoản 1 điều 65 BLDS 2015 có quy

định thêm: nếu vợ hoặc chồng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lí Mà trước đó BLDS 2005 chỉ quy định

những khả năng: vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực

hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 8

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

Về mặt nhân thân:

Căn cứ khoản 2 điều 78 của BLDS 2005 và khoản 2,3 điều 68 của BLDS 2015 có điểm khác biệt như sau:

Điều 78 Tuyên bố một người

mất tích Điều 68 Tuyên bố một người mất tích

2 Trong trường hợp vợ

hoặc chồng của người bị

tuyên bố mất tích xin ly

hôn thì Toà án giải quyết

cho ly hôn

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn

theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về

hộ tịch.

Trang 9

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN MẤT TÍCH

IV, Hủy bỏ tuyên bố mất tích

+ Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là

người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc người có

quyền, lợi ích liên quan ,TA ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

+Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người

quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.

+Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được

ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực

là người đó còn sống,quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật + Ngoài các nội dung quy định tại BLDS 2005, BLDS 2015 bổ sung :

Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị

tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch.

(Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật dân sự 2015)

Trang 10

Một người đã bị mất tích 7 năm liền liên tiếp thì những người có quyền và lợi ích liên quan có thể đề đơn lên tòa xin tuyên bố là người đó đã chết

mà không cần phải đợi tuyên

bố mất tích không ?

Trang 11

TUYÊN BỐ ĐÃ CÁ NHÂN CHẾT

I, KHÁI NIỆM

Tuyên bố cá nhân đã chết là việc Tòa án nhân dân ra quyết định

1 cá nhân là đã chết theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan khi có những điều kiện nhất định

II, ĐIỀU KIỆN ĐỂ TUYÊN BỐ NGƯỜI ĐÃ CHẾT:

- Về mặt thủ tục: Người yêu cầu tuyên bố cá nhân chết phải thông báo tìm kiếm công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

- Điều kiện về thời gian: Được quy định tại Điều 81 BLDS 2005 và tại Điều 68 BLDS 2015 củ thể người có quyền, lợi ích liên quan

có thể yêu cầu tòa án tuyên bố 1 người là đã chết trong các

trường hợp sau đây:

Trang 12

TUYÊN BỐ ĐÃ CÁ NHÂN CHẾT

a Sau 3 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của TA có hiệu lực phát luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

* Tại Điểm c trong hai BLDS có sự khác biệt về thời gian mà Tòa

án quyết định tuyên bố 1 người là đã chết:

Kéo dài thời gian tuyên bố một người là đã chết đối với trường hợp bị tai nạn, thảm họa thiên tai:

Đ81, BLDS 2005 Bị tai nạn

hoặc thảm họa,thiên tai mà sau

1 năm, kể từ ngày gặp tai nạn

hoặc thảm họa, thiên tai đó

chấm dứt vẫn không có tin tức

xác thực là còn sống, trừ trường

hợp khác mà phát luật quy định;

Đ71,BLDS2015 Bị tai nạn hoặc thảm họa,thiên tai mà sau 2 năm,

kể từ ngày gặp tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

Trang 13

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT

d Biệt tích từ 5 năm trờ lên và vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại Khoản 1, Điều

78 BLDS 2005 và Khoản 1, Điều 68 của BLDS 2015;

=>> Việc tính thời hạn 1 người là đã chết thì tòa án xác định

ngày chết của người này căn cứ vào Khoản 1Điều này của luật này.

- Bổ sung quy định: (Căn cứ Khoản 1, 3 Điều 71 BLDS 2015)

Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố

là đã chết để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch

- Có yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan:

Người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu gửi đến Tòa án, yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân chết

Trang 14

Về mặt tài sản: Khoản 2 Điều 82 của BLDS 2005 và khoản 2

Điều 72 của BLDS 2015 “Quan hệ tài sản của người bị Tòa

án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”

Về mặt thân nhân: Khoản 1 Điều 82 của BLDS 2005 và

Khoản 2 Đ72 của BLDS 2015 “ Khi quyết định của Tòa án

tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan

hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ thân nhân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết ”

TUYÊN BỐ ĐÃ CÁ NHÂN CHẾT

III, Nội dung của việc tuyên bố cá nhân chết

Quyết định cá nhân chết có giá trị như một giấy chứng tử Vì vậy hậu quả pháp lí được giải quyết như một người đã chết và năng lực pháp luật của cá nhân đó cũng được chấm dứt

Trang 15

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT

IV, Hủy bỏ quyết định tuyên bố cá nhân đã chết

Theo điều 83 BLDS 2005 và điều 73 BLDS 2015 về quyết định

huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết như sau:

- Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì yêu cầu của người đó hoặc của

người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ

quyết định tuyên bố người đó là đã chết

-Sau khi được Toà án ra quyết định huỷ bỏ tuyên bố người đó là

đã chết thì quan hệ nhân thân của người đó được khôi phục, trừ trường hợp :

+Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Toà án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 BLDS 2015

hoặc khoản 2 Điều 78 của BLDS 2005 thì quyết định

cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật

Trang 16

TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố đã chết đã kết hôn với

người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực

- Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu

những người nhận thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn nếu người nhận thừa kế cố tình che giấu việc người bị tuyên bố là

đã chết vẫn còn sống hoặc có thông tin xác thực là vẫn còn sống thì người đó phải trả lại toàn bộ tài sản, hoa lợi, lợi tức, nếu gây thiệt hại phải bồi thường

BLDS 2015 có bổ sung thêm:

- Quyết định của Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố một

người là đã chết phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo

quy định của pháp luật về hộ tịch.

Trang 17

Ông C bị TAND tuyên bố là đã chết; đã được gia đình đăng ký

khai tử tại UBND xã Nay đột nhiên ông trở về Họ hàng, gia đình, vợ con vô cùng vui mừng Họ tính

chuyện đến TAND và UBND để

làm các thủ tục huỷ bỏ các quyết định đã tuyên bố về ông nhưng

không biết có được không?

Ngày đăng: 14/09/2016, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w